Tải bản đầy đủ

Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn thành phố nha trang, tỉnh khánh hòa

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH VĂN DŨNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH VĂN DŨNG


CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HÀ THỊ THƯ

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc
sĩ Công tác xã hội về “Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn
thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” là hoàn toàn trung thực và không
trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn

Đinh Văn Dũng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI ...................................................................................................... 10

1.1. Người cao tuổi: khái niệm và đặc điểm .......................................................... 10
1.2. Lý luận về công tác xã hội đối với người cao tuổi ......................................... 14
1.3. Yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với người cao tuổi ....................... 23
1.4. Cơ sở pháp lý về công tác xã hội đối với người cao tuổi ............................... 24
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
TẠI THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA .......................................... 29

2.1.Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu .................................................... 29

2.2. Thực trạng hoạt động công tác xã hội đối với người cao tuổi tại hành phố Nha
Trang, tỉnh Khánh Hòa ......................................................................................... 36
2.3. Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với người cao tuổi...... 48
Chương 3 ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VÀ BIỆN PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA .............................................. 57

3.1. Ứng dụng tiến trình công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi .................... 57
3.2. Các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với người cao
tuổi ........................................................................................................................ 65
3.3. Nhóm giải pháp bảo đảm thực hiện các hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe,
tinh thần, kết nối nguồn lực cung cấp dịch vụ nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
, xây dựng môi trường thân thiện cho người cao tuổi ........................................... 70
3.4. Giải pháp thực hiện chính sách đối với người cao tuổi .................................. 72
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 76


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASXH

An sinh xã hội

CTXH

Công tác xã hội

CSSK

Chăm sóc sức kỏe

LĐTBXH

Lao động – Thương binh và Xã hội

NCT

Người cao tuổi

NV CTXH

Nhân viên công tác xã hội

KT - XH

Kinh tế - xã hội

CSND

Chăm sóc nuôi dưỡng

CTV

Cộng tác viên

BHXH

Bảo hiểm xã hội

UBND

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC BẢNG ĐỒ

Sơ đồ 1.1. Tháp bậc thang nhu cầu của Maslow ................................................... 12
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ phả hệ gia đình bà B .................................................................. 59
Sơ đồ 3.2. Sơ đồ sinh thái ..................................................................................... 60
Bảng 2.1. Phân loại về sức khỏe người cao tuổi (tỷ lệ %) ..................................... 32
Bảng 2.2. Đánh giá mức độ hiểu biết về nội dung truyền thông (tỷ lệ %) ............ 37
Bảng 2.3. Các hoạt động hỗ trợ người cao tuổi chủ yếu tại cộng đồng ................. 42
Bảng 2.4. Đánh giá của người cao tuổi về hoạt động kết nối nguồn lực (tỷ lệ %) 46
Biểu 2.5. Môi trường thân thiện người cao tuổi tại thành phố Nha Trang............. 47
Bảng 2.6. Đánh giá của NCT về các yếu tố ảnh hưởng đến CTXH với NCT ....... 48
Bảng 2.7. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của đặc điểm ........................................... 50
Bảng 2.8. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của chính quyền địa phương ................... 52


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1. Sự gia tăng số lượng người cao tuổi giai đoạn 2010-2016 ............... 30
Biểu đồ 2.2. Trình độ học vấn của NCT tại thành phố Nha Trang (tỷ lệ %) ......... 31
Biểu 2.3. Nghề nghiệp trước đây của NCT tại thành phố Nha Trang ................... 32
Biểu đồ 2.4. Tình trạng mắc các bệnh mãn tính của người cao tuổi (tỷ lệ %) ...... 33
Biểu đồ 2.5. Đặc điểm tâm lý của người cao tuổi (tỷ lệ %) .................................. 34
Biểu đồ 2.6. Mức độ quan tâm của gia đình đến người cao tuổi theo ................... 35
đánh giá của bản thân người cao tuổi. ................................................................. 35
Biểu đồ 2.7. Đánh giá của NCT về các hình thức truyền thông (tỷ lệ %) ............. 37
Biểu đồ 2.8. Đánh giá của người cao tuổi về chế độ ăn uống, vệ sinh (tỷ lệ %) ... 38
Biểu đồ 2.9. Đánh giá của NCT đi khám chữa bệnh trong 12 tháng qua ............. 41
tại các cơ sở Y tế (tỷ lệ %) .................................................................................... 41
Biểu đồ 2.10. Đánh giá của người cao tuổi về thái độ trợ giúp pháp lý (tỷ lệ %) . 44
Biểu đồ 2.11. Kết quả khảo sát người cao tuổi về nguồn lực mà họ được hỗ trợ (tỷ
lệ %)...................................................................................................................... 45
Biểu đồ 2.12. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của khả năng huy động..................... 54


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Người cao tuổi (NCT) là lớp người có uy tín, kinh nghiệm và vai trò
quan trọng trong gia đình và xã hội, là người có công sinh thành, nuôi dạy
con cháu hình thành nhân cách và phát triển giống nòi. Ở nước ta, việc "kính
lão, trọng thọ" đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc và luôn
được gìn giữ qua các thế hệ.
Đảng và Nhà nước ta đã có quan điểm nhất quán về việc chăm sóc NCT
và coi đây là một chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước, được thể hiện
thông qua các Văn kiện đại hội đảng và các Chỉ thị như: Chỉ thị 59/CT-TW của
Ban Bí thư Trung ương “Về chăm sóc người cao tuổi”, quy định: “Việc chăm sóc
đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là trách nhiệm của Đảng, nhà
nước và toàn xã hội... Trước hết cần quan tâm chăm sóc những người cao tuổi có
công, cô đơn không nơi nương tựa, tàn tật và bất hạnh”; Báo cáo chính trị tại Đại
hội XI của Đảng cũng đã nêu: “Quan tâm chăm sóc sức khoẻ, tạo điều kiện để
người cao tuổi hưởng thụ văn hoá, được tiếp cận thông tin, sống vui, sống khoẻ,
sống hạnh phúc… giúp đỡ người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa”.
Ở Việt Nam già hóa dân số đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, quy
mô ngày càng lớn. Từ năm 1979 đến 2009 tỷ lệ NCT (60+ tuổi) đã tăng từ 7,1%,
7,2%, 8,2% và 9,0% trong tổng dân số. Theo kết quả điều tra biến động dân số
năm 2013, tỷ lệ NCT trong tổng dân số là 10,2% và như vậy dân số Việt Nam đã
ở trong thời kỳ “bắt đầu già” [27].
Theo báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Khánh Hòa,
toàn tỉnh có 119.968 người cao tuổi (chiếm 9,99% tổng dân số). Tại thành phố
Nha Trang có 40.407 người cao tuổi (chiếm 10,01% tổng dân số) Trong tổng số
người cao tuổi có: 1.437 người cao tuổi đang hưởng trợ cấp ưu đãi người có
công, 5.172 người cao tuổi đang hưởng trợ cấp xã hội, 7447 người cao tuổi đang
hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội. Như vậy, còn 24.551 người cao
tuổi (chiếm 60,75% tổng số người cao tuổi) trên địa bàn thành phố Nha Trang
đang sống bằng sự nỗ lực của bản thân, gia đình. [27]
Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách với người cao tuổi,
đặc biệt quan tâm chăm sóc NCT là người có công với nước, NCT không nơi
1


