Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp giúp học sinh lớp 1 trường tiểu học thị trấn huyện lang chánh, tỉnh thanh hóa học tốt phân môn kể chuyện

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LANG CHÁNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 1B
TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN, HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH
THANH HÓA HỌC TỐT PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN

Người thực hiện: Lê Thị Huyền

Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường tiểu học Thị Trấn

SKKN thuộc môn: Tiếng Việt

THANH HOÁ, NĂM 2017

MỤC LỤC
1



STT
I
1.1
1.2
1.3
1.4
II
2.1
2.2
2.3
2.4
III
3.1
3.2

Nội dung
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Cơ sở lý luận
Thực trạng của vấn đề
Các giải pháp thực hiện
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Kết luận
Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang
1
1
2
2
2
3
3

4
5
16
18
18
19
20

I. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết “ Ngôn ngữ là công cụ của tư duy”. Trong các môn
học ở Tiểu học thì môn Tiếng Việt là môn học có ý nghĩa rất quan trọng, bởi
môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học nhằm hình thành và phát triển ở học sinh các
kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói,đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong
các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt,
góp phần rèn luyện các thao tác tư duy cho học sinh. Nếu như các em không
biết đọc thông, viết thạo thì các môn học khác các em sẽ không thể học được.
Phân môn kể chuyện là một trong những phân môn của môn Tiếng Việt 1 có
nhiệm vụ: Bồi dưỡng tâm hồn trẻ, góp phần hình thành cảm xúc và thẩm mĩ
lành mạnh, làm giàu thêm vốn sống và vốn hiểu biết, phát triển tư duy và nâng
cao trình độ Tiếng Việt cho các em. Vì vậy kể chuyện là phân môn có ý nghĩa
quan trọng trong chương trình giảng dạy Tiếng Việt ở bậc Tiểu học nói chung
và dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 nói riêng. Học tốt kể chuyện không những
giúp cho học sinh rèn luyện kỹ năng nghe - nói (kể) mà còn tạo điều kiện cho
2


học sinh tự tin để học tốt các môn học khác và giúp các em tự nhiên hơn trong
giao tiếp.
Trong quá trình trực tiếp giảng dạy, tôi còn thấy có một số điều tồn tại và
vướng mắc trong phân môn kể chuyện. Học sinh nhìn chung còn ít học và việc
chuẩn bị trước cũng chưa được chu đáo, chỉ nhìn bài qua loa, chiếu lệ, chưa biết
cách kể. Đến lớp, nhiều em chưa phát huy tốt vai trò của cá nhân trong quá trình
kể chuyện, nhất là kể cho nhau trong nhóm (vì kể cho nhau nghe trong nhóm
yêu cầu tính tự giác là chủ yếu). Trong khi bạn bè kể thì một số em còn chưa có
ý thức theo dõi, quá trình học tập của bạn là thời gian nghỉ ngơi của một số em
khác. Từ những hạn chế và vướng mắc trong quá trình giảng dạy, tôi đã suy
nghĩ, trăn trở để tìm ra nhiều phương pháp tối ưu nhất để giúp cho học sinh dễ
hiểu, dễ nhớ, dễ thuộc truyện theo ngôn ngữ của mình. Vì vậy, tôi đã nghiên cứu
đề tài “ Một số biện pháp giúp học sinh lớp 1B trường Tiểu học Thị Trấn,
huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa học tốt phân môn kể chuyện " nhằm nâng
cao chất lượng dạy học phân môn Kể chuyện lớp 1.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Nhằm nâng cao chất lượng học phân môn kể chuyện cho học sinh lớp 1 ở
trường Tiểu học Thị Trấn. Giúp các em hình thành nhân cách, hình thành những
kĩ năng cơ bản ban đầu về đức, trí, thể, mĩ,...và cho cả sự phát triển các kĩ năng
giao tiếp, giúp các em tiếp tục học tốt phân môn này ở các lớp trên.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh lớp 1B trường Tiểu học Thị Trấn Lang Chánh năm học 20162017: gồm 27 em, trong đó: nữ 11 em, nam 16 em.
- Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn kể chuyện lớp 1.
1.4. Phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp thực nghiệm: Tôi chọn lớp 1B (do tôi chủ nhiệm) có tổng
số học sinh 27 em, tôi chia lớp thành 2 đối tượng có chất lượng học tập ngang
nhau. Lớp đối chứng10 em lớp thực nghiệm17 em.
+ Lớp đối chứng: Dạy học và kiểm tra trình độ theo phương pháp
truyền thống.
+ Lớp thực nghiệm: Dạy học, kiểm tra theo trình độ chuẩn. Dạy học dựa
trên hoạt động tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh. Đổi mới đánh giá và sử
dụng hợp lý các phương tiện dạy học.

3


II. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận:
Quá trình dạy học là một quá trình nghệ thuật khoa học phức tạp, tinh tế
nhiều mặt và độc đáo. Đối với phân môn Kể chuyện thì đặc điểm này được bộc
lộ rõ rệt và sâu sắc. Vì mục tiêu của phân môn Kể chuyện là giúp học sinh phát
triển các kỹ năng nghe, nói; mở rộng hiểu biết, góp phần hình thành nhân cách
con người mới cho trẻ.
Các câu chuyện luôn có nội dung phong phú và hấp dẫn vì thế, truyện có
khả năng bồi dưỡng tâm hồn của trẻ , tâm hồn trẻ sẽ nghèo nàn đi biết bao nhiêu
khi trẻ không được tiếp xúc với truyện, đặc biệt là kho tàng truyện cổ tích Việt
Nam, các câu chuyện cổ dân gian trong sáng và sinh động. Suốt những năm ở
Tiểu học nếu các em được nghe và kể chuyện đầy đủ thì chương trình kể
chuỵên góp phần cho tâm hồn các em giàu có thêm bằng biết bao nhiêu chuyện
bổ ích và lí thú, những hình tượng quen thuộc của truyện sẽ trở thành vốn văn
học tích lũy kho tàng kiến thức cho các em.

