Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp dạy tập làn văn theo phương pháp tích cực cho học sinh lớp 5

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY TẬP LÀM VĂN
THEO PHƯƠNG PHÁP TÍCH CỰC
CHO HỌC SINH LỚP 5

Người thực hiện: Nguyễn Thị Hoài
Chức vụ
: Giáo viên
Trường: Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tiếng Việt

THANH HÓA NĂM 2017


I.MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:

Như chúng ta đã biết ngôn ngữ là tài sản riêng của mỗi con người để tạo
ra lời nói, văn bản.Mỗi người đều có sáng tạo riêng trong việc dùng từ và muốn
biểu lộ chính xác ý tưởng của mình thì phải biết sử dụng ngôn ngữ một cách phù
hợp trong khi tạo lập văn bản, cũng như trong giao tiếp. Văn chương là tiếng
nói, tình cảm, trí tuệ của người viết.Lê- nin đã nói: "Ngôn ngữ là phương tiện
quan trọng của loài người".Đúng vậy, ngôn ngữ có vai trò vô cùng quan trọng
đối với cuộc sống con người, là công cụ quan trọng để mọi người thể hiện,bộc lộ
khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt.
Môn Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học nhằm hình thành và phát triển
cho học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, đọc, nói, viết) để học tập và
giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Giúp học sinh có cơ sở
tiếp thu kiến thức ở các lớp trên.Tập làm văn là phân môn quan trọng trong
Tiếng Việt vì nó có tính tổng hợp, sáng tạo, thực hành và thể hiện được đậm nét
dấu ấn cá nhân. Nội dung chương trình tập làm văn của lớp 5 hiện nay khá
phong phú, học sinh được học một số loại văn như: Kể chuyện, miêu tả, viết thư
và một số loại văn bản khác (trao đổi ý kiến, giới thiệu hoạt động, báo cáo thống
kê, thuyết trình tranh luận…). Dạy tập làm văn lớp 5 nhằm trang bị kiến thức
và rèn luyện các kĩ năng làm văn; góp phần cùng các môn học khác mở rộng
vốn sống, rèn luyện tư duy lô gích, tư duy hình tượng, bồi dưỡng tâm hồn,
cảm xúc, thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho học sinh.
Trong chương trình Tiểu học, các bài làm văn gắn với chủ điểm của đơn
vị học.Quá trình thực hiện các kĩ năng phân tích đề, tìm ý, quan sát, viết đoạn
là những cơ hội giúp trẻ mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo các chủ đề đã
học. Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn bài kể chuyện, miêu tả, làm
biên bản,…góp phần phát triển khả năng phân tích, tổng hợp, phân loại của
học sinh. Tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện nhờ vận dụng các
biện pháp so sánh nhân hoá khi miêu tả cảnh, tả người, miêu tả nhân vật,
miêu tả đồ vật; nhờ huy động vốn sống, huy động trí tưởng tượng để xây
dựng cốt truyện.Khi học các tiết tập làm văn, học sinh cũng có điều kiện tiếp
cận với vẻ đẹp của con người, thiên nhiên qua các bài văn, đoạn văn điển
hình.Khi phân tích đề tập làm văn, học sinh lại có dịp hướng đến cái chân, cái
2


thiện, cái mĩ được định hướng trong các đề bài. Khi quan sát đồ vật trong văn
miêu tả, học sinh được rèn luyện cách nhìn đối tượng trong quan hệ gần gũi
giữa người và vật. Các bài luyện tập, làm báo cáo thống kê, làm đơn, làm biên
bản, lập chương trình hoạt động, viết thư, trao đổi với người thân, giới thiệu
địa phương, tóm tắt tin tức,…cũng tạo cơ hội cho học sinh thể hiện mối quan
hệ với cộng đồng.Những cơ hội đó làm cho tình yêu mến, gắn bó với thiên

nhiên, với người và vật xung quanh của trẻ nảy nở; tâm hồn, tình cảm của trẻ
thêm phong phú.Đó là những nhân tố quan trọng góp phần hình thành nhân
cách tốt đẹp của trẻ.
Đổi mới việc dạy cũng thế, trong việc thừa kế cái cũ, cái vốn có đòi hỏi
phải là một sự sáng tạo. Với các phân môn khác của Tiếng Việt, trong việc đổi
mới nội dung và phương pháp dạy học đã chỉ rõ quy trình các bước lên lớp rất
cụ thể rõ ràng.Còn với phân môn Tập làm văn, các nhà nghiên cứu chỉ đưa ra
quy trình chung nhất cho mỗi loại bài, chủ yếu vẫn là sự sáng tạo của giáo viên
khi lên lớp. Còn việc học thì sao ? Ngoài SGK Tiếng Việt thì hiện nay có rất
nhiều loại sách tham khảo cho học sinh, giúp cho học sinh có cái nhìn đa dang,
phong phú hơn.Song những cuốn sách tham khảo của phân môn Tập làm văn lại
thường đưa ra các bài văn mẫu hoàn chỉnh nên khi làm văn các em thường dựa
dẫm, ỉ lại vào bài mẫu, có khi còn sao chép y nguyên bài văn mẫu vào bài làm
của mình. Cách cảm, cách nghĩ của các em không phong phú mà còn đi theo lối
mòn khuôn sáo, tẻ nhạt.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đưa ra"Một số biện pháp dạy tập
làm văn theo phương pháp tích cực cho học sinh lớp 5”. Với mong muốn
góp phần bồi dưỡng và nâng cao năng lực diễn đạt cho học sinh, tạo tiền đề
vững chắc cho các em học tốt môn Tiếng Việt ở các bậc học tiếp theo.
2. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này mục đích nghiên cứu chính là tìm phương pháp tổ chức
thích hợp nhất trong quá trình dạy tập làm văn theo phương pháp tích cực cho
học sinh lớp 5. Từ đó vận dụng linh hoạt vào dạy tập làm văn theo phương pháp
tích cực cho học sinh một cách hiệu quả nhất.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Các biện pháp dạy tập làm văn theo phương pháp tích cực cho học sinh lớp 5
- Chương trình phân môn Tập làm văn lớp 5.
3