nương tựa, NCT khuyết tật. Tuy nhiên, các chính sách hỗ trợ chủ yếu là trợ giúp
xã hội trực tiếp bằng nguồn lực tài chính đối với NCT có hoàn cảnh khó khăn và
không tự lo được cuộc sống, trong khi hiện nay nhu cầu, đối tượng NCT cần trợ
giúp đa dạng. Với hình thức trợ giúp truyền thống không mang tính bền vững,
chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của NCT.
Nghề công tác xã hội (CTXH) tại tỉnh Khánh Hòa nói chung và thành
phố Nha Trang nói riêng đang trong giai đoạn hình thành, kinh nghiệm
CTXH với NCT chưa có, và những hạn chế về ý thức, nhận thức của xã
hội… Từ những khó khăn chung nêu trên, công tác xã hội đối với NCT trên
địa bàn thành phố Nha Trang đã được quan tâm chưa? Thực trạng CTXH đối
với NCT thành phố Nha Trang như thế nào? Để trả lời câu hỏi này cần phải
làm rõ đặc điểm, nhu cầu của NCT, nghiên cứu đánh giá thực trạng CTXH
đối với NCT trên địa bàn thành phố Nha Trang.
Các công trình nghiên cứu về CTXH đối với NCT ở một số địa phương đã có,
tuy nhiên nghiên cứu về CTXH đối với NCT trên một địa bàn cụ thể là thành phố
Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa là một vấn đề mới
Do đó, tác giả chọn đề tài “Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực
tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” làm đề tài nghiên cứu. Luận văn
sẽ nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng CTXH đối với NCT hiện nay và
đưa ra một số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt CTXH đối với NCT tại
thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa trong giai đoạn hiện nay và trong
những năm tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước những thách thức của vấn đề già hóa dân số cho việc phát triển
kinh tế - xã hội đi đôi với vấn đề bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, các
nghiên cứu dân số người cao tuổi đã được tiến hành từ những năm 50 của thế kỷ
XX tại các quốc gia phát triển, đã chuyển sang giai đoạn “già hóa dân số”.
Nhiều viện nghiên cứu và các tổ chức xã hội đã nghiên cứu NCT trên nhiều
phương diện, đặc biệt là những đặc điểm tâm lý và sinh lý của lứa tuổi. Các tài
liệu, bài viết và các công trình nghiên cứu về NCT nhằm mục đích là chăm sóc
NCT , trong đó có chăm sóc sức khoẻ NCT.
- Nghiên cứu “Hoàn cảnh của người cao tuổi nghèo ở Việt Nam” năm
2001: do Help Age International phối hợp với Hội người cao tuổi Việt Nam, Bộ
2


Lao động – Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Viện Xã
hội học và Trung tâm nghiên cứu Hỗ trợ người cao tuổi thực hiện. Nghiên cứu
được tiến hành tại 1 thôn tại 5 tỉnh/thành phố: thành phố Hồ Chí Minh, Lào Cai,
Sóc Trăng, Ninh Thuận và Phú Yên. Nghiên cứu tập trung vào chủ đề: Định
nghĩa về tuổi già và thái độ của xã hội đối với người cao tuổi; các phương kế
mưu sinh và đóng góp của người cao tuổi; khó khăn và mối quan tâm chủ yếu
của người cao tuổi, hệ thống hỗ trợ người cao tuổi.[14]
- Nghiên cứu “Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi và đánh
giá mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đang áp dụng” năm 2005 của
Ủy ban Dân số - Gia đình - Trẻ em. Nghiên cứu tập trung vào các chủ đề: Hệ
thống hoá tình hình chung về người cao tuổi trong và ngoài nước, đánh giá thực
trạng về người cao tuổi ở Việt Nam; tổng kết, đánh giá kinh nghiệm từ một số
mô hình chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi đang áp dụng. Trên cơ sở đó đề xuất
một số giải pháp về chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi tại cộng đồng.[27]
- Nghiên cứu “Khảo sát thu thập xử lý thông tin về người cao tuổi” năm
2007 do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp Ủy ban Quốc gia về
người cao tuổi Việt Nam thực hiện. Nghiên cứu được tiến hành tại 8 tỉnh thuộc
8 vùng địa lý. Nghiên cứu tập trung vào chủ đề: Đánh giá thực trạng vị thế và
đời sống người cao tuổi ở Việt Nam; đánh giá thực trạng việc thực hiện các
chương trình/chính sách về người cao tuổi. Trên cơ đó đề xuất một số giải pháp
về chính sách nhằm phát huy vai trò và nâng cao chất lượng cuộc sống của
người cao tuổi. [3]
- Các nghiên cứu điều tra về thực trạng người cao tuổi Việt Nam (2004),
người cao tuổi từ 80 tuổi (2009) do Viện nghiên cứu người cao tuổi Việt Nam
thực hiện. Các nghiên cứu, điều tra cơ bản nhằm phân tích kết quả thực trạng
người cao tuổi Việt Nam đưa ra các kiến nghị nhằm phát huy tài năng, trí tuệ
trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Gần đây nhất là
nghiên cứu “Nghiên cứu, điều tra cơ bản thực trạng sức khỏe, bệnh tật của
người cao tuổi Việt Nam” năm 2009 do Viện nghiên cứu người cao tuổi Việt
Nam thực hiện. Nghiên cứu được tiến hành 2 huyện thị tại mỗi tỉnh: Sơn La,