4


Đó là những ngôn ngữ đầu tiên giúp học sinh phát triển tư duy tưởng
tượng. Mặt khác nhiều từ ngữ ban đầu thực ra chỉ xuất hiện trong truyện cổ mà
chỉ có trong truyện cổ các em khi tiếp xúc với truyện kể sẽ không quên những
từ ngữ đó. Khi tập kể chuyện lại các em học sinh sẽ có điều kiện sử dụng vốn
ngôn ngữ của mình để kể lại truyện. Nhờ đó cùng với tư duy cũng phát triển.
Như vậy nhiệm vụ của giáo dục, giáo dưỡng của phân môn Kể chuyện lại
trở nên đa dạng phong phú. Dạy tốt tiết Kể chuyện giáo viên sẽ tạo điều kiện tốt
cho việc phát triển năng khiếu ở nhiều học sinh, tạo điều kiện ươm mầm cho
những nhân tài mai sau . Đó cũng là một mặt trong việc xây dựng nhân cách
con người mới, con người của thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
2.2. Thực trạng
2.2.1. Thuận lợi:
Là trường Tiểu học Thị Trấn vùng miền núi thuộc huyện nghèo có cả HS
con cán bộ, công nhân cũng có HS con nông thôn (Bản Lưỡi, Bản Trải,….) Hầu
như tất cả các bậc phụ huynh rất quan tâm đến việc học tập và giáo dục của con
em mình.
Năm học 2016 – 2017, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 1B.
Với tổng số là 27 học sinh. Tất cả các em đều cùng độ tuổi và đã qua lớp mẫu
giáo 5 tuổi nên đa số các em đã nhận biết được 29 chữ cái.
Nhìn chung tất cả các em đều chăm ngoan thích học tập và vui chơi. Qua
tìm hiểu tôi được biết, các em rất thích học môn kể chuyện, hình như hàng giờ,
hàng tuần lúc nào các em cũng mong ngóng để đến giờ kể chuyện. Đặc biệt
trong giờ kể chuyện các em thích nghe cô kể hơn là thích nghe cô đọc lại văn
bản truyện. Song vẫn còn số ít học sinh biết kể chuyện một cách trôi chảy và
hấp dẫn, biết nhập vai nhân vật trong truyện để kể lại. Hơn nữa qua mỗi bài lại
có thêm phần luyện nói (nó bổ trợ một phần lớn cho phân môn kể chuyện).
2.2.2. Khó khăn :
Bản thân là giáo viên trực tiếp đứng lớp nhưng cũng chưa dành nhiều thời
gian tìm hiểu và khám phá hết được điểm mạnh, điểm yếu, điểm còn hạn chế
của từng học sinh. Đặc biệt là chưa tìm được giải pháp để phát huy. Trong quá
trình trực tiếp giảng dạy, tôi thấy bản thân còn rất nhiều vướng mắc khi dạy kể
chuyện như khi chuẩn bị bài hầu như giáo viên còn phụ thuộc nhiều vào sách
giáo viên. Chính vì thế mà bài dạy trên lớp còn mang tính áp đặt, đơn điệu chưa
phù hợp với đối tượng học sinh, làm cho học sinh nắm nội dung chuyện còn
chàng màng, máy móc... coi môn kể chuyện chỉ là giải trí cho các em, các môn
học khác quan trọng hơn.
Do đó sự chuẩn bị của giáo viên chưa chu đáo dẫn đến tiết dạy, giờ học
chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Hơn nữa nhiều giáo viên rất ngại dạy tiết kể
chuyện, nhất là đợt thao giảng, dự giờ thăm lớp vì sợ khâu kể chuyện không hấp
dẫn,ít học sinh biết kể chuyện một cách trôi chảy mạch lạc và kỹ năng nói còn
5


kém, làm sao để có cách kể hay cho học sinh nghe và nhớ được truyện, sau đó
sẽ luyện tập thế nào cho học sinh kể lại từng đoạn truyện một cách tự nhiên. Đó
cũng là những băn khoăn của tôi và nhiều giáo viên đang đứng lớp hiện nay.
- Khả năng giao tiếp giữa học sinh với giáo viên, giữa học sinh với học
sinh còn nhiều hạn chế, chưa tự tin tham gia các hoạt động học tập,nhút nhát thu
mình ngại tham gia.
- Học sinh chưa mạnh dạn, tự tin trong việc phân tích, xử lý tình huống.
Nếu được gọi kể chuyện thì các em chỉ kể theo gợi ý của truyện sau mỗi tranh,
các em chưa biết liên kết được các bức tranh để được một đoạn truyện.
- Lí do là các em chưa kịp nắm được nội dung truyện khi nghe kể và kỹ
năng nói (diễn đạt) còn kém, mặc dù sau mỗi bài học vần và bài tập đọc các em đã
được rèn kỹ năng nói)... Nếu có sự đầu tư hơn về rèn luyện kỹ năng kể của giáo
viên và tập luyện cho học sinh, chắc chắn rằng các em sẽ có kỹ năng kể tốt hơn.
2.2.3. Khảo sát chất lượng:
Tôi đã tiến hành theo dõi và khảo sát chất lượng ngay từ đầu năm như sau:
Tổng số học
sinh
27

Kể chuyện hay
(có năng khiếu)

Biết kể đúng nội
dung chuyện

Số
lượng

Tỷ lệ
%

Số
lượng

Tỷ lệ
%

Số
lượng

2

7,4

19

70,4

6

Chưa biết kể
Tỷ lệ %
22,2

2.3. Các biện pháp
Đứng trước thực trạng lớp như vậy tôi trăn trở và tìm ra một số biện pháp
thực hiện như sau:
Biện pháp 1: Giáo viên chuẩn bị bài chu đáo trước khi lên lớp.
Ngoài việc chuẩn bị kế hoạch bài học chu đáo thì giáo viên còn phải
nghiên cứu và nắm vững nội dung của truyện (đọc kĩ văn bản để nhớ và hiểu
truyện). Một trong những yếu tố quan trọng nữa giúp cho giờ học thành công là
chuẩn bị đồ dùng (trang phục, diễn kịch, sắm vai,...).
Ví dụ: Truyện: Khỉ và Rùa [1]; Sói với Cừu [1].
- Tôi đã sử dụng tranh minh hoạ trong bộ đồ dùng của phân môn kể
chuyện giúp học sinh cả lớp cùng quan sát, gây hứng thú cao trong giờ học và
học sinh dễ nhớ ngay từ lần đầu.
- Về trang phục để gây hứng thú cho học sinh tôi có thể chuẩn bị như:
+ Vai Khỉ: Mặt nạ khỉ
+ Vai Rùa: Mặt nạ rùa
6


