Tải bản đầy đủ

skkn một số biện pháp rèn kĩ năng tự học cho học sinh lớp 2 học tập theo mô hình trường học mới việt nam

PHẦN THỨ NHẤT: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Từ năm học 2012 – 2013 đến nay, Trường Tiểu học Đông Hải I áp dụng mô
hình dạy học mới có tên gọi: “ Mô hình trường học mới Việt Nam”. Qua nhiều
năm thực hiện, nhà trường đã được đánh giá là thực hiện khá thành công mô
hình trường học mới. Mô hình trường học mới Việt Nam là một trong những mô
hình dạy học có nhiều đổi mới so với chương trình dạy học hiện hành. Đổi mới
về quan điểm dạy học, đổi mới về hình thức tổ chức, đổi mới về phương pháp
dạy, phương pháp học, đổi mới về môi trường học tập, không gian học tập, đổi
mới tài liệu học tập … Nhìn chung, mô hình trường học mới Việt Nam là mô
hình đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam hiện nay. Theo quan
điểm dạy học theo mô hình trường học mới Việt Nam, học sinh sẽ học tập bằng
cách tự học có hướng dẫn. Hướng dẫn học tập gồm hướng dẫn của giáo viên và
hướng dẫn của tài liệu hướng dẫn học. Vì cách học mới là tự học nên để giáo
viên thành công trong khi thực hiện dạy – học theo mô hình trường học mới, thì
việc rèn kĩ năng tự học cho học sinh là quan trọng nhất. Kĩ năng tự học của học
sinh mà tốt sẽ giúp cho các em chủ động hoàn toàn trong quá trình học tập của
bản thân mà không cần chờ đợi nhắc nhở từ người khác. Kĩ năng tự học tốt cũng
giúp các em đẩy nhanh tiến độ học tập tùy vào năng lực học tập của cá nhân mà
không phụ thuộc vào người khác. Đồng thời, kĩ năng tự học tốt sẽ giúp ích cho
việc học tập suốt quãng đời học tập của các em sau này. Chính vì vậy tôi chọn

đề tài nghiên cứu về “Một số biện pháp rèn kĩ năng tự học theo mô hình
trường học mới Việt Nam cho học sinh lớp 2”. Học sinh lớp 2 là đối tượng bắt
đầu tham gia học tập theo mô hình trường học mới nên kĩ năng tự học phải được
hình thành ngay từ khi các em còn học lớp 2.
2. Mục đích nghiên cứu:
Tìm cách giúp học sinh lớp 2 có thể tự học được theo hướng dẫn học theo
mô hình trường học mới. Tạo cho học sinh có thói quen chủ động học tập, chủ
động hợp tác, chủ động chia sẻ để đạt được mục tiêu hoàn thành các nhiệm vụ
học tập theo hướng dẫn học.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Tài liệu hướng dẫn học lớp 2 theo Mô hình trường học mới Việt Nam.
- Học sinh lớp 2C, trường Tiểu học Đông Hải 1.
- Các biện pháp nhằm rèn kĩ năng tự học cho học sinh lớp 2 gồm: Hướng dẫn sử
dụng tài liệu học; Chuẩn bị tài liệu, đồ dùng học tập; Rèn kĩ năng đọc và đọc
hiểu cho học sinh; Áp dụng quy trình 10 bước học tập linh hoạt theo mô hình
trường học mới Việt Nam; Phát huy vai trò của Hội đồng tự quản.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết và phương pháp điều tra khảo
sát, thực hành, ứng dụng thực tiễn.

1


PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. Cơ sở lí luận:
Mô hình dạy học truyền thống qua nhiều năm áp dụng đã cho thấy nhiều
sự lỗi thời nhiều bất cập như: Nặng về truyền thụ kiến thức, ít chú trọng đến
năng lực, phẩm chất người học. Cách dạy – học chủ yếu là thầy giảng giải, nêu
vấn đề, đặt câu hỏi, học sinh suy nghĩ tìm hiểu lĩnh hội kiến thức. Thực hành,
vận dụng chủ yếu là làm theo, bắt trước các dạng bài tập mẫu, luyện nhiều thành
quen. Hệ thống bài tập thực hành chủ yếu là kiến thức sách vở, xa rời thực tế.
Mô hình trường học mới đã được áp dụng thành công ở nhiều nước ( Hiện
nay đã có khoảng 22 nước đang phát triển ở các khu vực khác nhau trên thế giới
áp dụng). Mô hình trường học mới cũng được Ngân hàng Thế giới và UNESCO
đánh giá là một trong ít mô hình giáo dục phù hợp với điều kiện giáo dục của
nước ta. Mô hình trường học mới đổi mới về nhiều lĩnh vực giáo dục.
- Đổi mới về phương pháp dạy: Vai trò của giáo viên chuyển đổi từ người giảng
giải, truyền thụ kiến thức thành người tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động.
- Đổi mới về phương pháp học: Học sinh không ngồi nghe giáo viên giảng bài
một chiều như trước đây, mà dựa trên kiến thức và kinh nghiệm của cá nhân, học

