Tải bản đầy đủ

skkn cải tiến cách làm và sử dụng đồ dùng dạy học lớp 2 và 3 hiệu quả

I.

MỞ ĐẦU.

I.1. Lý do chọn đề tài:
Mục tiêu đào tạo của tiểu học là giúp trẻ phát triển toàn diện, hình thành
những phẩm chất cơ bản của con người vừa hồng lại vừa chuyên. Một yêu cầu
đặt ra là: Giáo viên phải làm gì ? làm như thế nào trong giờ dạy ? để “ sản phẩm
của mình làm nền móng thật vững chắc”. Đó là quá trình đổi mới phương pháp
giáo dục ở tiểu học hiện nay là làm sao giáo viên không chỉ là người truyền thụ
kiến thức mà còn là người tổ chức, định hướng, hướng dẫn còn học sinh có vai
trò chủ động trải nghiệm, khám phá, thực hành qua các hoạt động tự học và thực
sự trở thành trung tâm trong quá trình dạy học để học sinh huy động vốn hiểu
biết và kinh nghiệm của bản thân vào sự chiếm lĩnh tri thức mới. Vì thế việc cải
tiến phương pháp dạy học bằng cách tạo ra nhiều hình thức dạy học là cần thiết
nhằm cuốn hút học sinh say mê, hào hứng, tự giác lĩnh hội tri thức, từ đó phát
huy năng lực, trí tuệ sáng tạo của học sinh. Để làm được điều này thì sự hỗ trợ
của thiết bị đồ dùng dạy học là không thể thiếu.
Nếu việc “dạy chay - dạy suông” làm cho người học thụ động, không phát
huy được tính tích cực chủ động sáng tạo thì sự hỗ trợ đắc lực của thiết bị đồ
dùng dạy học sẽ là cầu nối giữa người dạy và người học, làm cho hai nhân tố

này gắn kết với nhau trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo,
phương pháp đào tạo và làm cho chất lượng giảng dạy và học tập được nâng
cao.
Đối với học sinh tiểu học, thiết bị đồ dùng dạy học đặc biệt quan trọng vì
nó giúp các em quan sát sự vật hiện tượng một cách trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn khách quan, giúp học sinh
trải nghiệm, được thao tác, được khám phá, được thực hành rút ra kiến thức mới
để các em nhớ sâu hơn nội dung bài học.
Vậy thiết bị đồ dùng dạy học là phương tiện lao động của người thầy, có ý
nghĩa tích cực về phương pháp trực quan sinh động có giá trị thiết thực trong
quá trình vận dụng đổi mới phương pháp dạy học, là một trong những yếu tố
quan trọng hàng đầu để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy, nếu thiếu yếu
tố này thì quá trình dạy học diễn ra không hoàn thiện. Ngoài ra thực hiện mục
tiêu “ học đi đôi với hành” trong nhiều năm qua, ngành giáo dục Huyện Như
Xuân luôn phát động phong trào : “ Tự làm và sử dụng đồ dùng dạy học có hiệu
quả” vào giảng dạy xuống các nhà trường và coi đây là tiêu chí thi đua hàng
năm của ngành. Đặc biệt là gắn kết phong trào “ Tự làm đồ dùng dạy học” với
phong trào xây dựng “ Trường học thân thiện- học sinh tích cực”, nhằm khơi dậy
khả năng sáng tạo trong giáo viên và học sinh trong các nhà trường.
Nhận thấy ý nghĩa thiết thực cũng như tầm quan trọng của việc tự làm và
sử dụng đồ dùng dạy học, kết hợp cuộc vận động mỗi thầy cô giáo là tấm gương
đạo đức, tự học, sáng tạo. Tôi đã nghiên cứu viết sáng kiến kinh nghiệm “Cải
tiến cách làm và sử dụng đồ dùng dạy - học lớp hai, ba hiệu quả” để vận dụng
vào công tác giảng dạy của mình, góp phần nâng cao chất lượng dạy - học của
1


nhà trường từng bước đi lên đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình sách giáo
khoa và phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới VNEN.
I.2. Mục đích nghiên cứu:
- Tăng cường hoạt động nhận thức của học sinh.
- Phát huy khả năng tự trải nghiệm, khám phá, thực hành, tự chiếm lĩnh
kiến thức của học sinh.
- Tạo giờ học hứng thú, dễ học, dễ nhớ hơn.
- Góp phần phát triển trí tuệ và giáo dục nhân cách cho học sinh.
- Tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy
học và hoạt động theo hướng tích cực hóa, cá thể hóa người học trong hoạt động
học tập, rèn luyện.
- Phát huy hết tài năng của mỗi giáo viên và tiềm năng của học sinh.
I.3. Đối tượng nghiên cứu:

- Nghiên cứu quá trình làm và sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học trường
TH&THCS Tân Bình - Như Xuân.
- Làm và sử dụng thiết bị dạy học các môn học Toán, Tiếng việt,TNXH
của lớp hai và ba.
I.4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Thu thập những thông tin lý luận của việc làm và sử dụng thiết bị đồ
dùng dạy học ở tiểu học qua tài liệu.
+ Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học theo mô hình trường học
mới VNEN.
+ Các tập chí giáo dục Tiểu học.
- Phương pháp điều tra quan sát:
+ Quan sát hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh
+ Dự giờ, thăm lớp.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
+ Thử áp dụng các giải pháp vào việc làm và sử dụng thiết bị đồ dùng dạy
học tự làm vào trong các giờ học phục vụ đổi mới phương pháp dạy học ở lớp 23 mô hình trường học mới VNEN.
+ So sánh kết quả tiết dạy giữa sử dụng đồ dùng dạy học với tiết dạy
không sử dụng đồ dùng dạy học.
II.
NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
II.1. Cơ sở lý luận.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định: Phát triển giáo dục và
đào tạo cùng với phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền
tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Vì vậy yêu
cầu đặt ra là phải không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, một
trong những yếu tố để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện là đổi mới
phương pháp dạy học. Để đạt được mục tiêu Bộ giáo dục và đào tạo đã triển
khai thành nhiều chủ đề cho nhiều năm học.
Việc nâng cao hiệu quả bảo quản và sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học trở
2


thành một điều kiện không thể thiếu và có vai trò hết sức quan trọng. Vì thiết bị
đồ dùng dạy học là công cụ lao động của quá trình dạy học. Dựa trên công cụ
lao động đó giáo viên sẽ giúp học sinh khám phá, chiếm lĩnh tốt các kiến thức
của bài học. Để thực hiện tốt các phương pháp dạy học có sự hỗ trợ của thiết bị
dạy học với những hình thức khác nhau tạo cho tiết học trở nên sinh động, hấp
dẫn hơn, chính thiết bị sẽ cung cấp nguồn thông tin tạo ra nhiều khả năng để
giáo viên trình bày nội dung bài học một cách sâu sắc và thuận lợi hơn.
Quá trình dạy học ở tiểu học thường bắt đầu từ việc cung cấp những hình
ảnh cụ thể của sự vật hiện tượng, trên cơ sở đó dần dần hình thành những khái
niệm, quy tắc ban đầu cho học sinh. Nếu biết sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học
một cách hợp lý, khoa học thì học sinh sẽ dễ hiểu, khắc sâu, nhớ lâu kiến thức
hơn. Hay nói cách khác thì đồ dùng trực quan là phù hợp và tối ưu nhất được sử
dụng nhiều ở bậc tiểu học. Đó là trực quan nghe ( nghe ngôn ngữ, băng ghi âm),
trực quan nhìn ( tranh ảnh, mô hình, vật mẫu) và trực quan nghe nhìn ( băng
hình, phim, đèn chiếu). Nó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi ở tiểu học.
Tư duy cụ thể chiếm vai trò chủ đạo, tư duy trừu tượng còn hạn chế, ghi nhớ
máy móc. Chính vì vậy khi dạy cho học sinh cần phải đi từ trực quan sinh động
đến tư duy trừu tượng.
Qua thực tiễn cho thấy, sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học trong giáo dục
không phải là phương pháp mới, phương pháp này được sử dụng từ trước đến
nay. Tuy nhiên trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông , đặc biệt là giáo dục
ở bậc tiểu học thì sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học trở thành cấp thiết vì sử dụng
thiết bị đồ dùng dạy học chính là tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên đa dạng
hóa hình thức tổ chức dạy học và hoạt động theo hướng tích cực hóa, cá thể hóa
người học trong hoạt động học tập, rèn luyện phát huy hết tài năng của mỗi giáo
viên và tiềm năng của học sinh.
Đối với học sinh tiểu học, mỗi tiết học có sử dụng đồ dùng dạy học thì
khả năng tiếp thu bài của học sinh hiệu quả hơn, tiết học phong phú hơn, đa
dạng hơn. Học sinh được trải nghiệm, phám phá, thao tác thực hành nhiều hơn
vì thế mà chất lượng tiết học tốt hơn. Chính vì vậy mà bản thân mỗi giáo viên
đứng lớp phải nghiên cứu và tự làm đồ dùng dạy học cho phù hợp với chương
trình và từng bài học cụ thể góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà
trường từng bước đi lên.
Việc sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học là một trong những nội dung của
việc thực hiện chương trình sách giáo khoa. Việc sử dụng thiết bị đó như thế
nào?, vào lúc nào ? để giờ dạy hiệu quả. Nhằm góp phần vào đổi mới phương
pháp dạy học hiện nay “ lấy học sinh làm trung tâm”, “ học đi đôi với hành”,“
lý luận đi đôi với thực tiễn” là đòi hỏi cấp thiết của ngành giáo dục, các nhà
trường nói chung và bản thân mỗi giáo viên nói riêng. Vì vậy là giáo viên đứng
lớp Tôi đã nghiên cứu tự làm và sử dụng đồ dùng dạy học vào công tác giảng
dạy của mình, góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy trong nhà trường đáp
ứng yêu cầu hiện nay. .
II.2. Trực trạng của vấn đề nghiên cứu.
3


