Tải bản đầy đủ

Một vài kinh nghiệm rèn viết chữ đẹp cho học sinh lớp 1

PHỤ LỤC
Phần A: MỞ ĐẦU:
I. Lí do chọn đề tài…………………. ……………………………. ....… Trang 2
II. Mục đích nghiên cứu: ………………………………… ……… ....… Trang 2
III. Đối tượng nghiện cứu:……………………………. ……………....…Trang 3
IV.Phương pháp nghiên cứu.……………………………. …………....…Trang 3
Phần B : NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
I. Cơ sở của sáng kiến kinh nghiệm. . ………………….....................

Trang 4

II. Thực trạng của lớp trước khi nghiên cứu đề tài……………………Trang 5, 6
III. Các giải pháp giải rèn chữ viết cho học sinh lớp 1…………… Trang 6 - 14
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm ……………………………....Trang 15
Phần C: KẾT KUẬN, KIẾNGHỊ:
I. Kết luận: ……………………………………….. …........ ……….......Trang 16
II. Kiến nghị: ……………………………………….. …………....…....Trang 17

1



SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“MỘT VÀI KINH NGHIỆM RÈN CHỮ VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 1”
A . MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Tập viết là phân môn có tầm quan trọng đặc biệt ở bậc Tiểu học. Ở phân môn
Tập đọc giúp học sinh đọc thông, thì phân môn Tập viết giúp các em viết thạo. Đọc
thông viết thạo có quan hệ mật thiết với nhau, cũng như dạy Tập viết, Tập đọc
không thể tách rời nhau. Viết đúng mẫu, rõ ràng và nhanh, học sinh sẽ có điều kiện
ghi chép bài học của tất cả các môn học tốt hơn.
Ngoài ra, tập viết còn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh
những phẩm chất đạo đức tốt như cẩn thận, tinh thần kỷ luật và óc thẩm mỹ. Như
cố vấn Phạm Văn Đồng đã nói "chữ viết cũng là một biểu hiện của người viết. Dạy
cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em
tính cẩn thận, tính kỉ luật, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy, cô và
bạn đọc bài vở của mình".
Như cố vấn Phạm Văn Đồng đã nói "chữ viết cũng là một biểu hiện của
người viết. Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn
luyện cho các em tính cẩn thận, tính kỉ luật, lòng tự trọng đối với mình cũng như
đối với thầy, cô và bạn đọc bài vở của mình". Bởi vậy, vấn đề rèn chữ viết cho học
sinh Tiểu học là vô cùng quan trọng và cấp thiết. Để các em viết đúng quy trình,
viết đẹp và đều nét chữ không phải là dễ dàng và đây cũng là một quá trình học tập,
rèn luyện. Mặc dù hiện nay, vào thời điểm công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ,
tác động không nhỏ tới đời sống mọi mặt xã hội, có thể không cần chữ viết đẹp vì
đã có máy tính. Nhưng với những ý nghĩa giáo dục như đã nêu trên thì việc rèn chữ
cho học sinh ngày càng cần thiết, nó góp phần vào việc giáo dục toàn diện cho học
sinh. Chính vì vậy, trong quyết định ban hành quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo
viên Tiểu học của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ngày 4/5/2007 số 14/2007/QĐ - BGDĐT
cũng đã nêu rất rõ yêu cầu giáo viên Tiểu học phải viết đúng mẫu, biết cách hướng
dẫn học sinh “Giữ vở sạch, viết chữ đẹp”.
Qua thực tế nhiều năm giảng dạy ở lớp 1, với ý thức, lương tâm, trách nhiệm
nghề nghiệp tôi luôn suy nghĩ và trăn trở, không ngừng tích luỹ kinh nghiệm về chữ
viết để sớm giúp học sinh có chữ viết đúng, đẹp thông qua đề tài: “Một vài kinh
nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 1”.

2


II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích nhằm nâng cao chất lượng chữ viết
cho học sinh của trường Tiểu học Đông Vệ 2 nói chung và HS lớp 1C tôi chủ

nhiệm nói riêng. Góp phần đẩy mạnh phong trào “Giữ vở sạch – Viết chữ đẹp” của
trường Tiểu học Đông Vệ 2 và của các trường Tiểu học trong thành phố Thanh
Hóa.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Một vài kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 1.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp luyện tập
- Phương pháp so sánh, đối chứng
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
- Phương pháp thử nghiệm
- Phương pháp kiểm tra đánh giá.

3


B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I.

CƠ SỞ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.

1. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Tập viết là một trong những phân môn có tầm quan trọng đặc biệt ở Tiểu
Học nhất là đối với học sinh lớp Một. Tập viết trang bị cho học sinh bộ chữ cái
Tiếng Việt và những yêu cầu kĩ thuật để sử dụng bộ chữ cái đó trong học tập và
giao tiếp, góp phần rèn luyện một trong những kĩ năng hàng đầu của việc học Tiếng
Việt trong nhà trường đó là kĩ năng viết chữ.
Dạy Tập viết cụ thể là dạy học sinh những khái niệm cơ bản về đường kẻ,
dòng kẻ, hình dáng, tên gọi các nét, độ cao, cỡ chữ, cấu tạo chữ cái, vị trí dấu
thanh, dấu phụ, các khái niệm liên kết nét hoặc liên kết chữ cái … . Từ đó hình
thành ở các em về hình dáng, độ cao, sự cân đối, tính thẩm mĩ của chữ viết.
Dạy học sinh biết được những kĩ năng và thao tác viết chữ từ đơn giản đến
phức tạp bao gồm những kĩ năng viết nét, liên kết nét tạo chữ cái và liên kết chữ cái
tạo chữ ghi tiếng. Đồng thời giúp các em xác định khoảng cách, vị trí cỡ chữ trên
vở kẻ ô li để hình thành kĩ năng viết đúng mẫu, rõ ràng và cao hơn là viết nhanh,
viết đẹp. Ngoài ra, tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở, cách trình bày bài viết
cũng là một kĩ năng đặc thù của việc dạy Tập viết mà giáo viên cần thường xuyên
quan tâm. Bên cạnh đó giáo viên cần nắm vững chương trình tập viết hiện hành của
Bộ Giáo Dục và Đào tạo để không những nâng cao chất lượng dạy viết chữ mà còn
phối hợp với các hợp phần khác nhằm phát huy vai trò công cụ của việc Tập viết.
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trong thực tế nhiều năm trở lại đây, chữ viết của học sinh Tiểu học nói chung
và đặc biệt chữ viết của học sinh lớp 1 nói riêng các em viết còn chưa đẹp, vở trình
bày chưa sạch sẽ. Chữ viết chưa đúng mẫu, đúng cỡ. Khoảng cách giữa các con chữ
không đều, quá dày hoặc quá thưa, hoặc giữa các con chữ trong một chữ không nối
liền nhau . Qua khảo sát của hai lớp ở trường tôi sau bảy tuần đầu của năm học tôi
đã thống kê các loại lỗi như sau:
- Chữ viết không đúng mẫu, đúng cỡ 51%
- Khoảng cách giữa các chữ không đều 69%
-

