Tải bản đầy đủ

Xây dựng ma trận IE cho tập đoàn FPT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
----------

BÀI TẬP NHÓM
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
Đề tài: Xây dựng ma trận IE của tập đoàn FPT và rút ra kết luận
cho tập đoàn FPT

Sinh viên thực hiện: Nhóm 5
Lớp tín chỉ

:QTCL2_1

Hà Nội, Tháng 3 - 2017


Thành viên trong nhóm:
1.
2.
3.

4.
5.
6.
7.
8.
9.

Mai Anh_________________11140154
Lê Phương Anh___________11140231
Nguyễn Thị Lý___________ 11142690
Phạm Quang Minh________ 11142836
Nguyễn Hương Trà My_____11142908
Phạm Thị Ngọc___________11143180
Nguyễn Thị Phượng_______ 11143562
Hồ Thu Trang____________ 11144595
Nguyễn Huyền Trang______ 11144438


I.

Giới thiệu về FPT
1. Giới thiệu chung

Là thành viên thuộc Tập đoàn công nghệ hàng đầu Việt Nam FPT, Công ty Cổ phần Viễn
thông FPT (tên gọi tắt là FPT Telecom) hiện là một trong những nhà cung cấp dịch vụ
viễn thông và Internet có uy tín và được khách hàng yêu mến tại Việt Nam và khu vực.
Thành lập ngày 31/01/1997, khởi nguồn từ Trung tâm Dịch vụ Trực tuyến. Sau 20 năm
hoạt động, FPT Telecom đã lớn mạnh vượt bậc có hơn 80 chi nhánh tại 59 tỉnh thành trên
toàn quốc. Bên cạnh đó, Công ty đã và đang đặt dấu ấn trên trường quốc tế bằng 8 chi
nhánh trải dài khắp Campuchia, cũng như việc được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ tại
Myanmar.
Với sứ mệnh tiên phong đưa Internet đến với người dân Việt Nam và mong muốn mỗi gia
đình Việt Nam đều sử dụng ít nhất một dịch vụ của FPT Telecom, đồng hành cùng
phương châm “Khách hàng là trọng tâm”, không ngừng nỗ lực đầu tư hạ tầng, nâng cấp
chất lượng sản phẩm – dịch vụ, tăng cường ứng dụng công nghệ mới để mang đến cho
khách hàng những trải nghiệm sản phẩm dịch vụ vượt trội
2. Lịch sử và các mốc phát triển:

31/1/1997: Thành lập Trung tâm Dữ liệu trực tuyến FPT (FPT Online Exchange - FOX)
2005: Chuyển đổi thành Công ty Cổ phần Viễn thông FPT (FPT Telecom)

2007: FPT Telecom đã trở thành thành viên chính thức của Liên minh AAG (Asia
America Gateway - nhóm các công ty viễn thông hai bên bờ Thái Bình Dương).
2008: Trở thành nhà cung cấp dịch vụ Internet cáp quang băng rộng (FTTH) đầu tiên tại
Việt Nam và chính thức có đường kết nối quốc tế từ Việt Nam đi Hồng Kông.
2009: Mở rộng thị trường sang các nước lân cận như Campuchia.
2014: Tham gia cung cấp dịch vụ truyền hình IPTV với thương hiệu Truyền hình FPT

3


2015: Chính thức được cấp phép kinh doanh tại Myanmar
2016: Được cấp phép triển khai thử nghiệm mạng 4G tại Việt Nam.
3. Các sản phẩm, dịch vụ mảng viễn thông chính FPT đang cung cấp








Dịch vụ Internet bang rộng FTTH, xDSL;
Dịch vụ truyền hình: FPT, FPT play;
Dịch vụ Kênh thuê riêng;
Dịch vụ Trung tâm dữ liệu;
Dịch vụ Điện thoại cố định;
Kết nối liên tỉnh và quốc tế;
Các dịch vụ trực tuyến và OTT như: âm nhạc trực tuyến (Mix166), chia sẻ trực






tuyến (Fshare, Fsend), giám sát trực tuyến, tên miền riêng…;
Dịch vụ hội thoại truyền hình;
Hệ thống báo điện tử gồm VnExpress.net; Ngoisao.net; iOne.net;
Quảng cáo trực tuyến;
Hệ thống quảng cáo thông minh eClick AdNetwork.

Phân tích môi trường bên ngoài
1. Phân tích môi trường vĩ mô
1.1.
Môi trường chính trị - pháp luật tại Việt Nam
1.1.1. Môi trường chính trị
II.

4


Nền chính trị ổn định và chính sách nhất quán giữa Chính phủ và chính quyền địa
phương… chính là một trong những điều kiện tiên quyết để tập đoàn FPT tăng cường mở
rộng và phát triển tại thị trường nước nhà.
Từ sau giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, Việt Nam được xem là một
quốc gia có tình hình chính trị ổn định. Đề cập đến vai trò, vị trí của sự ổn định chính trị
đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, trả lời phỏng vấn phóng viên Đài
Tiếng nói Việt Nam, Tiến sĩ kinh tế người Pháp Philippe Delalande khẳng định: “Sự ổn
định chính trị là một trong những yếu tố không thể thiếu, góp phần giúp Việt Nam có thể
kiên trì chính sách phát triển kinh tế. Nền chính trị ổn định tạo cho Việt Nam có được một
nền hòa bình và thịnh vượng. Nếu nhìn sang một số quốc gia khác trong khu vực, dễ thấy
rằng, trừ Singapore, thì từ năm 1990 trở lại đây, hầu hết các nước đều trải qua các cuộc
đảo chính hay khủng hoảng chính trị. Trong khi đó, nền chính trị của Việt Nam luôn ổn
định, đây là một đảm bảo cho sự gắn kết để thực hiện chính sách kinh tế nhất quán.”
Hệ thống chính sách của Nhà Nước đang được hoàn thiện dần để phù hợp với việc
chuyển đổi sang cơ cấu kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập với kinh tế thế giới. Các
chính sách mở cửa và hội nhập với kinh tế thế giới được thể hiện bằng việc Việt Nam gia
nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN(AFTA) năm 1995, gia nhập tổ chức thương mại
thế giới (WTO) năm 2007. Đây thực sự là cơ hội tốt cho doanh nghiệp trong nước nói
chung và tập đoàn FPT nói riêng mở rộng giao thương, hợp tác, phát triển thị trường, tiếp
cận với những công nghệ - kỹ thuật hiện đại và kinh nghiệm quản lý của các nước tiên
tiến trên thế giới.