3


Quảng Nam, Đồng Nai, Cần Thơ, Đắk Nông và Ninh Bình. Nghiên cứu tập
trung vào mục tiêu tổng quan sức khỏe và bệnh tật của người cao tuổi, thực
trạng sức khỏe của người cao tuổi. Trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị về
chính sách. [25]
- Công trình nghiên cứu “Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam,
thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách” do Quỹ Dân số Liên hợp
quốc (UNFPA) tại Việt Nam thực hiện vào năm 2011. Kết quả nghiên cứu
“Thực trạng đời sống và vấn đề chính sách đối với người cao tuổi tại Việt
Nam” của PGS TS Giang Thành Long Viện trưởng Viện Chính sách công và
Quản lý (IPPM) Đại học Kinh tế quốc dân, chuyên gia nghiên cứu cao cấp,
Viện nghiên cứu Y – Xã hội học (ISMS) năm 2014.[21]
- Các Hội thảo về thách thức già hóa dân số, tổng kết các mô hình chăm
sóc người cao tuổi và chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng do các cơ quan Bộ
ngành tổ chức hàng năm.
- Đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi
Việt Nam” của tác giả Phạm Vũ Hoàng năm 2013, nghiên cứu chung ở tầm vĩ
mô trên phạm vi cả nước về chăm sóc người cao tuổi, tác giả lựa chọn Trung
tâm chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Thiên Đức tại huyện Từ Liêm, Hà Nội
để đánh giá chất lượng chăm sóc người cao tuổi. Đề tài nghiên cứu đánh giá về
thực trạng chăm sóc, chất lượng chăm sóc người cao tuổi và các yếu tố ảnh
hưởng đến chất lượng chăm sóc người cao tuổi, nghiên cứu phát hiện các
nguyên nhân dẫn tới các hạn chế trong chất lượng chăm sóc người cao tuổi.
Trên cơ sở đó đề tài đưa ra một số định hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm
nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam. [13]
Trong những năm gần đây tiếp tục có thêm một số đề tài nghiên cứu về
hoạt động CTXH với NCT tại các địa bàn cụ thể. Một số công trình tiêu biểu có
thể kể đến như: Năm 2014 có đề tài: “Hỗ trợ xã hội đối với Người cao tuổi từ
thực tiễn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên” của tác giả Man Khánh Quỳnh.
Năm 2015 có đề tài: "Công tác xã hội với người cao tuổi từ thực tiễn thành phố
Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình" của tác giả Lê Thị Mai Hương. Trong các đề tài
nói trên, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề về thực tiễn trong hoạt
4


động CTXH với người cao tuổi ở các địa phương, tập trung vào các nội dung
như: Đặc điểm của người cao tuổi; các vấn đề người cao tuổi thường gặp phải;
vai trò của nhân viên CTXH trong trợ giúp người cao tuổi... [14,22]
Đề tài: “Dịch vụ Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn
Trung tâm bảo trợ xã hội Chánh Phú Hoà - Thành phố Hồ Chí Minh” của tác
giả Nguyễn Văn Dũng, học viên lớp thạc sỹ ngành công tác xã hội khóa 1,
thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội tại
trung tâm Chánh Phú Hoà - Thành phố Hồ Chí Minh. Các nguồn hỗ trợ về tài
chính cho hoạt động công tác xã hội đối với người cao tuổi. Các dịch vụ xã hội
hỗ trợ người cao tuổi. Cuộc sống của người cao tuổi tại trung tâm. Kết quả công
tác xã hội đối với người cao tuổi tại trung tâm. Những khó khăn, hạn chế trong
quản lý đối với người cao tuổi tại trung tâm. [12]
Đề tài:“Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm
Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”của tác giả Trịnh Thị
Cánh, học viên lớp thạc sỹ ngành công tác xã hội khóa 1, thành phố Hồ Chí
Minh. Nghiên cứu các hoạt động truyền thông tại Trung tâm Nuôi dưỡng người
già neo đơn, vấn đề bệnh tật và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi đang
nuôi dưỡng tại Trung tâm, chủ yếu về cung cấp dịch vụ cho người cao tuổi cô
đơn không nơi nương tựa. [2]
Với các thông tin đã trình bày cho thấy các đề tài nghiên cứu về CTXH
với NCT nói chung và dịch vụ CTXH với NCT nói riêng ở nước ta đến nay còn
chưa nhiều. Đặc biệt cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về CTXH đối
với NCT trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Vì thế, đề tài
“Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh
Khánh Hòa” là đề tài còn khá mới mẻ.
Có thể thấy, rất nhiều các nghiên cứu về NCT thời gian trước và gần đây
mới chỉ thu thập thông tin về NCT, các nghiên cứu tập trung vào một số đặc thù
về NCT hoặc nghiên cứu NCT ở một số địa bàn đặc thù nhằm đưa ra thực trạng
về NCT, chất lượng chăm sóc NCT và khuyến nghị về chăm sóc NCT, nâng cao
chất lượng chăm sóc NCT theo phương pháp tiếp cận từ nghề công tác xã hội.
Vì vậy, việc nghiên cứu CTXH đối với NCT từ thực tiễn thành phố Nha
Trang, tỉnh Khánh Hòa có giá trị tham khảo đối với cơ quan, tổ chức hữu quan
của thành phố Nha Trang và tỉnh Khánh Hòa trong quá trình xây dựng, hoàn
5