Kĩ thuật nối chữ chưa đúng 65%

4


Trên đây là những chỉ số đáng lo ngại về chất lượng chữ viết. Để nâng cao chữ
viết cho học sinh tiểu học nói chung và chất lượng chữ viết cho học sinh lớp Một
nói riêng, bản thân tôi rất băn khoăn lo ngại, tôi luôn tìm tòi nghiên cứu, bằng mọi
biện pháp dạy tốt môn Tập viết để rèn chữ viết cho học sinh.
II. THỰC TRẠNG CỦA LỚP TRƯỚC KHI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
1. Thuận lợi:
Phòng Giáo dục và Đào tạo Thành phố Thanh Hóa và Ban lãnh đạo của Trường
Tiểu học Đông Vệ 2 rất quan tâm đến phong trào “Giữ vở sạch – Viết chữ đẹp”.
Hằng năm, Phòng Giáo dục đều tổ chức kiểm tra phong trào “Giữ vở sạch – Viết
chữ đẹp” trong các nhà trường, để thúc đẩy các nhà trường duy trì nền nếp “Giữ vở
sạch – Viết chữ đẹp”. Đối với Trường Tiểu học Đông Vệ 2 chúng tôi còn tổ chức
hội thi viết chữ đẹp ở tất cả các khối lớp để khuyến khích các em viết chữ đẹp.
- Nhiều giáo viên trong trường viết chữ đẹp chuẩn mực để HS học tập theo chữ
viết của cô.
- Đa số giáo viên thấy được tầm quan trọng của việc “Giữ vở sạch – Viết chữ
đẹp” và tích cực rèn luyện chữ viết cho học sinh.
- Giáo viên nhiệt tình, có kinh nghiêm và có sáng tạo trong các giờ Tập viết để
nâng cao chất lượng chữ viết của lớp.
- Điều kiện cơ sở vật chất và ánh sáng phòng học đầy đủ cho học sinh ngồi học.
Bảng treo đúng độ cao. Học sinh có đầy đủ đồ dùng học tập.
- Nhà trường đầu tư cơ sở vật chất: Bộ chữ mẫu của Giáo viên, những bảng chữ
mẫu (với nhiều kiểu chữ) cho học sinh quan sát.
2. Khó khăn:
Đầu năm học khi nhận lớp, nhiều em chưa biết cầm bút, có em biết viết
nhưng không viết mà chỉ cầm bút ngồi nhìn các bạn viết hoặc ngồi nghịch và nói
chuyện với bạn bên cạnh. Tôi thật sự boăn khoăn lo lắng và trăn trở. Từ đó, tôi bắt
đầu suy nghĩ phải tìm hiểu thực tế vì sao các em chưa viết được, viết chưa đẹp. Đó
là một vấn đề cấp bách đối với bản thân tôi. Sau đó tôi tiến hành tìm ra những giải
pháp cụ thể nhằm khắc phục tình trạng non yếu này. Có rất nhiều nguyên nhân chủ
yếu sau đây:
- HS lớp 1 còn hiếu động, một số em chưa tập trung trong học tập, thiếu sự
kiên trì, ý thức trình bày bài viết còn yếu nên rất cẩu thả. Hơn nữa, tính thẩm mĩ
của các em chưa cao nên nhận thức về cái đẹp còn hạn chế, cần có sự hướng dẫn,
giúp đỡ của giáo viên, người lớn.
- Thực tế hiện nay, nhiều học sinh tiểu học còn gặp rất nhiều khó khăn về kĩ
năng chữ viết, giữ vở cụ thể là:
5