1.1.2. Môi trường pháp luật

Pháp luật liên quan mật thiết tới sự phát triển của ngành. Pháp luật của nước ta tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh đặc biệt là đối với doanh nghiệp trong
nước.
5


Hệ thống pháp luật nước ta được xây dựng khá đầy đủ, ban hành nhiều luật về kinh
doanh như luật thương mại, luật doanh nghiệp, luật thuế nhập khẩu, xuất khẩu, ...hay các
luật công nghệ thông tin, luật sở hữu trí tuệ, luật viễn thông... giúp đảm bảo sự công
bằng, trách nhiệm trong kinh doanh của tập đoàn FPT.
Ví dụ như Luật viễn thông với những nội dung quan trọng như: Tạo điều kiện và
mở rộng sự tham gia của các thành phần kinh tế trong kinh doanh viễn thông, đặc biệt là
đối với lĩnh vực thiết lập hạ tầng mạng, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa và tăng
cường vai trò quản lý nhà nước trong hoạt động viễn thông, áp dụng cơ chế thị trường
trong quản lý kho số viễn thông, tài nguyên Internet, bảo đảm môi trường kinh doanh
viễn thông cạnh tranh công bằng, minh bạch, công khai, bảo đảm việc quy hoạch, xây
dựng và phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông bền vững, an toàn... Điều này sẽ tạo điều
kiện để FPT có môi trường tốt nhất để phát triển ngành viễn thông một cách công bằng,
thuận lợi, đảm bảo trong sự chặt chẽ của pháp luật.
Hay về Luật thuế: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiêp năm 2017 moiws nhất theo
điều 11, Thông tư78/2014/TT-BTC và thông tư 96/2015/TT-BTC của bộ tài chính từ ngày
1/1/2017 thuế suất 20% áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp (trừ một số doanh nghiệp
khai thác khoáng sản, mỏ tài nguyên thiên nhiên). Đây chính là động lực để FPT tăng
cường hoạt động kinh doanh của mình để thu được nhiều lợi hơn từ chính sách thuế.
Tại Hội nghị trực tuyến với sự theo dõi của khoảng 1 vạn doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế trong cả nước với chủ đề: “Doanh nghiệp Việt Nam - Động lực phát
triển kinh tế của đất nước ”, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng khẳng định sẽ đẩy mạnh thực
thi những tư tưởng đổi mới trong Luật Đầu tư sửa đổi và Luật Doanh nghiệp sửa đổi cũng
như tinh thần của Hiến pháp 2013 về tôn trọng quyền tự do kinh doanh của người dân,
doanh nghiệp, bảo đảm thực hiện đúng quan điểm “người dân được tự do kinh doanh
những gì mà pháp luật không cấm”. Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cũng
nhấn mạnh sẽ tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính công

6


trong lĩnh vực do Bộ quản lý và sẽ tham mưu với Chính phủ xây dựng các khung khổ
chính sách mới đáp ứng yêu cầu hội nhập.
Như vậy, có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam đang dần được bổ sung, hoàn thiện để
hợp với nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp, tạo lòng tin cũng như môi trường pháp lý
hiệu quả để doanh nghiệp hoạt động, phát triển.

1.2.

Môi trường kinh tế

1.2.1. Tốc độ phát triển của kinh tế và ngành viễn thông, công nghệ thông

tin
Theo thông cáo của Tổng cục Thống kê Việt Nam cuối năm 2016, tổng sản phẩm
trong nước (GDP) năm 2016 ước tính tăng 6,21% so với năm 2015, trong đó quý I tăng
5,48%; quý II tăng 5,78%; quý III tăng 6,56%; quý IV tăng 6,68%, "mức tăng trưởng
năm nay tuy thấp hơn mức tăng 6,68% của năm 2015 và không đạt mục tiêu tăng trưởng
6,7% đề ra, nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới không thuận, trong nước gặp nhiều khó
khăn do thời tiết, môi trường biển diễn biến phức tạp thì đạt được mức tăng trưởng trên là
một thành công."
Đồng thời, Việt Nam tiếp tục là một trong những thị trường viễn thông có tốc độ
tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực và trên thế giới trong suốt 10 năm qua. Đến nay,
tổng số thuê bao điện thoại hiện có khoảng trên 131 triệu máy (trong đó: di động chiếm
94,86%, cố định: chiếm 5,14%); mật độ điện thoại đạt khoảng 140 máy/100 dân; tỷ lệ
thuê bao Internet băng rộng đạt 6,5 thuê bao/100 dân, cao gấp gần 2 lần so với năm 2010.
Tỷ lệ thuê bao Internet băng rộng di động đạt 36,6 thuê bao/100 dân; toàn quốc có
trên 58 triệu người sử dụng Internet, tỷ lệ người sử dụng Internet đạt trên 50% dân số, cao
gấp 1,7 lần so với năm 2010. Hằng năm doanh thu Viễn thông đạt khoảng 17 tỷ USD, cao
gấp gần 2 lần so với năm 2010, lợi nhuận hằng năm khoảng 2,5 tỷ USD/năm, nộp ngân
sách nhà nước 60.000 tỷ đồng/năm.
7


