Tải bản đầy đủ

Nâng cao chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật gặp khó khăn trong học tập ở trưởng tiểu học cẩm giang huyện cẩm thủy

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọ đề tài:
Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các nhà trường của hệ thống giáo dục
Việt Nam là một trong những nhiệm vụ trọng tâm từng năm học của từng cấp
học. Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật vừa mang tính nhân văn sâu sắc vừa là
trách nhiệm của gia đình - nhà trường - xã hội, là thể hiện sự quan tâm của
Đảng, nhà nước đối với những trẻ em bị thiệt thòi, không may mắc phải những
khuyết tật mà mình không bao giờ mong muốn.
Việc giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trong các nhà trường tuy đã được
các nhà trường quan tâm thực hiện, nhưng trên thực tế, giáo dục trẻ khuyết tật
nhằm giúp các em tiến bộ, nắm bắt được các kiến thức kĩ năng trong quá trình
học tập là việc hết sức khó khăn, vất vả đối với giáo viên trực tiếp dạy dỗ các
em. Sĩ số lớp đông, làm sao đảm bảo chất lượng chung của lớp, làm sao có đủ
thời gian trong từng tiết học để hỗ trợ riêng cho trẻ khuyết tật nắm được bài
học? Mặt khác trẻ khuyết tật thường có tâm lí mặc cảm, tự ti, thậm trí còn gây
rối trong quá trình tham gia tiết học hoặc không thích tham gia học tập, rèn
luyện cùng bạn trong lớp, làm cách nào để giúp trẻ khuyết tật tham gia học tập,
nắm được các kiến thức, kĩ năng mà thầy cô truyền thụ...là cả một vấn đề nan
giải đối với người giáo viên đứng lớp ?.
Tìm hiểu về trẻ khuyết tật, chúng ta thấy có rất nhiều dạng khuyết tật của
trẻ: khuyết tật về các cơ quan vận động, khuyết tật về ngôn ngữ, khiếm thính,

khiếm thi, đa tật...các dạng khuyết tật này khá dễ nhận biết khi tiếp xúc hay quan
sát trẻ trong cuộc sống. Nhưng có một dạng khuyết tật mà các nhà nghiên cứu
về khuyết tật trẻ em thường gọi đó là trẻ gặp khó khăn trong việc học, trong dân
gian thường có cách gọi : trẻ thiểu năng trí tuệ, trẻ bị bệnh thần kinh... Trẻ
khuyết tật gặp khó khăn trong việc học là trẻ thoạt nhìn, những em này không có
những biểu hiện gì khác biệt về ngoại hình, về một số hoạt động của trẻ trong
hoạt động, vui chơi, nhưng nếu đi sâu vào khám phá mới cả là một vấn đề cần
bàn luận.
Trong xã hội hiện nay, do đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.
Đặc biệt là một xã vùng cao của huyện miền núi Cẩm Thủy, Thanh Hóa vừa
thoát 135 như xã Cẩm Giang, việc trẻ sinh ra bị suy dinh dưỡng, không được
cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng để phát triển não bộ, các chất độc hại bị
lạm dụng trong chế biến thực phẩm, không khí ô nhiễm... Đất nước vừa trải qua
các cuộc chiến tranh với bom đạn, chất độc da cam để lại nhiều di chứng cho các
thế hệ con cháu, nên số lượng trẻ em bị ảnh hưởng tới sự phát triển của trí tuệ có
khá nhiều trong số trẻ bị khuyết tật trong xã hội và trên địa bàn xã hiện nay.
Trong quá trình làm công tác quản lí, tôi cũng đã tham gia các đợt tập
huấn về các phương pháp giáo dục trẻ khuyết tật cũng như trực tiếp hỗ trợ trẻ
khuyết tật, tìm hiểu về các dạng khuyết tật nói chung và trẻ gặp khó khăn trong
việc học nói riêng học hòa nhập bản thân tôi đã rút ra được một số nhận thức
cũng như một số kinh nghiệm trong việc giáo dục, giúp đỡ trẻ gặp khó khăn
trong việc học đạt được sự tiến bộ nhất định trong quá trình học hòa nhập tại
Trường tiểu học Cẩm Giang, huyện Cẩm Thủy, Tỉnh Thanh Hóa.
1


Chính vì những lí do trên, tôi đã dành thời gian ghi lại những những gì
mình đã hiểu, đã làm trong quá trình giúp đỡ trẻ khuyết tật, trẻ gặp khó khăn
trong việc học tiến bộ qua từng ngày, mong muốn được những ai quan tâm đến
việc giáo dục trẻ khuyết tật nói chung và trẻ gặp khó khăn trong việc học nói
riêng, nhất là các thầy cô đang trực tiếp hàng ngày gánh vác trọng trách giáo dục
trẻ khuyết tật xem xét, tìm hiểu và chia sẻ những kinh nghiệm mà bản thân tôi
đã thực hiện có những hiệu quả nhất định qua bài viết : Nâng cao chất lượng
giáo dục trẻ khuyết tật gặp khó khăn trong học tập.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Xác định các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật gặp
khó khăn trong trường tiểu học nhằm phát huy hiệu quả của giáo dục toàn diện ;
giúp trẻ khuyết tật tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp, hòa nhập với bạn bè, với
cộng đồng xã hội. Đồng thời giáo dục lòng nhân ái, tình cảm yêu thương của các
em học sinh đối với những bạn khuyết tật.