Trường TH&THCS Tân Bình là một trong ba trường của huyện Như
Xuân tham gia dự án mô hình trường học mới từ năm 2012 - 2013. Mô hình
trường học mới VNEN với sự thay đổi lớn từ thiết kế nội dung chương trình,
sách giáo khoa đến hình thức tổ chức lớp học, phương pháp dạy học và cách
thức tổ chức các hoạt động giáo dục.
Với phương pháp dạy học mới, đồ dùng tự làm là một trong 5 yêu cầu
thực hiện giảng dạy theo mô hình trường học mới, giúp cho học sinh phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo thông qua hoạt động trải nghiệm, tương tác,
khám phá và rút ra bài học nhưng thiết bị đồ dùng dạy học trong nhà trường hiện
nay còn một số tồn tại sau:
* Về nhà trường:
- Thiết bị đồ dùng dạy học ở nhà trường được cấp phát từ năm 2000 và
chủ yếu là tranh ảnh, các mô hình nhằm giới thiệu bài mới và giải nghĩa từ, kể
chuyện… chứ đồ dùng chưa quan tâm đến luyện tập, thực hành, củng cố bài học
và chưa phát huy phương pháp dạy học tích cực hóa đến học sinh.
- Thiết bị đồ dùng dạy học chủ yếu phục vụ cho minh chứng, minh họa
kiến thức. Chưa giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập chiếm
lĩnh kiến thức.
- Đồ dùng dạy học được cấp qua nhiều năm sử dụng đã thất thoát và
không còn phù hợp với thực tế giảng dạy hiện nay.
- CSVC còn thiếu thốn, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy
học. Đặc biệt là trang thiết bị hiện đại như máy tính, máy chiếu sử dụng giáo án
điện tử chưa được quan tâm, trang bị đúng mức ( cả trường chỉ có 1 cái sử dụng
cho cả 2 cấp học)
* Về ban giám hiệu:
- Đôi lúc còn lỏng lẻo trong công tác kiểm tra, đánh giá việc làm và sử
dụng thiết bị đồ dùng của giáo viên.
- Chưa động viên khuyến khích kịp thời những giáo viên tích cực làm và
sử dụng đồ dùng trong quá trình giảng dạy.
* Về giáo viên:
- Một số giáo viên chưa xác định được tầm quan trọng của việc tự làm và
sử dụng đồ dùng dạy học. Chưa biết cách làm đồ dùng thế nào cho phù hợp với
bài học nên ngại và không làm.
- Làm đồ dùng mất nhiều thời gian và không phải giáo viên nào cũng có
khả năng tự thiết kế để làm được đồ dùng phục vụ cho tiết dạy.
- Không ít giáo viên còn ngại sử dụng đồ dùng dạy học, quá trình sử dụng
còn lúng túng, sử dụng không đúng lúc. Các thao tác kỹ thuật trong khi sử dụng
thiết bị đồ dùng theo dụng ý sư phạm còn ít được giáo viên chú ý.
* Về phía học sinh:
- Học sinh chưa có đủ bộ đồ dùng học tập cá nhân. Khi sử dụng các em
lúng lúng trong thao tác kỹ thuật.
- Khi làm việc nhóm chưa có sự tương tác, chỉ tập trung vào nhóm trưởng
hoặc một vài em khá giỏi làm việc, còn các em khác ngồi nhìn hoặc không chú ý
4