sinh chủ động tự thực hiện các nhiệm vụ học tập bằng các việc làm cụ thể theo
tài liệu hướng dẫn học hoặc theo hướng dẫn của thầy cô, lắng nghe, trao đổi,
phối hợp, hợp tác trong nhóm, trong lớp để tự lĩnh hội kiến thức mới, rèn kĩ
năng, hình thành năng lực, phẩm chất. Thông qua việc tự học, học sinh được rèn
luyện nhiều hơn các kĩ năng tự làm việc, kĩ năng nghe, nói, giao tiếp, ….; Kết
hợp hoạt động học ở lớp và hoạt động học ứng dụng ở nhà. Có nhiều cơ hội để
tham gia, bày tỏ ý kiến, phát huy theo khả năng của từng học sinh. Đặc biệt, học
sinh yếu được quan tâm hỗ trợ nhiều hơn để tiến kịp bạn.
Bên cạnh việc đổi mới về phương pháp dạy, học thì mô hình trường học
mới còn đổi mới về tài liệu, hình thức tổ chức, đổi mới về tổ chức lớp học, đánh
giá học sinh, đổi mới về sự tham gia của phụ huynh, cộng đồng, …. Trong đó
đổi mới về cách dạy và học là quan trọng nhất.
2. Thực trạng và khó khăn khi thực hiện mô hình.
Trường Tiểu học Đông Hải 1 là một trong những trường thực hiện dạy học
thí điểm Mô hình trường học mới Việt Nam. Đến thời điểm hiện tại, Trường đã
thí điểm dạy học mô hình này sang năm thứ năm, có thể nói là sớm và cũng khá
thành công trong việc áp dụng mô hình.
Bản thân tôi là một giáo viên trực tiếp đứng lớp, trực tiếp tham gia thí điểm
mô hình, cũng là cốt cán trung ương tham gia nhiều đợt tập huấn từ trung ương
đến địa phương từ năm học 2012 – 2013 đến nay về Mô hình trường học mới và
cũng đã gặt hái được khá nhiều thành công, đạt được nhiều thành tích xuất sắc
khi thực hiện mô hình. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, bản thân cũng gặp
không ít khó khăn. Lớp 2 là lớp học đầu tiên học sinh được thực hiện học tập
theo mô hình VNEN. Việc tổ chức lớp học rồi việc thực hiện các nhiệm vụ học
tập, việc đảm nhiệm các vai trò trong hội đồng tự quản học sinh đều khác xa so
với những gì các em được làm quen ở lớp 1. Khó khăn hơn cả là khả năng đọc
2


và đọc hiểu của các em còn rất khiêm tốn. Tài liệu học biên soạn đã dùng nhiều
năm, nhiều ngữ liệu nội dung không phù hợp với thời điểm hiện tại. Một số ngữ
liệu chưa phù hợp với đặc trưng vùng miền. Còn nhiều hướng dẫn học khó thực
hiện với học sinh lớp 2 và lô gô hướng dẫn học đôi chỗ còn chưa phù hợp với
nội dung kiến thức cần đạt. Trên đây là một số khó khăn chủ yếu của việc thực
hiện mô hình VNEN. Ngoài ra vẫn còn một số khó khăn khách quan phải kể đến
đó là:
- Học sinh biên chế ở lớp đông.
- Cách học cũ đã quá quen thuộc với học sinh.
- Kinh tế địa phương còn nghèo việc chia sẻ khó khăn với nhà trường mặc dù
đã được cải thiện trong những năm gần đây nhưng còn rất khiêm tốn.
- Vẫn còn một bộ phận phụ huynh học sinh chưa thực sự đón nhận việc đổi
mới của nhà trường.
- Dự án thực nghiệm mô hình đã chính thức kết thúc, không còn sự hỗ trợ từ
dự án.
- Nhiều đơn vị thực hiện chưa thành công mô hình tạo nên nhiều ý kiến trái
chiều gây tâm lí hoang mang thiếu tin tưởng vào tính khả thi của mô hình trong
cộng đồng, phụ huynh.
3. Một số biện pháp rèn kĩ năng tự học cho học sinh lớp 2 học tập theo mô
hình trường học mới Việt Nam.
Sau nhiều năm thực hiện mô hình trường học mới, tôi đã rút ra được một
số kinh nghiệm để rèn kĩ năng tự học cho học sinh lớp 2 học tập theo theo mô
hình trường học mới Việt Nam như sau:
3.1. Hướng dẫn học sinh làm quen với tài liệu hướng dẫn học
Tài liệu hướng dẫn học chứa đựng nội dung kiến thức cần đạt và các
hướng dẫn cách thực hiện dành cho cả giáo viên, học sinh và phụ huynh học
sinh. Tài liệu hướng dẫn học lớp 2 khác xa so với sách giáo khoa. Để học sinh
có thể sử dụng được tài liệu hướng dẫn học thì học sinh phải được làm quen với
tài liệu.
Đầu năm học, việc đầu tiên giáo viên chủ nhiệm cần làm là giúp học sinh
làm quen với tài liệu học mới. Việc làm quen không thể chỉ diễn ra 1 tiết học hay
một buổi học mà nó diễn ra thường xuyên trong quá trình học tập những tuần
học đầu tiên. Trước khi bước vào tiết học chính giáo viên cần giúp học sinh nắm
được cách sử dụng tài liệu học. Học sinh chỉ thực sự tự học khi các em biết sử
dụng tài liệu hướng dẫn học để học tập.
Quy trình thực hiện hướng dẫn sử dụng tài liệu gồm hướng dẫn sử dụng
các kí hiệu dùng trong tài liệu và hướng dẫn cấu trúc cơ bản của các bài học.
Sau trang đầu tiên là trang hướng dẫn sử dụng các kí hiệu dùng trong sách. Nội
dung của trang hướng dẫn bao gồm các kí hiệu trong sách được sắp xếp như sau:

3


K HIU DNG TRONG SCH
M: Mẫu và ví dụ
***** Chia thời gian theo tiết học
Hoạt động cá nhân
Hoạt động cặp đôi
Hoạt động nhóm
Hoạt động chung cả lớp
Hoạt động với cộng đồng

hng dn phn ny, giỏo viờn cn cú mt hng dn ph bng li vỡ lỳc
ny cú th hc sinh cha t c v lm theo hng dn c.
Ngay tit hc u tiờn ca hc sinh, giỏo viờn dnh ớt phỳt cho hc sinh lm
quen vi ti liu. u tiờn giỏo viờn yờu cu hc sinh quan sỏt tranh v c
thm cỏc chỳ thớch trong tranh ri chia s vi bn bờn cnh nhng iu quan
sỏt v c c. Cui cựng giỏo viờn t chc cho hc sinh chia s trc lp
nhng iu quan sỏt c. Giỏo viờn cn gii thớch thờm v cỏc kớ hiu v lụ gụ
trong hng dn hc sinh ghi nh c. Vic lm quen ny s c nhc li
trong cỏc tit hc sau hoc b sung khi hc sinh cha thnh tho s dng sỏch.
Khi hc sinh ó quen vi cỏc kớ hiu, lụ gụ ri, giỏo viờn cn cho hc sinh
lm quen vi cu trỳc c bn ca tng bi. Cu trỳc ca cỏc bi hc trong ti
liu hng dn hc theo mụ hỡnh trng hc mi Vit Nam u gm cỏc phn
c bn sau:
- Tờn bi.
- Mc tiờu.
- Hot ng c bn.
- Hot ng thc hnh.
- Hot ng ng dng.

4


Cấu trúc trên được áp dụng cho tất cả các môn học và các hoạt động giáo
dục. Ngoài các phần cơ bản trên thì mỗi hoạt động cụ thể lại có các hướng dẫn
cụ thể, phù hợp với nội dung kiến thức và mục tiêu bài học.
Giáo viên cho học sinh lật giở nhanh các trang để quan sát nhận ra cấu trúc
của từng bài, những điểm giống và khác nhau về cấu trúc giữa các bài, các môn.
Trên đây là những việc cần làm ngay để giúp học sinh bước đầu biết sử dụng
sách, biết phải đọc và làm theo các hướng dẫn trong sách thì mới học được.
Với cách làm trên, sau tuần học đầu tiên tôi thấy đa số học sinh lớp tôi bước
đầu đã biết tự đọc tài liệu và thực hiện các hướng dẫn trong tài liệu. sang đến
tuần học thứ tư, phần lớn học sinh lớp tôi đẫ thành thạo việc đọc hướng dẫn để
học tập.
Học sinh biết cách sử dụng tài liệu hướng dẫn học để học tập là rất cần thiết
nhưng để học sinh tự học một cách hiệu quả, dễ dàng thì vấn đề hướng dẫn phù
hợp vô cùng quan trọng. Hướng dẫn trong tài liệu phải cụ thể từng thao tác dù là
thao tác nhỏ nhất như đi lấy phiếu ở góc học tập, hay em đọc cho bạn nghe, ….
Đều phải được thể hiện trong hướng dẫn học. Có như vậy thì học sinh tiểu học
nói chung và học sinh lớp 2 mới làm được. Để tài liệu có thể sử dụng dễ dàng và
phù hợp với học sinh lớp 2 thì giáo viên cần phải điều chỉnh hướng dẫn học.
Kinh nghiệm tiếp theo để giúp học sinh lớp 2 rèn kĩ năng tự học tập theo hướng
dẫn học của mô hình trường học mới VNEN mà tôi muốn nói đến là kinh
nghiệm về điều chỉnh và bổ sung hướng dẫn học.
3. 2. Chuẩn bị tài liệu, đồ dùng học tập.
3.2.1 Chuẩn bị tài liệu:
Như chúng ta đã biết, tài liệu hướng dẫn học theo Mô hình VNEN là tài liệu
biên soạn theo hướng mở, theo hướng gợi ý nhằm mục đích có thể áp dụng cho
tất cả các vùng miền. Tài liệu mở để có thể cập nhật những nội dung, những
thông tin phù hợp với thực tiễn thời điểm tổ chức dạy – học, phù hợp với đối
tượng học sinh, phù hợp với đặc trưng, đặc điểm, điều kiện thực tế vùng miền.
Tài liệu mở nhằm phát huy, khuyến khích giáo viên sáng tạo, điều chỉnh, bổ
sung nội dung, phương pháp tổ chức cho học sinh tự học. các gợi ý và ví dụ
trong tài liệu giúp giáo viên định hướng được cách điều chỉnh tài liệu.
Chính những lí do trên, để học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 2 nói
riêng có kĩ năng tự học có hướng dẫn thì giáo viên phải điều chỉnh tài liệu
hướng dẫn học. Việc điều chỉnh có thể thực hiện qua 5 bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu bài học
Nghiên cứu bài học để bước đầu xác định mục tiêu của bài học, đọc kĩ nội
dung, các hướng dẫn trong tài liệu. Nghiên cứu để biết mục tiêu bài học và nội
dung bài học đã phù hợp chưa? Nội dung bài học có đáp ứng được mục tiêu cần
đạt không? Và ngược lại, với nội dung của bài học đó, mục tiêu cần đạt là đủ,
thừa hay cần bổ sung hoặc sắp xếp lại. Ngoài việc nghiên cứu mục tiêu và nội
dung bài học thì giáo viên cũng cần nghiên cứu các hướng dẫn học đã phù hợp
với từng hoạt động tự học của học sinh chưa? Các hướng dẫn đó đã cụ thể, vừa