- Học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Nguyễn Văn trỗi
4. Phương pháp nghiên cứu
Trước thực trạng đó, tôi đã phân tích và tự đặt ra cho mình câu hỏi: phải
làm gì? Làm như thế nào? để khắc phục tình trạng đó và nâng cao chất lượng
đọc cho học sinh. Qua quá trình nghiên cứu tôi đã tiến hành sử dụng phối hợp
nhiều phương pháp nghiên cứu đó là: Phương pháp điều tra, phương pháp đối
chứng và phương pháp tổng quát. Ở đây phương pháp điều tra không chỉ dừng
lại ở điều tra thực trạng mà phải điều tra từng giai đoạn trong suốt năm học. Ở
mỗi giai đoạn tôi đều lấy kết quả đã đạt được để đối chứng với kết quả giai đoạn
trước, với kết quả năm trước và cuối cùng đi tổng hợp số liệu và rút ra bài học
kinh nghiệm.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận
Tập làm văn là một phân môn mang tính tổng hợp và sáng tạo cao. Tổng
hợp các kiến thức, kĩ năng từ Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu,...
để viết nên một bài Tập làm văn.
Theo quan điểm tích hợp, các phân môn được tập hợp lại xung quanh trục
chủ điểm và các bài đọc. Nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng gắn
bó chặt chẽ với nhau. Như vậy, muốn dạy- học có hiệu quả Tập làm văn miêu tả
(tả cảnh, tả người) nhất thiết người giáo viên phải dạy tốt Tập đọc, Kể chuyện,
Chính tả, Luyện từ và câu. Vì trong các bài đọc, trong câu chuyện, trong các bài
tập luyện từ- câu thường xuất hiện các đoạn văn, khổ thơ có nội dung miêu tả rất
rõ về cảnh vật, thiên nhiên, con người,...
Bài Tập làm văn nếu không sáng tạo sẽ trở thành một bài văn khô cứng,
góp nhặt của người khác, nội dung bài văn sẽ không hồn nhiên, trong sáng, mới
mẻ như tâm hồn của các tác giả nhỏ tuổi.
Chất lượng Tập làm văn là chất lượng của cảm thụ văn học, của các kĩ năng
nghe, nói, đọc, viết tiếng mẹ đẻ. Cho nên, thầy và trò phải soạn giảng và học tập
tích cực, nghiêm túc, hiệu quả, mới mong nâng cao một cách bền vững chất
lượng môn Tiếng Việt ở lớp cuối cấp Tiểu học.
- Dạy Tập làm văn lớp 5 phải đảm bảo mục tiêu yêu cầu cần đạt về kiến thức,
kĩ năng của Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học theo Chuẩn kiến
thức, kĩ năng của từng môn học (ban hành kèm theo quyết định số 16 của Bộ
4


GD-ĐT) và phù hợp trình độ của từng học sinh trong lớp mà “Hướng dẫn 896”
của Bộ GD-ĐT đã đề ra.
Cấu trúc chương trình phân môn Tập làm văn lớp 5
Số tiết
Loại văn bản
Kể chuyện( ôn tập)
Miêu tả:
-Miêu tả đồ vật (ôn tập)
-Miêu tả cây cối (ôn tập)
-Miêu tả con vật (ôn tập)
-Miêu tả cảnh
-Miêu tả người
Các loại văn bản khác:
-Báo cáo thống kê
-Đơn
-Thuyết trình tranh luận
-Biên bản
-Chương trình hoạt động
-Chuyển đoạn thành văn bản kịch
Tổng cộng số tiết

Học kì 1

14
08

Học kì 2

Cả năm

03

03

04
03
03
04
07

04
03
03
18
15

03
03
30

02
03
02
03
03
03
62

02
03
02
03

32

2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.1. Thực trạng
Về nội dung, kiến thức rất hợp lý với trình độ của lứa tuổi học sinh, nhiều
bài mang tính giáo dục rất cụ thể, gần gũi với học sinh, mạch kiến thức là một
chuỗi tích hợp theo từng chủ điểm hay trong toàn bộ chương trình Tập làm văn
lớp 5, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.
Song đối với học sinh tiểu học nói chung, với học sinh trường tiểu học
Nguyễn Văn Trỗi nói riêng việc học tập làm văn ở các em còn rất nhiều hạn chế.
Việc chuyển tải những kiến thức một cách dễ hiểu nhất đến với học sinh là một
điều trăn trở lớn của người giáo viên: Phải biết đưa ra “lưu lượng” kiến thức
đúng, hợp lý để làm sao vận dụng các hình thức dạy học, các phương pháp dạy
học hợp lý, có hiệu quả cao nhất, làm sao cho học sinh nắm chắc kiến thức
phần lý thuyết, từ đó mới luyện tập, thực hành tốt tức là chuyển từ nhận
thức sang hành động.