thiện và phát triển nghề công tác xã hội nói chung, công tác xã hội đối với
người cao tuổi nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng về CTXH đối với NCT, các yếu tố ảnh
hưởng đến vấn đề này; ứng dụng tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với NCT
vào giải quyết vấn đề cụ thể, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao
hiệu quả CTXH đối với NCT tại thành phố Nha Trang nói riêng và CTXH đối
với NCT tỉnh Khánh Hòa nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp lý cơ bản về CTXH đối với
NCT.
- Nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng CTXH đối với NCT và các
yếu tố ảnh hưởng tới CTXH đối với NCT.
- Ứng dụng tiến trình CTXH cá nhân đối với NCT giải quyết một vấn đề
cụ thể
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện tốt
CTXH đối với NCT tại thành phố Nha Trang và tỉnh Khánh Hòa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn thành phố Nha Trang,
tỉnh Khánh Hòa.
4.3. Phạm vi về nghiên cứu
- Phạm vi về đối tượng
CTXH đối với NCT có nhiều nội dung hoạt động, tuy nhiên trong phạm vi
đề tài này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu 04 nội dung chủ yếu sau: (1) Hoạt
động truyền thông nhằm tăng cường phổ biến thông tin, tuyên truyền về NCT;
(2) Hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe đối với NCT; (3) Hoạt động hỗ trợ tiếp
cận các dịch vụ và hỗ trợ về tâm lý cho NCT; (4) Hoạt động kết nối nguồn lực hỗ
trợ chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần và môi trường an toàn cho NCT.
- Phạm vi về khách thể
Nghiên cứu trên 100 người cao tuổi đang sống tại cộng đồng trên địa bàn
thành phố Nha Trang và 22 cán bộ lãnh đạo/cán bộ đang làm công tác NCT tại
Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, Hội người cao tuổi, Mặt trận tổ quốc
6


và Hội Cựu chiến binh thành phố Nha Trang và cộng tác viên công tác xã hội
xã/phường.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
- Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Từ những đánh giá thực
trạng về đời sống của NCT, thực trạng của CTXH đối với NCT trên địa bàn
rút ra những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện pháp nâng cao
hiệu quả CTXH đối với NCT trên địa bàn thành phố Nha Trang và tỉnh
Khánh Hòa.
- Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống
những lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên
quan như dịch vụ hỗ trợ của CTXH đối với NCT hệ thống chính sách trợ
giúp xã hội đối với NCT,...
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như sau:
* Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
Thông tin được thu thập từ các nguồn như: Số liệu thống kê; số liệu của
các cuộc điều tra và các nghiên cứu về người cao tuổi; Số liệu trong các báo cáo
của Ủy ban quốc gia về ngưới cao tuổi Việt Nam, Hội người cao tuổi Việt Nam,
các báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và Hội người cao tuổi
tỉnh Khánh Hòa; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội và Hội người cao tuổi
thành phố Nha Trang; sách, báo, tạp chí trong nước; thông tin từ mạng Internet;
các văn bản và định hướng của Nhà nước trong lĩnh vực liên quan đến đề tài.
* Phương pháp chuyên gia
Tham vấn ý kiến của các chuyên gia là các thầy cô giảng dạy về công tác
xã hội tại Học viện Khoa học và Xã hội, người thực hiện chính sách, các nhà
quản lý. Họ là những người có hiểu biết sâu, có nhiều kinh nghiệm và thực tiễn
trong CTXH đối với NCT. Các ý kiến của chuyên gia giúp làm sáng tỏ nội dung
nghiên cứu nhất là phần đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt
CTXH đối với NCT trong thời gian tới.
* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
7


Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi với người cao tuổi hiện đang sống thành
phố Nha Trang. Với phương pháp này, nhằm mục đích để tìm hiểu, thu thập
thông tin chung về thực trạng đời sống của NCT, thực trạng hoạt động hỗ trợ
chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ tâm lý, truyền thông và kết nối nguồn lực để chăm sóc
đời sống vật chất, đời sống tinh thần và môi trường an toàn cho NCT.
* Phương pháp quan sát
Quan sát thực tế NCT và đội ngũ cán bộ làm công tác NCT tại thành phố
Nha Trang. Giai đoạn quan sát thực tế được tiến hành trong quá trình nghiên cứu,
xác định thực trạng CTXH đối với NCT tại cộng đồng.
* Phương pháp phỏng vấn sâu
Tiến hành 36 cuộc phỏng vấn sâu, trong đó phỏng vấn 22 lãnh đạo/cán bộ
nhân viên làm công tác NCT tuổi gồm: 02 cán bộ tại Phòng Lao động - Thương
binh và Xã hội, 02 cán bộ Hội người cao tuổi thành phố Nha Trang, 01 cán bộ
Mặt trận tổ quốc, 01 cán bộ Hội Cựu chiến binh, 06 Cán bộ Hội người cao tuổi
xã, phường và 10 cộng tác viên CTXH xã, phường và 14 NCT tại cộng đồng có
khả năng giao tiếp. Phương pháp phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu thêm về chính
sách của Nhà nước và địa phương ưu đãi cho NCT; cơ cấu tổ chức, nhân lực và
hoạt động CTXH, các dịch vụ chăm sóc đối với NCT; tâm tư, tình cảm và
nguyện vọng của NCT sống tại cộng đồng.
* Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng chương trình SPSS để xử lý, phân tích bảng hỏi; trích dẫn nội
dung phỏng vấn sâu qua băng ghi âm, biên bản ghi chép theo chủ đề phân tích.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Những thông tin thu thập được từ luận văn sẽ góp phần làm phong phú
thêm hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về CTXH đối với NCT
nói riêng và lý luận về CTXH nói chung. Đồng thời luận văn là nguồn tài liệu
tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực CTXH đối với NCT.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, nhóm NCT đang phải đối mặt
với nhiều thử thách và khó khăn, khả năng thích nghi nhanh với những quy luật,
8


những đòi hỏi khắc nghiệt của cơ chế thị trường hạn chế. NCT là nhóm người
khó khăn nhất, dễ bị tổn thương nhất trong xã hội, bởi Chính phủ chưa chuẩn bị
cho sự già hóa dân số nhanh, các chương trình dự án về NCT mới bắt đầu được
triển khai thực hiện.
CTXH đối với NCT là hoạt động cần thiết nhằm trợ giúp NCT vượt qua
khó khăn, giúp họ đánh giá, xác định vấn đề, tìm kiếm tiềm năng, điểm mạnh từ
đó nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề. Từ đó tạo điều kiện để NCT có thể tự
nâng cao năng lực, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống của chính bản
thân NCT góp phần giúp NCT sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc. Tuy nhiên,
trong quá trình tổ chức, thực hiện, công tác này gặp rất nhiều khó khăn. Với luận
văn này tôi mong muốn sẽ cung cấp những thông tin cụ thể về thực trạng CTXH
đối với NCT từ thực tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; gợi mở một số
giải pháp để bảo đảm thực hiện hiệu quả CTXH với NCT tại địa phương.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề
tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với người cao tuổi
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội đối với người cao tuổi tại thành phố
Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Chương 3: Ứng dụng công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi và
biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với người cao tuổi từ
thực tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