+ Vai Sói: Mặt nạ sói
+ Vai Cừu: Mặt nạ cừu
Khi kể giáo viên có thể sử dụng trang phục, đạo cụ hoặc khi học sinh nhập
vai nhân vật các em sẽ hoá trang bằng các trang phục đó.
Như vậy: Sự chuẩn bị kĩ về nội dung truyện và chuẩn bị chu đáo về đồ
dùng của giáo viên đã kích thích, gây hứng thú cao cho cả học sinh và giáo
viên, góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy.
Biện pháp 2: Giúp học sinh chuẩn bị bài trước khi đến lớp:
Học sinh muốn nhớ được nội dung truyện nhanh thì trước khi đến lớp các
em nên quan sát kỹ nội dung từng tranh để phỏng đoán nội dung của truyện.
Ví dụ 1: Thỏ và Sư tử [1]; Rùa và Thỏ [1].

Khi học đến truyện này ở nhà học sinh quan sát kỹ nội dung từng tranh
minh họa nội dung câu truyện như:
- Tranh 1: Sư tử đang nằm chờ Thỏ đến
- Tranh 2: Thỏ đang nói chuyện với Sư Tử và Sư Tử đang rất tức giận với Thỏ.
- Tranh 3: Thỏ cùng với Sư Tử đang đứng trên thành một cái giếng, Sư Tử
đang giận dữ nhìn xuống giếng.
- Tranh 4: Sư Tử lao xuống giếng còn Thỏ thì đang nhảy múa trên thành giếng.
Sau khi quan sát tranh và phỏng đoán được như vậy thì đến lớp khi nghe
cô giáo kể chuyện thì học sinh dễ nhớ và nhớ nhanh nội dung câu chuyện.
Ví dụ 2: Truyện Rùa và Thỏ [1].

Khi học đến truyện “ Rùa và Thỏ” học sinh, trước hết, tôi cho học sinh
quan sát tranh để gây hứng thú học tập cho các em, sau đó yêu cầu các em
suy nghĩ và trả lời câu hỏi sau mỗi tranh trước để có thể phỏng đoán nội dung
câu truyện ở từng tranh như:
- Rùa đang làm gì?
- Thỏ nói gì với Rùa?
Học sinh có sự chuẩn bị trước khi nghe cô giáo kể chuyện thì tiếp thu
rất nhanh và nhớ nội dung câu chuyện ngay ở lớp và thể hiện kể trước lớp rất
tự nhiên và nhập vai rất tốt, còn đối với những học sinh không có sự chuẩn bị
trước thì đến lớp việc nhớ nội dung câu chuyện chậm hơn chính vì thế mà
việc nhập vai của các nhân vật cũng chậm hơn.
7


Biện pháp 3: Giáo viên kể mẫu đóng vai trò quan trọng
Tiết kể chuyện có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào giáo viên
kể mẫu, khi kể mẫu giáo viên cần đặt câu hỏi liên quan đến tình huống mở làm
cho học sinh bị lôi cuốn bởi sức hấp dẫn của câu truyện. Sự kết hợp giữa giọng
điệu và cử chỉ, sử dụng từ ngữ có chọn lọc giúp cho các em có cảm giác như
các nhân vật trong truyện là có thật đang hiện lên thật sinh động trong từng
ngôn từ và sống động trong từng cử chỉ điệu bộ của cô.
Ví dụ 1: Truyện: Sư Tử và Chuột Nhắt [2]
Để thu hút sự chú ý và gây hứng thú cho học sinh giáo viên có thể giới
thiệu như sau: “Các em đều biết Sư Tử là con vật to, khoẻ được xem là chúa tể
của rừng xanh, còn Chuột Nhắt là con vật bé tí xíu. Thế mà con Chuột Nhắt
trong truyện này một lần được Sư Tử tha mạng lại dám nói với Sư Tử sẽ có
ngày đền ơn, khiến vị chúa rừng xanh phải bật phì cười. Sự thực thì Chuột Nhắt
có ba hoa không, có làm được điều mình nói hay không? Các em hãy lắng nghe
câu chuyện để hiểu được điều đó”.
Khi kể, giáo viên cần chú ý thể hiện giọng của từng nhân vật để tăng sức
lôi cuốn học sinh như:
- Lời của Chuột Nhắt khi còn trong tay Sư Tử: mềm mỏng, khiêm tốn (van
lạy xin tha, bé nhỏ, chả bõ dính răng).
- Lời của Sư Tử:
+ Tỏ thái độ coi thường khi Chuột Nhắt hứa có ngày sẽ giúp Sư Tử.
+ Tỏ thái độ sợ hãi khi Sư Tử bị sa lưới (gầm gào, vùng vẫy, nằm bẹp
chờ chết).
Ví dụ 2: Truyện: Sói và Sóc [1]
Ở tranh 2 khi kể lời của Sóc thì giáo viên kể với giọng mềm mỏng, cầu
khẩn,...qua câu nói như: “ Hãy thả tôi ra nào?”. Đến đây giáo viên có thể dùng
câu hỏi gợi mở: Theo các em Sói có tha cho Sóc hay không? Để học sinh phán
đoán gây sự chú ý tò mò và suy nghĩ.
Muốn làm được như vậy thì người giáo viên phải thuộc truyện và tập kể
trước khi lên lớp để việc kể mẫu của cô thật sự gây ấn tượng cho các em vì như
chúng ta đã biết học sinh lớp 1 thuộc và nhớ được truyện chủ yếu khi nghe lời kể
của cô trên lớp (giáo viên kể lần 1, lần 2 vừa kể vừa kết hợp với chỉ tranh cho học
sinh quan sát).
Tóm lại: Trong tiết dạy kể chuyện học sinh có thuộc được truyện, có kể
hay được hay không là phụ thuộc rất nhiều vào việc kể mẫu của giáo viên vì
học sinh Tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 1 sẽ rất hay bắt chước và làm theo cô,
chính vì thế mà đòi hỏi người giáo viên kể phải luyện cho giọng của mình
chuẩn, hấp dẫn đúng ngữ điệu và thể hiện được các cử chỉ, điệu bộ của từng
8