1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh khuyết tật học hòa nhập lớp 1A, 2B, 4A, 5A, 5B của trường tiểu
học Cẩm Giang, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Phân tích và tổng hợp các tài liệu lý luận và những văn bản có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu.
+ Tham khảo tài liệu nghiên cứu cơ sở thực tiễn về giáo dục hòa nhập trẻ
khuyết tật.
+ Tìm hiểu thực trạng trẻ khuyết tật trong địa bàn, liên hệ phối hợp với
giáo viên chủ nghiệm, giáo viên bộ môn và phụ huynh, tìm hiểu tâm sinh lý, cá
tính của trẻ, sơ lược về các dạng khuyết tật.
-Nhóm phương pháp trải nghiệm:
+ Thực hành trải nghiệm, quan sát trong quá trình giảng dạy, trong các
hoạt động của học sinh trên lớp, trong nhà trường có trẻ khuyết tật học hòa nhập.
-Phương pháp đánh giá: Theo dõi, đánh giá sự tiến bộ của trẻ, phát huy
điểm tích cực, giúp đỡ, hạn chế những khiếm khuyết của trẻ trong tất cả các hoạt
động của các em ở nhà trường.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Trong xã hội loài người, người sinh ra không phải ai cũng gặp may mắn,
nhiều trẻ sinh ra đã mắc phải những tật bệnh quái ác, đó là những thiệt thòi mà
người khuyết tật phải gánh chịu suốt đời. Tổng số dân trong toàn xã là 4994 mà
số người khuyết tật là 148 người. Tỉ lệ người khuyết tật như điều tra tại xã Cẩm
Giang, huyện Cẩm Thủy lên đến 3,0% dân số. Trong đó có các dạng khuyết tật
sau:
- Khiếm thính , khiếm thị, khuyết tật về ngôn ngữ, cơ quan vận động, đa
tật và một dạng khuyết tật rất phổ biến đó là dạng khuyết tật về trí tuệ, một dạng
khuyết tật chiếm số lớn trong số trẻ khuyết tật. Đặc điểm của dạng khuyết tật
này là trẻ về ngoại hình ít có những khác biệt so với trẻ bình thường khác nhưng
về trí tuệ có những khiếm khuyết mà chỉ khi đi học mới bộc lộ một cách rõ nét
2


như: học trước quên sau, không nhớ được hoặc nhớ được rất ít những gì đã được
học, được trải nghiệm, chỉ bắt chước những hoạt động mang tính cảm tính, sau
đó lại không thể thực hiện lại được.
Thực hiện Công ước về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hiệp quốc
thông qua năm 1989 mà Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn nhằm
thực hiện quyền trẻ em mà trước hết là quyền được chăm sóc, bảo vệ và giáo
dục.
Nhà nước Việt nam đã ban hành Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em
- 2004, Pháp lệnh về người tàn tật - 1998- Luật giáo dục 2005 đều quy định rõ
về việc giáo dục trẻ khuyết tật, Quyết định số 23/2006/QĐ-BGDĐT Ban hành
quy định về giáo dục hòa nhập cho người khuyết tật của Bộ Giáo dục và Đào
tạo. Từ năm 2006, trong nhiệm vụ năm học của các cấp học, việc giáo dục hòa
nhập trẻ khuyết tật được đưa vào là một trong những nhiệm vụ trong tâm của
năm học đối với các nhà trường.
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của chúng ta đã có một câu
nói nổi tiếng: “ tàn mà không phế ”, đó cũng chính là thái độ của Đảng, chính
phủ và nhân dân Việt Nam đối với bộ phận người tàn tật. Kế thừa truyền thống
nhân ái tốt đẹp của dân tộc Việt Nam “Thương người như thể thương thân”,
Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến những người khuyết tật trong xã hội,
nhất là đối với trẻ em. Trong điều kiện đất nước gặp nhiều khó khăn, kinh tế còn
chậm phát triển, chúng ta đã từng bước xây dựng, thực hiện chính sách và biện
pháp nhằm giúp đỡ người khuyết tật nói chung, nhất là giúp đỡ trẻ em bị khuyết
tật về vật chất và tinh thần, vượt qua khó khăn riêng để hoà nhập vào cuộc sống
cộng đồng.
Để thực hiện tốt việc giáo dục trẻ khuyết tật, nhà nước ta đã cho phép
thành lập các cơ sở giáo dục chuyên biệt dành cho trẻ khuyết tật, được học
chương trình riêng phù hợp với các dạng khuyết tật (KT) của trẻ. Nhưng do điều
kiện kinh tế xã hội, khó khăn của gia đình trẻ KT, đa số trẻ KT không thể đến
các trường chuyên biệt nên hầu hết các em được đưa vào học hòa nhập với trẻ
em bình thường khác trong các cơ sở giáo dục từ mầm non đến các cấp học cao
hơn.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1.Thực trạng trẻ khuyết tật ( KT) nói chung và trẻ gặp khó khăn trong
việc học(GKKTVH) nói riêng tại địa bàn toàn xã.
Xã Cẩm Giang là là xã vùng cao của huyện Cẩm Thủy có 4994 dân số
sống chủ yếu là sản xuất nông, lâm nghiệp đời sống dân cư còn gặp những khó
khăn nhất định, tỉ lệ hộ nghèo khoảng trên 4,62% , số trẻ suy dinh dưỡng trong
độ tuổi 0 - 5 tuổi chiếm đến trên 20% số trẻ. Trẻ độ tuổi tiểu học của nhà trường
278 học sinh em tham gia học tập tại nhà trường trong một năm học. Theo thống
kê các năm học, thực hiện nhiệm vụ giáo dục, BHG đã chỉ đạo các giáo viên phụ
trách phổ cập huy động đạt 100 % số trẻ 6 - 11 tuổi ra lớp , trong đó có số trẻ
khuyết tật trong độ tuổi cũng được huy động đạt 100% số cháu ra lớp hòa nhập.
Đây là sự cố gắng rất lớn của nhà trường trong những năm vừa qua.
Năm học 2016 - 2017, theo thống kê, số trẻ khuyết tật huy động ra lớp đạt
6/6 cháu, trong đó số trẻ khuyết tật gặp khó khăn trong việc học 3 em chiếm tới
3