5


sức với học sinh chưa?... Việc nghiên cứu bài học đòi hỏi giáo viên phải tư duy
thực sự để chuẩn bị cho những bước tiếp theo.
Bước 2: Xác định vấn đề điều chỉnh bổ sung
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu bài học, giáo viên xác định xem các vấn
đề điều chỉnh bổ sung nằm ở đâu? Mục tiêu, nội dung hay là hướng dẫn học.
Bước 3: Viết điều chỉnh bổ sung
Sau khi đã xác định được các vấn đề điều chỉnh, giáo viên sẽ tiến hành
viết điều chỉnh.
Ví dụ: Tài liệu hướng dẫn học toán 2 tập 1B, bài 26. “Viết các số thành tổng các
trăm, chục đơn vị”, Hoạt động cơ bản 1 có nội dung hướng dẫn như sau:

1. Chơi trò chơi “Ai nhanh, ai đúng”:
Em lấy các thẻ số và thẻ dấu như hình dưới đây. Hãy ghép các thẻ thành các
phép tính đúng:
+

10

4

5

9

6
=

+

=

4

Sau khi nghiên cứu bài học, tôi xác định: Mục tiêu hoạt động là nhằm ôn lại
phép cộng có tổng bằng 10, đồng thời khởi động tiết học.
Vấn đề cần điều chỉnh là:
- Lô gô hoạt động và hướng dẫn chưa cụ thể, khó thực hiện với học sinh lớp 2,
gây căng thẳng ngay khi bước vào tiế học.
Từ những xác định trên tôi viết điều chỉnh như sau:
1. Ôn lại các phép cộng có tổng bằng 10

Việc 1: Em nhẩm lại các phép cộng có tổng bằng 10.

Việc 2: Chơi trò chơi “đố bạn”
Em nghĩ ra một số, em hỏi bạn số nào cộng với số em nghĩ ra bằng 10?

6


Bạn trả lời đúng bạn được nghĩ ra một số và đố lại em, bạn trả lời sai, em nêu
đáp án và đố tiếp.
Bước 4. Trao đổi và thống nhất
Sau khi hoàn tất việc viết điều chỉnh giáo viên cần phải thống nhất ý kiến
với khối tổ, tránh việc điều chỉnh ngẫu hứng theo ý kiến cá nhân.
Bước 5: Đối chiếu, rà soát tính hiệu quả trước khi thực hiện.
Bước này giúp giáo viên chắc chắn hơn về ý tưởng của mình.
3.2.2. Chuẩn bị đồ dùng học tập:
Để học sinh chủ động thực hiện nhiệm vụ học tập của mình một cách có hiệu
quả thì việc chuẩn bị đồ dùnghọc tập để đáp ứng đúng về chủng loại, đủ về số
lượng để các em tự sử dụng thì ngoài danh mục đồ dùng có sẵn theo chương
trình hiện hành ra, giáo viên và học sinh trường học mới cần làm thêm vô số đồ
dùng tự làm. Đó là phiếu học tập, đó là thẻ bìa, đó là hoa ôn tập, đó là bảng
nhóm, là dụng cụ chơi trò chơi, hòm thư, nội quy, biển báo, bảng cam kết, ... Đồ
dùng luôn phải phù hợp với tài liệu hướng dẫn, phải hấp dẫn học sinh và luôn
được để ở góc học tập. Để đạt được các tiêu chí trên đòi hỏi người giáo viên
trường học mới phải chịu khó, phải thành thạo các ứng dụng công nghệ thông
tin. Người giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ đồ dùng trước khi bước vào buổi học.
Tôi thường chuẩn bị đồ dùng như sau:
- Rà soát tài liệu hướng dẫn phân loại đồ dùng thành các nhóm đồ dùng có
sẵn, đồ dùng nào sưu tầm được, đồ dùng nào phải làm thêm trong mỗi bài học,
mỗi môn học rồi mới chuẩn bị đồ dùng sao cho phù hợp nhất, thuận tiện nhất đối
với học sinh.
- Việc chuẩn bị đồ dùng có thể tự làm, tự sưu tầm hoặc có thể nhờ phụ
huynh học sinh làm hoặc sưu tầm. Bên cạnh đó giáo viên cần chú trọng việc
hướng dẫn học sinh tham gia vào việc chuẩn bị đồ dùng cho tiết học. Việc
hướng dẫn học sinh tham gia làm đồ dùng vừa góp phần hỗ trợ giáo viên trong
khâu chuẩn bị đồ dùng dạy học, vừa đem lại cho các em niềm vui, sự thích thú
đặc biệt giúp các em được thể hiện khả năng sáng tạo, kĩ năng khéo léo của bản
thân. Việc các em được sử dụng những sản phẩm do chính tay các em làm ra
vào việc học tập sẽ hiệu quả hơn nhiều so với việc các em sử dụng những đồ
dùng sẵn có. Đây cũng là một điểm mới trong mô hình trường học mới VNEN.
Học sinh tự làm đồ dùng còn có tác dụng giáo dục các em ở nhiều mặt vì đây
chính là hình thức học tập thông qua thực hành, hình thức học tập mà mô hình
lựa chọn thay thế cho hình thức nghe giảng học thuộc kiến thức trước đây. Qua
việc làm ra một số sản phẩm sẽ giáo dục cho các em lòng ham học hỏi, tình yêu
lao động, có thái độ trân trọng sản phẩm lao động, giáo dục các em ý thức tiết
kiệm, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ... là những mục tiêu giáo dục hiện nay đặt
ra.
- Khi hướng dẫn học sinh làm đồ dùng học tập thì giáo viên cần chú ý những
điểm sau:
+ Lựa chọn những đồ dùng phù hợp khả năng và đảm bảo tính vừa sức với học
sinh.
7