nhân vật... có như vậy thì mới thu hút được sự chú ý của học sinh và kể giống
cô để việc kể mẫu của cô thật sự gây ấn tượng cho các em.
Biện pháp 4: Phát triển ngôn ngữ nói theo tranh:
Với học sinh lớp 1, tư duy bằng trực quan là chủ yếu. Chính vì vậy ngôn
ngữ của các em phụ thuộc vào trực quan (tranh minh họa) là rất nhiều. Nếu
thiếu yếu tố này thì ngôn ngữ của các em hạn chế bởi vốn sống thực tế, vốn từ,
sự trau dồi ngôn ngữ của các em rất hạn chế. Đặc biệt với câu chuyện có lời
nhân vật thì một mình các em phải thể hiện nhiều vai (khác với nhập một vai
bất kỳ) cũng đồng nghĩa với giọng kể cử chỉ, điệu bộ phải thay đổi.
Ví dụ 1: Truyện Trí khôn [1]

Khi giáo viên treo tranh minh họa lên cho học sinh quan sát thì đã lôi cuốn
được sự tò mò của học sinh, sự tò mò đó càng được tăng lên khi kết hợp với lời
kể hấp dẫn của giáo viên. Đến phần học sinh kể chuyện theo tranh, đoạn thì
giáo viên yêu cầu học sinh quan sát tranh để mô tả sự tò mò của Hổ khi gặp bác
nông dân “ Hổ lân la tới gần bác nông dân, mắt tròn xoe, râu vểnh lên, với vẻ tò
mò, hỏi bác nông dân: Người kia trí khôn đâu cho ta xem. Bác nông dân thì
điềm tĩnh, khôn ngoan chăm chú nhìn vào con Hổ với vẽ tự tin, tay chỉ về phía
xa để trả lời: Trí khôn ta để ở nhà.... ”[3]. Trong khi đó giáo viên khi kể chỉ kể “
Hổ lân la tới gần bác nông dân hỏi: Người kia trí khôn đâu cho ta xem. Bác
nông dân đáp: Trí khôn ta để ở nhà ”
Ví dụ 2: Truyện Sư tử và Chuột Nhắt [2]
Đoạn 2: Tranh 3: Sư tử bị sa lưới, Chuột Nhắt cứu Sư tử
Khi yêu cầu học sinh quan sát tranh để kể lại nội dung đoạn truyện thì học
sinh có thể nhìn tranh kể được “Một con Sư Tử to tướng bị sa vào một cái lưới
miệng há hốc gầm gừ, vùng vẫy, tay thì cố sức kéo lưới hòng thoát khỏi nhưng
không sao thoát được đành nằm bẹp, với đôi mắt buồn rầu nằm chờ chết. May
sao, Chuột Nhắt thấy và đã gọi cả nhà ra, con thì kéo dây lưới, con thì cắn đứt
mắt lưới thật là khẩn trương và cuối cùng Sư tử đã thoát nạn ”[3].
Trong khi đó, giáo viên chỉ kể “ Sư tử bị sa lưới. Nó gầm gào, vùng vẫy
hết sức cũng không sao thoát được đành nằm chờ chết. May sao, Chuột Nhắt đi
qua thấy, chạy về gọi cả nhà ra, cắn một lúc đứt hết các mắt lưới. Nhờ thế Sư tử
thoát nạn”.
Như vậy việc quan sát tranh không những chỉ phát triển làm giàu vốn từ,
khả năng diễn đạt, sự làm chủ về ngôn ngữ của các em mà còn giúp kích thích
sự hứng thú cho các em.
Biện pháp 5: Khích lệ, động viên kịp thời giúp học sinh tự tin.
Với học sinh tiểu học, việc giúp các em tự tin trước đông người không phải
dễ dàng, Vì vậy việc khích lệ động viên cũng cần phù hợp với từng đối tượng.

9


Với học sinh có năng khiếu (kể tốt) thì yêu cầu kể chuyện ở các em cao
hơn, ngoài việc thuộc truyện các em còn kết hợp một số cử chỉ, điệu bộ, giọng
điệu phù hợp với nhân vật.
Ví dụ: Truyện: Rùa và Thỏ [2].