50 % khuyết tật. Số trẻ gặp khó khăn trong việc học trong đó có cả trẻ mắc về
thần kinh, não bộ, trẻ câm, trẻ khuyết tật vận động (trẻ đa tật)...Như đã nói ở
trên, trẻ gặp khó khăn trong việc học có ngoại hình bình thường, có một số hoạt
động, vui chơi như đứa trẻ bình thường khác nhưng việc ghi nhớ các kiến thức
kĩ năng trong việc học chữ, làm toán, ghi nhớ các kiến thức đã học là rất khó
khăn. Có những em trong hoạt động vui chơi được đánh giá là khá năng động, là
chủ trò của nhiều trò chơi trên sân trường nhưng trong việc học thì có mấy chữ
cái thì học mãi vẫn không nhớ được mặt chữ, học trước quên sau. Cụ thể như là
em Quách Công Tường học sinh lớp 5 mà nhiều lúc vẫn không nhớ nổi tên
mình, tên thôn xóm nhà mình đang sinh sống. Có những em trong lớp ngồi học
thì quậy phá, khi giao viết bảng thì không thể viết được bèn nhờ bạn ngồi cạnh
viết hộ, bạn không viết cho liền đánh bạn. Có những em nặng hơn thì chỉ ngồi
chơi, không tham gia việc hoạt động nhóm, nghe giảng, cùng học với bạn, thậm
chí đang học bổng nhiên la ó trong lớp học hoặc bỏ ra ngoài chơi, làm giáo viên
phải dừng giảng bài để ra dụ em học sinh ấy vào lớp, có những em mắc bệnh
động kinh, tự nhiên lăn đùng ra lớp...

(Hình ảnh học sinh đang la ó trong tiết học giáo viên phải dỗ dành)
4


Về chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật trí tuệ, gặp khó khăn trong việc học
hòa nhập, do đặc điểm khuyết tật về trí tuệ nên các em này tiếp thu kiến thức
gặp rất nhiều khó khăn, khả năng nhận thức được kiến thức chỉ bằng một vài
phần trăm so với trẻ bình thường khác cùng lứa tuổi, thậm trí là không thể ghi
nhớ được gì vào trong não bộ. Do vậy, việc đánh giá học tập và rèn luyện đối
với trẻ khuyết tật theo quy định được đánh giá riêng, đánh giá theo mức độ tiến
bộ của trẻ. Việc giáo dục trẻ khuyết tật cũng được quan tâm và thực hiện theo
cách riêng.
Trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin tập trung đi sâu vào các giải pháp
giáo dục trẻ khuyết tật, gặp khó khăn trong việc học với mục đích ghi lại những
kinh nghiệm và đưa ra để đồng nghiệp cùng nghiên cứu, ứng dụng , góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật, gặp khó khăn trong việc học đạt kết
quả tốt ở Trường tiểu học Cẩm Giang, huyện Cẩm Thủy.
2.2.2. Những thuận lợi
Thực hiện nhiệm vụ năm học về giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật, nhà
trường đã tập trung chỉ đạo và tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất,
trang thiết bị, tập huấn về phương pháp riêng giáo dục trẻ khuyết tật, được tìm
hiểu kĩ về đặc điểm tâm sinh lí trẻ khuyết tật nói chung, trẻ gặp khó khăn trong
việc học nói riêng để giúp giáo viên trong nhà trường hiểu và tổ chức thực hiện
việc giáo dục trẻ khuyết tật.
Có được sự quan tâm của nhà nước, cộng đồng, các tổ chức xã hội, nhà
trường, đặc biệt là của cha mẹ trẻ KT luôn dành những tình cảm, sự ưu ái đối
với các em, hỗ trợ thầy cô cùng giúp đỡ, giáo dục trẻ KT trong nhà trường.
2.2.3. Những khó khăn
Trẻ khuyết tật nói chung và trẻ khuyết tật gặp khó khăn trong việc học nói
riêng thường có thái độ mặc cảm, tự ti, xa lánh, không thích tham gia hoạt động
chung với bạn bè, hay bị bạn bè và một số người thiếu ý thức trêu chọc nên dễ
nổi khùng, tủi thân. Bạn bè trong lớp cũng có thái độ phân biệt đối xử, ít chơi
với trẻ KT ...
Đối với trẻ khó khăn việc học (KKVH), do khuyết tật bộc lộ không rõ
ràng nên cha mẹ trẻ KT KKVH thường không muốn đưa con đến cơ sở y tế để
kiểm tra, xác nhận, sợ ảnh hưởng đến tương lai sau này của trẻ làm cho trẻ chịu
nhiều thiệt thòi trong chế độ chăm sóc đối với trẻ KT và cũng gây khó khăn cho
việc thực hiện việc giáo dục, rèn luyện của giáo viên.
Do học hòa nhập nên việc quản lí, dành thời gian để hỗ trợ cho trẻ KT,
khó khăn trong việc học rất hạn chế vì phải lo chất lượng chung của cả lớp nên
nhiều khi trẻ KT, KKTVH thiếu đi sự quan tâm, hỗ trợ của lớp, của giáo viên.
2.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ khuyết tật học hòa
nhập.
Trẻ khuyết tật dù có những khiếm khuyết nhất định nhưng cũng có những
nhu cầu và năng lực nhất định dù ở mức độ nào đó. Do đó tổ chức giáo dục cho
trẻ khuyết tật cần tính đến việc lựa chọn phương pháp, phương tiện và hình thức
tổ chức giáo dục phù hợp.
5