+ Quan tâm đến việc đảm bảo an toàn khi sử dụng các dụng cụ có khả năng gây
thương tích như kéo, kim, ....
+ Khuyến khích các em tái sử dụng các nguyên liệu đã qua sử dụng nhằm giúp
các em có ý thức thân thiện với môi trường như tận dụng lõi giấy vệ sinh, ống
lon đồ uống , đồ chơi hỏng, giấy màu, bìa các tông, ... để làm ra những đồ dùng
như ống truyền tin, chuông báo hiệu, thẻ màu, thẻ bìa,...
- Đồ dùng làm ra cần chú ý đến việc sử dụng cho nhiều tiết học, môn học.
Ví dụ: Trò chơi “Truyền điện” đây là trò chơi được thực hiện ở nhiều bài học,
trò chơi thường được sử dụng trong các dạng bài ôn lại kiến thức, kĩ năng đã
biết nhằm tạo đà cho các em bước vào bài mới một cách hứng thú nhất.
Dưới đây là hình ảnh minh họa một số đồ dùng tự làm do giáo viên và học
sinh lớp tôi đã làm:

Thẻ màu cặp
đôi
Biển báo cáo

Các loại bảng nhóm, bảng cam kết.

8


Các
công cụ
lớp học
VNEN

Các mẫu
hòm thư vui

9


3. 3. Rèn kĩ năng đọc và đọc hiểu cho học sinh.
Việc tự học của học sinh bắt đầu từ việc đọc tài liệu. Có đọc được tài liệu các
em mới biết mình phải làm gì, làm như thế nào, học cái gì,… Vì vậy kĩ năng đọc
và đọc hiểu của học sinh là điều kiện cần và đủ để học sinh có thể sử dụng được
tài liệu hướng dẫn học để học tập. Học sinh lớp 2 mới vừa qua giai đoạn lớp 1,
đọc lưu loát đã khó, đọc hiểu lại càng khó hơn. Các em chỉ mới bước đầu biết
đọc trơn thành tiếng và trả lời một số câu hỏi đơn giản liên quan đến nội dung.
Chính vì vậy việc rèn kĩ năng đọc thầm, hiểu nội dung là việc làm giáo viên cần
phải chú trọng, tích cực trong giai đoạn đầu năm học. Đầu năm học, giáo viên
khảo sát, phân loại học sinh ra làm các nhóm sau:
- Nhóm đọc hiểu tốt là nhóm học sinh có thể đọc lưu loát văn bản và trả lời câu
hỏi tìm hiểu bài.
- Nhóm bước đầu biết đọc hiểu là nhóm học sinh đọc lưu loát văn bản và trả lời
một số câu hỏi gợi ý cụ thể hơn để hiểu nội dung bài.
- Nhóm đọc được là nhóm đã đọc đúng được văn bản nhưng chưa trả lời được
các câu hỏi về nội dung văn bản.
- Nhóm đọc yếu là nhóm gồm những học sinh đọc chậm, đọc còn phải đánh vần,
….
Việc phân loại trên giúp tôi có hướng để rèn kĩ năng đọc và đọc hiểu phù
hợp với từng đối tượng học sinh. Đối với nhóm học sinh đọc hiểu tốt tôi chỉ cần
hướng dẫn cách sử dụng tài liệu học và quy trình tự học là các em có thể tự học
được. Đối với nhóm học sinh bước đầu biết đọc hiểu, bên cạnh việc giúp các em
thực hiện các yêu cầu ở hướng dẫn học tôi cũng chuẩn bị thêm hệ thống câu hỏi
bổ sung theo mức độ từ dễ đến khó có thể chia nhỏ câu hỏi trong tài liệu để học
sinh có thể trả lời được các phần câu hỏi. Từ đó các em có thể nắm được nội
dung của bài và nâng cao kĩ năng đọc hiểu của mình lên. Đối với nhóm học sinh
đọc được, các em đã đọc được văn bản nên kĩ năng cần rèn cho các em là đọc
hiểu. Để giúp nhóm học sinh nhóm này đọc hiểu được, tôi soạn riêng cho các em
một hệ thống câu hỏi dễ mà các em chỉ cần đọc ở trong văn bản là trả lời được.
Đối với nhóm học sinh đọc yếu, đây là nhóm khó khăn và nan giải nhất, cần sự
giúp đỡ của giáo viên nhiều nhất.
Trong nhóm học sinh này tôi tiếp tục chia các em thành hai nhóm nhỏ, nhóm
đọc chậm và nhóm chưa đọc được. Đối với nhóm đọc chậm, tôi có thể giải thích
giúp các em về nội dung và câu hỏi để các em hiểu mình cần phải trả lời cái gì
và trả lời ra sao. Sau đó tôi sẽ đặt lại câu hỏi để các em tự trả lời. ngoài giúp đỡ
trực tiếp, tôi còn huy động sự giúp đỡ từ nhóm Hội đồng tự quản học sinh, nhóm
học sinh và bạn cùng bàn tham gia giúp đỡ các em những công việc trên. Đối
với nhóm chưa đọc được, song song với việc luyện đọc tôi phải bắt đầu từ việc
đọc hộ tài liệu, từ câu lệnh, đến nội dung, câu hỏi, khuyến khích các em nghe,
nhớ và tìm câu trả lời trước, dần dần các em sẽ tự nâng dần kĩ năng đọc của
mình lên các mức độ cao hơn và tự hoàn thành các nhiệm vụ học tập theo hướng
dẫn của tài liệu. Ngoài những biện pháp nhằm giúp học sinh rèn kĩ năng đọc
hiểu ra thì việc đánh giá, động viên sự tiến bộ thường xuyên đối với học sinh là
10