Đoạn 1: (tranh 1, 2) Khi kể giáo viên cần căn cứ đánh giá như sau:
- Lời vào truyện: giọng kể khoan thai, nhấn giọng một số từ ngữ thể hiện
sự chăm chỉ, cố gắng của Rùa “ đang cố sức tập chạy”
- Lời của Thỏ đầy kiêu căng, ngạo mạn: “Chậm như rùa (dài giọng mỉa
mai) mà cũng đòi tập chạy? ”.
- Lời Rùa chậm rãi, khiêm tốn nhưng đầy tự tin, dám thách Thỏ: “Anh
đừng giễu tôi! Anh với tôi thử chạy thi coi ai hơn ?”.
Nhưng đối với học sinh biết kể chỉ cần yêu cầu các em nhìn tranh kể được
từng đoạn hoặc nhớ để kể. Các em chỉ cần kể nội dung chậm, chưa đúng lời
nhân vật và không thể hiện được giọng điệu, cử chỉ cũng cần tuyên dương, động
viên khích lệ như thế các em sẽ thấy tự tin trước bạn, trước cô hơn, và thấy
mình cũng đã có sự tiến bộ, từ đó các em có hướng phấn đấu kể tốt hơn và cảm
thấy mình đã có thành công.
Đoạn 1: Học sinh chỉ kể được: “Rùa tập chạy. Thỏ nói đồ chậm như Rùa
mày mà cũng đòi tập chạy à ? Rùa trả lời anh đừng giễu tôi. Anh với tôi thử thi
coi ai hơn” thì giáo viên cũng nên tuyên dương, khích lệ học sinh để các em
thấy tự tin hơn khi kể chuyện.
Như vậy khi học sinh chỉ cần vượt bậc tuy ít nhưng có sự biến chuyển thì
giáo viên cũng nên khen để học sinh có động lực phấn đấu. Còn khi học sinh
chưa kể được thì giáo viên cũng không nên chê trực tiếp là “ em không biết kể ”
mà chỉ nói là “ em cần chú ý hơn sẽ nhớ được nội dung của chuyện ” hoặc học
sinh “ làm sai ” thì chỉ nói là “ em làm gần đúng rồi”. Bởi vì chính những lời
khen kịp thời đó sẽ là động lực khích lệ cho học sinh cố gắng hơn, sẽ làm cho
các em thêm tự tin có ý chí phấn đấu và cảm thấy chủ động hơn trước bạn bè,
trước mọi người qua đó rèn được kỹ năng giao tiếp cho các em.
Tóm lại, khi học sinh kể chuyện chỉ cần các em có sự tiến bộ mặc dù là rất
nhỏ chúng ta cũng nên cổ vũ, động viên các em một cách kịp thời để giúp các
em có niềm tin và tự tin hơn trước thầy, cô và trước các bạn. Từ đó các em có ý
chí phấn đấu hơn trong học tập đặc biệt là đối với những học sinh chưa biết kể.
Biện pháp 6: Rèn kỹ năng nghe, kể, nhận xét
Kỹ năng nghe kể rất quan trọng, đối với học sinh câu chuyện đó có hay
có hấp dẫn không thì điều đầu tiên phải giúp các em biết nghe cô kể, bạn kể
10


để cảm nhận từ đó biết đánh giá nhận xét. Kể thì có nhiều hình thức như: Thi
kể giữa các nhóm với nhau, kể chuyện theo tranh (giáo viên chỉ vào từng
từng tranh minh họa để kể lại nội dung câu chuyện, đại diện các nhóm chỉ
vào tranh minh họa và kể lại chuyện. Giáo viên nghe, nhận xét và khen, động
viên kịp thời học sinh).
Ví dụ 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh kể lại câu chuyện “Niềm vui bất
ngờ” [2]. Trước hết, giáo viên yêu cầu học sinh quan sát tranh, nghe cô kể lại
toàn bộ câu chuyện theo tranh minh họa, sau đó yêu cầu học sinh kể được
từng đoạn, tiếp theo một học sinh có năng khiếu kể toàn bộ câu chuyện. Biết
thay đổi giọng kể để phân biệt lời các nhân vật (Lời Bác: cởi mở, âu yếm;
Lời các cháu mẫu giáo: phấn khởi, hồn nhiên) và lời người dẫn chuyện (lúc
khoan thai, hồi hộp, khi lưu luyến, tùy theo sự phát triển của nội dung câu
chuyện). Học sinh kể chuyện từng đoạn theo tranh trong nhóm lớn, nhóm
đôi; một học sinh có năng khiếu kể lại toàn bộ câu chuyện trước lớp và nêu ý
nghĩa của chuyện....

Tranh minh họa câu chuyện Niềm vui bất ngờ [4]
Ngoài việc yêu cầu học sinh quan sát kỹ từng tranh, nghe cô, bạn kể
chuyện theo từng bức tranh minh họa và câu hỏi gợi ý dưới mỗi tranh, giáo viên
còn đưa ra một số gợi ý cơ bản lên bảng để học sinh nhớ được cốt truyện và kể
chuyện tốt hơn như:
+ Cô ơi! Cho chúng cháu vào thăm Bác Hồ đi!
+ Bác Hồ râu tóc bạc phơ, tươi cười đón các cháu.
+ Bây giờ các cháu thích gì nào?
+ Các cháu xúm xít theo Bác ra vườn.
+ Đã đến giờ Bác phải chia tay các cháu.
+ Các cháu lưu luyến vẫy tay chào Bác. [3].
Chính những yếu tố ở trên mà khi học sinh kể cảm thấy tự tin hơn, thể hiện
nhập vai nhân vật tốt hơn và nhớ nội dung truyện.
Ví dụ 2: Câu chuyện: Dê con nghe lời mẹ [2]
- Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát tranh, nghe cô kể lại toàn bộ câu
chuyện theo tranh minh họa, sau đó yêu cầu học sinh kể cho nhau nghe theo
nhóm đôi, mỗi em kể 2 tranh. Học sinh này kể thì học sinh kia lắng nghe và
giáo viên là người theo dõi, giúp đỡ các em.
-Tổ chức cho học sinh tham gia chơi trò chơi như “kể chuyện tiếp sức”
(theo đoạn), kể chuyện phân vai, đóng vai ....bạn còn lại có nhiệm vụ nhận xét
bạn kể:
+ Nội dung câu chuyện bạn kể đã đầy đủ chưa?
11


+ Lời nói của các nhân vật như người mẹ, Sói, ...đã phù hợp chưa?
+ Bạn thể hiện cử chỉ, điệu bộ của từng nhân vật đã phù hợp chưa?...
* Chú ý học sinh nhận xét, đánh giá theo nhóm. Khi phân nhóm kể thì giáo
viên phân theo nhóm: HS kể tốt, HS biết kể và HS chưa biết kể. Vì vậy khi
hướng dẫn học sinh nhận xét, việc đánh giá học sinh cần chú ý:
Nhóm HS kể tốt yêu cầu cao hơn. Ngoài thuộc truyện yêu cầu phải thể
hiện được giọng của nhân vật, kể đúng ngữ điệu....
Nhóm HS biết kể chỉ cần các em kể đúng nội dung câu chuyện một cách
tóm tắt (1đoạn, 2 đoạn hoặc cả truyện) cũng đã được tuyên dương vì đó cũng là
sự cố gắng rất lớn cho dù kết quả không bằng nhóm học sinh kể tốt.
Khi tập kể chuyện thì giáo viên phải cho học sinh nắm được cốt truyện
(không bỏ qua tình tiết, chi tiết cơ bản). Vì vậy giáo viên yêu cầu học sinh
khi kể phải bám sát nội dung tranh minh hoạ và những câu hỏi gợi ý. Ngoài ra,
giáo viên còn nên viết vắn tắt nội dung cốt truyện với tình tiết cơ bản nhất lên
bảng lớp (vì lúc này học sinh đã biết đọc). Như thế thì học sinh sẽ dễ nhớ nội
dung câu chuyện hơn và khi bạn kể thì những học sinh khác cũng nhận xét bạn
một cách chính xác hơn.