+ Mẫu chữ viết không thống nhất, có những em không xác định được dòng
kẻ, ngồi viết chưa đúng tư thế vì còn mải chơi, không chú ý.
+ Chưa xác định được khoảng cách viết giữa các con chữ và các chữ trong từ.
Các em viết sai về độ cao, thế chữ chưa đúng mẫu. Viết nét nối giữa các con chữ (ch,
tr, nh, ph, ng, ngh, gh, gi) chưa đúng, chưa đẹp.
+ Khi viết sai các em gạch xóa, tẩy tùy tiện, tay tì lên giấy không đúng quy
định … nên vở viết của các em rất bẩn, nhầu nát, quăn mép…
+ Giấy viết, loại bút, loại mực không đồng nhất, kém chất lượng làm cho bài
viết của các em xấu đi rất nhiều.
- Gia đình học sinh đa số là con bố mẹ lao động tự do còn lại là bố mẹ là công
chức, viên chức nhà nước nên việc tập cho các cháu biết viết là rất ít, Chỉ một số
gia đình mua vở về cho các con tập tô còn lại phụ huynh chưa thật sự quan tâm đến
việc học tập của con em.
- Bản thân mỗi em chưa phát huy được tính tự học tự rèn ở trường cũng như ở
nhà. Mặt khác phụ huynh chưa đôn đốc nhắc nhở còn thơ ơ với việc học tập.
- Các em còn ham chơi hơn ham học.
- Học sinh chưa nắm được cấu tạo nét, điểm đặt bút, dừng bút của các nét cơ
bản, các con chữ … Chưa nắm được quy trình viết hay viết ngược chữ.
- Cầm bút chưa đúng cách, ngồi viết chưa đúng tư thế, chưa khoa học.
- Dụng cụ hoc tập còn thiếu ở một số em.
- Một số học sinh chưa được qua mẫu giáo.
III.CÁC GIẢI PHÁP RÈN VIẾT CHỮ ĐẸP CHO HỌC SINH LỚP 1.
1. ĐIỀU TRA, PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH ĐẦU NĂM HỌC:
Đây là lớp học đầu cấp, các em đến trường đang còn bỡ ngỡ với những con
chữ. Nhìn thì thấy rất đơn giản nhưng để viết đúng mẫu, cỡ chữ, viết đúng khoảng
cách và thành thạo thì trẻ cần phải gắng công khổ luyện dưới sự tận tình chăm sóc
của thầy cô.
Ở trường Tiểu học đã từ lâu rất chú trọng đến chữ viết nhưng học sinh vẫn
viết xấu là do nhiều nguyên nhân: Từ phía nội dung chương trình, từ phía phụ
huynh, học sinh và giáo viên.
Như chúng ta đã biết, ngay ở học kì 1 phân môn tập viết có một tiết riêng mà
2 tuần mới viết một bài, những bài còn lại trong vở nó được lồng ghép với tiết Học
vần. Do vậy, để đầu tư cho học sinh viết chữ đẹp toàn lớp thì rất khó. Những em có
năng khiếu về chữ viết rất ít, giáo viên phải đi từng em để cầm tay mà thời gian thì
có hạn. Đó là vở tập viết chưa kể vở âm - vần cũng không có trong chương trình
học chính khóa.

6


Về phía phụ huynh, các bậc cha mẹ ít nắm được quy trình viết như là điểm
đặt bút, điểm dừng bút của các con chữ.
Về phía học sinh các em chưa đủ ý thức để học vì còn quá nhỏ.
Chính vì vậy, việc rèn chữ viết cho học sinh chủ yếu là được thực hiện ở lúc
tập viết ở vở tập viết. Vậy làm thế nào để rèn chữ đạt kết quả cao? Đây là vấn đề
đặt ra cho mỗi giáo viên, đòi hỏi mỗi giáo viên phải tự tìm ra cho mình một giải
pháp thích hợp góp phần nâng cao chất lượng vở sạch chữ đẹp toàn diện cho học
sinh.
2. THỰC HIỆN ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH VÀ YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA
DẠY TẬP VIẾT Ở LỚP 1
2.1. Quy định của dạy Tập viết ở lớp 1:
Chương trình Tiểu học ban hành theo Quyết định số 43/2001/QĐ-BGD&ĐT
ngày 9/11/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể như sau:
- Lớp 1: Tập viết đúng tư thế, hợp vệ sinh. Viết các chữ cái cỡ vừa và nhỏ,
tập ghi dấu thanh đúng vị trí, làm quen với chữ hoa cỡ lớn và cỡ vừa theo mẫu chữ
quy định, tập viết các số đã học.
- Ở lớp Một việc dạy Tập viết được phối hợp nhịp nhàng với dạy Học vần.
Học sinh luyện tập viết chữ dưới hai hình thức chủ yếu đó là: Luyện tập viết chữ
trong các tiết học âm, chữ ghi âm, vần và tập viết theo các yêu cầu kĩ thuật trong
các tiết tập viết. Ngoài ra, việc rèn luyện kĩ năng tập viết còn được triển khai trong
các giờ học chính tả.
- Khi học tập viết, học sinh được quan sát trực tiếp chữ mẫu và cách viết mẫu
của giáo viên, nghe giáo viên phân tích cách viết để hình thành biểu tượng chữ viết.
Sau đó học sinh được luyện tập nhiều lần được sửa chữa rồi mới viết vào vở. Do
vậy, hoạt động của giáo viên và học sinh có cao hay không phụ thuộc nhiều vào
điều kiện về cơ sở vật chất như lớp học, ánh sáng, bàn ghế: phải đảm bảo các điều
kiện sau:
1. Ánh sáng phòng học: Phòng học phải có đủ ánh sáng cho mọi học sinh
ngồi học theo quy định của vệ sinh học đường. Quy định của Bộ Giáo dục & Đào
tạo: Độ chiếu sáng trong không gian lớp học từ 200 – 500 lux (lux: đơn vị đo độ
chiếu sáng Quốc tế)
2. Bảng lớp: Bảng lớp được treo ở độ cao vừa phải, cạnh dưới của bảng
ngang tầm đầu của học sinh ngồi trong lớp.
3. Bàn ghế học sinh: Kích thước bàn ghế phải phù hợp với độ cao trung bình
của từng đối tượng học sinh.