Nền kinh tế tăng trưởng, thu nhập bình quân đầu người tăng dẫn đến sự bùng nổ về
chi tiêu của người dân. Cùng với đó là sự phát triển nhanh của ngành viễn thông và công
nghệ thông tin, lượng khách hàng lớn, thị trường nhiều tiềm năng đã tạo cơ hội cho tập
đoàn FPT tăng cường phát triển các hoạt động dịch vụ, tiêu thụ hàng hóa.
Từ những tiềm năng mà nền kinh tế Việt Nam cũng như ngành viễn thông mang lại,
FPT Telecom đã tận dụng cơ hội để mở rộng hoạt động kinh doanh của mình. Đầu năm
2012, FPT đã tích cực mở rộng các chi nhánh tại Hưng Yên, Long An, Hà Tĩnh…và đang
dần nỗ lực hoàn thành mục tiêu đưa FPT Telecom có mặt trên khắp các tỉnh thành cả
nước. Trong giai đoạn 2012-2104, công ty đã hoàn tất xây dựng tuyến trục Bắc – Nam
mạch A và B, sở hữu đường trục viễn thông riêng, tăng cường mạnh mẽ sự tự chủ và
năng lực cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet đến hàng triệu khách hàng… Cùng với
hướng kết nối đa dạng trên biển (AAG), đất liền (đưa cáp qua biên giới), FPT
Telecom ngày càng khẳng định vị thế nhà cung cấp dịch vụ viễn thông và Internet chủ
đạo của Việt Nam. Năm 2014, FPT Telecom triển khai quang hóa tại hai thành phố lớn là
Hà Nội, TP HCM, chuyển đổi căn bản hạ tầng đồng sang hạ tầng quang, làm nền tảng
cho hàng loạt dịch vụ mới và nhiều tiềm năng.
1.2.2. Lạm Phát

Theo cơ quan thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2016 tăng 0,23% so với
tháng trước; tăng 4,74% so với tháng 12 năm trước; thấp hơn so với mục tiêu 5% của
Quốc hội đặt ra. Mức tăng của lạm phát từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2016 so cùng kỳ có
biên độ dao động trong khoảng khá hẹp từ 1,64% đến 1,88%, điều này thể hiện chính
sách tiền tệ đang được điều hành ổn định, giúp ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm
phát. Mức lạm phát ổn định giúp cho hoạt động kinh doanh của FPT được duy trì ổn
định, tránh được những biến động lớn gây tổn thất cho doanh nghiệp.

1.2.3. Lãi suất ngân hàng

8


Hàng loạt các ngân hàng như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV),
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Công Thương Việt Nam
(Vietinbank) … đã phát thông báo giảm lãi suất và áp trần lãi suất cho vay 10%/năm với
doanh nghiệp.
Lãi suất các ngân hàng đang áp dụng với các doanh nghiệp vay ngắn hạn trung bình
khoảng 7,2%/năm. Đối với những doanh nghiệp vay quy mô lớn và giao dịch lâu năm thì
được ưu tiên với mức lãi suất khoảng 7,0%/năm. Đối với những doanh nghiệp vay dài
hạn thì mức lãi suất áp dụng là 7,8%/năm cố định 1 năm đầu, lãi suất thả nổi những năm
sau được cộng biên độ tương đối thấp nên lãi suất rơi vào khoảng 9,5% đến 10%/năm.
Có thể nói, đây là mức lãi suất giúp cho FPT dễ dàng hơn trong việc tiếp cận vốn
vay ngân hàng để tăng cường đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh. Cụ thể, tính đến
31/03/2016, FPT ghi nhận 7.194 tỷ đồng vay nợ ngắn hạn, chủ yếu dưới hình thức tín
chấp và tín dụng thư và gần 1.000 tỷ đồng vay nợ dài hạn. Thế nhưng, hệ số đòn bẩy nợ
thuần/vốn chủ sở hữu chỉ còn 4,3%, thấp hơn thời điểm 31/12/2015 ở mức 26,5%. Chỉ số
này thấp ở mức đáng báo động là một điểm yếu chí mạng với FPT. Hệ số đòn bẩy nợ
thuần/vốn chủ sở hữu cần được duy trì ở một mức nhất định và không nhỏ hơn 20%,
nhằm cân đối nhuần vốn của doanh nghiệp. Với hệ số chỉ đạt 4,3% cho thấy doanh
nghiệp sử dụng quá nhiều vốn chủ sở hữu điều nay khiến doanh nghiệp gặp rất nhiều rủi
ro tài chính đồng thời không tận dụng được lá chắn thuế hiệu quả.
1.3.