* Về dạy học theo mô hình VNEN:
Dạy học theo tài liệu hướng dẫn học VNEN thì yêu cầu giáo viên phải tự
làm đồ dùng rất nhiều vì các đồ dùng mà tài liệu yêu cầu trong nhà trường hiện
nay không có hay không phù hợp. Tôi liệt kê một số đồ dùng dạy học cần thiết
phục vụ cho dạy các môn Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên và xã hội lớp hai và ba như
sau:
Môn Toán:
Môn Tiếng Việt
Môn TN-XH
Vật thật
Vật thật
Mô hình
Mô hình
Tranh ảnh
Sơ đồ
Thẻ hình
Thẻ từ
Vật thật
Thẻ các phép tính
Phiếu học tập cá nhân
Thẻ các con vật
Thẻ số
Bảng phụ
Thẻ từ
Phiếu bài tập
Bảng nhóm
Bảng nhóm
Bảng phụ ( bảng nhóm)
Phương tiện nghe nhìn
Phương tiện nghe nhìn
( máy tính, máy chiếu…) ( máy tính, máy chiếu)
Từ thực trạng trên, Tôi đã nghiên cứu và tự làm một số đồ dùng dạy học
sau để sử dụng vào quá trình giảng dạy ở nhà trường:
Môn Toán:
Thẻ hình con bướm
Mặt cười
Thẻ các phép tính
Phiếu bài tập

Môn Tiếng Việt
Thẻ từ
Bảng nhóm
Tranh ảnh
Phiếu học tập

Môn TN-XH
Thẻ từ
Thẻ các con vật
Thẻ các phương tiện giao thông
Bảng nhóm

2.3. Các giải pháp đã thực hiện.
2.3.1: Sự cần thiết của việc sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học:
Trước hết mỗi giáo viên đứng lớp chúng ta cần hiểu, thiết bị đồ dùng dạy
học là những hình ảnh, dụng cụ, đồ vật phục vụ cho việc dạy học. Đây là công
cụ hỗ trợ cho tiết học hiệu quả nhất trong tiết dạy, góp phần làm cho tiết học trở
nên sinh động hơn, hấp dẫn hơn. Đồ dùng dạy học chủ yếu là tranh ảnh, các sơ
đồ, các mô hình, các phiếu học tập, các File âm thanh… đây là những hình ảnh,
dụng cụ trực quan để học sinh có thể khái quát hóa và cụ thể hóa cảm nhận của
bản thân.
Thiết bị đồ dùng không chỉ là phương tiện của việc dạy học mà còn là
phương tiện của việc học, thiết bị đồ dùng không chỉ minh họa kiến thức mà là
nơi chứa đựng nguồn thông tin học sinh phải khai thác để lĩnh hội kiến thức mới
cho bản thân theo hướng tích cực, tìm tòi, phát hiện trong thực tế. Tuy nhiên
thiết bị đồ dùng dạy học hiện nay rất hạn chế, đôi khi không còn phù hợp với nội
dung bài học cũng như đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Vì vậy để có
thiết bị đồ dùng dạy học sử dụng cho các tiết học, mỗi giáo viên phải tự ý thức
tìm tòi, sưu tầm và tự làm những đồ dùng dạy học mới phù hợp với nội dung bài
học. Việc tự làm đồ dùng dạy học không chỉ là trách nhiệm của mỗi giáo viên.
5