7


4. Bảng viết của học sinh (Bảng con): Cần chú ý những điều kiện tối thiểu về
việc chuẩn bị bảng con của học sinh. Bảng làm bằng chất liệu mica màu trắng và
dụng cụ viết bằng bút dạ học sinh sẽ không chủ động khi viết chữ.
5. Phấn viết, khăn lau bảng và bút viết: Không cho học sinh dùng phấn cứng
quá hoặc phấn kém phẩm chất. Khăn lau bảng cần sạch sẽ, có độ ẩm, được gấp lại
nhiều lần, độ dày thích hợp. Giai đoạn đầu của lớp Một học sinh dùng bút chì đến
tuần 8 mới dùng bút kim mực.
6. Vở tập viết: Vở tập viết là phương tiện luyện tập thực hành quan trọng của
học sinh. Vở tập viết đã in sẵn chữ mẫu thể hiện nội dung và yêu cầu của bài tập
viết. Giáo viên cần nắm vững yêu cầu và đặc điểm của từng bài để hướng dẫn cách
viết thích hợp.
- Để hình thành kỹ năng viết chữ cho học sinh, việc dạy Tập viết phải trải qua
hai giai đoạn:
* Giai đoạn 1: Giai đoạn này hình thành và xây dựng biểu tượng về chữ
viết, giúp các em hiểu và ghi nhớ được hình dáng, kích thước, quy định viết từng
chữ cái. Cái hiểu biết này giúp học sinh viết chữ một cách tự giác. Nhờ vậy, kết quả
đạt được sẽ nhanh và chắc chắn hơn.
* Giai đoạn 2: Đây là giai đoạn củng cố, hoàn thiện biểu tượng về chữ viết
thông qua các hình thức luyện tập viết chữ.
Tóm lại: Dạy Tập viết ở Tiểu học là truyền thụ cho học sinh những kiến thức
cơ bản về chữ viết và kĩ thuật viết chữ. Trong các tiết tập viết học sinh nắm bắt
được các kiến thức cơ bản về cấu tạo bộ chữ cái Tiếng Việt, thể hiện bộ chữ cái này
trên bảng, vở … đồng thời được hướng dẫn các yêu cầu kĩ thuật viết nét chữ, chữ
cái, viết từ và câu. Ngoài ra, trong việc dạy học sinh hình thành kĩ năng viết chữ
cần phải tính đến các yếu tố cảm xúc về tâm lý, nếu trẻ viết với tâm lý vui vẻ, phấn
chấn. Các em vui khi được tiếp xúc với thế giới các con chữ và viết được một chữ.
Gooc-ki gọi là: “Yếu tố bùng nổ tâm lý”, đồng thời cũng là cảm xúc mãnh liệt
nhưng cũng rất hồn nhiên sinh động khi trẻ học viết chữ.
2.2. Yêu cầu cơ bản của dạy tập viết ở lớp 1:
a. Kiến thức, kĩ năng:
+ Kiến thức: Giúp học sinh có được những hiểu biết về đường kẻ, dòng kẻ, độ
cao, cỡ chữ, hình dáng, tên gọi các nét chữ, cấu tạo chữ cái, khoảng cách giữa các
chữ, chữ ghi tiếng, cách viết các chữ viết thường, dấu thanh và chữ số.
+ Kĩ năng: Viết đúng quy trình - nét, viết chữ cái và liên kết các chữ cái tạo
thành chữ ghi tiếng theo yêu cầu liền mạch. Viết thẳng hàng các chữ trên dòng kẻ.
Ngoài ra học sinh còn được rèn luyện các kĩ năng như: tư thế ngồi viết, cách cầm

8


bút, để vở… bài kiểm tra cuối năm là bài tập chép một đoạn trong bài tập đọc
(không mắc quá 5 lỗi chính tả).
- Muốn đổi mới phương pháp giảng dạy, giáo viên cần hiểu rõ ý đồ của vở tập
viết. Cấu trúc mỗi bài gồm phần tập viết chữ cái và từ ứng dụng.
Ở vở tập viết lớp 1 thì cứ sau bài học vần có một bài tập viết thêm để học sinh
rèn luyện cách viết các chữ vừa học.
- Các kí hiệu trong vở tập viết phải được học sinh nắm chắc như: đường kẻ
ngang, quy định độ cao chữ cái, dấu chấm là điểm đặt bút đầu tiên của chữ, kí hiệu
luyện viết ở nhà.
Vở tập viết của Bộ Giáo dục phát hành giúp học sinh không ngừng nâng cao
về chất lượng chữ viết mà còn phối hợp với các môn học khác nhằm phát huy vai
trò của phân môn tập viết. Chương trình tập viết lớp một gồm có:
Học kỳ I: Sau mỗi bài học vần học sinh được luyện viết những chữ các em
vừa học và mỗi tuần có thêm 1 tiết tập viết.
Học kỳ II: Mỗi tuần có 1 tiết tập viết, mỗi tiết 35 phút và học sinh được làm
quen với chữ viết hoa.
b. Cơ sở tâm lý:
Tâm lý tình cảm có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình nhận thức. Nếu trẻ được
viết trong tư thế thoải mái, tâm trạng phấn khởi thì dễ có kết quả tốt. Ngược lại, nếu
trẻ buồn phiền thì chữ viết cũng bị ảnh hưởng.
- Lý thuyết hoạt động: Để viết được chữ thì học sinh phải hoạt động (phải
tiêu hao năng lượng của thần kinh và bắp thịt). Hoạt động viết của học sinh được
thực hiện qua thao tác sau:
- Làm quen với đối tượng: Khi giáo viên hướng dẫn thì trẻ sẽ tri giác bằng
mắt, tai và tay sẽ làm theo.
- Nói điều mình tri giác được, vừa nói vừa đưa tay theo các đường nét của
chữ cái để nhấn mạnh cách viết đồng thời nhận ra tên gọi, hình dáng chữ đó.
- Nói thầm kiến thức mới thu nhập được để tái hiện hình ảnh đó trong óc
trước khi viết.
- Làm thử: Hình ảnh đã có trong óc cần được thể hiện trên bảng, trên giấy
bằng các dụng cụ như bút bảng, phấn, bút mực.
- Kiểm tra lại kết quả so với mẫu để rút kinh nghiệm cho lần sau.
c. Đặc điểm đôi tay trẻ khi viết:
- Tay trực tiếp điều khiển quá trình viết của trẻ. Các cơ và xương bàn tay của
trẻ đang độ phát triển nhiều chỗ còn sụn nên cử động các ngón tay vụng về, chóng
mệt mỏi.