5


Nguyên nhân là trách nhiệm của người giáo viên. Phân môn Tập làm văn là
một môn học mang tính tổng hợp và sáng tạo, nhưng lâu nay người giáo viên
(nhất là giáo viên lớp 4, lớp 5) chưa có cách phát huy tối đa năng lực học tập và
cảm thụ văn học của học sinh; chưa bồi dưỡng được cho các em lòng yêu quý
Tiếng Việt, ham thích học Tiếng Việt để từ đó các em nhận ra rằng đã là người
Việt Nam thì phải đọc thông viết thạo Tiếng Việt và phát huy hết ưu điểm của
tiếng mẹ đẻ.
Xuất phát từ thực trạng và nguyên nhân trên, đồng thời thấy rõ vai trò,
nhiệm vụ của một giáo viên đang đứng trên bục giảng, tôi mạnh dạn đưa ra một
số giải pháp sau đây, hy vọng sẽ nâng cao được chất lượng phân môn Tập làm
văn cho lớp tôi.
Tuy trong mạch kiến thức gợi ý trong sách giáo khoa đã có sẵn, song với
yêu cầu của đề như vậy đối với học sinh lớp 5 quả là khó.Vì có những em có
tâm hồn văn học thì các em làm rất tốt, nhưng còn một số học sinh nhầm lẫn
truyện có sẵn trong sách, báo với yêu cầu của đề ra.
Chính vì vậy, tôi luôn trăn trở, tìm tòi biện pháp thích hợp nhằm nâng cao
chất lượng môn Tiếng Việt nói chung, phân môn tập làm văn nói riêng.
Dạy như thế nào để học sinh học giỏi Tập làm văn viết được những bài văn
sinh động ? Điều cơ bản là người dạy phải nắm vững nội dung chương trình,
đồng thời biết chọn và vận dụng phương pháp phù hợp để truyền thụ kiến thức
cho học sinh. Biết được học sinh cần gì, chưa biết những gì để xác định đúng
mục tiêu bài dạy, xác lập được mối quan hệ giữa kiến thức bài dạy với kiến thức
cũ và kiến thức sẽ cung cấp tiếp theo. Cụ thể, giáo viên cần nắm vững những
vấn đề sau :
Cả năm có 62 tiết trong đó Tập làm văn miêu tả 33 tiết (chiếm hơn 50% số
tiết) với mục tiêu là trang bị kiến thức và rèn luyện kĩ năng làm văn, góp phần
cùng với các môn học khác làm giàu vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm
hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho học sinh.
2.2. Kết quả khảo sát chất lượng
Đầu năm học 2015-2016, sau khi dược Ban giám hiệu nhà trường
phân công dạy khối 5, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng phân môn Tập
làm văn ở lớp 5C trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi ở tuần 5 năm học 20152016 do tôi phụ trách. Kết quả đạt được như sau:

6


Chưa hoàn
thành

Hoàn thành
Số lượng

Điểm 9- 10

Điểm 7-8

Điểm 5-6

38em

3em = 7,9%

20em= 52,6%

8em = 21 %

Điểm dưới 5

Học sinh
thích học

7em = 18,5% 14 em = 36,8%

Nhìn vào kết quả bảng khảo sát chất lượng học sinh cho thấy chất lượng
phân môn Tập làm văn chưa cao. Số học sinh đạt điểm 9-10 chưa nhiều đặc biệt
số học sinh thích học phân môn này còn khiêm tốn. Trước thực trạng trên, tôi đã
mạnh dạn đưa ra một số biện pháp dạy phân môn Tập làm văn nhằm nâng cao
chất lượng dạy học theo hướng đổi mới.
3. Các giải pháp và tổ chức thực hiện
3.1. Giải pháp thực hiện
- Khi dạy cần đạt được mục đích học sinh là trung tâm hoạt động học tập,
học sinh chủ động học, giáo viên dạy cho học sinh cách học, cách làm.
- Để học sinh học phân môn tập làm văn được tốt trong giờ học, giáo viên
cần kết hợp một cách linh hoạt các phương pháp dạy học truyền thống với
phương pháp dạy học hiện đại. Bên cạnh đó giáo viên cần tổ chức nhiều hình
thức học hay để gây hứng thú cho học sinh như học theo nhóm, tổ chức trò chơi,
học trong lớp hay học ngoài trời.
- Đặc biệt trong giảng dạy làm văn phương pháp luyện tập - thực hành cần
được chú trọng hơn vì học sinh có được luyện nói nhiều, nói hay từ đó mới
luyện viết văn hay.
Hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu và làm bài tập thực hành theo các
biện pháp sau:
+ Giúp học sinh nắm vững yêu cầu bài tập.
+ Tổ chức cho học sinh thực hiện bài tập.
+ Tổ chức cho học sinh đánh giá kết quả bài tập
Trong phần dạy bài mới, giáo viên phải nắm vững trình tự dạy đối với hai
loại bài Tập làm văn: loại bài dạy lý thuyết và loại bài dạy thực hành. Khi dạy
từng loại bài, giáo viên cần chú ý đến các đối tượng học sinh của lớp dạy theo
phương pháp cá thể hóa học sinh để phù hợp với năng lực học tập của các em.
- Giáo viên luôn có sự chuẩn bị bài tốt (Ban gám hiệu duyệt Kế hoạch bài
học của từng giáo viên vào ngày thứ hai của tuần), trong khi giảng bài trên lớp
luôn chú ý đều đến giáo dục kĩ năng sống cho học sinh và liên hệ với thực tiễn.

7


- Luôn có hệ thống câu hỏi đúng, chặt chẽ, khai thác triệt để kiến thức
từng bài, quan tâm đúng mức với từng em trong lớp.
- Đặc biệt trong giảng dạy kết hợp tổ chức nhóm trò chơi và nhóm chơi
tạo không khí vui nhộn, gây hứng thú cho học sinh được thực hành nhiều như thi
làm văn miệng hay, thi làm bài hay như trong những bài văn kể hành động nhân
vật, tả ngoại hình nhân vật ... thì tổ chức trò chơi rất hay.
- Luôn theo dõi, đánh giá, xếp loại học sinh bằng nhiều hình thức: Kiểm
tra viết, miệng; kiểm tra theo phiếu học tập; ...; tuyên dương trước lớp, ...
- Đặc biệt trong giờ giảng, lời nói rõ ràng, câu hỏi ngắn gọn, đúng
trọng tâm, học sinh dễ hiểu, tránh tình trạng giáo viên nói nhiều, từ đó
mới phát huy tính sáng tạo, phân tích, tổng hợp tốt ở học sinh.
3.2. Các biện pháp tổ chức thực hiện:
a) Hướng dẫn phân tích ngữ liệu
- Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập
+ Cho học sinh đọc thầm rồi trình bày lại yêu cầu của bài tập
+ Giáo viên giải thích thêm cho rõ yêu cầu của bài tập.

Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu

+ Tổ chức cho học sinh thực hiện làm mẫu một phần của bài tập để cả lớp nắm
được yêu cầu của bài tập đó.
- Tổ chức cho học sinh thực hiện bài tập

8


+ Tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân hoặc theo cặp, theo nhóm để
thực hiện bài tập.
- Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả và đánh giá kết quả
+ Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả.
+ Trao đổi với học sinh, sửa lỗi cho học sinh hoặc tổ chức để học sinh góp
ý cho nhau, đánh giá nhau trong quá trình làm bài.
+ Sơ kết, tổng kết ý kiến học sinh; ghi bảng nếu cần thiết
b) Hướng dẫn luyện tập, thực hành
- Khi giáo viên hướng dẫn cho học sinh thực hành luyện tập dựa trên kết quả
phân tích ngữ liệu để tổ chức cho học sinh làm bài bằng nhiều hình thức như
thảo luận nhóm, làm bài cá nhân hoặc tổ chức dưới hình thức một trò chơi.

\
Giáo viên hướng dẫn học sinh học nhóm

- Giáo viên chia dạng bài để hướng dẫn học sinh thực hiện có hiệu quả
trong mỗi tiết học. Cụ thể:
Dạng 1. Với dạng bài Luyện tập tả cảnh (Tuần 4 - SGK trang 43 - Tiếng Việt
5, tập 1)
Với bài văn tả trường, tôi đã tiến hành các hoạt động dạy - học như sau:
Cho học sinh quan sát cảnh trường, ghi lại những điều em quan sát được sau đó
báo cáo kết quả quan sát.

9


Khu Hiệu bộ trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi

Dãy phòng học khối 2- 3 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi

10


Dãy phòng học khối 4 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi

Giáo viên hướng dẫn học sinh vị trí đứng quan sát ( từ ngoài vào trong
hoặc từ trên xuống dưới. ...) tùy theo vị trí thích hợp mà học sinh cảm nhận được
vẻ đẹp của cảnh vật ở sân trường.
Từ kết quả quan sát cảnh trường học của mình, học sinh biết lập dàn ý chi
tiết cho bài văn tả ngôi trường đủ 3 phần:
Mở bài: Giới thiệu tên trường em học.
Thân bài: Biết lựa chọn những nét nổi bật để tả ngôi trường.
Tả bao quát ngôi trường; Tả chi tiết từng đặc điểm nổi bật của ngôi trường
gắn với những kỉ niệm, ấn tượng khó quên.
Kết luận: Nêu cảm nghĩ của em đối với ngôi trường.
Sau đó cho học sinh phát triển dàn ý thành bài văn miêu tả hoàn chỉnh.
Các hoạt động được tiến hành lên lớp như sau:
Hoạt động 1(5') Củng cố kiến thức
- Củng cố về làm bài văn tả cảnh
- Giáo viên nhận xét bài làm của học sinh ở tiết trước.
- Nhận xét, tuyên dương học sinh có bài làm tốt.
- Giáo viên giới thiệu bài (nêu mục đích, yêu cầu)
Hoạt động 2(30’): Luyện tập
Bài tập 1: Quan sát trường em. Từ những điều đã quan sát được, lập
dàn ý cho bài văn miêu tả ngôi trường.
11


- 1 học sinh đọc yêu cầu bài tập.
- Gọi 1 số học sinh trình bày kết quả quan sát đã chuẩn bị ở nhà.
- Học sinh làm bài cá nhân, lập dàn ý chi tiết, 2 học sinh làm trên giấy khổ to.
- Học sinh lần lượt trình bày dàn ý. 2 học sinh làm bài trên giấy khổ to lên dán
bài trên bảng trình bày.
- Học sinh cùng giáo viên nhận xét bổ sung. Ở phần này giáo viên sửa cho HS
những câu văn chưa đúng ngữ pháp, chưa hay. Đồng thời chỉ ra cho HS lớp thấy
được các câu văn giàu hình ảnh, gợi tả, gợi cảm để các em vận dụng đưa vào bài
văn của mình một cách sinh động.
Bài tập2: Chọn viết một đoạn văn theo dàn ý trên.
- 1 học sinh đọc yêu cầu bài tập.
- Học sinh làm việc cá nhân. Giáo viên quan tâm học sinh .
- Thu chấm, nhận xét.
+ Việc chấm và chữa bài cho học sinh là một khâu quan trọng.
+ Sửa câu đúng ngữ pháp, câu văn hay, có dung từ ngữ gợi tả, gợi cảm…
Để học sinh trong lớp học tập rút kinh nghiệm cho bản thân.
Hoạt động tiếp nối (2')
- Giáo viên nhận xét tiết học.
- Dặn học sinh chuẩn bị bài sau.
Ví dụ 1: “ Tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong một vườn
cây (hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy).
Khi xác định yêu cầu trọng tâm của đề bài, giáo viên phải làm sao giúp học
sinh hiểu được rằng việc viết đúng yêu cầu của đề bài là yếu tố quyết định nội
dung bài viết:
Với đề bài trên, ẩn chứa 3 yêu cầu sau:
a. Yêu cầu về thể loại của đề là: Miêu tả (thể hiện ở từ “Tả”).
b. Yêu cầu về nội dung là: Buổi sáng (hoặc trưa, chiều) thể hiện ở cụm
từ “cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều)”.
c. Yêu cầu về trọng tâm là: Ở trong một vườn cây (hay trong công viên….).
Trong thực tế, không phải đề bài nào cũng xác định đủ 3 yêu cầu. Như đề
bài “Tả một cơn mưa” chỉ có yêu cầu về thể loại và nội dung. Với đề bài này,
giáo viên cần giúp học sinh tự xác định thêm yêu cầu về trọng tâm của bài viết.
Chẳng hạn “Tả một cơn mưa khi em đang trên đường đi học”...
12


Việc xác định đúng trọng tâm của đề sẽ giúp cho bài viết được thu hẹp nên
các em có được ý cụ thể, chính xác, tránh việc viết tràn lan, chung chung,...
Sau khi hướng dẫn học sinh thực hiện các bước như trên số học sinh làm văn có
hình ảnh sinh động tăng lên nhiều. Đây là một số bài văn mà các em đã thực hiện
trong tiết học được giáo viên đánh giá cao.