Môi trường văn hóa – xã hội

Văn hóa xã hội là một trong những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến thói quen tiêu
dùng, hành vi, nhu cầu của con người. Những lối sống thay đổi nhanh chóng, nền văn hóa
từ nước ngoài được du nhập vào nước ta trong quá trình đất nước đổi mới. Cùng với sự
phát triển nhanh chóng của đất nước thì nhu cầu về thông tin liên lạc cũng tăng lên.
Hơn nữa, Việt Nam là một thị trường tiêu thụ rộng lớn với hơn 90 triệu dân, tỷ lệ trẻ
hóa ngày càng cao làm cho nhu cầu sử dụng Internet, công nghệ thông tin lớn hơn tạo ra
cơ hội và thách thức lớn cho FPT. Việt Nam là một nước đang phát triển nên chất lượng
9


đào tạo của con người cũng cao lên, nhờ đó FPT có một nguồn lực dồi dào về trình độ,
tay nghề ngày càng cao.
1.4.

Môi trường khoa học- công nghệ Việt Nam
Khoa học - công nghệ Việt Nam trong những năm gần đây có được những bước tiến
phát triển mạnh mẽ thông qua việc tiếp xúc, hợp tác sâu rộng hơn với những nước tiên
tiến có nền khoa học và công nghệ phát triển cao như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Singapo,... Theo đó, đội ngũ nhân lực KH-CN có điều kiện thuận lợi hơn trong việc nâng
cao năng lực và trình độ KH-CN, và họ chính là nguồn lao động chất lượng cao và hạt
nhân của các doanh nghiệp, đặc biệt là với FPT-doanh nghiệp cần sử dụng số lượng lớn
lao động trong lĩnh vực KH-CN.
Theo trào lưu phát triển viễn thông chung trên thế giới, Việt Nam cũng tích cực
đẩy mạnh việc nghiên cứu xu hướng công nghệ viễn thông mới BcN (bản chất là NGN)
làm cơ sở định hướng, lập kế hoạch phát triển và triển khai ứng dụng các công nghệ mới
vào mạng viễn thông Việt Nam. Hiện tại, ở Việt Nam mạng NGN cũng đã được triển khai
với nhiều dịch vụ mới. Mạng truy nhập băng rộng sử dụng công nghệ xDSL đã được triển
khai trên khắp cả nước. Theo số liệu tính đến tháng 10/2016 của Cục Viễn thông, hiện
Việt Nam đã có hơn 6 triệu thuê bao cáp quang FTTH và hơn 2 triệu thuê bao cáp đồng
xDSL.
Tháng 1/2017, tuyến cáp quang biển APG được đưa vào hoạt động đem lại sự chủ
động về kênh đấu nối quốc tế cho các nhà mạng ở Việt Nam trong đó có FPT Telecom.
Dù đã nỗ lực đổi mới và cải tiến nhưng ở Việt Nam vẫn còn sử dụng nhiều những
công nghệ cũ, lạc hậu và việc đổi mới công nghệ so với mặt bằng chung vẫn còn chậm.
Đầu tư để phát triển khoa học và khoa học ở Việt Nam quá thấp, mới chỉ đạt 2% tổng chi
ngân sách nhà nước, trong khi các nước tiên tiến có mức đầu tư chỉ riêng nghiên cứu ứng
dụng chiếm 3 – 5% ngân sách. Rõ ràng sự chênh lệch về vốn đầu tư cho KH&CN cũng
đã là một thách thức lớn cho nền KH&CN Việt Nam và các doanh nghiệp nói riêng.
Ngoài mức đầu tư thấp, hoạt động đầu tư từ ngân sách nhà nước còn dàn trải, phân tán,
10


hiệu quả sử dụng chưa cao, do đó thị trường KH&CN Việt Nam chưa thật sự tạo được
nhiều thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
Đội ngũ cán bộ làm công tác khoa học ở Việt Nam, đặc biệt là các nhà khoa học đầu
ngành còn thiếu; đồng thời thiếu các trung tâm khoa học lớn, hiệu quả sử dụng các phòng
thí nghiệm trọng điểm quốc gia và kết quả hoạt động của các khu công nghệ cao còn
thấp. Thiếu cơ chế quản lý khoa học nhất là cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, trọng
dụng, đãi ngộ nhân tài còn nhiều hạn chế…cũng là những thách thức không nhỏ cho việc
phát triển nền KH&CN nước nhà và tiếp đó là với FPT.
Thế nhưng, FPT Telecom cũng đi đầu phát triển theo xu hướng công nghệ viễn
thông mới nhất, từ ADSL đến FTTH, NGN đến MetroE, từ Wifi đến thử nghiệm LTE
(4G), xây dựng các Trung tâm tâm dữ liệu (Data Center) đạt chuẩn Tier III... nhằm đảm
bảo hiệu quả, tốc độ cao nhất cho hệ thống server, máy chủ của khách hàng đặt tại Data
Center của FPT Telecom.
1.5.

Môi trường kinh doanh quốc tế
Không chỉ cung cấp sản phẩm, dịch vụ tại 59/63 tỉnh thành của Việt Nam, FPT đã
mở rộng hoạt động ra thị trường toàn cầu với văn phòng và công ty chi nhánh tại 19 quốc
gia thuộc 4 châu lục Châu Mỹ: Mỹ Châu Úc: Australia Châu Âu: Anh, Đức, Hà Lan,
Pháp, Slovakia Châu Á: Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, Malaysia, Myanmar,
Philippines, Indonesia, Campuchia, Lào, Bangladesh, Kuwait, Việt Nam. Riêng FPT
Telecom cũng sở hữu cho mình gần 200 văn phòng điểm giao dịch thuộc hơn 80 chi
nhánh tại 59 tỉnh thành trên toàn quốc, đồng thời sở hữu 8 chi nhánh trải dài khắp
Campuchia, cũng như việc được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ tại Myanmar. Chính
vì lẽ đó, FPT cũng chịu những tác động đến từ môi trường kinh doanh quốc tế.
Việt Nam tham gia hội nhập ngày càng sâu rộng hơn thể hiện ở việc tích cực tham
gia vào các tổ chức khu vực, quốc tế như ASEAN, WTO, APEC, … điều này giúp cho
các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và FPT Telecom nói riêng có được thêm nhiều cơ
hội cũng như đối mặt với nhiều thách thức mới để tồn tại và phát triển, mở rộng trên
11