vô cùng quan trọng. Giáo viên không chỉ động viên khuyến khích những học
sinh đã tự hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập mà còn phải động viên khuyến
khích những học sinh đọc có tiến bộ . Chẳng hạn nhóm chưa đọc được khi các
em đã bước đầu đọc được giáo viên cần ghi nhận khen ngợi để các em tự tin rèn
luyện tiếp.
3.4. Áp dụng Quy trình 10 bước học tập linh hoạt theo mô hình trường học
mới Việt Nam.
Như chúng ta đã biết, mỗi học sinh trong “Trường học mới” đều phải chủ
động thực hiện các nhiệm vụ học tập. Khi đến trường luôn ý thức được mình
phải bắt đầu và kết thúc hoạt động học tập như thế nào, đánh giá ra sao, khi nào
thì viết tên bài, khi nào thì bắt đầu hoạt động cơ bản hay hoạt động thực hành…
không cần chờ đến sự nhắc nhở của giáo viên. Để làm được điều này, trong mỗi
phòng học của lớp học của trường học mới đều treo một tấm giấy khổ lớn ở vị
trí mà mọi học sinh ngồi trong lớp đều có thể nhìn thấy rõ, trên đó có ghi cụ thể
“10 bước học tập”.“10 bước học tập” được trình bày theo quy trình cụ thể như
sau:

11


“10 bước học tập” là công cụ giúp rèn luyện thói quen tự học cho học sinh, giúp
học sinh ý thức được mình phải bắt đầu và kết thúc hoạt động học tập như thế
nào, không cần chờ đến sự nhắc nhở của giáo viên. Để học sinh thực hiện đúng,
chúng ta cần làm một số việc sau:
- Giúp học sinh nhớ các bước học tập, thực hiện theo “10 bước học tập”
trở thành thói quen. Học sinh nhớ và có thói quen thực hiện nhiệm vụ theo mười
bước học tập sẽ giúp học sinh chủ động trong các hoạt động học tập mà không
cần chờ đợi sự sắp đặt, hướng dẫn hay yêu cầu từ giáo viên.
- Sử dụng linh hoạt các bước học tập. Trong quá trình học tập, không phải
mọi bài học đều phải thực hiện đủ 10 bước học tập vì vậy tùy thuộc vào từng bài
học, giáo viên có thể linh hoạt cho học sinh thực hiện những bước học tập phù
hợp với bài học đó. Ví dụ : trong môn Toán các bài ôn tập không bắt đầu từ hoạt
động cơ bản mà bắt đầu từ hoạt động thực hành thì học sinh không thể thực
hiện các bước “Em bắt đầu hoạt động cơ bản hay “ Kết thúc hoạt động cơ bản
em gọi thầy cô giáo” được mà sau khi “ Em đọc mục tiêu bài học” xong thì “
Chúng em thực hiện hoạt động thực hành” luôn.
- Chọn chỗ treo “10 bước học tập” ở vị trí thuận tiện đảm bảo học sinh
ngồi ở vị trí nào cũng có thể nhìn thấy. Trong quá trình học tập đôi khi học sinh
có thể quên một số bước nào đó thì việc đọc lại “10 bước học tập” là cần thiết
nên vị trí treo phù hợp sẽ giúp các em học theo quy trình “10 bước học tập”
thuận tiện hơn.
Nếu nói Tài liệu hướng dẫn học là cẩm nang, là biển chỉ đường, là chìa khoá
giúp các em tự thực hiện các nhiệm vụ học tập thì quy trình 10 bước học tập sẽ
giúp các em biết tự học theo trình tự nào. Học sinh luôn học tập, thực hiện
nhiệm vụ theo 10 bước học tập linh hoạt, chủ động chứng tỏ kĩ năng tự học của
các em rất tốt.
3.5. Phát huy vai trò của Hội đồng tự quản, nhóm học tập:
3.5.1. Phát huy vai trò của Hội Đồng tự quản học sinh
Học sinh phát triển toàn diện nhờ các hoạt động tự giáo dục, học tập của
mình. Hội đồng tự quản học sinh là tổ chức của học sinh, vì học sinh và do học
sin thực hiện. Các em được làm chủ trong việc bầu ra Hội đồng tự quản, Chủ
tịch, Phó chủ tịch và các ban của Hội đồng tự quản.
Học sinh tự đề xuất, bàn bạc đưa ra các nội quy và cùng nhau thực hiện
các nội quy đó một cách có giám sát lẫn nhau theo sự phân công cụ thể cho từng
thành viên.
Quyền và trách nhiệm của mỗi thành viên Hội đồng tự quản học sinh
đồng thời được quy định và thực hiện trong nhóm và trong lớp học bởi học sinh.
Hội đồngtự quản có một số ban học tập. Số ban trong Hội đồng tự quản
do mỗi lớp quy định. Tên mỗi ban cũng do học sinh tự thảo luận bàn bạc đặt ra.
Ở lớp tôi, học sinh được chia thành các Ban gồm: Ban học tập; Ban đại
diện lớp học; Ban văn nghệ, thể thao; Ban quyền lợi học sinh và vệ sinh sức
khỏe; Ban đồ dùng, thư viện. Các thành viên trong mỗi ban cùng nhau xây dựng
những yêu cầu, nội dung và cách thức hoạt động của Ban.
12