Trong nhiều năm học qua, giáo dục tiểu học Cẩm Giang, huyện Cẩm
Thủy đã phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật của
ngành đã đề ra, có được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và Chính
quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể - xã hội toàn xã nhà trong công tác giáo dục
hòa nhập trẻ khuyết tật. Bên cạnh đó Phòng GD đã phối hợp với các dự án, viện
nghiên cứu GD trẻ khuyết tật để tập huấn về nhận biết, phương pháp giáo dục
trẻ khuyết tật học hòa nhập cho đội ngũ cán bộ giáo viên các trường học trong
toàn huyện nói chung và Trường tiểu học Cẩm Giang nói riêng điều tra trẻ KT,
có những hỗ trợ về khám chữa bệnh, phương tiện, đồ dùng học tập cho học sinh
khuyết tật giúp các em tham gia học tập có hiệu quả.
2.3.1. Các giải pháp chung
- Đối với trẻ KT nói chung và trẻ KKVH nhà trường đã vận động gia đình
đưa các em đến các cơ sở y tế để xác định KT và mức độ KT, lập hồ sơ theo dõi,
điều trị, tạo ra sự hỗ trợ của y tế, các tổ chức xã hội, của cộng đồng và nhất là
của cha mẹ các em một cách đầy đủ, khoa học và có hiệu quả nhất.
- Lập hồ sơ theo dõi đánh giá riêng về sức khỏe, tình trạng khuyết tật cũng
như theo dõi việc học tập, rèn luyện của trẻ KT nhà trường đã có bộ hồ sơ theo
dõi việc học đối với trẻ KT.
- Vận động mọi tầng lớp nhân dân quan tâm giúp đỡ, dành nhiều tình cảm
thân ái, giúp đỡ mọi mặt đối với trẻ KT. Đặc biệt là bạn bè trong trường, trong
lớp có thái độ và việc làm, sự giúp đỡ vô tư, nhiệt tình với trẻ KT, tránh thái độ
khinh bỉ, xa lánh đối với trẻ KT.
2.3.2. Đối với giáo viên trực tiếp dạy trẻ khuyết tật:
- Giáo viên dạy học sinh KT KKVH phải được tập huấn đầy đủ về
phương pháp, hình thức giảng dạy cũng như có đủ các phương tiện giảng dạy
cho trẻ KT,KKVH.
- Người giáo viên dạy trẻ KT học hòa nhập còn phải là người nêu cao tinh
thần trách nhiệm, hết lòng vì học sinh, đặc biệt là trẻ KT KKVH, biết tổ chức
tiết học hợp lí, vừa đảm bảo chất lượng chung của lớp, vừa dành được thời gian,
công sức cho việc giáo dục, nâng cao kiến thức kĩ năng đối với trẻ KT. Việc hiểu
và nắm bắt đặc điểm tâm lí từng trẻ KT trong lớp để có cách tiếp cận, biện pháp
tác động, giáo dục phù hợp là khởi đầu cho thành công trong giáo dục trẻ KT.
- Động viên, khuyến khích trẻ KT tham gia vào tất cả các hoạt động
(trong điều kiện không ảnh hưởng đến KT của trẻ) để trẻ KT quên đi những mặc
cảm, tự ti của mình.
2.3.3. Bạn bè và bạn học trong lớp đối với trẻ KT :
- Tạo mọi điều kiện để học sinh trong lớp kết bạn, gần gũi và sẵn sàng
giúp đỡ bạn mình bị KT. Có thái độ tôn trọng, thông cảm và động viên bạn KT
vượt qua khó khăn vì KT để vươn lên trong học tập rèn luyện. Sẵn sàng động
viên khen ngợi bạn KT khi bạn đó làm hoàn thành một việc được giao nào đó,
dù chỉ là hoàn thành ở mức độ nhỏ nhất. Không có những lời lẽ xúc phạm, khơi
gợi nỗi đau khuyết tật của bạn.
- Tổ chức các hoạt động (theo nhóm hoặc cặp đôi) đưa các trẻ KT tham
gia vào các hoạt động học tập, vui chơi cũng như rèn luyện những kĩ năng cần
thiết, tạo ra sự tiến bộ cho trẻ KT. Hoạt động nhóm là hết sức quan trọng trong
6