Tranh minh họa câu chuyện Dê con nghe lời mẹ [4]
Hiệu quả giờ học sẽ cao khi các em chú ý nghe cô kể, bạn kể, tự mình kể
lại được câu chuyện sẽ giúp cho việc đánh giá nhận xét bạn, biết đúng, biết sai,
biết được hoặc chưa được để tránh cho mình không mắc lỗi. Ngoài ra, còn
khích lệ giúp các em thích thú hơn, tự tin hơn trong giờ kể chuyện.
Biện pháp 7: Giúp học sinh kể chuyện sáng tạo
Kể chuyện sáng tạo tức là không phải thay thế lời lẽ, làm văn bản không
chính xác hay học sinh kể nguyên bản truyện. Mà sáng tạo là câu chuyện kể hồn
nhiên làm cho người nghe cảm nhận sự thuyết phục, hấp dẫn, ấn tượng đó mới
là sáng tạo. Có nhiều mức độ khác nhau gắn với kiểu bài tập khác nhau, nhưng
bản chất của kể chuyện sáng tạo không phải là kể khác nguyên văn cốt truyện
mà là kể tự nhiên như sống với câu chuyện kể bằng ngôn ngữ giọng điệu của
mình, thể hiện được cảm nhận của mình về câu chuyện đó, muốn làm được như
vậy bắt buộc học sinh phải nắm vững nội dung cốt truyện. Đối với lớp 1, yêu
cầu kể sáng tạo không cao như lớp2, 3, 4, 5 mà chỉ cần kể hồn nhiên bằng giọng
điệu, cảm xúc của mình, học sinh có thể thêm vào câu chuyện một số câu chữ
của mình (nhưng không làm thay đổi nội dung của câu chuyện) cũng có thể diễn
lại nguyên văn câu chuyện đã thuộc lòng một cách tự nhiên, trôi chảy, nhẹ
nhàng làm cho người nghe liền mạch nếu cao hơn còn biết nhập vai nhân vật thể
hiện qua ngữ điệu, cử chỉ, nét mặt và điệu bộ... một cách hồn nhiên là được.
Ví dụ 1: Chuyện “ Bông hoa cúc trắng ” [2]
12


Tình huống : Người mẹ tỉnh dậy, nói với con: “ Mẹ thấy trong người mệt
lắm. Con mời thầy thuốc về đây cho mẹ”[3].
Khi nhập vai học sinh cần chú ý:
+ Lời nhân vật: Giọng mỏi mệt, yếu ớt thể hiện người ốm nặng.
+ Cử chỉ, điệu bộ: nét mặt buồn rầu pha chút gắng sức.
Ví dụ 2: Chuyện “ Sói và Sóc ” [2]
Tình huống: Sóc bị Sói chồm được định chén thịt, Sóc van nài: “ Hãy thả
tôi ra nào! ”
Khi kể cần chú ý:
+ Lời của Sóc: Giọng mềm mỏng, nhẹ nhàng thể hiện được sự ân cần.
+ Cử chỉ, điệu bộ: nét mặt lo âu, sợ sệt..
Như vậy, phần kể chuyện sáng tạo là phần mà học sinh hào hứng nhất gây
sự thích thú trong mỗi học sinh. Nên hướng dẫn học sinh nhập vai sống với
nhân vật của chuyện là cả một nghệ thuật của giáo viên.
Biện pháp 8: Lồng ghép phân môn kể chuyện với các phân môn khác.
1. Phân môn Tập đọc - Học vần
Để học tốt phân môn kể chuyện thì người giáo viên cần biết kết hợp lồng
ghép vào một số phân môn khác: như phân môn Tập đọc, Học vần phần luyện
nói sau mỗi bài đọc nếu giáo viên chú ý luyện kỹ đến phần này sẽ giúp học sinh
mạnh dạn hơn, tự nhiên hơn, biết diễn đạt lời nói của mình đủ câu hơn, rõ ràng
hơn.
a. Tiết Học vần :
Ví dụ: Chủ đề luyện nói: Nặn đồ chơi - Bài 45 [1].
Sau khi các em được giáo viên hướng dẫn luyện nói trong nhóm thì đến
phần đại diện một số nhóm trình bày (nói) trước lớp thì giáo viên cần giúp học
sinh trình bày một cách tự tin, thể hiện được cử chỉ, điệu bộ, những sở thích của
mình khi nói về những đồ chơi mà mình đã nặn, những món quà mà mình đã
nặn để tặng người mà mình yêu quý, ý nghĩa của đồ vật mà mình đã nặn,... học
sinh có thể nói với bạn của mình rằng:
“ Tôi thường nặn đồ chơi bằng đất nặn hoặc đất sét. Tôi đã nặn được rất
nhiều đồ chơi như: quả đu đủ, quả cam, quả ớt, con trâu,...đồ chơi mà tôi yêu
thích nhất đó chính là hình ảnh chú bộ đội tôi nặn bằng đất nặn. Vì hình ảnh chú
bộ đội chính là hình ảnh của người cha mà tôi yêu quý nhất....”
b. Tiết Tập đọc :
Trong tiết tập đọc nếu như hướng dẫn học sinh đọc trôi chảy, không ngắc
ngứ, không đánh vần, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ thể hiện được nội dung bài học.