chính thị trường Việt Nam và tại thị trường khu vực, quốc tế, cụ thể là tại các quốc gia
thành viên của các tổ chức trên.
Những cơ hội có thể đến từ những chính sách ưu tiên về thủ tục hành chính, về
thuế, hình thức tổ chức doanh nghiệp, … từ các nước cùng tham gia tổ chức và không bị
phân biệt đối xử trong hoạt động thương mại quốc tế.
Một ví dụ cụ thể đó là tác động của TPP nhìn từ chương viễn thông, trong đó có nội
dung “Nước thành viên phải yêu cầu hãng cung cấp dịch vụ viễn thông lớn của mình
cung cấp cho các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng nước ngoài sự tiếp cận các
cấu thành của mạng lưới của mình trên cơ sở tách biệt.” Nhờ đó, các doanh nghiệp viễn
thông sẽ tiết kiệm vốn và thời gian hơn đồng thời giảm rủi ro so với việc tự xây dựng lại
từ đầu hệ thống mạng lưới của mình, và đây chính là một cơ hội lớn để TPP Telecom có
thể tìm kiếm cơ hội kinh doanh tốt, mở rộng thị trường trên nước bạn (nước cùng kí TPP)
với Việt Nam.
Hay theo những cam kết của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) chính thức có hiệu
lực từ cuối năm 2015 (mà Việt Nam là một quốc gia thành) thì viễn thông không phải là
một trong 12 ngành ưu tiên hội nhập nhưng lại là một trong các ngành quan trọng để xây
dựng một cơ sở sản xuất ASEAN thống nhất. Và viễn thông là một trong những lĩnh vực
mà Việt Nam thực hiện hợp tác toàn diện tại AEC. Cũng theo cam kết trong AEC thì thuế
đối với ngành viễn thông vẫn giữ 5% cho tới 2018 thì giảm về mức 0%. Theo đó, các
doanh nghiệp Viễn thông Việt Nam trong đó có FPT Telecom dễ dàng hơn trong việc xuất
khẩu sản phẩm dịch vụ viễn thông trong nội khối và có thể thâm nhập sâu rộng hơn thị
trường viễn thông của 10 quốc gia thành viên AEC.
Bên cạnh những cơ hội, các doanh nghiệp Việt Nam hay FPT Telecom nói riêng
cũng sẽ gặp phải những hạn chế đến từ việc mở cửa hội nhập bởi khi đó, cạnh tranh trở
nên quyết liệt hơn bao giờ hết. Thật vậy, các hiệp định thương mại cam kết mở cửa thị
trường, dần cho phép các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư đến 100% vốn; đồng thời, một
loạt các rào cản trong nước gần như được cam kết gỡ bỏ như: cho phép doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ viễn thông nước ngoài được quyền tiếp cận và đặt trang thiết bị tại trạm
12


cập bờ cáp biển; được tiếp cận hạ tầng viễn thông thụ động, cột, cống bể cáp; được cung
cấp dịch vụ thuê kênh, bán lại dịch vụ viễn thông, kết nối viễn thông, chuyển mạng giữ
số thuê bao…Nhờ đó, các tập đoàn viễn thông lớn của nước ngoài cũng dễ dàng thâm
nhập và tranh giành thị phần, thị trường, nguồn cung lao động chất lượng của viễn thông
Việt Nam hơn và mức độ cạnh tranh ngành viễn thông Việt Nam cũng bị đẩy lên cao. Và
chính những thách thức này thậm chí còn có thể đe dọa tới sự tồn tại của một doanh
nghiệp viễn thông Việt Nam.
Khi tham gia kinh doanh quốc tế, FPT telecom cũng chịu tác động lớn đến từ môi
trường văn hóa của nhiều quốc gia khác nhau, môi trường pháp luật, chính trị và kinh tế
của các nước của chung khu vực, thế giới. Và do đó, một doanh nghiệp tham gia hoạt
động kinh doanh quốc tế như FPT Telecom cũng sẽ phải đối mặt với những rủi ro về
xung đột văn hóa nếu doanh nghiệp không có sự tìm hiểu kỹ càng; những rủi ro về kinh
tế đi kèm với biến động về tiền tệ, chẳng hạn như biến động về tỷ giá đồng $ hay tỷ giá
tiền Việt với Campuchia hay Myanma thay đổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các khoản thu
chi của FPT Telecom; những rủi ro về chính trị của một quốc gia.
2. Phân tích môi trường cạnh tranh của M. Porter
2.1.

Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Hiện nay, hai đối thủ lớn cạnh tranh với FPT trong lĩnh vực viễn thông là Viettel
Telecom và VNPT. Tính từ năm 2003, kể từ khi trên thị trường chứng kiến sự góp mặt
của cả 3 nhà mạng này, thị phần cung cấp dịch vụ Internet tổng cộng của cả VNPT,
Viettel và FPT Telecom luôn ở mức trên 80%.
Thị trường Internet cáp quang là nơi FPT gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt đến từ 2
nhà cung cấp trên.
- Viettel: Từ cuối năm 2016 tới nay, Viettel có vẻ khá yên ắng với các chính sách
ưu đãi dành cho dịch vụ Internet cáp quang được phản ánh là không còn nhiều như trước.
Trong khi đó lại áp dụng các chính sách ưu đãi hơn cho việc phát triển người dùng 4G.
Điều này khiến nhiều người cho rằng Viettel đang dồn lực cho 4G nên có phần lơ là hơn
13


đối với mảng Internet cáp quang. Tính tới cuối năm 2016, Viettel có khoảng gần 2,3 triệu
thuê bao Internet cáp quang.
- VNPT: liên tục gây sức ép lên các đối thủ
Năm 2016, VNPT đã có bước phát triển thần tốc trong lĩnh vực internet cáp quang.
Thị phần thuê bao internet cáp quang của doanh nghiệp này đã tăng tới 11,5%, từ 33,3%
vào cuối năm 2015 lên mức 44,8% vào cuối năm 2016. VNPT cũng đã đưa vào khai thác
tuyến cáp quang biển có dung lượng lớn nhất châu Á hiện nay (APG) với dung lượng
truyền dẫn ban đầu lên tới gần 300 Gbps. Bên cạnh đó, VNPT đã mở các hệ thống cache
dung lượng lớn cho hệ thống máy chủ của các dịch vụ, website quốc tế được sử dụng
nhiều tại Việt Nam như Google, Facebook, vừa cải thiện tốc độ truy cập cho khách hàng
vào các dịch vụ này, vừa đảm bảo dịch vụ khi cáp quang biển quốc tế gặp sự cố.
Mới đây nhất, VNPT tiếp tục gây sức ép lên các đối thủ khác bằng việc thông
báo tăng tốc độ các gói cáp quang từ 25 - 50% trong khi vẫn giữ nguyên giá cước tại hai
thị trường lớn là Hà Nội và TP.HCM. Cùng với các chương trình khuyến mại thường kỳ,
gói cước cáp quang tốc độ 12 Mbps chỉ còn 150.000 - 160.000 đ/tháng. Với việc điều
chỉnh này, VNPT càng gia tăng được áp lực cạnh tranh đối với FPT và Viettel.
2.2.

Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt trên trong ngành nhưng có
khả năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và quyết định gia nhập ngành.
Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, năm 2016, toàn ngành đạt doanh thu 1.337.857
tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng đạt 9,36% so với 2015, đóng góp khoảng 14,38% vào tổng
thu cân đối NSNN năm 2016. Trong đó, doanh thu lĩnh vực viễn thông ở mức 365.500 tỷ
đồng, tăng 7,5% so với năm 2015, đóng góp khoảng 27,32% vào tổng doanh thu toàn
Ngành năm 2016. Ngoài ra, nhóm ngành truyền thông tiếp tục dẫn đầu và áp đảo trong
Top 10 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam 2016. Tất cả những điều nay cho thấy viễn
thông là một lĩnh vực kinh doanh làm ăn hiệu quả, có tỷ suất lợi nhuận cao ở Việt Nam,
14


do đó nó là lĩnh vực vô cùng hấp dẫn với các doanh nghiệp kinh doanh khác. Chính vì lẽ
đó, sẽ không ngạc nhiên nếu một số quỹ đầu tư, công ty chứng khoán và cả các nhà đầu
tư “ngoài ngành” trở thành một nhà kinh doanh viễn thông thành công khác nữa.
Tuy nhiên, FPT Telecom cũng có những lợi thế nhất định để có thể bảo vệ mình
trước sự “rình rập” của những đối thủ tiềm ẩn đang ngòm ngó mảnh kinh doanh viễn
thông này. Thật vậy:
Với kinh nghiêm 20 năm, FPT Telecom đã lớn mạnh vượt bậc với hơn 7,000 nhân
viên chính thức, gần 200 văn phòng điểm giao dịch thuộc hơn 80 chi nhánh tại 59 tỉnh
thành trên toàn quốc và vươn ra cả ngoài biên giới và giành được rất nhiều giải thưởng,
danh hiệu uy tín (Huy chương Vàng đơn vị Internet, Viễn thông 2012, Huy chương Vàng
ICT Việt Nam 2015, Doanh nghiệp chuyển đổi kỹ thuật số ATSA 2016,…) đây cũng
chính là lợi thế về quy mô và sự trung thành của khách hàng với những sản phẩm, dịch
vụ của FPT Telecom mà bất kì đối thủ nào có ý đinh ra nhập ngành cũng phải e dè.
Kinh nghiệm hoạt động lâu năm cũng cho phép FPT Telecom hình thành cho mình
mạng lưới các đối tác lớn quyền lực, nổi tiếng thế giới. Ví dụ như đối tác Vàng của
Microsoft và năm 2016, của CISCO năm 2015 và Đối tác Hiệu quả năm DELL 2017…
qua đó, những đối thủ chưa biết tên này khó có thể vượt mặt FPT Telecom một cách
chóng vánh được.
2.3.