việc giúp đỡ học sinh khuyết tật học hòa nhập. Bởi hoạt động học hầu như diễn
ra ở nhóm. Mỗi nhóm thường 4 - 6 em. Nhóm trưởng là người nhận nhiệm vụ
từ giáo viên, điều hành hoạt động của nhóm và báo cáo kết quả học tập của
nhóm với giáo viên. Trong hoạt động nhóm học sinh có thể đổi bài, vở để kiểm
tra bài làm của bạn, nói cách nghĩ, cách làm của mình cho bạn nghe, tiếp thu ý
kiến của bạn, bảo vệ chính ý kiến, kết quả của mình. Qua đó học sinh trong
nhóm đã hỗ trợ lẫn nhau, đặc biệt là giúp đỡ học sinh khuyết tật nắm bắt kiến
thức cơ bản của bài học, hoàn thiện bài của mình một cách tốt nhất có thể.
Thông qua học nhóm đòi hỏi tự giác của mỗi cá nhân, tự quản của tập thể
nhóm. Tự học, tự chia sẻ cặp đôi, trao đổi là quy trình hoạt động nhóm, trong
khi chia nhóm giáo viên cần phải chia những em có học lực tốt ngồi cùng nhóm
với các em học sinh khuyết tật để giúp đỡ các em học sinh khuyết tật. tạo điều
kiện tốt nhất cho các em khuyết tật được nêu lên ý kiến của mình khi có thể.
Kết quả làm việc của từng nhóm (kể cả nhóm có học sinh khuyết tật) được trình
bày, báo cáo trước lớp tạo ra được không khí thi đua giữa các nhóm, đóng góp
tích cực vào kết quả chung của bài học và là động lực giúp các em khuyết tật tự
tin hơn trong giao tiếp, trong học tập và trong mọi hoạt động giáo dục khác.

(Hình ảnh học sinh khuyết tật học hòa nhập theo nhóm ở các lớp)
2.3.4. Sử dụng đồ dùng dạy học:
Lựa chọn những đồ dùng dạy học hợp lí, phù hợp với nhu cầu, hứng thú
và đặc điểm hoạt động nhận thức của trẻ KT. Đồ dùng, phương tiện dạy học chỉ
hiệu quả khi trẻ KT thích thú khám phá nhận thức với đồ dùng, phương tiện đó.
2.3.5. Đổi mới phương pháp giảng dạy, điều chỉnh yêu cầu kiến thức kĩ
năng phù hợp đối với trẻ KT
- Đối với trẻ KT nói chung và trẻ KT, KKVH nói riêng, khi tham gia học
tập, do ảnh hưởng của KT nên việc học của trẻ gặp rất nhiều khó khăn, thất bại
nhiều hơn thành công nên trẻ dẫn tới thiếu tự tin, chán nản, dần dần sẽ sợ học.
Chính vì thế giáo viên dạy trẻ KT phải thường xuyên lưu ý, tạo ra các cơ hội dẫn
đến thành công cho trẻ KT, giúp các em tự tin, vươn lên để học tập.
- Đối với trẻ KT, KKVH, một sự tiến bộ dù nhỏ nhất trong việc học cũng
là một thành công lớn của chính bản thân trẻ KT và của giáo viên. Nếu mỗi ngày
7


học sinh học được 2 chữ cái, 4 từ và 1 câu nào đó, viết được một số từ ứng dụng
(lớp 1) thì trẻ khuyết tật chỉ cần đọc và viết được 2 chữ cái đã là sự tiến bộ cần
khen thưởng. Trên cơ sở của sự khen thưởng đó động viên em cố gắng học thêm
để nắm được các kiến thức, kĩ năng còn lại trong tiết học.
- Đối với trẻ KT, nhất là trẻ KKVH ở tiểu học điều chỉnh yêu cầu kiến
thức kĩ năng là cần thiết. Người giáo viên cần lựa chọn những kiến thức kĩ năng
cơ bản nhất cần có trong cuộc sống thường ngày của trẻ KT như : Kĩ năng đọc,
viết; kĩ năng làm toán; kĩ năng sống ... để dạy cho các em chứ không cần thiết
phải dạy những nội dung ít quan trọng có trong chương trình giáo dục cho học
sinh bình thường khác.
- Tăng cường việc rèn luyện lặp đi lặp lại nhiều lần những kiến thức kĩ
năng mà học sinh KT khó khăn trong việc nắm bắt và ghi nhớ. Dùng những đồ
dùng và phương tiện giảng dạy hợp lí, hấp dẫn để tăng khả năng tái hiện, ghi
nhớ cho trẻ KT, nhất là trẻ KTKKVH.
- Thường xuyên nắm bắt khả năng ghi nhớ và thực hiện các kĩ năng của
trẻ KT, trên cơ sở đó để phát hiện ra những khả năng nhận thức của từng trẻ KT
để có các giải pháp tác động hợp lí giúp trẻ KT tiếp thu kiến thức kĩ năng một
cách hiệu quả.
- Hệ thống câu hỏi về kiến thức, kĩ năng trong bài học cần đơn giản, vừa
sức với trẻ KT, thông tin ngắn gọn, rõ ý và có những gợi ý để trẻ KT có thể hiểu
và trả lời được.
- Đối với trẻ KT, KKVH cần có sự định hướng, làm mẫu hoặc chia nhỏ
các thao tác trong thực hiện các kĩ năng như viết, tính toán, các bước thực hiện
trong khi làm một việc nào đó để các em hiểu, dễ làm theo.
- Giáo viên cần tranh thủ thời gian ngoài giờ học để động viên, tâm sự,
rèn luyện cho các em KT, KKVH những kiến thức kĩ năng cần thiết mà các em
còn chưa nắm vững. Chính sự gần gũi chia sẻ của giáo viên giúp các em KT có
thêm người bạn lớn, sẵn sàng chia sẻ tình cảm của mình, nêu ra được những khó
khăn và mong chờ sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè.
- Tuyệt đối không có sự trách phạt đối với trẻ khuyết tật, KKVH dù trẻ
KT không hoàn thành nhiệm vụ được giao mà phải tìm những điểm cố gắng,
làm được của trẻ KT, KKVH (dù rất nhỏ) để khen, động viên và kích thích các
em vươn lên để thực hiện tốt các việc mà các em chưa hoàn thành.
2.3.6. Tổ chức tốt các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
- Do khuyết tật nên khi vui chơi, một số trẻ khuyết tật thường không tham
gia, chính vì vậy cần tổ chức các hoạt động vui chơi phù hợp, động viên trẻ KT
tham gia. Trong quá trình hoạt động tập thể sẽ làm cho các em KT quên đi
những mặc cảm của mình, tham gia thực hiện tốt các kĩ năng cần thiết để rèn
luyện bản thân. Tạo cho các em tham gia tất cả các trò chơi, các hoat động cùng
bạn bè trong lớp, trong khối, trong trường để các em thật sự hòa nhập được sống
trong tình yêu thương của thầy cô, bạn bè.
- Tổ chức các hoạt động vui chơi tập thể, văn nghệ, thể thao, các cuộc thi
(văn nghệ, mỹ thuật, sáng tác thơ, tặng quà, làm việc tốt, vui chơi …) nhân các
ngày lễ trong năm để lôi kéo các em KT tham gia hoạt động.
8