Để phát huy được vai trò của Hội đồng tự quản, tăng cường được khả
năng tự học của học sinh, các thành viên mỗi ban học tập cần bàn bạc lập kế
hoạch cụ thể về nhiệm vụ, về thời gian thực hiện, giao việc cụ thể cho từng
thành viên theo tuần, theo tháng, có tổng kết đánh giá định kì với sự giúp đỡ tích
cực của giáo viên. Việc lập kế hoạch đối với học sinh lớp 2 sẽ rất khó khăn và
cũng có thể không thực hiện được nếu như giáo viên không giúp đỡ sát sao. Đầu
năm học, tôi giúp học sinh lên kế hoạch của từng ban sau đó bàn bạc với các em
để đi đến thống nhất và thực hiện. Cùng với thời gian trôi, hiện nay, các ban học
tập lớp tôi đã tự lên kế hoạch hoạt động cho ban mình theo tuần, theo tháng.
3.5.2. Phát huy vai trò của nhóm học tập:
Nhóm học tập là một thành tố đặc trưng, quan trọng của mô hình trường
học mới.
Có thể nói mọi hoạt động của học sinh diễn ra trong nhóm học tập.Nhóm
học tập vừa là môi trường học tập vừa là động lực học cho mỗi cá nhân.
Nhóm trưởng là linh hồn của nhóm học tập, là người điều hành, giám sát
hoạt động học của mỗi thành viên trong nhóm. Một nhóm trưởng tốt là phải tạo
cơ hội để mọi thành viên tự giác trong khi tự học, tạo cơ hội để mọi thành viên
được bày tỏ ý kiến cá nhân của mình.
Để phát huy vai trò của nhóm học tập, rèn kĩ năng tự học cho học sinh tôi
đã làm như sau:
Ngay từ đầu năm học, tôi chọn ra những học sinh khá, giỏi, nắm bắt
nhanh để cử làm nhóm trưởng vì buổi đầu các em còn bỡ ngỡ với mô hình học
tập mới chưa mạnh dạn, tự tin nhận trách nhiệm nhóm trưởng. Chọn cử được
nhóm trưởng, tôi bắt tay vào việc đào tạo nhóm trưởng ngay trong buổi đầu làm
quen cách học mới. Có khá nhiều cách và cũng khá nhiều giai đoạn để đàotạo
nhóm trưởng nhưng cách mà tôi dùng là làm mẫu. Tôi tập hợp các nhóm trưởng
lại thành một nhóm và tôi vào vai nhóm trưởng điều hành các em thực hiện một
vài hướng dẫn học theo hướng dẫn. Cách làm này chỉ diễn ra trong tuần đầu của
năm học, sau đó thì trong quá trình học tập các em sẽ học tập lẫn nhau, thi đua
phấn đấu điều hành tốt để được làm nhóm trưởng trong các lần bầu sau. Trong
năm học tôi thường xuyên luán phiên các em làm nhóm trưởng, tạo được sự
bình đẳng giữa các thành viên trong nhóm, đồng thời tăng cường khả năng điều
hành cho mỗi học sinh. Hiện nay, trải qua một năm học, đa số học sinh lớp tôi
đều có thể đảm nhiệm vai trò làm nhóm trưởng.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi khám phá áp dụng mô hình theo cách
làm nhằm rèn kĩ năng tự tự học cho học sinh lớp 2, bằng cách giúp các em làm
quen với tài liệu đầu năm học, điều chỉnh tài liệu, rèn kĩ năng đọc, … tôi đã thu
được kết quả nhất định. Hầu hết học sinh lớp tôi đã đã hoàn toàn chủ động thực
hiện nhiệm vụ học tập của mình một cách tự giác, tích cực. Không còn thói quen
chờ đợi sự dẫn dắt, mở đường từ giáo viên mà các em tự học, tự tổ chức, tự tìm
hiểu, tự khám phá, tự rút ra bài học, tự áp dụng, tự đánh giá sự tiến bộ của mình,
cho mình. Để từ đó các em chủ động hơn, tự tin hơn, có nhiều kĩ năng hơn trong
13