13


Ví dụ 1: Tập đọc bài: Trường em [2].
Để giúp cho học sinh thể hiện được nội dung bài đọc được đúng, hay thì
ở phần luyện đọc lại giáo viên có thể tổ chức cho học sinh thi đọc đúng, đọc
hay bài tập đọc. Khi học sinh thể hiện đọc trôi chảy, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ
thì đã thể hiện được nội dung của bài đọc, từ đó giúp học sinh tự tin hơn
trước đông người.
Ví dụ 2: Tập đọc bài: Vì bây giờ mẹ mới về [2].
Để giúp cho tiết kể chuyện được tốt hơn thì đến phần luyện đọc lại là hết
sức quan trọng. Bởi biết đọc trôi chảy, không ngắc ngứ, không đánh vần thể
hiện cảm xúc với đoạn, bài tốt hơn và từ đó các em có thể nhập vai nhân vật tốt
hơn như thể hiện giọng của các nhân vật:
+ Người dẫn chuyện: giọng kể chậm rãi, nhẹ nhàng.
+ Mẹ: giọng hoảng hốt khi thấy con khóc. Cao giọng sau mỗi câu hỏi (Con
làm sao thế? Đứt khi nào thế?...)
+ Cậu bé: Giọng uốn éo khi làm nũng mẹ (Con bị đứt tay. Lúc nãy ạ !..)
2. Môn Đạo đức :
Ví dụ 1: Bài 4: Gia đình em [5].
Bài tập 1: Kể về gia đình mình
Sau khi các em kể cho nhau trong nhóm nghe xong đến phần kể trước lớp,
giáo viên cần giúp học sinh kể về gia đình mình một cách rõ ràng với niềm tự
hào, với tình cảm trân trọng, kính yêu... thể hiện được cử chỉ, điệu bộ phù hợp
với tình cảm mà em dành cho mỗi người.
Ví dụ 2: Bài 7: Đi học đều và đúng giờ [5].
Bài tập 2: Đóng vai theo tình huống “ Trước giờ đi học ”
Sau khi cho học sinh thảo luận nhóm để chuẩn bị đóng vai tình huống thì
đến phần trình bày (thể hiện tình huống) trước lớp, giáo viên giúp học sinh thể
hiện tình huống một cách tự tin, về cử chỉ, điệu bộ phù hợp với lời của nhân vật
(tuỳ thuộc khả năng diễn xuất của từng nhóm) như:
+ Người mẹ: giọng ấm áp, trìu mến “ Con ơi, dậy đi học kẻo muộn ! ”
+ Người con: ngoan ngoãn, lễ phép “ Vâng, con sẽ dậy ngay mẹ ạ ! ”...
Mỗi lần thể hiện như trên, giáo viên đã giúp cho các em biết cách diễn đạt
trước đông người hơn, từ đó làm cho các em tự tin hơn, diễn đạt tốt hơn.
3. Lồng ghép trong tiết Hoạt động tập thể :
Ví dụ 1: Ở chủ điểm “ Biết ơn chú bộ đội ” giáo viên có thể tổ chức cho
học sinh thi kể chuyện, đóng kịch, phân vai về anh bộ đội mà em biết hoặc em
hãy đọc các bài thơ về chủ đề “Chú bộ đội”. Phần thi của các em là phần mà
14


học sinh có thể thể hiện mình trước đông người, hoặc hoá thân mình vào trong
câu chuyện, vai diễn...
Ví dụ 2: Trong tiết sinh hoạt 15 phút đầu giờ tôi có thể tổ chức cho các em:
“ Thi hát các bài hát mà em thích”. Khi học sinh lên thể hiện bài hát mà mình
thích trước lớp thì cũng đã giúp các em tự tin trước đông người, biết hoà mình
vào trong lời của bài hát và biết cách thể hiện bài hát bằng các cử chỉ, điệu bộ,
nét mặt hoặc điệu múa phù hợp với bài hát đó.
Ví dụ 3: Trong tiết Hoạt động tập thể chủ đề “Mẹ và Cô” tôi có thể yêu
cầu học sinh: Hãy kể cho cô và các bạn nghe những công việc mà hằng ngày mẹ
em đã làm và tình cảm của em đối với mẹ như thế nào. Đến phần học sinh lên
kể trước lớp, giáo viên cần giúp học sinh nói một cách tự tin để kể về mẹ của
mình với niềm tự hào, với tình cảm trân trọng, kính yêu... cử chỉ, nét mặt phù
hợp với tình cảm đó.
Như vậy, kể chuyện cũng đã góp phần không nhỏ vào việc rèn và phát
triển kỹ năng nghe, nói của học sinh trong các môn học khác.
Biện pháp 9: Phối hợp với phụ huynh học sinh “ cô và mẹ là hai cô giáo”.
Ba nhân tố không thể thiếu được trong giáo dục đó là “Gia đình - Nhà
trường - Xã hội” đặc biệt là đối với học sinh lớp 1. Ở trường có thầy cô, về nhà
có cha mẹ, vì vậy tôi đã hướng dẫn phụ huynh cách dạy học sinh kể chuyện,
cách khuyến khích động viên các em ở nhà kể hoặc gặp gỡ phụ huynh qua mỗi
lần phụ huynh đưa con đi học hay đón con về, cũng có khi đến tận nhà các em
hoặc trao đổi gián tiếp thông qua sổ liên lạc....nhằm giúp phụ huynh hiểu rõ tầm
quan trọng của phân môn kể chuyện trong môn Tiếng Việt, bởi không ít phụ
huynh vẫn còn coi trọng kiến thức như đọc, viết, tính toán nhiều hơn. Hơn nữa
phải cho phụ huynh nhận thức được phân môn kể chuyện, ngoài việc giáo dục
cuộc sống còn giúp các em phát triển ngôn ngữ, khả năng diễn đạt và sự tự tin
giúp các em học tốt các môn học khác. Khi phụ huynh đã nhận thức rõ được
tầm quan trọng của phân môn này thì tôi đã đưa ra một số hướng dẫn giúp phụ
huynh hướng dẫn học sinh tập kể chuyện ở nhà.
Ví dụ: Hướng dẫn kể: Rùa và Thỏ [2]
Bước 1: Hướng dẫn học sinh quan sát tranh kể theo tranh
Tranh1: Tranh vẽ gì? Rùa đang làm gì? Thỏ nói gì với Rùa?....
Bước 2: Hướng dẫn con kể sáng tạo.
+ Một mình con đóng 3 vai.
Người dẫn truyện, Thỏ, Rùa ( cần lưu ý giọng điệu của từng nhân vật )
+ Mẹ đóng vai cùng con.
Lưu ý: Phụ huynh nên để con mình tự nhận vai con thích nhất. Tất cả
những gì hướng dẫn cụ thể ở trên với phụ huynh đã cùng tôi giúp học sinh kể
chuyện tốt hơn và hăng say hơn, tự tin, thích học giờ kể chuyện hơn.
2.4. Hiệu quả sáng kiến.
15