(Hình ảnh học sinh khuyết tật tham gia các hoạt động tập thể, vui chơi )

(Một trong những bài vẽ của học sinh KT tham gia thi vẽ tranh cấp trường)
2.3.7. Sự tương tác, hỗ trợ của gia đình trong việc quan tâm giáo dục trẻ
KT,KKVH là không thể thiếu được trong quá trình giáo dục trẻ KT:
- Trước hết nhà trường, giáo viên chủ nhiệm lớp phải giúp gia đình nhận
thức trẻ khuyết tật là sự thiệt thòi lớn nhất của trẻ, gia đình cần có sự quan tâm
chăm sóc, giáo dục đặc biệt, nhất là với trẻ KKVH. Đối với trẻ KT cần cho đi
các cơ sở y tế để khám, chữa bệnh, tư vấn về cách chăm sóc, hỗ trợ trẻ KT, tranh
thủ được sự ưu tiên quan tâm của xã hội, cộng đồng, không nên có thái độ né
tránh, sợ ảnh hưởng đến tương lai trẻ của một số bậc cha mẹ.
9


- Nhà trường, giáo viên dạy trẻ KT,KKVH cần tổ chức tốt việc nâng cao
nhận thức cho cha mẹ trẻ KT về đặc điểm tâm sinh lí của trẻ KT, nhu cầu và
mong muốn của trẻ KT cũng như cách giáo dục, hỗ trợ giúp đỡ của mọi người
đối với trẻ KT, đặc biệt là trẻ KKVH. Việc tư vấn, chuyển giao những kiến thức
và kĩ năng cần thiết cho các thành viên trong gia đình trẻ KT và cộng đồng, tập
huấn phương pháp giáo dục trẻ KK, KKVH cho phụ huynh là điều rất cần thiết
vì không phải phụ huynh nào cũng hiểu và có thái độ, trách nhiệm đúng với trẻ
KT, KKVH.
- Thường xuyên có thông tin hai chiều giữa nhà trường, giáo viên chủ
nhiệm (GVCN) với gia đình trẻ KT để nắm bắt những thay đổi, sự tiến bộ hoặc
những vấn đề nảy sinh trong quá trình giáo dục trẻ KT để cùng có những giải
pháp thống nhất giúp đỡ, giáo dục trẻ KT.
2.3.8. Nhà trường, Hiệu trưởng với việc giáo dục trẻ KT.
-Ngay từ đầu năm học, ban giám hiệu nhà trường chọn giáo viên có kinh
nghiệm, tâm huyết, nhiệt tình trách nhiệm cao làm công tác chủ nhiệm có học
sinh
khuyết tật học hòa nhập.
- Triển khai kịp thời các văn bản chỉ đạo công tác giáo dục hòa nhập cho
trẻ khuyết tật của các cấp ngành đến toàn thể giáo viên.Tham gia tập huấn, tổ
chức chuyên đề các nội dung liên quan đến công tác giáo dục hòa nhập
cho trẻ khuyết tật ngay từ đầu năm học.
- Cần tổ chức điều tra, nắm bắt về số lượng trẻ KT, các dạng KT của trẻ
sinh sống trên địa bàn để xây dựng kế hoạch giáo dục khi đưa trẻ vào giáo dục
hòa nhập
- Nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, giáo viên nhân viên nhà
trường trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục hòa nhập trẻ KT, coi đó là một
nhiệm vụ trọng tâm của năm học.
Đối với giáo viên chủ nhiệm phụ trách lớp có trẻ KT phải là người có
trách nhiệm cao, có tình thương và thái độ tốt, sẵn sàng giúp đỡ trẻ KT trong
mọi tình huống. Biết lập kế hoạch giáo dục trẻ KT và có những giải pháp hợp lí
để giúp trẻ KT tiến bộ từng ngày.
- Tổ chức tốt việc tập huấn nhận thức, phương pháp giáo dục trẻ
KT,KKVH, xây dựng kế hoạch, tổ chức đội ngũ, lực lượng tham gia giáo dục trẻ
KT và triển khai thực hiện việc giáo dục trẻ KT học hòa nhập.
- Ban giám hiệu nhà trường làm tốt công tác tham mưu, phối hợp chặt
chẽ giữa nhà trường - gia đình và xã hội Tư vấn cho giáo viên chủ nhiệm thấm
nhuần bản chất của việc làm tốt công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật sẽ
góp phần giúp học sinh khuyết tật tiến bộ về thể chất lẫn tinh thần để các em đỡ
thiệt thòi, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, hoàn thành mục
tiêu giáo dục hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ năm học đề ra.
- Thực hiện tốt việc kiểm tra, đánh giá để động viên kịp thời làm cho việc
triển khai đạt kết quả đồng thời có các giải pháp điều chỉnh hỗ trợ kịp thời khi
cần thiết. Đặc biệt là duy trì trẻ KT ra học và không ngừng nâng cao chất lượng
giáo dục cho học sinh khuyết tật nhằm thu hút học sinh đến trường lớp học hòa
nhập, tạo niềm tin trong cha mẹ học sinh và toàn xã hội.
10