9


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
1.1. Người cao tuổi: khái niệm và đặc điểm
1.1.1. Khái niệm người cao tuổi
Người cao tuổi là một khái niệm thường được dùng để chỉ những người đã
có nhiều tuổi trong xã hội. Dưới góc nhìn của công tác xã hội, NCT là người
bước vào thời kỳ có "Những thay đổi về tâm, sinh lý, lao động - thu nhập, quan
hệ xã hội và sẽ gặp phải nhiều vấn đề trong cuộc sống" [9, tr.8].
NCT hay còn gọi là người già/người cao niên là người thuộc một bộ phận
dân cư sống qua một độ tuổi nhất định, độ tuổi này được pháp luật của từng nước
quy định. Tại Việt Nam, Luật người cao tuổi (Luật số 39/2009/QH12 được Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua
ngày 23/11/2009 có hiệu lực ngày 01/7/2010) quy định “Người cao tuổi là công
dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên” [05, tr.01].
Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn
liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể [06, tr.08 .
Một số nước phát triển quy định NCT là những người từ 65 tuổi trở lên.
Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu
hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau. Những nước có hệ thống y
tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng
cao. Các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn. Vì vậy, quy định về tuổi
của các nước đó cũng khác nhau [06, tr8].
Khái niệm NCT được sử dụng thay cho người già vì thực tế nhiều người
từ 60 tuổi trở lên, vẫn còn hoạt động, vì vậy cụm từ "người cao tuổi" bao hàm sự
kính trọng, so với cụm từ "người già". Nên gần đây khái niệm NCT được sử
dụng phổ biến ở Việt Nam.
Như vậy chúng ta có thể hiểu khái niệm về NCT theo quan điểm của
CTXH như sau: “Người cao tuổi là người từ 0 tuổi trở lên do có sự thay đổi về
tuổi tác làm NCT thay đổi về tâm sinh lý, lao động – thu nhập, quan hệ xã hội
khiến NCT dễ gặp phải những khó khăn trong cuộc sống và c n sự trợ giúp từ
các hoạt động của công tác xã hội”.
10


1.1.2. Đặc điểm tâm sinh lý - xã hội và nhu cầu của người cao tuổi
1.1.2.1. Đặc điểm tâm lý- xã hội của người cao tuổi
* Đặc điểm về sinh lý
Giai đoạn tuổi già là lúc con người đã ở vào giai đoạn xế bóng, đặc điểm
đầu tiên cần quan tâm với NCT là những thay đổi về sinh lý biểu hiện ra ngoài.
Tuổi già thường bộc lộ đặc điểm về sinh lý chung như sau [06, tr.9]:
Diện mạo thay đổi: tóc bạc, da mồi, bộ răng yếu; xương yếu, chân yếu.
Các cơ quan cảm giác: Cảm giác - nghe nhìn, nếm và khứu giác cùng với tuổi tác
ngày càng cao thường bắt đầu hoạt động kém hiệu quả; do quá trình lão hóa của
cơ thể nên sẽ gây giảm độ nhạy cảm của khứu giác và vị giác giảm; chức năng
tiêu hóa suy giảm; chức năng bài tiết kém nên NCT dễ mắc bệnh tiểu đường hơn;
giảm khả năng đề kháng bệnh tật.
Khi tuổi già, nhiều chức năng suy giảm dần là điều kiện bệnh tật dễ phát
sinh và phát triển, khi mắc bệnh việc điều trị phục hồi cũng lâu hơn các nhóm
tuổi khác. Do vậy, nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ cho nhóm NCT cao hơn, khó
khăn hơn, phức tạp hơn.
* Đặc điểm về tâm lý
Những thay đổi về đặc điểm tâm lý, trạng thái tâm lý và sức khỏe của
NCT không chỉ phụ thuộc vào nội lực của bản thân mà còn phụ thuộc vào môi
trường xã hội, đặc biệt phụ thuộc vào môi trường văn hóa – tình cảm và quan
trọng nhất là môi trường gia đình.
Khi bước vào tuổi già, NCT thường gặp những thay đổi như [06, tr.10 :
Chuyển từ trạng thái tích cực sang tiêu cực; với một số NCT sẽ mắc hội
chứng về hưu. Khi mắc phải hội chứng này, NCT dễ buồn chán, thiếu tự tin, cảm
thấy vô dụng. nguồn thu nhập hạn chế, từ đó trở nên rối loạn tâm lý; đối đầu với
những khó khăn, khúc mắc do chính tâm lý của mình tạo ra; Hướng về quá khứ,
hội họp tìm lại bạn cũ ôn lại chuyện xưa... Biểu hiện tâm lý của NCT thường là
cảm thấy cô đơn và mong muốn được chăm sóc; cảm nhận thấy bất lực và tủi
thân; nói nhiều hoặc trầm cảm; sợ phải đối diện với cái chết...
* Đặc điểm về kinh tế - xã hội
- Trong chu kỳ của cuộc sống, NCT thường trở lại giai đoạn phải lệ thuộc
vào gia đình. Đó là vì khi tới tuổi cao, khả năng làm việc của NCT giảm bớt do
cơ thể lão hóa, lại nẩy sinh những bệnh liên hệ tới tuổi già, khiến NCT mất khả
năng tự túc, tự tồn, thậm chí mất cả khả năng hiểu biết. Phần lớn NCT với sự hạn
11