9


- Khi cầm bút các em có tâm lý sợ rơi. Điều này gây nên một phản ứng tự
nhiên là các em cầm bút chặt, các cơ tay cứng nên khó di chuyển.
- Muốn có thói quen viết chữ nhẹ nhàng, thoải mái, trước hết học sinh phải
biết kĩ thuật cầm bút bằng ba ngón tay (ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa), bàn tay phải
có điểm tựa là mép cùi của bàn tay. Cầm bút phải tự nhiên, đừng quá chặt sẽ khó
vận động, nếu lỏng quá sẽ không điều khiển được bút.
- Nếu các em cầm bút sai kĩ thuật bằng 4 đến 5 ngón tay, khi viết vận động cổ
tay, cánh tay thì các em sẽ mau mệt mỏi, sức chú ý kém, kết quả chữ viết không
đúng và nhanh được.
d. Đặc điểm đôi mắt trẻ khi viết:
- Trẻ tiếp thu hình ảnh chữ viết qua mắt nhìn. Vì vậy, nếu chữ viết được trình
bày với kích thước quá nhỏ hoặc ánh sáng kém thì các em phải cúi sát xuống để
nhìn cho rõ chữ, từ đó dẫn đến cận thị.
- Trong thời gian đầu, có thể các em nhận ra đúng hình chữ nhưng bàn tay
chưa ghi lại đầy đủ hình dáng của mẫu chữ. Chỉ sau khi luyện tập, số lần nhắc đi
nhắc lại nhiều hay ít tuỳ theo từng học sinh, thì các em mới chép đúng mẫu.
3. SỬ DỤNG LINH HOẠT CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRONG
KHI LUYỆN VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 1:
3.1 Phương pháp trực quan:
Giáo viên khắc sâu biểu tượng về chữ cho các em bằng nhiều con đường: kết
hợp mắt nhìn, tai nghe, tay luyện tập. Điều này giúp các em chủ động phân tích
hình dáng, kích thước và cấu tạo theo mẫu chữ, tìm sự giống nhau và khác nhau
của chữ cái đã học trước đó trong cùng một nhóm bằng thao tác so sánh tương
đồng.
Chữ viết mẫu là hình thức trực quan ở tất cả các bài tập viết. Đây là điều kiện
đầu tiên để các em viết đúng. Có các hình thức chữ mẫu: chữ mẫu in sẵn, chữ
phóng to trên bảng hoặc trên máy chiếu, chữ mẫu trong vở tập viết, hộp chữ mẫu…
Tiêu chuẩn cơ bản của chữ mẫu là phải đúng mẫu quy định, rõ ràng và đẹp.
Chữ mẫu có tác dụng:
- Chữ mẫu phóng to trên bảng hoặc trên máy chiếu sẽ giúp học sinh dễ quan
sát, từ đó tạo điều kiện để các em phân tích hình dáng và các nét chữ cơ bản, cấu
tạo chữ cái cần viết trong bài học.
- Chữ mẫu của giáo viên viết trên bảng sẽ giúp học sinh nắm được thứ tự các
nét chữ của từng chữ cái, cách nối các chữ cái trong 1 chữ nhằm đảm bảo yêu cầu
viết liền mạch, viết nhanh.
- Chữ của giáo viên khi chữa bài, chấm bài cũng được quan sát như một loại
chữ mẫu, vì thế giáo viên cần ý thức viết chữ đẹp, đúng mẫu, rõ ràng.
10


Ngoài ra, để việc dạy chữ không đơn điệu, giáo viên cần coi trọng việc xử lý
quan hệ giữa âm và chữ, tức là giữa đọc và viết. Do đó trong tiến trình dạy Tập
viết, nhất là những âm mà địa phương hay lẫn, giáo viên cần đọc mẫu. Việc viết
đúng củng cố việc đọc đúng và đọc đúng đóng góp vai trò quan trọng để đảm bảo
viết đúng.
3.2 Phương pháp đàm thoại gợi mở:
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở giai đoạn đầu của tiết học. Giáo
viên dẫn dắt học sinh tiếp xúc với các chữ cái sẽ học bằng một hệ thống câu hỏi, từ
việc hỏi về các nét cấu tạo chữ cái, độ cao, kích thước chữ cái đến việc so sánh nét
giống nhau và nét khác biệt giữa các chữ cái đã học với chữ cái đã phân tích.
Ví dụ: Khi dạy chữ A, giáo viên có thể đặt câu hỏi: chữ A gồm có mấy nét? là
những nét nào? chữ A cao mấy ô li? độ rộng của chữ là bao nhiêu?…
Với những câu hỏi khó, giáo viên cần định hướng cách trả lời cho các em.
Vai trò của giáo viên ở đây là người tổ chức hướng dẫn học sinh phân tích cấu tạo
chữ cái chuẩn bị cho giai đoạn luyện tập viết ở phần sau.
3.3 Phương pháp luyện tập:
Giáo viên cần chú ý đến các giai đoạn của quá trình tập viết chữ. Việc hướng
dẫn học sinh luyện tập phải tiến hành từ thấp đến cao để học sinh dễ tiếp thu. Lúc
đầu là việc viết đúng hình dáng, cấu tạo kích thước các cỡ chữ, sau đó là viết đúng
dòng và đúng tốc độ quy định. Việc rèn luyện kỹ năng viết chữ phải được tiến hành
đồng bộ ở lớp cũng như ở nhà, ở phân môn tập viết cũng như ở các phân môn của
bộ môn Tiếng Việt và các môn học khác.
Khi học sinh luyện tập chữ viết, giáo viên cần luôn luôn uốn nắn cách ngồi
viết. Cần lưu ý các hình thức luyện tập cơ bản sau:
*Tập viết chữ (Chữ cái, chữ số, từ ngữ, câu) trên bảng lớp.
Hình thức tập viết trên bảng có tác dụng kiểm tra sự tiếp thu cách viết và bức
đầu đánh giá kĩ năng viết chữ của học sinh. Hình thức này dùng để củng cố kĩ năng
viết chữ hoặc sau bước giải thích cách viết chữ, bước luyện tập viết chữ ở lớp. Từ
đó, giáo viên phát hiện những chỗ sai của học sinh để uốn nắn (sai về kích cỡ, hình
dáng, thứ tự các nét viết).
*Tập viết chữ vào bảng con của học sinh:
Học sinh luyện tập viết bằng phần (hoặc bút bảng) vào bảng con trước khi
viết vào vở. Học sinh có thể viết chữ cái, vần, chữ khó vào bảng. Khi sử dụng bảng,
giáo viên phải hướng dẫn học sinh cả cách lau bảng, cách giơ bảng, cách sử dụng
và bảo quản phấn…
*Luyện viết trong vở:

11


Muốn cho học sinh sử dụng có hiệu quả vở tập viết, giáo viên cần hướng dẫn
tỉ mỉ nội dung và yêu cầu về kĩ năng viết của từng bài (chữ mẫu, các dấu chỉ
khoảng cách giữa các chữ, dấu chỉ vị trí đặt bút, thứ tự viết nét…) giúp các em viết
đủ, viết đúng số dòng đầu tiên ở mỗi phần bài viết. Qua quá trình nghiên cứu tôi đã
tìm ra một số biện pháp rèn chữ viết và vân dụng vào thực tế như sau:
- Tập cho các em tô các nét cơ bản bằng bút chì (giai đoạn đầu của lớp một)
- Cung cấp đầy đủ kiến thức về các nét cơ bản: nét ngang, sổ thẳng, xiên phải,
xiên trái, móc xuôi, móc ngược, móc hai đầu, cong hở trái, cong hở phải, cong kín,
khuyết trên, khuyết dưới, nét thắt …. Cho học sinh nắm thật vững học sinh nào viết
các nét chưa đúng, chưa đẹp yêu cầu rèn ngay tại lớp hoặc ở nhà đến khi viết được
mới thôi.
Qua phần rèn viết âm, tiếng, từ các em chỉ cần ghép các nét đã học viết tạo
thành âm, tiếng dễ dàng hơn.
- Giáo viên hướng dẫn kĩ phần cấu tạo nét chẳng hạn: Con chữ a gồm nét cong
C (cong trái) và nét l (móc ngược). Chữ b gồm nét khuyết trên và nét ϑ (nét thắt
trên).
- Cho học sinh xác định được độ cao từng con chữ mà Quyết định
31/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 14/6/2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo quy
định. Mẫu chữ cái viết thường: Các con chữ: h, b, g, y, l được viết với chiều cao 2,5
đơn vị (tức 5 ô li).
+ Chữ cái t được viết với chiều cao 1,5 đơn vị
+ Chữ cái r, s được viết với chiều cao 1,25 đơn vị
+ Chữ cái d, đ, p, q được viết với chiều cao 2 đơn vị
+ Các chữ cái còn lại: o, ô, ơ, a, ă, â, e, ê, i, u, ư, c, n, m, v, x được viết với
chiều cao 1 đơn vị.
+ Các dấu thanh được viết trong phạm vi 1 ô vuông có cạnh là 0,5 đơn vị
+ Chiều cao của các chữ số là 2 đơn vị
+ Chiều cao của các chữ cái viết hoa là 2,5 đơn vị. Riêng chữ cái viết hoa y,
g được viết với chiều cao 4 đơn vị.
- Xác định khoảng cách âm với âm, vần với vần, tiếng với tiếng, từ với từ là
một thân con chữ o.
- Học sinh nắm kỹ cách đưa bút, lia bút, cách viết liền mạch.
+Viết liền mạch: Là thao tác đưa ngòi bút liên tục từ điểm kết thúc của nét
đứng trước tới điểm bắt đầu của nét đứng sau.
+Kỹ thuật lia bút:
Để đảm bảo tốc độ trong quá trình viết một chữ cái hay viết nối các chữ cái
với nhau, nét bút được thể hiện liên tục nhưng dụng cụ viết (đầu ngòi bút, phấn)
12


không chạm vào mặt phẳng viết (giấy, bảng). Thao tác đưa bút trên không gọi là lia
bút.
Ví dụ: b nối với a

-> ba

+ Kỹ thuật rê bút: Đó là trường hợp viết đè lên theo hướng ngược lại với
nét chữ vừa viết. Ở đây xảy ra trường hợp dụng cụ viết (đầu ngòi bút, phấn) chạy
nhẹ từ điểm kết thúc của nét đứng trước đến điểm bắt đầu của nét liền sau.
- Xác định được điểm đặt bút, dừng bút của con chữ, …
+Điểm đặt bút: Là điểm bắt đầu khi viết một nét trong chữ cái. Điểm đặt bút
có thể nằm trên đường kẻ ngang, hoặc không nằm trên đường kẻ ngang.
+ Điểm dừng bút: Là vị trí kết thúc của nét chữ trong một chữ cái. Điểm
dừng có thể trùng với điểm đặt bút hoặc không nằm trên đường kẻ ngang.
+ Tọa độ điểm đặt hoặc dừng bút: Về cơ bản, tọa độ này thống nhất ở vị trí
1/3 đơn vị chiều cao chữ cái, có thể ở vị trí trên hoặc dưới đường kẻ ngang.
Sự nghiêm khắc của giáo viên về chất lượng ở tất cả các môn học là cần
thiết. Có như thế, việc luyện tập viết chữ mới được củng cố đồng bộ và thường
xuyên. Việc làm này yêu cầu người giáo viên ngoài những hiểu biết về chuyên môn
còn cần có sự kiên trì, cẩn thận và lòng yêu nghề - mến trẻ.
* Rèn nếp viết chữ rõ ràng sạch đẹp.
Chất lượng về chữ viết của học sinh không chỉ phụ thuộc vào điều kiện chủ
quan (năng lực cá nhân, sự luyện tập kiên trì, trình độ sư phạm của giáo viên…) mà
còn có sự tác động của những yếu tố khách quan (điều kiện, phương tiện phục vụ
cho việc dạy và học Tập viết). Do vậy, muốn rèn cho học sinh nếp viết rõ ràng,
sạch đẹp, giáo viên cần quan tâm hướng dẫn, nhắc nhở các em thường xuyên.
Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được thực hành luyện viết thông
qua 2 hình thức: viết trên bảng (bảng cá nhân – bảng con, bảng lớp) bằng phấn và
viết trong vở tập viết (tài liệu học tập chính thức do Bộ GD&ĐT qui định đối với
lớp 1) bằng bút chì, bút mực. Do vậy, để thực hành luyện viết đạt kết quả tốt, học
sinh cần có ý thức chuẩn bị và sử dụng có hiệu quả một số đồ dùng học tập thiết
yếu sau:
- Chuẩn bị bảng con, phấn, khăn lau đúng qui định:
+ Bảng con có dòng kẻ đồng dạng với dòng kẻ li trong vở tập viết.
+ Phấn viết có độ dài vừa phải.
13