Hơn thế mỗi thiết bị đồ dùng tự làm phù hợp với nội dung bài dạy còn là một
sáng tạo.
2.3.2: Chuẩn bị thiết bị đồ dùng dạy học, nâng cao hiệu quả giờ lên lớp:
Chuẩn bị thiết bị đồ dùng dạy học là bước không thể thiếu với người giáo
viên. Xác định được tầm quan trọng của nó trong dạy học. Tôi đã thực hiện các
bước sau:
+ Đọc tài liệu, nghiên cứu bài dạy, sưu tầm tư liệu.
+ Chọn thiết bị, đồ dùng dạy học phù hợp với nội dung bài học.
+ Linh hoạt lựa chọn những bài học phù hợp để ứng dụng công nghệ
thông tin, thiết kế giáo án điện tử với những hình ảnh minh họa sinh động thay
thế cho việc chuẩn bị nhiều tranh ảnh.
+ Chuẩn bị bài dạy trước ba ngày để sửa sang, vận dụng đồ dùng sao cho
khoa học và thành thạo.
+ Phân loại đồ dùng dạy học theo trọng tâm bài dạy.
Bằng giải pháp này Tôi đã hoàn toàn chủ động, tự tin khi dạy học ở bất kỳ
giờ học nào, đem lại hiệu quả cao trong giờ học, học sinh lĩnh hội được kiến
thức và kĩ năng cơ bản của tiết học.
2.3.3: Cải tiến cách làm và sử dụng đồ dùng dạy học có hiệu quả.
Nhận thức tầm quan trọng của việc sử dụng đồ dùng dạy học, từ đầu năm
học tôi đã dành nhiều thời gian, bắt tay vào tìm hiểu, thiết kế và làm được rất
nhiều đồ dùng dạy học phù hợp với bài học cụ thể góp phần không nhỏ vào việc
đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay.
Trước hết tôi xây dựng kế hoạch làm đồ dùng như sau:
- Bước 1: Nghiên cứu bài dạy, xác định ý tưởng.
- Bước 2: Xác định yêu cầu của đồ dùng dạy học.
+ Đồ dùng tự làm phải phù hợp với mục tiêu bài học và phát huy tối đa
vai trò tối ưu của nó.
+ Đồ dùng dạy học phải là một thành tố hữu cơ của bài dạy.
+ Đồ dùng dạy học phải thiết thực cho nội dung bài dạy ( giới thiệu bài,
hình thành kiến thức mới, luyện tập thực hành, củng cố bài, ôn luyện)
+ Đồ dùng dạy học phải đa dạng, phong phú và có nhiệm vụ nội dung
kiến thức từng tiết học, bài học.
+ Chất lượng làm đồ dùng dễ tìm, tốn ít chi phí, dễ bảo quản.
+ Phát huy triệt để tác dụng của đồ dùng, dạy được nhiều bài, nhiều khối
lớp.
- Bước 3: Thực hiện tự làm đồ dùng dạy học.
Đây là khâu rất qua trọng, để có một sản phẩm mang tính khoa học, thẩm
mĩ và có hiệu quả. Tôi đã thực hiện theo các yêu cầu sau:
+ Tham khảo đồng nghiệp, thảo luận trong tổ.
+ Tìm kiếm chất liệu, chuẩn bị làm đồ dùng.
+ Lên kế hoạch thời gian thực hiện.
+ Thiết kế hình mẫu trên máy.
+ Trình diễn mẫu trước tổ khối để chỉnh sữa những vướng mắc trong khi
6


thực hiện.
+ Hoàn thành sản phẩm đồ dùng dạy học và thực hiện dạy, cụ thể:
* Môn Toán:
a) Thẻ số và các phép tính:

11- 9

11- 8

12 - 3
12- 4

2
3

9
8

7


14 - 9
14 - 8

5
6

*Cách làm:
- Tôi thiết kế thẻ hình trên máy, đưa các phép tính hoặc số phù
hợp với từng bài học.
- Lên màu
- In thẻ
- Khoan lỗ , sâu dây
* Vật liệu cần để làm:
- Nhựa mềm hoặc tấm bìa cứng
- Dây vải mềm hoặc dây sợi
* Cách sử dụng:
Ví dụ: Bài 11 trừ đi một số ; 12 trừ đi một số ; 13 trừ đi một số
14 trừ đi một số; 15 trừ đi một số …. ở lớp 2
Để dạy các bài này tôi tổ chức cho học sinh được thao tác trải nghiệm,
Khám phá và thực hành rút ra bài học trên đồ dùng bằng trò chơi “ Kết bạn”
- Bước 1: Cho học sinh mỗi em nhận một thẻ. Sau thời gian 30 giây, HS
lần lượt hai em về với nhau một đôi (thẻ phép tính và thẻ số là đáp án đúng )
- Bước 2: Từng cặp nhìn vào thẻ phép tính và thẻ số nói:
+ Em A: Tôi là 11 – 9 ;...Tôi là 11 – 8;...; Tôi là 12 – 3;.. ; Tôi là 14 - 9
+ Em B:
Tôi là 2 ;…
Tôi là 3 ; … ; Tôi là 9; … ; Tôi là 5.
- Bước 3: Học sinh từng cặp lần lượt nêu lại phép tính và kết quả phép
tính theo thứ tự, giáo viên ghi bảng ( như vậy bằng trò chơi học sinh đã thành
lập được các bảng trừ ).
- Bước 4: Giới thiệu bài học.
8


b) Thẻ hình con bướm:

24 : 6

4

42 : 6

7

54 : 9

6

48 : 8

6

63 : 7

9

56 : 7

8
9


* Cách làm:
- Thiết kế hình con bướm trên máy vi tính
- Lên màu
- Đưa các phép tính và số phù hợp với bài học vào cánh bướm
- In thẻ hình com bướm
- Cắt dọc con bướm theo 2 phần cánh, một cánh là phép tính, cánh kia là
kết quả của phép tính
* Vật liệu cần để làm: Nhựa mềm hoặc tấm bìa cứng
* Cách sử dụng:
Ví dụ: Các bảng chia 6, 7, 8, 9 ở lớp 3.
Để dạy các bài này tôi tổ chức cho học sinh được thao tác trải nghiệm trên
đồ dùng với hình thức hoạt nhóm với trò chơi “ ghép hình ”.
- Bước 1: Cho học sinh mỗi em nhận một thẻ cánh bướm. Sau thời gian
1 phút, HS lần lượt ghép hai cánh bướm lại với nhau để được một con bướm
hoàn chỉnh (cánh ghi phép tính và cánh ghi số là đáp án đúng ). Đội nào ghép
xong trước và đúng sẽ thắng cuộc.
- Bước 2: Học sinh trong nhóm lần lượt nhìn hình đã ghép đọc phép tính
và kết quả cho nhau nghe.
- Bước 3: Đại diện các nhóm lần lượt nêu lại phép tính và kết quả phép
tính theo thứ tự, giáo viên ghi bảng ( như vậy bằng trò chơi ghép hình học sinh
đã thành lập được các bảng chia theo bài học ).
- Bước 4: Giới thiệu bài học.
c) Thẻ mặt cười:

270 + 30 - 200

1000 - 400 – 70
10


100

360

340 + 60 - 100

300

* Cách làm:
- Thiết kế mặt cười trên máy vi tính
- Lên màu
- Đưa các phép tính và số phù hợp với bài học
11


- In thẻ mặt cười
* Vật liệu cần để làm: Nhựa mềm hoặc bìa cứng.
* Cách sử dụng:
Ví dụ: Các bài tập có 2 phép tính cộng, trừ.
Để học sinh thực hành tốt, tôi tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm với
Trò chơi “ đô – mi – nô” phép tính cộng trừ.
- Bước 1: Cho mỗi nhóm nhận 5 thẻ mặt cười có ghi các phép tính và 7
Thẻ ghi kết quả các phép tính. Trong thời gian 1phút, học sinh thảo luận và lần
lượt ghép mặt cười có phép tính với kết quả đúng. Đội nào ghép xong trước và
đúng sẽ thắng cuộc.
- Bước 2: Học sinh trong nhóm lần lượt nhìn mặt cười đã ghép đọc phép
tính và kết quả cho nhau nghe.
- Bước 3: Đại diện các nhóm lần lượt nêu lại phép tính và kết quả phép
tính cho cả lớp nghe
- Bước 4: Nhận xét, đánh giá kết quả các nhóm.
- Bước 5:Cá nhân học sinh ghi các bài tập nhóm mình vừa hoàn thành vào
vở
* Môn Tiếng Viêt.
a) Thẻ từ:

b) Bảng nhóm:

12


* Cách làm:
- Thiết kế bảng trên máy
- Lên màu
- Tìm các ví dụ
- Phóng to chữ
- In bảng và thẻ từ
* Vật liệu để làm: Bìa cứng.
* Cách sử dụng:
Ví dụ: Dạy các bài có nội dung mở rộng hình ảnh so sánh, tôi tổ chức cho
học sinh hoạt động nhóm với trò chơi “ Nhóm nào nhanh hơn”
- Bước 1: Mỗi nhóm nhận 1 bảng nhóm và các thẻ từ.
- Bước 2: Các nhóm thảo luận và sắp xếp các thẻ từ vào đúng vị trí
- Bước 3: Học sinh trong nhóm lần lượt đọc các câu đã hoàn thành
- Bước 4: Đại diện các nhóm báo cáo kết quả trước lớp.
- Bước 5: Nhận xét, đánh giá các nhóm.
* Môn tự nhiên và xã hội:
a) Bảng nhóm:
13


14


b) Thẻ hình:

* Cách làm:
a) Bảng nhóm: Làm tương tự như môn Tiếng Việt.
b) Thẻ các con vật và các phương tiện giao thông, các ngành nghề…
Để có hình ảnh đẹp và tiết kiệm được thời gian cũng như kinh phí làm tôi
mua bộ thẻ có sẵn.
* Cách sử dụng:
Ví dụ: Dạy các bài “ Các phương tiện giao thông” lớp 2 và “ Tham gia an
15