hẹp về tài chính phải nhờ vả hoặc gia đình thân thích hoặc cơ quan nhà nước,
cộng đồng, các tổ chức từ thiện.
- Trong cuộc sống gia đình, NCT vừa muốn sống độc lập không phụ thuộc
con cháu (nhất là về kinh tế), song họ đều muốn gần gũi cháu con, để tránh sự cô
đơn, để được sự chăm nom, săn sóc lúc “trái gió, trở trời”.
- Những tác động của đời sống kinh tế xã hội tạo ra những thay đổi quan
trọng với NCT, họ tự cảm thấy mình đang mất dần các uy thế và quyền lực. NCT
thường là từ chối, ngại tham gia các hoạt động xã hội. Hạnh phúc nhất của họ
chính là sự thanh thản với những sở thích cá nhân. Quan hệ giao tiếp xã hội bị
giới hạn ở những nhóm nhỏ, như Hội NCT, hội dưỡng sinh, các câu lạc bộ, hoặc
tham gia các sinh hoạt lễ hội, chùa chiền. Quan hệ xã hội ở NCT đã bị thu hẹp
lại, họ mãn nguyện trong sự hoà thuận, xum vầy với con cháu, hoặc tự ái, sống
cô đơn trong sự bất lực, giận dỗi với người thân [12, tr .58].
1.1.2.2. Nhu c u của người cao tuổi
Nhu cầu là một trong những nguồn gốc nội tại nảy sinh tính tích cực hoạt
động của con người, là trạng thái tâm lý khi cá nhân cảm thấy cần phải có những
điều kiện nhất định để bảo đảm sự tồn tại và phát triển của mình, trạng thái tâm
lý đó kích thích tính tích cực hoạt động của con người nhằm đạt được những điều
mình muốn [24, tr.32].
Theo nhà tâm lý học Abraham Maslow, nhu cầu của con người được chia làm hai
nhóm chính là nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao.

(Nguồn: Abraham Maslow, Abraham Maslow's hierarchy of needsMotivational Model)

Sơ đồ 1.1. Tháp bậc thang nhu c u của Maslow

12


Trên cơ sở nghiên cứu khoa học ta thấy NCT có 5 nhu cầu cơ bản đó là:
- Nhu cầu được chăm sóc đời sống vật chất: NCT có nhu cầu căn bản nhất
thuộc thể chất và sinh lý đó là nhu cầu được chăm sóc đời sống vật chất như thức
ăn, nước uống, bài tiết, thở, nơi ở, tình dục, nghỉ ngơi. Đây là nhu cầu không thể
thiếu để NCT có thể tồn tại trong cuộc sống hàng ngày.
- Do đặc điểm về tuổi tác NCT thường hay đau ốm vì vậy khi NCT được
đáp ứng các nhu cầu căn bản nhất để bảo đảm duy trì cuộc sống hàng ngày, tiếp
đến NCT có nhu cầu được khỏe mạnh và chăm sóc khi ốm đau.
- NCT là những người từng trải trong cuộc sống, chính vì vậy NCT có nhu
cầu thấy mình có ích cho xã hội họ muốn tiếp tục được cống hiến những kiến
thức, kinh nghiệm của mình cho xã hội, vì thế cần phát huy vai trò của NCT.
Thông qua đó NCT được giao lưu tình cảm, bạn bè thân hữu tin cậy. Nếu nhu
cầu này không được thỏa mãn sẽ nảy sinh ra các bệnh trầm cảm, thần kinh.
- NCT vì có nhiều năm trong cuộc đời cống hiến cho xã hội, lo cho gia
đình khi về già họ muốn được vui hưởng tuổi già bên gia đình, con cháu của
mình, mong được con cháu, người khác tôn trọng, kính mến thông qua các thành
quả, thành công của bản thân. Sau khi có các nhu cầu trên và sau đó là nhu cầu
cảm nhận quý trọng bản thân, tự trọng và sự tự tin.
- NCT mặc dù tuổi cao, sức khỏe yếu nhưng NCT vẫn có nhu cầu được
học hỏi. Đây là nhu cầu lớn nhất của con người, mong muốn được hoàn thiện
mình, được cống hiến, tìm kiếm năng lực, trí tuệ và khả năng của mình.
Như vậy, ở NCT nhu cầu thể hiện ở những khía cạnh sau [24, tr.33 :
- Nhu cầu về vật chất: Mặc dù đã hết tuổi lao động nhưng NCT vẫn muốn
tham gia lao động vì lao động là bản tính tự nhiên của con người và cũng là biện
pháp để rèn luyện sức khỏe, kéo dài tuổi thọ. Nếu được làm công việc phù hợp
với khả năng và sức khỏe, NCT sẽ thấy tin tưởng, lạc quan hơn khi thấy mình
vẫn có ý nghĩa trong cuộc sống. Đồng thời, lao động giúp NCT có thu nhập đáp
ứng các nhu cầu chi tiêu của bản thân, thậm chí một số NCT nhưng vẫn có trách
nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng người thân.
- Nhu cầu về tinh thần: Để tồn tại và để sống với đúng nghĩa của nó thì
con người cần được giao lưu, trao đổi với những người xung quanh, được yêu
thương, tôn trọng, hoàn thiện và hòa nhập cộng đồng. Đối với NCT nhu cầu về
13