Trong quá trình dạy học phân môn kể chuyện năm học 2016 -2017, tôi đã
áp dụng những biện pháp đã nêu ở trên vào giảng dạy tại lớp 1B, cùng với sự cố
gắng, nỗ lực của các em học sinh với những tiết học sôi động và đầy hứng thú,
tôi đã thu được kết quả như sau:
Tổng số học
Kể chuyện hay
Biết kể đúng nội
Chưa biết kể
sinh
(có năng khiếu)
dung chuyện
Số
Tỷ lệ
Số
Tỷ lệ
Số
Tỷ lệ %
27
lượng
%
lượng
%
lượng
6
22,2
21
77,8
0
0
So với kết quả thực nghiệm đầu năm và gần cuối năm học thì có nhiều cá
nhân học sinh trong lớp đã tiến bộ, tự tin tham gia thi kể chuyện trước lớp, giữa
các nhóm với nhau. Ngôn ngữ kể, nhập vai của các em có chuyển biến rõ rệt
trong giao tiếp.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Dạy học phân môn kể chuyện ở lớp 1 không khó, tuy nhiên để có những
giờ học sinh động và lôi cuốn học sinh thì giáo viên không những thuộc câu
chuyện mà phải luyện cho mình giọng kể truyền cảm, vận dụng những giải pháp
phù hợp với học sinh lớp mình dạy, có lòng nhiệt tình với học sinh và tâm huyết
với nghề nghiệp. Năm học 2016 – 2017, tôi đã mạnh dạn áp dụng một số biện
pháp nêu trên và học sinh lớp tôi rất hứng thú với phân môn này, các em hào
hứng, mong chờ đến giờ học kể chuyện để được nghe cô và các bạn kể cho nghe
những câu chuyện hay và bổ ích. Từ đó, học sinh lớp tôi đã có chuyển biến rõ
rệt về chất lượng phân môn kể chuyện nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung.
Qua thời gian thử nghiệm đến nay đã hoàn thành, tôi đã rút ra một số kinh
nghiệm như sau:
- Muốn có một tiết học kể chuyện hay, trước hết giáo viên phải chuyên tâm
với nghề, yêu trẻ.
- Cần phải chuẩn bị tiết dạy chu đáo (lập kế hoạch bài học, chuẩn bị trang
phục cho học sinh, tranh ảnh,..)
- Sử dụng đồ dùng được cấp và đồ dùng tự làm hoặc sưu tầm vật mẫu một
cách triệt để.
- Rèn ngôn ngữ kể chuyện, phong cách kể chuyện hấp dẫn để lôi cuốn
người nghe.
- Động viên khuyến khích học sinh kịp thời, đặc biệt là những học sinh
chưa có năng khiếu kể chuyện, chưa tự tin khi kể trước cô và bạn.
- Phối hợp với phụ huynh để giúp học sinh học tập được tốt hơn.

16


- Rèn cho các em tính mạnh dạn, tự tin trước đông người.
Nếu thực hiện tốt những điều trên, tôi tin rằng giờ kể chuyện sẽ được học
sinh yêu thích và hứng thú học tập.
3.2. Kiến nghị :
a. Đối với nhà trường.
- Thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề về
phân môn kể chuyện nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung để giáo viên được
cùng nhau trao đổi về nội dung dạy học, những phương pháp tích cực vận dụng
trong dạy học.
- Hằng năm, nhà trường mua bổ sung đồ dùng dạy học đặc biệt là bộ tranh
dạy học phân môn kể chuyện.
b. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo.
- Hằng năm, phòng Giáo dục và Đào tạo nên tổ chức nhiều chuyên đề và
hội thảo về dạy học phân môn kể chuyện.
- Tổ chức Hội thi kể chuyện cấp trường, cấp huyện để học sinh có dịp
được giao lưu học hỏi với bạn bè ở các trường bạn.
Trên đây là một số biện pháp giúp học sinh lớp 1B trường Tiểu học Thị
Trấn học tốt phân môn kể chuyện nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn
kể chuyện lớp 1 nói riêng và môn Tiếng Việt lớp 1 nói chung. Tuy nhiên, để đạt
được kết quả như mong muốn, mỗi giáo viên chúng ta cần thường xuyên học
tập và học hỏi, trao đổi cùng đồng nghiệp để tìm ra những cách dạy hay nhất để
tạo nên một lớp học luôn sôi nổi, học sinh luôn hứng thú học tập. Rất mong
được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cám ơn!
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Thanh Hóa, ngày 20 tháng 4 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người viết

Lê Thị Huyền

17


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tiếng Việt 1, tập 1 – Đặng Thị Lanh (chủ biên), Hoàng Cao Cương,
Trần Thị Minh Phương – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2011.
2. Tiếng Việt 1, tập 2 – Đặng Thị Lanh (chủ biên), Hoàng Hòa Bình,
Hoàng Cao Cương, Trần Thị Minh Phương, Nguyễn Trí – Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam, 2011.
3. Sách giáo viên Tiếng Việt 1 – Đặng Thị Lanh (chủ biên) – Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam, 2002.
4. Bộ tranh dạy học phân môn Kể chuyện lớp 1.
5. Vở bài tập Đạo đức 1- Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam – Lưu Thu
Thủy (chủ biên), 2005

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×