2.3.9 Đánh giá kết quả giáo dục trẻ KT.
- Do đặc điểm riêng của trẻ KT về việc học tập nên việc đánh giá cho trẻ
KT, KKVH cần thực hiện đánh giá theo sự tiến bộ của trẻ, cho các em lên lớp để
giải quyết tình trạng trẻ KT phải ở lại lớp (học đúp) quá lâu, ảnh hưởng tới tâm
lí lứa tuổi , mặc cảm cho trẻ KT dễ dẫn đến trẻ chán nản, không hứng thú việc
học, bỏ học ...
- Do học sinh KT ở từng dạng, ảnh hưởng đến việc học tập, rèn luyện
khác nhau nên phải có yêu cầu đánh giá chính xác về mức độ nhận thức, kĩ năng
trong các môn học cũng như rèn luyện các kĩ năng hoạt động của trẻ. Đánh giá
như học sinh bình thường khác với những môn học, những hoạt động giáo dục
mà KT của trẻ không ảnh hưởng tới, đánh giá theo sự tiến bộ của trẻ đối với các
môn học, hoạt động giáo dục có sự tác động của khuyết tật.
2.3.10. Theo dõi sự tiến bộ của học sinh thông qua hồ sơ học sinh khuyết
tật.
Nhà trường và giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm ghi chép, bổ sung và
lưu giữ đầy đủ, trung thực các thông tin về quá trình phát triển của học sinh
khuyết tật trong thời gian học tập tại nhà trường và khi học sinh khuyết tật có
thay đổi lớp, trường, cấp học thì nhà trường có trách nhiệm bàn giao hồ sơ đến
trường, lớp hoặc cơ sở giáo dục mới.
Hồ sơ giáo dục dành cho người khuyết tật bao gồm: sổ theo dõi chăm sóc
sức khỏe, kế hoạch học tập cá nhân, bài làm, bài tập kiểm tra, học bạ, giấy khai
sinh, giấy chứng nhận hoàn thành cấp học, Sổ theo dõi sự tiến bộ của trẻ, giấy
chứng nhận bệnh án của trẻ, phiếu thống kê, Kết quả tìm hiểu về trẻ khuyết tật.
Đặc biệt thông qua hồ sơ kết quả tìm hiểu về trẻ khuyết tật giáo viên có thể giúp
học sinh khuyết tật hòa nhập và tiến bộ một cách tốt nhất. Từ đó giáo viên có thể
đưa ra được nội dung tìm hiểu - Khả năng của trẻ - nhu cầu đáp ứng. Với nội
dung yêu cầu về thể chất cần theo dõi sự phát triển thể chất và giác quan, lao
động đơn giản. Khả năng ngôn ngữ cần theo dõi hình thức, vốn từ, phát âm, khả
năng nói, khả năng đọc, khả năng viết. Khả năng nhận thức là cảm giác, tri giác,
trí nhớ, tư duy chú ý, khả năng thực hiện nhiệm vụ. Khả năng hòa nhập điều đó
thể hiện ở quan hệ bạn bè, quan hệ tập thể, hành vi, tính cách. Bên cạnh đó môi
trường giáo dục cũng hết sức quan trọng đó là gia đình, nhà trường và cộng
đồng là yếu tố giúp trẻ khuyết tật tiến bộ hàng ngày.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Việc thực hiện giáo dục trẻ khyết tật trên địa bàn toàn xã Cẩm Giang
trong độ tuổi đến trường tiểu học nhà trường đã huy động được tối đa trẻ khuyết
tật ra lớp, tuy nhiên trong những năm qua trên địa bàn không có những trẻ
khuyết tật như khiếm thị, bại não, đa tật nặng không thể ra học được mới không
huy động ra lớp.
Nhà trường đã thực hiện tốt công tác quản lí, duy trì trẻ khuyết tật trong
năm học, tổ chức tốt các hoạt động giáo dục mang lại sự tiến bộ cho trẻ KT, đặc
biệt là trẻ KT KKVH. Nhà trường, giáo viên đã xây dựng kế hoạch, triển khai
thực hiện phương pháp giảng dạy, đánh giá phù hợp với đối tượng trẻ khuyết tật.
11