vật chất không phải là quan trọng nhất mà là sống dưới mái ấm gia đình, quây
quần bên con cháu, được con cháu yêu thương, chăm sóc, quan tâm.
Thông qua lý thuyết và tháp nhu cầu của Maslow, nhân viên CTXH trong
các hoạt động CTXH đối với NCT có vai trò vận động và kết nối nguồn lực
hướng tới đáp ứng nhu cầu của NCT được ngày một tốt hơn. Nội dung hoạt động
hỗ trợ chăm sóc NCT được khái quát hóa và tổng hợp tương tự như các bậc
thang trên, đó là chăm sóc về sức khỏe, vật chất, tinh thần. Khi điều kiện kinh tế
còn yếu kém thì việc chăm sóc, đáp ứng các nhu cầu của NCT chỉ dừng lại ở
cơm ăn, áo mặc, quan hệ chan hòa, vui vẻ với bạn bè và cộng đồng. Khi điều
kiện kinh tế khá lên, đòi hỏi việc chăm sóc NCT đáp ứng các nhu cầu lớn hơn về
giao tiếp, giải trí, tham quan du lịch và đời sống tâm linh.
1.2. Lý luận về công tác xã hội đối với người cao tuổi
1.2.1. Một số khái niệm
* Khái niệm công tác xã hội
Có nhiều khái niệm khác nhau về công tác xã hội như :
Theo Zastrow (1996): CTXH là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá
nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để
giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với
các mục tiêu của họ [12, tr.03] .
Hội đồng đào tạo CTXH Mỹ định nghĩa: CTXH là một nghề nhằm tăng
cường các chức năng xã hội của cá nhân, hay nhóm người bằng những hoạt động
tập trung vào can thiệp mối quan hệ xã hội để thiết lập sự tương tác giữa con
người và môi trường có hiệu quả. Hoạt động này bao gồm 3 nhóm: Phục hồi
năng lực đã bị hạn chế, cung cấp nguồn lực cá nhân và xã hội và phòng ngừa sự
suy giảm chức năng xã hội. Như vậy, sự có mặt của CTXH nhằm giúp đỡ cá
nhân, gia đình, cộng đồng điều chỉnh mối quan hệ của họ với môi trường xã hội,
qua đó giúp họ bảo đảm chức năng xã hội đúng với vai trò vị trí đảm nhiệm trong
xã hội [15, tr.2].
CTXH ở Việt Nam cũng được các tác giả xem xét từ những khía cạnh
khác nhau, tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: CTXH là hoạt động thực tiễn,
mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp
14


hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề. CTXH theo đuổi mục tiêu
vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội’’ [17,tr.26].
CTXH tại Việt Nam được xem như là sự vận dụng các lý thuyết khoa học
về hành vi con người, về hệ thống xã hội nhằm khôi phục lại các chức năng xã
hội và thúc đẩy sự thay đổi vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế
hướng tới bình đẳng và tiến bộ xã hội. Đây là lĩnh vực cung cấp các dịch vụ
chuyên môn góp phần giải quyết những vấn đề xã hội liên quan tới con người để
thỏa mãn những nhu cầu căn bản, mặt khác góp phần giúp cá nhân tự nhận thức
về vị trí, vai trò xã hội của mình. [16, tr.17].
Như vậy ta có thể hiểu một cách chung nhất theo như định nghĩa của Bùi
Thị Xuân Mai: “CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp
các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu c u và tăng
cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách,
nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và
phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp ph n đảm bảo an sinh xã hội”. [16,tr.19]
* Khái niệm công tác xã hội đối với người cao tuổi
Với NCT, CTXH không chỉ can thiệp giải quyết vấn đề cá nhân do những
hạn chế về sức khỏe, tinh thần mà còn cung cấp kết nối các dịch vụ giúp NCT
tiếp cận với các nguồn lực nhằm giải quyết những vấn đề khó khăn trong cuộc
sống mà NCT gặp phải. NV CTXH có vai trò giúp NCT nhận thấy khả năng của
mình, động viên, cổ vũ để NCT tin tưởng vào bản thân từ đó thúc đẩy NCT tiếp
tục hoạt động qua đó không chỉ giải quyết được vấn đề của NCT mà còn đóng
góp cho gia đình và xã hội, đồng thời kết nối, điều phối cung cấp dịch vụ phù
hợp nhằm giúp NCT được đáp ứng những nhu cầu xã hội cơ bản. CTXH đối với
NCT thực hiện thông qua các kỹ năng như: Kỹ năng quan sát; Kỹ năng lắng
nghe; Kỹ năng thấu cảm; Kỹ năng xử lý sự im lặng; Kỹ năng vận động và kết nối
nguồn lực; Kỹ năng điều phối…
Như vậy chúng ta có thể hiểu một cách ngắn gọn nhất CTXH đối với NCT
như sau: CTXH đối với NCT là một hoạt động chuyên nghiệp của CTXH nhằm
giúp đỡ, hỗ trợ NCT vượt qua khó khăn, giúp họ đánh giá, xác định vấn đề, tìm
kiếm tiềm năng, điểm mạnh từ đó nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề thông
qua các hoạt động như hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ và
15


hỗ trợ về tâm lý, truyền thông, kết nối nguồn lực chăm sóc đời sống vật chất, tinh
th n và môi trường an toàn cho NCT.
1.2.2. Nguyên tắc công tác xã hội trong làm việc với người cao tuổi
Trên cơ sở nền tảng triết lý và giá trị, nguyên tắc nghề nghiệp của ngành
CTXH có nhiều nguyên tắc khác nhau, tuy nhiên trong quá trình làm việc của
CTXH đối với NCT cần bảo đảm một số nguyên tắc cơ bản sau [03, tr.58]:
* Nguyên tắc chấp nhận người cao tuổi
Chấp nhận được xem là một nguyên tắc cơ bản của CTXH. Chấp nhận tạo
cơ hội cho NV CTXH xóa đi khoảng cách giữa một nhà chuyên môn và thân chủ
là người được giúp đỡ. Mỗi con người dù là bình thường hay bất bình thường, dù
nhiều tuổi hay ít tuổi đều có nhân phẩm, có giá trị riêng và có quyền được tôn
trọng. Vì vậy trong hoạt động trợ giúp, NV CTXH cần phải có thái độ tôn trọng
phẩm giá con người và chấp nhận họ. Việc chấp nhận những hành vi, quan điểm
hay giá trị của NCT không có nghĩa là đồng tình với hành vi, suy nghĩ của họ. Sự
tôn trọng hay chấp nhận ở đây ám chỉ sự ghi nhận sự tồn tại và không phán xét
những hành vi hay suy nghĩ của họ. Khi làm việc với NCT, NV CTXH cần nắm
vững những đặc điểm tâm sinh lý của họ để hiểu, cảm thông và sẵn sàng chia sẻ,
giúp đỡ. Sự chấp nhận của NVXH sẽ tạo lòng tin ở NCT thúc đẩy sự hợp tác,
chia sẻ, trên cơ sở đó hình thành mối quan hệ tương tác trong quá trình hỗ trợ.
* Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của người cao tuổi
Vai trò của NV CTXH là người xúc tác và hỗ trợ NCT đưa ra quyết định
đúng đắn, lực hay áp đặt ý kiến cá nhân trong việc lựa chọn giải pháp cho vấn đề
của thân chủ. Thân chủ là NCT thì hơn ai hết thân chủ là người biết mình cần gì,
mong muốn gì, đồng thời cũng là người hiểu hoàn cảnh của mình hơn tất cả
những người khác vì họ là những người có nhiều trải nghiệm cũng như kinh
nghiệm sống rất phong phú.
Việc NCT tự đưa ra quyết định còn giúp họ có trách nhiệm với việc lựa
chọn của mình. Họ sẽ tự tin hơn, thấy rằng hoàn cảnh của họ chưa phải là tuyệt
vọng, từ đó nâng cao khả năng tự ra quyết định, cố gắng khắc phục khó khăn để
vươn lên trong cuộc sống.
* Nguyên tắc tạo điều kiện để người cao tuổi tham gia giải quyết vấn đề
Thực tế cho thấy, vấn đề khó khăn của thân chủ chỉ có thể giải quyết tốt
nhất khi có sự tham gia của thân chủ. Đặc biệt với NCT, họ có sự trải nghiệm
16