Đây là những bài văn của em Nga và em Nguyên một sự tiến bộ rõ nét

13


Dạng 2: Với dạng bài Luyện tập tả người (Tuần 15 - SGK
trang 151 - Tiếng Việt 5, tập 1)
Với bài này, tôi đã tiến hành các hoạt động dạy - học như sau:
Hoạt động 1(5’) : Củng cố cách làm đoạn văn tả ngoại hình của một người.
- 2 học sinh đọc đoạn văn tả ngoại hình
- Lớp nhận xét, bổ sung.
- Giáo viên nhận xét.
Hoạt động 2(30’): Hướng dẫn học sinh luyện tập
Bài tập 1: Biết cách tìm những chi tiết tả hoạt động của nhân vật trong bài văn
- Học sinh đọc yêu cầu bài tập
- Học sinh thảo luận nhóm đôi làm bài
- Học sinh xác định các đoạn của bài văn và nêu nội dung chính của từng đoạn.
- Tìm chi tiết tả hoạt động của bác Tâm
- Học sinh yếu và trung bình trình bày, học sinh khá giỏi nhận xét bổ sung
- Giáo viên kết luận ý đúng, yêu cầu học sinh yếu đọc lại.
Bài tập 2: Viết được một đoạn văn tả hoạt động của một người
- Học sinh nêu yêu cầu.
- Giáo viên kiểm tra việc chuẩn bị của học sinh (Giáo viên cung cấp và gợi ý
cho học sinh một số từ ngữ khi tả người phù hợp với tuổi tác, tác phong,hoạt động
của mỗi người…)
- Một số học sinh giới thiệu người sẽ chọn tả hoạt động
- Học sinh viết và trình bày đoạn văn đã viết ( Giáo viên quan tâm học sinh yếu)
- Giáo viên tổ chức cho học sinh nhận xét .
d) Hoạt động nối tiếp (2')
- Giáo viên thu bài. Nhắc học sinh chưa hài lòng với bài làm của mình, có thể
viết lại bài vào buổi 2 rồi nộp cho giáo viên.
- Giáo viên nhận xét tiết học, biểu dương học sinh .
Dạng 3: Ôn tập văn kể chuyện (Tuần 22 Tiếng Việt 5, tập 2)
Với bày này, tôi đã tiến hành các hoạt động dạy - học như sau:
Hoạt động 1(3’) : Củng cố cấu tạo bài văn kể chuyện
-Học sinh nêu lại cấu tạo bài văn kể chuyện.
Hoạt động 2(30’): Hướng dẫn học sinh làm bài tập
Bài 1: Củng cố kiến thức về văn kể chuyện

14


- 1HS c yờu cu v ni dung ca bi trong Sỏch giỏo khoa, c lp theo dừi.
- Hc sinh lm vic theo nhúm 5 tr li cỏc cõu hi ca bi
- i din cỏc nhúm trỡnh by kt qu.
- C lp v giỏo viờn nhn xột, gúp ý
- Treo bng ph yờu cu hc sinh yu- trung bỡnh c li ni dung tng kt:
1. Th no l k chuyn?
(L k mt chui s vic cú u, cui; liờn quan n mt hay mt s nhõn vt.
Mi cõu chuyn núi u cú ý ngha).
2. Tớnh cỏch ca nhõn vt c
Tớnh cỏch ca nhõn vt c th hin qua:
th hin qua nhng mt no?
+ Hnh ng ca nhõn vt
+ Li núi, ý ngh ca nhõn vt
+ Nhng c im ngoi hỡnh tiờu biu.
3. Bi vn k chuyn cú cu to Bi vn k chuyn cú cu to 3 phn:
nh th no ?
+ M u (m bi trc tip hoc giỏn tip)
+ Din bin thõn bi)
+ Kt thỳc (kt bi khụng m rng hoc m rng
Bi 2: Rốn k nng phõn tớch tớnh cỏch ca nhõn vt trong truyn
- Hai hc sinh tip ni nhau c yờu cu ca bi: Hc sinh 1 c phn
lnh v truyn, hc sinh 2 c cỏc cõu hi trc nghim.
- C lp suy ngh lm bi cỏ nhõn vo v bi tp, sau ú trỡnh by ming
trc lp.
- C lp v giỏo viờn nhn xột cht li gii ỳng.
Hot ng 3(2) Hot ng ni tip:
- Giỏo viờn nhn xột tit hc.
- Dn v nh lm cỏc bi tp trong v bi tp , chun b bi sau.
Sau tit hc tụi cho hc sinh lm bi vn dng kin thc vo bui 2
vi bài tập: Kể lại câu chuyện: Cây khế
- Giáo viên tổ chức cho nhiều đối tợng học sinh có khả năng
khác nhau :
Cách 1: Đối vi hc sinh cũn hn ch v cỏch vit vn k chuyn: Chỉ
yêu cầu kể theo đúng thứ tự chuỗi sự việc, có thể giữ nguyên
các câu văn ở bài tập 1. Cụ thể là :