toàn giao thông” lớp 3; Bài: “ Loài vật sống ở đâu ?” lớp 2; bài “ loài vật sống
trên cạn, dưới nước” lớp 3.
Tôi tổ chức cho các nhóm thực hành trải nghiệm trên đồ dùng như sau
- Bước 1: Mỗi nhóm nhận 1 bảng nhóm và các thẻ con vật
- Bước 2: Các nhóm thảo luận và sắp xếp các thẻ con vật vào đúng vị trí
- Bước 3: Học sinh trong nhóm lần lượt đọc các câu đã hoàn thành
- Bước 4: Đại diện các nhóm báo cáo kết quả trước lớp.
- Bước 5: Nhận xét, đánh giá các nhóm.
- Bước 6: Nhóm các con vật cùng môi trường sống
- Bước 7: Rút ra bài học.
Từ các bước trên giúp tôi đã thực hiện tốt phong trào tự làm đồ dùng dạy
học, dễ làm, chi phí ít, dễ bảo quản và đem vào vận dụng dạy học phù hợp với
nội dung từng bài học, có hiệu quả trong các tiết học ở lớp 2, 3.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Với sự tâm huyết, chủ động, sáng tạo, tôi đã thiết kế và làm những đồ
dùng tích hợp nội dung nhiều bài học, dễ sử dụng, ít tốn kém và phục vụ cho
hoạt động dạy và học môn Toán, Tiếng Việt và TNXH lớp 2, 3 có hiệu quả. Góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục ở nhà trường đáp ứng với mô hình trường
học mới VNEN.
Giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động trong quá trình
học tập. Phát huy khả năng sáng tạo của người dạy, qua đó nâng cao tinh thần
trách nhiệm cũng như tâm huyết với nghề nghiệp.
Giúp giảm bớt kinh phí mua sắm trang thiết bị của nhà trường. Tăng
cường hệ thống thiết bị, góp phần đổi mới phương pháp dạy học nâng cao hiệu
quả giảng dạy.
* Kết quả cụ thể của lớp như sau:
Lớp
Các năng lực
Học tập
3B
Các
Mạnh Biết sử
Biết
Biết tự Hoàn
Hoàn
Chưa

dạn, tự
ĐD
cách học
học
thành thành
hoàn
Sĩ số
tin
học tập
nhóm
Tốt
thành
Đầu
10
9
10
10
4
11
3
18
năm
Cuối
18
18
18
18
9
9
0
năm
III.

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.

- Kết luận:
Đồ dùng dạy học là một công cụ không thể thiếu đối với giáo viên đứng
lớp. Nó là một dạng dụng cụ trực quan sinh động giúp cho học sinh trải nghiệm,
khám phá, thực hành để tìm ra kiến thức bài học một cách hiệu quả nhất. Vì vậy
việc nghiên cứu để làm được đồ dùng dạy học một cách khoa học và đạt được
hiệu quả cao trong quá trình dạy học là một vấn đề cần thiết và cấp bách. Đòi
16


hỏi chúng ta phải suy nghĩ tích cực về nó thì mới đạt được hiệu quả mong muốn
cao nhất.
Tóm lại: Sử dụng đồ dùng dạy học là góp phần nâng cao hiệu quả giảng
dạy góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học vì thế mỗi giáo viên phải
có trách nhiệm trong công việc đổi mới phương pháp dạy học vì thế mỗi giáo
viên phải có trách nhiệm trong việc nâng cao chất lượng cũng như đổi mới
phương pháp tự làm và sử đụng đồ dùng dạy học trở thành hoạt động không thể
thiếu trong suốt quá trình tác nghiệp của giáo viên.
Trong thời gian tới bản thân tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi, bổ sung
thêm hệ thống đồ dùng tự làm. Đây chính là hành động thiết thực và hiệu quả
nhất để nâng cao chất lượng dạy học.
- Kiến nghi:
* Đối với nhà trường:
Cần phát đồng giáo viên làm đồ dùng theo đợt, có nghiệm thu, có khen
thưởng những thiết bị đồ dùng dạy học thiết thực với nội dung chương trình, tích
hợp nội dung nhiều bài học, dễ sử dụng, ít tốn kém và hiệu quả cao cho tiết học.
* Đối với tổ chuyên môn:
Tiến hành sinh hoạt bàn về vấn đề làm và sử dụng thiết bị đồ dùng dạy
học, thống kê bài nào cần thiết, thiết bị đó như thế nào sau đó phân công cá nhân
phụ trách việc làm và hoàn thiện thiết bị đồ dùng đó. Yêu cầu thiết bị đồ dùng tự
làm đó phải phù hợp với mục tiêu bài học và phát huy tối đa vai trò tối ưu của
nó.
Tổ chức dạy thực nghiệm với đồ dùng dạy học từ làm, sau đó rút kinh
nghiệm nếu được sẽ đưa vào sử dụng cho cả nhóm, bộ môn.
Trên đây là kết quả nghiên cứu và quá trình thực hiện làm và sử dụng đồ
dùng dạy học của bản thân trong năm qua. Do thời gian cũng như năng lực có
hạn nên sáng kiến của mình không trách khỏi sai sót, mong bạn đọc và đồng
nghiệp góp ý để sản phẩm của tôi được hoàn thiện và hiệu quả hơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Tân Bình, ngày 8 tháng 4 năm 2017.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Tác giả