phong phú, nhiều kinh nghiệm được tích lũy trong suốt quãng đời trước đây sẽ là
nguồn lực hữu ích giúp họ tham gia giải quyết vấn đề. Khi làm việc với NCT cần
lưu ý đến tình trạng sức khỏe, tuổi tác, hoàn cảnh sinh sống… của họ để huy
động sự tham gia của NCT một cách phù hợp.
* Nguyên tắc bảo đảm tính khác biệt của mỗi trường hợp
Con người có nhu cầu cơ bản giống nhau, nhưng mỗi người do hoàn cảnh
sống và tính cách khác nhau nên ngoài những nhu cầu chung không thể thiếu
được, mỗi cá nhân còn có những nhu cầu riêng không giống nhau. Đây là một
yêu cầu đối với NVXH trong thực hành nghề nghiệp là không thể áp dụng một
cách máy móc hình thức, phương pháp giúp đỡ NCT này vào trường hợp một
NCT khác, thậm chí là họ gặp phải cùng một vấn đề khó khăn như nhau. NV
CTXH căn cứ vào thông tin thu thập được từ chính NCT, những người có liên
quan đến NCT, liên quan đến vấn đề của họ để cùng bàn bạc, thảo luận với họ và
cùng đưa ra hình thức và phương pháp giúp đỡ phù hợp.
1.2.3. Nội dung công tác xã hội đối với người cao tuổi
1.2.3.1. Hoạt động truyền thông nhằm tăng cường phổ biến thông tin,
tuyên truyền về người cao tuổi
Hoạt động truyền thông với mục đích tăng cường phổ biến thông tin,
tuyên truyền về NCT, về chính sách chăm sóc NCT tới các cấp chính quyền và
cộng đồng, các nhà quản lý, làm chính sách để từ đó nâng cao nhận thức của
người dân, các cơ quan, đoàn thể và cộng đồng về việc chăm sóc, tạo điều kiện
cho NCT sống vui, sống khỏe, sống có ích cho xã hội là nhiệm vụ, trách nhiệm
của toàn đảng, toàn dân và của chính bản thân NCT.
* Các hình thức truyền thông
- Truyền thông trực tiếp: Tổ chức các buổi hội thảo, sinh hoạt hội NCT,
họp dân, các cuộc thi tìm hiểu về NCT, hoạt động văn hóa, văn nghệ về chủ đề
NCT…
- Truyền thông gián tiếp: Thông qua phương tiện đài phát thanh truyền
hình, sách, báo, tạp trí, tờ rơi, Internet, mạng xã hội…
* Các nội dung truyền thông
- Truyền thông các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về NCT;
17


- Truyền thông về vai trò, trách nhiệm của NCT đối với gia đình, cộng
đồng và xã hội;
- Tuyên tuyền về nhận thức và sự chuẩn bị cho tuổi già, các yếu tố ảnh
hưởng khi về già.
1.2.3.2. Hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi
Chăm sóc sức khoẻ là một hoạt động nhằm duy trì, điều chỉnh vào những
lúc cần thiết để phục hồi khả năng hoạt động bình thường của cơ thể, tạo được
trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải
là chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế. CSSK cho NCT không chỉ đơn thuần là
những chăm sóc trong khám chữa bệnh, mà còn bao gồm cả những chăm sóc về
vật chất, tinh thần và xã hội.
CTXH trong hỗ trợ CSSK cho NCT là việc sử dụng các phương pháp, kỹ
năng CTXH vào việc trị liệu xã hội, bao gồm tổng thể các hoạt động chăm sóc từ
tự rèn luyện và chăm sóc của chính NCT và con cháu chăm sóc sức khỏe cho
NCT tại gia đình đến chăm sóc y tế khi NCT mắc bệnh nhằm gia tăng sự hài lòng
của NCT khi sử dụng các dịch vụ y tế, góp phần nâng cao chất lượng CSSK cho
NCT. NV CTXH có thể làm việc trực tiếp với NCT hoặc gián tiếp thông qua việc
lập kế hoạch tổ chức các hoạt động CSSK cho NCT, kết nối nguồn lực, cung cấp
dịch vụ.
* Hoạt động chủ yếu trong hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho NCT [2, tr.28]
- Tư vấn cách thức CSSK, chế độ dinh dưỡng phù hợp cho NCT và gia
đình họ; Tư vấn cách thức khám, chữa bệnh các thủ tục tại bênh viện và lên kế
hoạch giúp NCT khi họ có bệnh và phải đi chữa trị bệnh tại bệnh viện; Tổ chức
khám chữa bệnh định kỳ tại địa phương để giúp phát hiện các bệnh nói riêng và
các vấn đề sức khỏe nói chung của NCT;
- Tổ chức các lớp thể dục, thể thao: võ thuật dưỡng sinh, cầu lông, bóng
bàn… để NCT tham gia hoạt động và tăng cường sức khỏe;
- Cung cấp một số dịch vụ hỗ trợ chăm sóc: nấu ăn, giặt đồ, đi dạo… để
NCT có khả năng sống độc lập ngay cả khi họ có hạn chế về sức khỏe;
- Tham gia xây dựng chính sách trợ giúp đối với NCT.

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×