15


1. Cha mẹ chết, ngời anh chia gia tài, ngời em chỉ đợc cây
khế.
2. Cây khế có quả chim đến ăn, ngời em phàn nàn và chim
hẹn trả ơn bằng vàng.
3. Chim chở ngời em bay ra đảo lấy vàng, nhờ thế ngời em trở
nên giàu có.
4. Ngời anh biết chuyện, đổi gia tài của mình lấy cây khế,
ngời em bằng lòng.
5. Chim lại đến ăn, mọi chuyện xảy ra nh cũ nhng ngời anh
tham lam may túi quá to và lấy quá nhiều vàng.
6. Ngời anh bị rơi xuống biển và chết.
Cách 2: Đối với học sinh cú nng khiu v vit vn k chuyn : yêu
cầu các em làm phong phú thêm các sự việc nh sau :
1. Ngày xa có hai anh em, sau khi bố mẹ mất, ngời anh lấy
tất cả tài sản chỉ để lại cho em một cây khế. Ngời em nhẫn
nhịn, hàng ngày chăm sóc cây khế mong cây khế sớm ra quả.
2. Đến mùa cây khế bói rất nhiều quả to, chín vàng. Một
hôm có một con chim lạ lớn từ đâu bay đến đậu trên cây, ăn
hết quả này đến quả khác. Ngời em buồn rầu bảo chim : Chim ăn
hết khế, ta lấy gì mà sống đây ? Nghe vậy đại bàng đáp: Ăn
một quả trả cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng, rồi
bay đi.
3. Ngời em lấy vải may một cái túi nhỏ. Vài ngày sau đại
bàng đến chở ngời em bay ra hòn đảo có rất nhiều vàng bạc.
Ngời em lấy vàng bỏ túi rồi cỡi lên lng chim bay về. Từ đó, ngời
em trở nên giàu có .
3. ít lâu sau, ngời anh đến chơi, thấy em trở nên giàu có
thì hết sức ngạc nhiên. Ngời anh gạn hỏi, ngời em thật thà kể
lại câu chuyện. Ngời anh thấy vậy, đòi đổi gia tài của mình
lấy cây khế. Ngời em bằng lòng.
4. Ngời anh ngày đêm chực sẵn bên cây khế. Đại bàng lại
bay đến. Ngời anh giả vờ phàn nàn. Chim cũng hẹn đa anh ta
đi lấy vàng. Ngời may sẵn một cái túi thật to. Khi chim đa anh
ra đảo, anh ta nhặt vàng đầy túi lại còn giắt vàng khắp ngời.
16


5. Đại bàng cõng ngời anh và túi vàng bay về. Nhng vàng to
và nặng quá, đến giữa biển chim kiệt sức nghiêng cánh. Thế
là ngời anh và cả túi vàng rơi xuống biển.
Giáo viên nhận xét kết qu bài lm của học sinh và gợi
mở thêm những từ ngữ miêu tả ngoại hình, tính cách của
nhân vật hoc a ra cỏc cõu hi m dn dt cõu chuyờn gõy s chỳ ý , tũ
mũ ca ngi c v làm phong phú thêm bài làm của mình. Giỏo
viờn yêu cầu học sinh về nhà ghi lại những sự việc chính trong
một truyện đã học, đã đọc trong chơng trình.
+ Rèn kĩ năng cho học sinh trong khi làm bài văn kể
chuyện cần thực hiện những bớc làm sau :
- Khi làm bài văn kể chuyện cần gây hứng thú cho ngời
đọc bằng cách tạo ra một cốt truyện với những tình tiết hợp lí.
- Tạo sự thắt nút đến cao điểm hấp dẫn ngời đọc chú ý
theo dõi kết thúc câu chuyện.
- Trên cơ sở đã có cốt truyện tránh cho hoc sinh viết lan
man, nói ngay kết cục từ đầu gây tâm lí chán nản.
- Kết thúc tự nhiên phù hợp với lứa tuổi của các em. Tránh gợng
ép, sáo mòn đến vô lí.
Với việc hình thành cho học sinh biết xâu chuỗi các sự việc
trong cốt truyện sẽ hình thành một câu chuyện hoàn chỉnh
về hình thức cũng nh nội dung.
Dng 4. Vi dng bi M bi (hoc kt bi) trong bi vn k chuyn hoc
miờu t thỡ sau khi giỳp hc sinh nhn bit c hai cỏch m bi: m bi trc
tip, m bi giỏn tip v hai cỏch kt bi: kt bi khụng m rng, kt bi m
rng (nh ni dung phn ghi nh Sỏch giỏo khoa), tụi nhn mnh v cỏch m
bi giỏn tip v cỏch kt bi m rng.
a) M bi giỏn tip thng lụi cun s chỳ ý vi ngi c v to nờn
tớnh hp dn cho bi vn. vit c m bi giỏn tip, hc sinh khụng ch nm
vng c yờu cu trờn m cũn phi luyn tp nhiu ln. Vỡ vy , trong quỏ trỡnh
hng dn cỏc em luyn tp cỏch m bi giỏn tip, tụi nhc hc sinh nhn bit
my im c bn sau:

17


- Mở bài gián tiếp không nói ngay vào câu chuyện hoặc đối tượng miêu
tả mà phải nói "chuyện khác" gần gũi, liên quan rồi mới dẫn vào câu chuyện
định kể hoặc đối tượng miêu tả. Do đó về mặt hình thức, mở bài gián tiếp
thường phải viết từ hai câu trở lên, nhưng cũng không viết quá dài.
- Nói "chuyện khác" là nói từ "xa" nhưng nội dung phải gần gũi, có liên
quan đến câu chuyện định kể hoặc đối tượng miêu tả. "Chuyện khác" có thể đa
dạng, phong phú (tùy thuộc vào khả năng sáng tạo của người viết) nhưng phải
tạo được mối liên hệ với nội dung, ý nghĩa câu chuyện hoặc đối tượng miêu tả.
Ví dụ:
+ Nói về cảnh vật: Tuổi thơ của em có biết bao kỷ niệm gắn bó với
những cảnh vật của quê hương. Đây là dòng sông nhỏ đầy ắp tiếng cười của bọn
trẻ chúng em mỗi buổi chiều hè. Kia là triền đê rôn rã tiếng hát của thanh niên
nam nữ những đêm sáng trăng. Nhưng gần gũi và thân thiết nhất với em vẫn là
con đường từ nhà em đến trường- con đường đẹp đẽ suốt những năm tháng học
trò của em. (Tiếng Việt 5,tập 1, tr.83)
+ Nói về sự so sánh lựa chọn nhà em, mỗi người đều có sở thích riêng.
Bố em yêu bóng đá, mẹ thích nấu ăn, anh trai thì mê vi tính, còn em thì thích
chơi búp bê. Như bao bạn gái khác, em cũng có một con búp bê rất đẹp
+ Nói về m iêu tả; Mẹ vắng nhà cả tuần nay, em cu Tuấn buồn
không chạy chơi, bố cũng ít nói cười hẳn đi, căn nhà vắng vẻ, quạnh quẽ
vô cùng. Bỗng em thấy bóng ai từ ngoài cổng đi vào. Em reo lên “ A, mẹ
về! mẹ về!”. ( Tả mẹ của em)
+ Mở bài bằng một so sánh:
Em đã được đi thăm rất nhiều cảnh đẹp trên khắp mọi miền đất nước
như Vịnh Hạ Long, Biển Nha Trang, Động Phong Nha … nhưng không đâu đẹp
bằng cảnh biển Sầm Sơn quê em.
b) Kết bài mở rộng thường gợi suy nghĩ hoặc khơi dậy cảm xúc cho người
đọc. Do vậy, nó không chỉ làm nhiệm vụ "đóng lại" nội dung bài mà còn để lại "dư
âm" và tiếp tục "mở ra" những điều liên quan thú vị đối với người đọc. Hướng dẫn
học sinh luyện tập cách kết bài mở rộng, tôi nhắc học sinh mấy điểm sau:
- Đối với bài văn Kể chuyện, cần nêu rõ ý nghĩa hoặc đưa ra lời bình luận
(bàn bạc, đánh giá, nhận xét) về nội dung câu chuyện đã kể.
VD:

18


+ Nêu một ý mới lạ:
Một ngôi trường đẹp, một sân chơi đẹp, một bông hoa đẹp … Tất cả như
mời gọi học sinh chúng em mau bước đến trường. Tất cả như thúc giục tuổi trẻ
chúng em mau học tập thành tài để có thể viết nên những câu thơ, câu văn làm
đẹp cuộc đời, làm đẹp lòng người.
+ Đưa ra một câu văn:
Trong ngôi trường thân yêu, em được sống giữa vòng tay yêu quý của
thầy cô hết lòng truyền thụ kiến thức. Trong ngôi trường thân yêu, em được sống
giữa vòng tay nhân ái của bạn bè cùng học tập, vui chơi. Đẹp biết bao ngôi
trường của em! Vì nơi đây chan chứa tình người đúng như ý nghĩa câu thơ:
“ Có gì đẹp trên đời hơn thế
Người yêu người sống để yêu nhau.”
Giáo viên cũng có thể hướng dẫn học sinh nêu lợi ích của đồ vật, cây cối, ...
hoặc liên tưởng đến một kỉ niệm , bộc lộ một ước mơ, gợi ra một tương lai đẹp
đẽ, ... để kết bài mở rộng cho bài văn miêu tả. Đoạn kết bài nêu được cảm nghĩ
chân thành của người viết, liên hệ hay mở rộng một cách tự nhiên sẽ làm cho
người đọc có ấn tượng sâu sắc về đối tượng miêu tả, để lại "dư âm" tốt đẹp ở
cuối bài văn.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Sau khi nghiên cứu và triển khai thực hiện ở tại lớp mình đang trực tiếp
giảng dạy theo đúng kế hoạch bài học trong chương trình. Bên cạnh dạy đúng đủ
số tiết theo quy định, tôi đã kết hợp linh hoạt các hình thức và phương pháp dạy
học phát huy tính tích cực của học sinh nhằm khai thác tối đa khả năng tư duy
và thực hành của học sinh khi sử dụng ngôn ngữ miêu tả .
Trong quá trình giảng dạy tôi đã tiếp tục khảo sát qua mỗi lần dạy trong
dạng bài này của học sinh và kết quả cho thấy mỗi lần sau đều cho kết quả khả
quan hơn các lần trước, cụ thể như sau:
Lần 1 ( Tuần 10 – Giữa học kì 1)
Lớp 5C
38 bài
Chưa hoàn thành
Hoàn thành

Bố cục
SL
3
35

TL
7,9
92,1

Dùng từ, đặt câu
SL
4
34

TL
10,5
89,5

Chất lượng bài
văn
SL
TL
8
21,1
30
78,9
19


- Lần 2 ( Tuần 28- giữa học kì 2 ) :
Sau khi đã áp dụng các phương pháp dạy học tích cực vào dạy phân môn
Tập làm văn lớp 5, tôi tiếp tục kiểm tra khảo sát và thu được kết quả như sau:
Lớp 5C
38 bài
Chưa hoàn thành
Hoàn thành

Bố cục
SL
0
38

Dùng từ, đặt câu
TL
0
100

SL
2
36

TL
5,3
94,7

Chất lượng bài
văn
SL
TL
1
2.6
37
97,4

Qua quá trình thực nghiệm sáng kiến của mình, tôi nhận thấy sau mỗi lần
kiểm tra số bài chưa hoàn thành giảm đi nhiều, số bài đạt yêu cầu về mặt bố cục,
về dùng từ đặt câu và cao hơn là chất lượng bài văn đã tăng rõ rệt. Nhất là đối
tượng học sinh hoàn thành đã biết sử dụng ngôn ngữ miêu tả vào viết văn một
cách chọn lọc và tinh tế hơn. Qua đây tôi nhận thấy biện pháp dạy học của mình
cũng đã phát huy tác dụng tương đối tích cực và cũng thu được những hiệu quả
nhất định.
Tóm lại:
- Khi áp dụng phương pháp tích cực trong dạy phân môn Tập làm văn mới
ở lớp, kết quả học sinh hiểu bài nhanh, được thực hành nhiều hơn và tự hoàn
thành bài một cách nhanh chóng. Đặc biệt văn nói và viết, học sinh làm tốt vì ở
các dạng, bài đều truyền tải kiến thức theo chương trình đồng tâm, từ chi tiết
đến tổng quát, từ đơn giản đến phức tạp, phát huy rõ tính tư duy, sáng tạo, độc
lập, tự tin của học sinh được thể hiện suốt cả tiết học, bài học. Cụ thể là 100% số
HS trong lớp hoàn thành về kiến thức, kĩ năng của phân môn Tập làm văn.
- Để giảm bớt những khó khăn nhầm lẫn của học sinh nêu trên. Khi dạy
Tập làm văn, giáo viên luôn xác lập, lập được mối quan hệ giữa nội dung và
hình thức, lấy trò làm trung tâm. Thầy, cô chỉ là người giúp đỡ trò là người thi
công.
- Giúp học sinh thực hiện các kỹ năng phân tích đề, tìm ý, quan sát, viết
đoạn văn, bài văn là cơ hội giúp các em mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo các
chủ điểm.
- Việc lập dàn ý, chia đoạn cho bài văn ... góp phần phát triển khả năng
phân tích, tổng hợp từ đó tư duy hình tượng của các em cũng được rèn luyện
nhờ vận dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá... Khi làm bài văn miêu tả nhân
vật, tả đồ vật, huy động trí tưởng tượng để xây dựng cốt truyện.