mọi lĩnh vực cuộc sống. Với cách học mới này, qua các lần kiểm tra, lớp tôi luôn
được nhà trường đánh giá cao về ý thức tự học và thành thạo trong việc sử dụng
tài liệu hướng dẫn học để học tập. Bản thân cá nhân tôi nhiều năm liên tục đạt
các thành tích cao trong việc thực hiện dạy học theo mô hình trường học mới cụ
thể như sau: Năm học 2012 – 2013, tôi có sáng kiến đạt loại A cấp tỉnh viết về
mô hình trường học mới VNEN, năm học 2013 - 2014 và năm học 2015- 2016,
tôi đều đạt danh hiệu Giáo viên dạy giỏi bậc tiểu học cấp thành phố. Cũng trong
các năm học 2014 – 2015 tôi được Bộ giáo dục và Đào tạo chứng nhận có thành
tích xuất sắc trong khi thực hiện dự án mô hình trường học mới VNEN. Đặc
biệt, trong dịp Tổng kết dự án Mô hình trường học mới Việt Nam VNEN do Bộ
Giáo dục và Đào tạo tổ chức tôi vô cùng vinh dự được Bộ trưởng Bộ giáo dục và
Đào Tạo Phùng Xuân Nhạ tặng bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc trong khi
thực hiện nhiệm vụ dự án mô hình VNEN. Gần đây nhất trong Hội thi giáo viên
giỏi bậc tiểu học cấp tỉnh tôi đã đạt danh hiệu Giáo viên giỏi cấp tỉnh với số
điểm cao. Trong quá trình dạy học, tôi cũng rút ra được một số bài học kinh
nghiệm quý báu cho mình để tiếp tục thực hiện dạy – học theo mô hình trường
học mới Việt Nam ngày càng thành công hơn, góp một phần nhỏ bé vào thành
công chung của Trường tiểu học Đông Hải 1.
Sau đây là hình ảnh về một số hoạt động tự học của lớp 2C, trường
Tiểu học Đông Hải 1.

Bắt đầu tự học, các em sẽ đọc thầm tài liệu để được hướng dẫn học tập.

14


Trao đổi cặp đôi giúp các em chia sẻ cách hiểu của mình và được nghe ý kiến của bạn.

Dưới sựHà
điều
của nhóm
nhóm
cần đôi.
thống nhất ý kiến trước khi chia sẻ
Anhhành
và Thanh
đangtrưởng,
say sưacảchia
sẻ cặp
kết quả với các nhóm khác.

15


2C

Trong suốt quá trình tự học nếu gặp khó khăn em luôn được cô giáo nhiệt tình giúp
đỡ tại nhóm.

Cả nhóm đã thống nhất ý kiến, nhanh tay giơ biển báo phát tín hiệu hoàn thành để cô
giáo biết.

16


Sau mỗi hoạt động, đại diện Ban học tập sẽ điều hành cả lớp cùng chia sẻ kết quả học
tập. Các em tự tin báo cáo kết quả học tập.

PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN

1. Kết luận:
Vẫn còn sớm để nói các việc làm như giúp học sinh lớp 2 làm quen với tài
liệu, lô gô ở tài liệu, điều chỉnh tài liệu hướng dẫn học hay rèn kĩ năng đọc và
đọc hiểu cho học sinh cùng với việc áp dụng quy trình 10 bước học tập và chuẩn
bị các công cụ, đồ dùng học tập, phát huy vai trò của Hội đồng tự quản, nhóm
học tập là sáng kiến kinh nghiệm rèn kĩ năng tự học cho học sinh lớp 2 theo mô
hình trường học mới Việt Nam, nhưng đây là những việc làm mà tôi tâm đắc
nghiên cứu và áp dụng trong quá trình dạy học theo Mô hình trường học mới
Việt Nam VNEN trong những năm học thực hiện mô hình. Tuy chưa nhiều
nhưng bước đầu tôi cũng đã thu được thành công nhất định đó là:
Sau nhiều năm học áp dụng cách làm trên, Học sinh các lớp do tôi chủ nhiệm
đã tương đối thành thạo việc sử dụng các tài liệu hướng dẫn học để tự hoàn
thành và hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập. Các em tự tin hơn, chủ động hơn
trong quá trình học tập của mình. Tôi tin rằng với cách làm này tôi đã thành
công ở lớp 2 thì chắc rằng đối với các khối lớp trên sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn
nhiều nếu thực hiện.
2. Kiến nghị
Tuy chỉ là bước đầu có hiệu quả nhưng tôi mạnh dạn viết ra đây các cách
làm của mình để các đồng nghiệp của tôi đặc biệt những đồng nghiệp mới thực
17


hiện mô hình dạy học mới này tham khảo, cùng làm và góp ý kiến cho tôi để
những cách làm trên trở thành sáng kiến thực sự. Tôi cũng rất mong nhận được
sự quan tâm của các cấp chỉ đạo chuyên môn giúp đỡ để cách làm của tôi được
tuyên truyền rộng rãi đến bạn bè đồng nghiệp để nâng cao chất lượng dạy học
theo mô hình trường học mới. Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA
HIỆU TRƯỞNG NHÀ TRƯỜNG

Thanh Hóa, ngày 31 tháng 3 năm
2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người viết:

Lương Thị Điệp

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu Hướng dẫn học theo mô hình VNEN : Hướng dẫn Toán, hướng
dẫn Tiếng Việt và hướng dẫn Tự nhiên – Xã hội .
2. Các tài liệu tập huấn dành cho chương trình VNEN.

18


19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×