+ Khăn lau sạch.
Lưu ý: Sử dụng bảng con hợp lí và đảm bảo vệ sinh:
+ Ngồi viết đúng tư thế.
+ Cầm và điều khiển viên phấn đúng cách.
+ Viết xong cần kiểm tra lại. Tự nhận xét và bổ sung chỗ còn thiếu, giơ bảng
ngay ngắn để giáo viên kiểm tra nhận xét.
+ Đọc lại chữ đã viết trước khi xoá bảng.
- Vở tập viết, bút chì, bút mực:
Vở tập viết lớp 1 cần được giữ gìn sạch sẽ, không để quăn góc hoặc giây
bẩn. Bút chì dùng ở 7 tuần đầu lớp 1 cần được bọc cho cẩn thận, đầu chì không
nhọn quá hay dày quá để dễ viết rõ nét chữ. Riêng về bút mực, trước đây đòi hỏi
học sinh hoàn toàn sử dụng loại bút có quản, ngòi bút nhọn đầu viết được nét thanh
nét đậm. Từ khi loại bút bi được sử dụng phổ biến thay thế cho bút chấm mực, việc
học tập viết của học sinh có phần tiện lợi (viết nhanh, đỡ giây mực…) song chất
lượng chữ viết có phần giảm sút.
* Thực hiện đúng qui định khi viết chữ:
- Tư thế ngồi viết: Tư thế lưng thẳng, không tì ngực vào bàn, đầu hơi cúi, mắt
cách vở 25 – 30cm; nên cầm bút tay phải, tay trái tì nhẹ lên mép vở để trang viết
không bị xê dịch; hai chân để song song, thoải mái (tham khảo hình vẽ minh hoạ ở
trang 2, vở Tập viết 1 – tập 1).
- Cách cầm bút: Học sinh cầm bút bằng 3 ngón tay (ngón cái, ngón trỏ và ngón
giữa) với độ chắc vừa phải (không cầm bút chặt quá hay lỏng quá): khi viết, dùng
ba ngón tay di chuyển bút nhẹ nhàng, từ trái sang phải, cán bút nghiêng về bên
phải, cổ tay, khuỷu tay và cánh tay cử động theo, mềm mại, thoải mái.
- Cách để vở, xê dịch vở khi viết: Khi viết chữ đứng, học sinh cần để vở ngay
ngắn trước mặt. Nếu tập viết chữ nghiêng, tự chọn cần để vở hơi nghiêng sao cho
mép vở phía dưới cùng với mép bàn tạo thành một góc khoảng 15 độ. Khi viết độ
nghiêng của nét chữ cùng với mép bàn sẽ tạo thành một góc vuông 90 độ. Như vậy,
dù viết theo kiểu chữ đứng hay kiểu chữ nghiêng, nét chữ luôn thẳng đứng trước
mặt (chỉ khác nhau về cách để vở).
- Cách trình bày bài: Học sinh nhìn và viết đúng theo mẫu trong vở tập viết;
viết theo yêu cầu được giáo viên hướng dẫn tránh viết dở dang chữ ghi tiếng hoặc
viết chòi ra mép vở không có dòng kẻ li; khi viết sai chữ, không được tẩy xoá mà
cần để cách một khoảng ngắn rồi viết lại.
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

14


Qua quá trình nghiên cứu, vận dụng thử nghiệm các biện pháp trên, khi dạy
luyện chữ viết đẹp cho học sinh lớp 1 chất lượng “Giữ vở sạch, viết chữ đẹp” trong
năm học 2016 – 2017 của lớp tôi được kiểm tra và đánh giá như sau:
Đầu năm
Loại

Cuối học kỳ I

Cuối học kỳ II

Số lượng

Tỉ lệ

Số lượng

Tỉ lệ

Số lượng

Tỉ lệ

Loại A

15

35,7

25

59,5

36

85,7

Loại B
Loại C

25
2

59,5
4,8

16
1

38,1
2,4

6
0

14,3
0

So sánh kết quả xếp loại vở sạch chữ đẹp của học sinh các đợt tăng dần ở
loại A. Sở dĩ có được kết quả này là nhờ vào sự tìm tòi học hỏi của bản thân giáo
viên. Sự đầu tư, chuẩn bị khá chu đáo về nội dung cũng như hình thức tổ chức dạy
học cho học sinh trên lớp của GV, việc tự rèn, tự học khi ở nhà của HS. Sử dụng tốt
đồ dùng dạy học nhất là bộ chữ mẫu kết hợp chữ viết đúng mẫu rõ ràng và đẹp của
giáo viên. Từng bước cải tiến được phương pháp giảng dạy, mạnh dạn sử dụng linh
hoạt các phương pháp áp dụng ngay vào tình hình thực tế học sinh của lớp mình
đang phụ trách.

15


C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I.

KẾT LUẬN:

Tóm lại, muốn học sinh lớp 1 viết được chữ, viết đúng cỡ chữ và kĩ năng viết
đẹp đòi hỏi người giáo viên cần phải:
- Giáo viên có đức tính kiên trì, chịu khó, hết lòng vì học sinh, yêu nghề
mến trẻ với phương châm: “ Tất cả vì học sinh thân yêu”.
- Cho học sinh xác định được tầm quan trọng của chữ viết, chịu khó rèn
luyện kĩ năng viết cho học sinh bằng nhiều hình thức khả thi nhất đối với học sinh
lớp mình.
- Giáo viên phải vận dụng phương pháp quan sát và phương pháp thực hành
là chủ yếu.
- Học sinh luôn phải là trung tâm của quá trình dạy học. Trong đó, GV là
người tổ chức hướng dẫn các em, mọi thành viên trong lớp đều phải được hoạt
động. Hiện nay, cả cấp học đang thực hiện thông tư 30 và Thông tư 22 của Bộ Giáo
dục & Đào tạo, không đánh giá bằng điểm số các môn học mà chỉ đánh giá kết quả
học tập của học sinh bàng nhận xét nên trong quá trình chấm bài, giáo viên phải chỉ
rõ bằng nhận xét trong bài viết của học sinh hoặc chỉ ra những ưu, khuyết điểm và
chỉ rõ hướng khắc phục trực tiếp cho từng em để các em sửa lỗi.
- Giáo viên dùng hình thức nêu gương em viết chữ đẹp ở lớp, ở khối cho học
sinh biết. Từ đó, học sinh xác định động cơ học tập đúng đắn của mình. Mặt khác,
tự tạo mọi điều kiện để học bạn.
- Giáo viên thường xuyên nhận xét, tuyên dương sự tiến bộ về chữ viết của
học sinh trong từng bài viết để học sinh thấy sự tiến bộ của mình dù chỉ là một tiến
bộ nhỏ. Từ đó học sinh tích cực rèn luyện nhiều hơn nữa.
- Giáo viên phải mẫu mực sư phạm, chữ viết đúng chuẩn, rõ ràng, đẹp.
- Luyện chữ viết đòi hỏi phải có sự kiên trì, bền bỉ mới đạt được kết quả tốt.
- Phát huy công tác chủ nhiệm lớp, tìm hiểu rõ nguyên nhân vì sao học sinh
viết chưa đẹp để giáo viên có biện pháp thích hợp, dạy nâng dần chất lượng chữ
viết của lớp lên.
- Giáo viên tạo điều kiện phối hợp môi trường giáo dục giữa nhà trường và
gia đình học sinh.
Trên đây là một số biện pháp rèn chữ viết đẹp cho học sinh lớp 1. Là một
giáo viên chủ nhiệm lớp, nếu như chúng ta thực hiện đảm bảo các nội dung,
chương trình và biện pháp đã nêu trên, Tôi tin tưởng rằng chúng ta sẽ đạt được
những kết quả như mong muốn để kế thừa vẻ đẹp của chữ viết truyền thống dân
16


tộc. Đào tạo những học sinh có đủ điều kiện trở thành “Những chủ
nhân tương lai của đất nước”.
II. ĐỀ XUẤT:
Qua một thời gian áp dụng, tơi thấy học sinh lớp có những chuyển biến rõ rệt
về chữ viết. Viết nắn nót, cẩn thận đã thành thói quen của học sinh. Các em ln tự
giác trong học tập, sách vở ln giữ sạch đẹp. Bản thân giáo viên khi dạy cũng thấy
hứng thú, say sưa nâng cao chất lượng giờ dạy tốt hơn.
Tuy vậy trong q trình dạy học sinh tơi nhận thấy còn một vài bất cập sau
đây:
- Nâng cao chất lượng vở Tập viết của HS (giấy q mỏng, học sinh viết bị
nhòe).
- Vở tập viết nên in trên giấy vở ơ li để học sinh viết chuẩn hơn (hiện nay vở
tập viết chỉ có dòng kẻ ngang).
- Cần có quy định cụ thể về thời gian cho học sinh chuyển sang viết cỡ chữ nhỏ
để đảm bảo chất lượng chữ viết khi chuyển sang viết chính tả. Chỉ nên cho học sinh
viết cỡ chữ nhỡ hết học kì I, học kì II nên cho các em chuyển viết chữ nhỏ và tơ
chữ hoa từ tuần 19. (Hiện nay học sinh viết cỡ chữ nhỡ đến hết tuần 24, tuần 25
chuyển ngay sang viết chữ nhỏ. nên nhiều học sinh còn lúng túng, chữ viết xấu do
các em ít có thời gian viết chữ nhỏ trước khi chuyển sang phần viết chính tả.)
Với thời gian có hạn và khả năng còn hạn chế nên khơng tránh khỏi nhiều
thiếu sót. Bản thân tơi rất mong được sự quan tâm đóng góp, xây dựng của các nhà
chun mơn, bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt là của hội đồng sáng kiến kinh
nghiệm các cấp để sáng kiến của tơi được hồn hảo hơn.
Tơi xin chân thành cảm ơn.!
XÁC NHẬN CỦA HIỆU
TRƯỞNG NHÀ TRƯỜNG

Thanh Hóa, tháng 3 năm 2017.
Tơi xin cam đoan đây là SKKN của mình,
khơng sao chép nội dung của người khác
Người viết

Lê Thị Thanh Thủy

17


TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Vở Tập viết lớp 1
- Thiết kế bài giảng Tiếng Việt lớp 1
- Dạy tập viết ở trường tiểu học.
- Chuẩn kiến thức,kĩ năng môn Tiếng Việt (phân môn tập viết lớp 1)
- Tạp chí thế giới trong ta của các năm.
- Quyết định 31 về mẫu chữ viết để dạy và học ở trường Tiểu học.

18


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả:
Lê Thị Thanh Thủy
Chức vụ và đơn vị công tác: Trường Tiểu học Đông Vệ 2 - TP Thanh Hóa

TT

Tên đề tài SKKN

1.

Hướng dẫn học sinh lớp 4

2.

giải toán có lời văn
Hướng dẫn học sinh diair các

3.

bài toán chuyển động
Một số kinh nghiệm rèn chữ

4.

viết cho học sinh lớp 4
Nâng cao chất lượng giờ dạy
Luyện từ và câu cho học sinh

5.

Kết quả
Cấp đánh
đánh giá
giá xếp loại
xếp loại
(Phòng, Sở,
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)
Phòng
B
GD&ĐT

Năm học đánh
giá xếp loại
2016- 2017

Phòng
GD&ĐT

A

2010 - 2011

Phòng
GD&ĐT

B

2011 -2012

Phòng
GD&ĐT

A

2012 -2013

A

2014 -2015

B

2015 - 2016

lớp 5
Một vài kinh nghieemk rèn kĩ Phòng
GD&ĐT
năng làm văn miêu tả kiểu bài
tả cảnh, tả người cho học sinh

6

lớp 5
Một vài biện pháp nâng cao
giáo dục đạo đức cho học

Phòng
GD&ĐT

sinh lớp 1 của trường Tiểu
học Đông Vệ 2-TPTH

19


20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×