20


- Bi dng, to iu kin cho hc sinh tip cn vi v p ca con
ngi, thiờn nhiờn qua cỏc on vn, bi vn in hỡnh.
- Tụn trng cỏc gii phỏp ca hc sinh a ra, t ú giỏo viờn l ngi
giỳp hc sinh tỡm ra gii phỏp ỳng, hay.
- T chc cho hc sinh thc hin lm mu 1 phn ca bi tp.
- T chc cho hc sinh lm vic cỏ nhõn hoc theo cp, theo nhúm.
- T chc giỳp hc sinh bỏo cỏo kt qu bng nhiu hỡnh thc khỏc nhau.
- c bit khõu kim tra, ỏnh giỏ, nhn xột ca giỏo viờn cn chun v hay.
- Khi dy hc li núi ca giỏo viờn phi rừ rng, cõu hi ngn gn, d hiu, trong
gi cn chỳ ý quan tõm n tt c cỏc i tng hc sinh, phỏt huy c tớnh
tớch cc ca hc sinh trong hc tp.
III. KT LUN, KIN NGH
1. Kt lun:
Để có đợc những kinh nghiệm nhỏ này tôi đã phải thực
hiện những công việc sau:
- Nghiên cứu nội dung chơng trình môn tiếng việt toàn cấp
nhất là khối 4, 5.
- Đọc bài làm của học sinh và phân loại lỗi cụ thể, nghiên cứu
biện pháp khắc phục lỗi đó một cách hiệu quả.
- Tiến hành dạy học thực nghiệm đồng loạt bằng kinh
nghiệm nhỏ của mình.
- Kiểm tra để đánh giá tính khả thi của các biện pháp thực
nghiệm.
Nh vậy hiệu quả học tập của học sinh phụ thuộc rất nhiều
vào ý thức học tập, môi trờng học tập và cách tiếp cận với nội
dung cần lĩnh hội một cách khoa học và hiệu quả nhất.
Trờn õy l mt sỏng kin nh ca bn thõn. Trong quỏ trỡnh ging dy, tụi
ó ỏp dng dy tp lm vn theo phng phỏp mi, phng phỏp tớch cc vo
thc t v ó thc nghim thnh cụng, cht lng cao, khỏch quan vỡ hc sinh
cú hc tp lm vn tt thỡ mi giỳp hc tt cỏc mụn hc khỏc. Nhng c hi ú
lm cho tỡnh cm yờu quờ hng, t nc, gn bú vi thiờn nhiờn, vi con
ngi v vic xung quanh ca cỏc em ny n, tõm hn, tỡnh cm ca cỏc em

21


thêm phong phú. Đó là những nhân tố quan trọng góp phần hình thành nhân
cách tốt đẹp của trẻ.
2. Kiến nghị:
Đối với giáo viên tuỳ vào từng bài vận dụng sáng tạo linh hoạt các
phương pháp và các hình thức dạy học, phải tạo được đối tượng giao tiếp.
- Quan tâm đặc biệt đến từng đối tượng học sinh, phát huy tính sáng tạo
của học sinh; Phải quan tâm, giúp đỡ học sinh tiếp nhận đúng kiến thức từng bài
tập làm văn từ đó học sinh biết vận dụng vốn hiểu biết vào thực tiễn.
Với trình độ có hạn song tôi cũng mạnh dạn đưa ra "Một số biện pháp
dạy tập làm văn theo phương pháp tích cực cho học sinh lớp 5”. Và với kinh
nghiệm giảng dạy trực tiếp, bản thân tôi đã chỉ ra được những ưu - nhược điểm
khi dạy - học Tập làm văn lớp 5. Từ đó đã đưa ra những biện pháp khắc phục
những nhược điểm còn tồn tại, biết phối hợp các phương pháp dạy học hiện đại
và phương pháp dạy học truyền thống một cách hợp lý với các hình thức dạy
học, để làm sao đưa kết quả giáo dục học sinh đạt hiệu quả cao nhất.
Trong quá trình thực hiện, chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Rất mong nhận
được sự góp ý, bổ sung của đồng nghiệp và Hội đồng khoa học các cấp, để sáng
kiến thêm hoàn thiện, góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục nói
chung, chất lượng môn Tiếng Việt nói riêng.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 05 tháng 4 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.

Người viết
(Ký và ghi rõ họ tên)

Nguyễn Thị Hoài

22


MỤC LỤC
Trang
Phần I: Mở đầu……………………………………………………........

1

1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………......

1

2. Mục đích nghiên cứu:…………………………………………….......

1

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu…………………………………....

1

4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………….......

3

Phần II: Nội dung sáng kiến………………………………………….

3

1. Cơ sở lý luận………………………………………….........................

3

2 .Thực trạng của vấn đề:……………………………………………......

4

2.1. Thực trạng……………………………………………..……..............

4

2.2. Kết quả khảo sát…………………………………..............................

5

3. Các giải pháp và tổ chức thực hiện

6

3.1. Giải pháp thực hiện……………………………………………......

6

3.2. Các biện pháp tổ chức thực hiện:……………………………............

6
23


4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm ………..…..................................

18

Phần III: Kết luận, kiến nghị………………….......................................

20

2. Kết luận:……………………………………………………………...

20

3.Kiến nghị:…………………………………………………………......

20

24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×