Phạm Thị Nga

17


TÀI LIỆU THAM KHẢO.
TT
1
2

Tài liệu
Tạp chí giáo dục tiểu học
Tài liệu hướng dẫn tổ chức lớp học theo mô hình

Tác giả
Bộ DG&ĐT
Nhà xuất bản Giáo

3

trường học mới VNEN.
Tài liệu hướng dẫn dạy học theo mô hình trường

dục Việt Nam
Nhà xuất bản Giáo

4
5
6
7
8
9
10
11

học mới VNEN.
Tài liệu hướng dẫn học Toán lớp 2
Tài liệu hướng dẫn học Tiếng Việt lớp 2
Tài liệu hướng dẫn học Tự nhiên và xã hội lớp 2
Tài liệu hướng dẫn học Toán lớp 3
Tài liệu hướng dẫn học Tiếng Việt lớp 3
Tài liệu hướng dẫn học Tự nhiên và xã hội lớp 3
Tài liệu hướng dẫn giáo viên môn Toán lớp 2
Tài liệu hướng dẫn giáo viên môn Tiếng Việt

dục Việt Nam
Nhà xuất bản GDVN
Nhà xuất bản GDVN
Nhà xuất bản GDVN
Nhà xuất bản GDVN
Nhà xuất bản GDVN
Nhà xuất bản GDVN
Nhà xuất bản GDVN
Nhà xuất bản Giáo

12

lớp 2
Tài liệu hưỡng dẫn giáo viên môn Tự nhiên và

dục Việt Nam
Nhà xuất bản Giáo

13
14

xã hội lớp 2
Tài liệu hướng dẫn giáo viên môn Toán lớp 3
Tài liệu hướng dẫn giáo viên môn Tiếng Việt

dục Việt Nam
Nhà xuất bản GDVN
Nhà xuất bản Giáo

15

lớp 3
Tài liệu hưỡng dẫn giáo viên môn Tự nhiên và

dục Việt Nam
Nhà xuất bản Giáo

xã hội lớp 3

dục Việt Nam

DANH MỤC
CÁC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ
XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT.
Họ và tên tác giả: Phạm Thị Nga
Chức vụ : Giáo viên - Trường TH&THCS Tân Bình
TT

Tên SKKN

Cấp đánh

Kết quả

Năm học

18


giá ( Phòng

đánh giá

đánh giá

GD&ĐT)
PGD&ĐT

xếp loại
C

xếp loại
2000 - 2001

2

lớp 1
Một số biện pháp luyện đọc tốt

PGD&ĐT

C

2001 - 2002

3

cho học sinh lớp 4 – 5.
Một số BP dạy học tích cực môn

PGD&ĐT

B

2002 - 2003

4

toán ở tiểu học.
Một số kinh nghiệm dạy viết

PGD&ĐT

B

2006 - 2007

5

đúng chính tả.
Kinh nghiệm BD chất lượng đội

PGD&ĐT

B

2008 - 2009

6

ngủ giáo viên.
Một số BP nâng cao chất lượng

PGD&ĐT

B

2010 - 2011

7

sinh hoạt chuyên môn.
Một số BP nâng cao tỷ lệ phổ cập

PGD&ĐT

B

2012 - 2013

8

đúng độ tuổi.
Một số BP giúp HS lớp 2 học tốt

PGD&ĐT

C

2014 - 2015

1

Một số kinh nghiệm hướng dẫn
giải bài toán có lời văn cho HS

mô hình VNEN
MỤC LỤC
Nội dung
I. Mở đầu
1.1: Lý do chọn đề tài
1.2: Mục đích nghiên cứu
1.3: Đối tượng nghiên cứu
1.4: Phương pháp nghiên cứu
II. Nội dung của sáng kiến
2.1: Cơ sở lý luận
2.2: Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN.
2.3: Các giải pháp thực hiện.
2.3.1: Sự cần thiết của việc sử dụng đồ dùng dạy học
2.3.2: Chuẩn bị thiết bị đồ dùng dạy học nâng cao HQ giờ dạy lên lớp
2.3.3: Cải tiến cách làm và sử dụng ĐDDH có hiệu quả
2.4: Hiệu quả của sáng kiến

Trang
1
1
2
2
2
3
3
4
5
5
6
6
16

19


III. Kết luận.
- Kết luận
- Kiến nghị
- Các tài liệu tham khảo.

17
17
17
18

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×