Qua các hoạt động, các giờ học, các biện pháp đã áp dụng một cách triệt
để và có hiệu quả các em ngày càng yêu trường, mến bạn hơn. Các em học sinh
khuyết tật không còn tự ti, mặc cảm, các em cảm nhận được niềm vui sau mỗi
ngày đến trường. Vì vậy Trẻ khuyết tật được huy động ra lớp không có trường
hợp nào bỏ học do chán học, mặc cảm mà hầu hết đều có sự tiến bộ trong học
tập và rèn luyện, có những em còn vươn lên đạt học sinh giỏi như em Bùi Thị
Nhiên học sinh lớp 5A. Trẻ KT hứng thú, vui vẻ khi đến lớp để học tập và tham
gia các hoạt động giáo dục. Tỉ lệ huy động trẻ KT học hòa nhập đạt 100%. Duy
trì sĩ số đạt 100%.
3. KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ.
- Phải có sự quan tâm, chỉ đạo có hiệu quả của các cấp ủy Đảng, chính
quyền của các cấp quản lí giáo dục về công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật.
- Ban giám hiệu, giáo viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, tình
thương yêu và quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục đối với trẻ khuyết tật
đã đề ra.
- Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức, lực lượng giáo dục trong và ngoài
nhà trường, phối hợp có hiệu quả với cha mẹ học sinh KT để chăm lo giáo dục
trẻ KT.
- Nắm vững đặc điểm riêng biệt của từng dạng khuyết tật, tâm lí và sự
phát triển của trẻ để có hình thức, phương pháp giáo dục, rèn luyện kiến thức kĩ
năng một cách phù hợp, hiệu quả đối với trẻ KT.
- Đưa trẻ KT tham gia tích cực vào các hoạt động tập thể vui chơi và học
tập. Tạo cơ hội để trẻ KT tự tin, tự khẳng định mình, xóa đi các mặc cảm tự tin
về KT cho trẻ.
- Đánh giá một cách hợp lí, đúng mức kết quả học tập của trẻ KT, kịp thời
động viên, khen thưởng khi trẻ KT có sự tiến bộ (dù nhỏ), không trách phạt khi
trẻ chưa thực hiện tốt nhiệm vụ học tập của trẻ. Khuyến khích để trẻ tự cố gắng
vươn lên trong cuộc sống.
Giáo dục trẻ khuyết tật học hòa nhập là một trong những nhiệm vụ chính
của các nhà trường trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Việc chăm lo giáo dục trẻ
KT là trách nhiệm của mỗi người trong xã hội nhằm giúp các em KT khắc phục
những khiếm khuyết trong cơ thể, vươn lên trong cuộc sống, tự tin, tự lập và có
những hiểu biết, kĩ năng nhất định để sống, làm việc, đóng góp những thành
công trong cuộc sống cho xã hội.
Thông qua bài viết này, tôi mong muốn các nhà giáo dục, các cấp quản lí,
các thầy cô giáo hãy hiểu hơn về trẻ KT, đồng cảm và có thái độ đúng, giúp đỡ,
hỗ trợ trẻ khuyết tật trong học tập, lao động giúp các em vững bước, tự tin trong
cuộc sống của mình. Chúng ta vẫn nhận thức sâu sắc rằng, công tác giáo dục hòa
nhập học sinh khuyết tật là một việc làm hết sức khó khăn, vất vả, ngoài việc
điều chỉnh, lựa chọn những kiến thức, phương pháp, hình thức dạy học, đánh giá
phù hợp với từng loại đối tượng trẻ khuyết tật, đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị phù
hợp từng loại tật, còn cần có sự yêu thương, lòng kiên trì nhẫn nại, chăm chút
từng ngày, từng giờ, trân trọng từng sự tiến bộ, dù nhỏ, của các em. Nghĩa là, đòi
hỏi cần có một tấm lòng, cái tâm ở mỗi một cán bộ quản lý, giáo viên.
12


XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Cẩm Thủy, ngày 15 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết

Hoàng Nam Chinh

Nguyễn Thị Cúc

MỤC LỤC
TT

Nội dung tiêu đề

Trang
13


1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1
2.2
2.3
2.4
3

Mở đầu
Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Các giải pháp nâng cao hiệu quả GDHNTKT
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Kết luận, kiến nghị

1
1
2
2
2
2
2
3
5
11
12

NHỮNG TỪ NGỮ VIẾT TẮT TRONG BÀI VIẾT
1. Trẻ khuyết tật

- Trẻ KT
14


2. Trẻ khuyết tật khó khăn việc học

- Trẻ KT, KKVH

NHỮNG TƯ LIỆU THAM KHẢO:
1. Quản lí giáo dục trẻ khuyết tật - Bộ GDĐT ( Viện KHGDVM)- 2009
2. Sổ tay giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật - BGDĐT
3. Các luật: Luật GD, Luật CS,BV & GD trẻ em ; Công ước quyền trẻ em.
4. Các văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học của Bộ, Sở về giáo
dục hòa nhập trẻ khuyết tật
5. Bài giảng về Giáo dục trẻ khuyết tật gặp khó khăn việc học của Viện
KHGD Việt Nam.
6. Một số tài liệu khác có liên quan.

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×