Nhà cung ứng
Nhà cung cấp tài chính: Hiện nay, FPT có nhiều nhà đầu tư, từ trong nước đến nước
ngoài, từ các cá nhân tới các tổ chức nên FPT không lo về vấn đề cung ứng tài chính. Một
số nhà cung ứng tài chính của FPT như: ông Trương Gia Bình, Tổng Công ty đầu tư và
kinh doanh vốn nhà nước, Macquarie Bank Limited, Government of Singapore, …
Các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức đã rót tiền để giúp FPT đầu tư nhiều hơn cho các
lĩnh vực công nghệ cao, tạo ra giá trị gia tăng lớn, tăng giá trị và lợi nhuận cho công ty.
Mặt khác, nguồn vốn này cũng giúp FPT có thể mở rộng thị trường sang nhiều nước trên
thế giới để tăng giá trị, thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Bên cạnh đó, FPT cũng phải đưa
15


ra những chính sách đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư và cổ đông sao cho phù hợp và
đẩy mạnh mối quan hệ với họ để làm cho mối quan hệ với nhà đầu tư ngày càng khăng
khít hơn, các thông tin đến nhà đầu tư được cập nhật kịp thời, chính xác và minh bạch.
Nhà cung cấp nguyên vật liệu: FPT nhập khẩu nguyên vật liệu, các linh kiện từ một số
hãng lớn trên thế giới như Microsoft, Toshiba, Hitachi, IT Holdings, …
2.4.

Khách hàng
Nếu như trước đây nhu cầu thông tin di động chưa được đáp ứng còn nhiều, thị
trường khách hàng còn rất nhiều chỗ trống để các nhà mạng đẩy mạnh khai thác, gia tăng
thị phần, nghĩa là quy mô còn có thể mở rộng, thì nay thị trường đang dần đạt ngưỡng
bão hòa, thay vì mở rộng quy mô, các nhà mạng phải cạnh tranh để “giữ chân” khách
hàng. Vị thế khách hàng vì thế được nâng cao, khi có rất nhiều nhà cung cấp mà họ có thể
lựa chọn, họ bắt đầu quan tâm đến chất lượng và dịch vụ chăm sóc khách hàng nhiều
hơn. Cơ chế siết chặt khuyến mãi đánh mạnh vào các nhà mạng, họ không thể dùng chiêu
khuyến mãi để “câu” khách như đã từng làm, vậy nên càng phải chú ý hơn đến chất
lượng dịch vụ.
Nền kinh tế phát triển, đặc biệt là internet, các chi phí giao dịch, chuyển đổi khách
hàng đều giảm, tính mất cân đối về thông tin giữa khách hàng và nhà cung cấp, giữa các
ngành khác nhau đều giảm thiểu, thông tin được tiếp cận nhanh hơn, chi tiết khách quan
hơn, khả năng gặp gỡ giữa khách hàng và nhà cung cấp lớn hơn, tạo nên sức mạnh đàm
phán của khách hàng, vì vậy sức ép của khách hàng lên FPT là rất lớn, buộc FPT phải đa
dạng hóa sản phẩm, bên cạnh giảm giá các sản phẩm để có thể cạnh tranh với các nhà
cung ứng khác, FPT còn có những hoạt động hỗ trợ khách hàng như:
-

Sản phẩm, dịch vụ với chất lượng, công nghệ tiên tiến đáp ứng nhu cầu của khách

-

hàng;
Thái độ phục vụ tận tình, chuyên nghiệp, tuân thủ đạo đức kinh doanh;
Đầu tư nghiên cứu phát triển sản phẩm, dịch vụ, giải pháp dựa trên các xu hướng
công nghệ mới;

16


2.5.

-

Xác định rõ và chính xác yêu cầu của khách hàng bao gồm các yêu cầu về sản

-

phẩm, giao tiếp, đối xử, thương hiệu và công nghệ;
Xây dựng và áp dụng các chuẩn mực làm việc và ứng xử với khách hàng;
Đánh giá sự hài lòng khách hàng để có hành động thích hợp nâng cao mức độ thỏa

mãn khách hàng;
- Nâng cao uy tín thương hiệu của FPT.
Sản phẩm thay thế
So với thư từ, điện báo, điện thoại cố định, … ngày trước thì dịch vụ internet được
xem là một mặt hàng xa xỉ. Nhưng ngày nay, đời sống người dân được nâng cao, nhu cầu
thông tin càng cấp thiết, hơn nữa khoa học công nghệ cũng ngày càng hiện đại đã phần
nào làm giảm chi phí, nâng cao chất lượng của dịch vụ di động, sự tiện lợi, chất lượng
của dịch vụ di động đã phá bỏ rào cản về giá so với các dịch vụ thay thế khác.
III.

Thành lập ma trận EFE
Lý giải cách đánh giá tầm quan trọng:
Tầm quan trọng: Những yếu tố như chính trị, pháp luật, chính sách thuế , mức lạm
phát, lãi suất,… thì hầu như không có quá nhiều thay đổi, vì vậy nó không tác
động quá quan trọng để đưa ra các quyết định chiến lược đối với một tập đoàn
trong nước như FPT.
Ngược lại, những yếu tố như nhu cầu thông tin liên lạc, chất
lượng đào tạo con người hay việc Việt Nam tham gia các tổ chức khu vực và thế
giới,…nó luôn luôn thay đổi, và điều này tác động rất lớn đến các quyết định chiến
lược của doanh nghiệp, do vậy khi nó thay đổi liên tục gây ra những ảnh hưởng
lớn tới việc ra quyết dịnh thì mức độ quan trọng của nó sẽ lớn.
Lý giải cho việc phân loại: như đã trình bày ở phần trên, những yếu tố dường như
ổn định hết năm này qua năm khác thì khi đưa ra những quyết định không phải
quan tâm đến nó quá nhiều, do vậy việc phản ứng của doanh nghiệp với những
điều kiện đó là thấp, và điều ngược lại cũng xảy ra đối với những nhân tố có khả
năng thay đổi nhiều, lớn thì bắt buộc doanh nghiệp khi đưa ra quyết định cần cân
nhắc tới những điều này, và FPT nhận thức được điều đó nên họ có những phản
ứng rất tốt với thị trường, với những nhân tố tác động nên nó:

17


Ví dụ như dưới sức ép của của 2 đối thủ cạnh tranh như VNPT hay Viettel thì FPT
tăng tới 900% thuê bao trong ngành FTTH. Điều đó cho thấy FPT đã phản ứng rất
mạnh.
MA TRẬN EFE
Các yếu tố bên ngoài
Tầm quan trọng
Chính trị pháp luật ở Việt Nam ổn định, có
0.02
những chính sách về thuế, xuất nhập khẩu
hợp lý cho doanh nghiệp phát triển
Pháp luật giúp môi trường kinh doanh viễn
0.03
thông cạnh tranh công bằng, minh bạch,
công khai.
Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp còn
0.02
có 20%
Cùng với sự phát triển của đất nước, nhu cầu
0.11
về thông tin liên lạc cũng tăng lên
Mức lạm phát ổn định
0.01
Lãi suất cho doanh nghiệp vay của các ngân
0.02
hàng giảm
Chất lượng đào tạo của con người cao lên
0.1
nên chất lượng nhân lực tăng
Việt Nam tham gia hội nhập ngày càng sâu
0.12
rộng hơn với thế giới thể hiện ở việc tích cực
tham gia vào các tổ chức khu vực, quốc tế
như ASEAN, WTO, APEC
Sản phẩm thay thế đã lỗi thời trong thời đại
0.14
nhanh
thông tin
ngày nay
Đối thủ cạnh tranh VNPT và viettel càng gia
0.11
tăng được áp lực cạnh tranh đối với FPT.
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
0.05
Khoa học công nghệ ở Vn còn kém phát
0.14
triển, lỗi thời, đội ngũ cán bộ về khoa học
còn yếu kém về chuyên môn
Sự khó tính trong việc lựa chọn nhà cung
0.13
cấp dịch vụ internet của khách hang
Tổng
1

18

Phân loại
2

Tính điểm
0.02

2

0.06

2

0.04

4

0.44

2
1

0.02
0.02

4

0.4

3

0.36

4

0.56

4

0.44

2
4

0.1
0.56

4

0.52
3.54


Nhận xét: Qua phân tích, ta thấy kết quả là 3.54>2.5, trên mức trung bình. Điều này
cho thấy FPT phản ứng rất tốt với các cơ hội và đe dọa từ môi trường bên ngoài. Tuy
nhiên mức phản ứng của FPT đối với các yếu tố như chính trị, pháp luật hoặc lãi suất còn
thấp do những yếu tố này mang lại thuận lợi cho FPT và ít biến động nhưng FPT cũng
cần lưu ý vấn đề này và dự đoán những thay đổi để xây dựng những chiến lược hiệu quả
nhất.
IV.
Môi trường bên trong
1. Marketing
• Phân tích khách hàng

FPT phân tích khách hàng rất kỹ lưỡng đồng thời với định hướng lấy khách hàng
làm trọng tâm trong mọi hoạt động, FPT tin tưởng việc triển khai “Quản trị trải nghiệm
khách hàng” (CEM) sẽ là một phương án chủ đạo để tạo ra sự khác biệt, thông qua việc
liên tục cải thiện các trải nghiệm khách hàng. Từ đó áp dụng mô hình tăng cường trải
nghiệm khách hàng vô cùng hiệu quả.
Chương trình “Customer voice” – “Tiếng nói của khách hàng” thuộc CEM trong
lĩnh vực Dịch vụ viễn thông của FPT được triển khai để lắng nghe khách hàng, thấu hiểu
và biến thành những hành động cải thiện làm khách hàng hài lòng hơn. Dưới góc độ
chuyển đổi số, “Customer voice” thực chất là một nền tảng kết nối, quản trị và xử lý tập
trung tất cả các phản hồi, đánh giá của khách hàng. Hệ thống sẽ đo sự hài lòng và ghi
nhận các phản hồi của khách hàng tại những điểm tiếp xúc quan trọng đa kênh, từ tổng
đài điện thoại, trò chuyện trực tuyến, Facebook đến các kênh mới như ứng dụng Hi FPT,
… và các mức hài lòng được số hóa theo phương pháp CSAT (Customer Satisfaction –
Độ hài lòng khách hàng). Hệ thống sẽ có cơ chế tự động chuyển tới những đơn vị liên
quan để xử lí, phân tích rút kinh nghiệm và có hành động khắc phục cho khách hàng theo
nguyên tắc vòng lặp xử lý phản hồi.
Qua đó xác định rõ và chính xác yêu cầu của khách hàng bao gồm các yêu cầu về
sản phẩm, giao tiếp, đối xử, thương hiệu và công nghệ. Đồng thời những thông tin về tâm
lý tiêu dùng, sở thích khách hàng và gu mới còn được doanh nghiệp cập nhật thường
19


xuyên thông qua các kênh như các bài tham dò ý kiến, các phương tiện truyền thông, …
với độ chính xác cao. Từ đó FPT đã cung cấp các sản phẩm, dịch vụ, giải pháp dựa trên
các nền tảng công nghệ lõi của cuộc cách mạng số như IoT, IoV, Analytics, Robotics giúp
khách hàng bắt kịp xu hướng và nâng cao năng lực cạnh tranh trong cuộc cách mạng
công nghiệp lần thứ 4.
Hoạt động phân tích khách hàng của FPT được thực hiện rất tốt, đây là tiền đề cho
rất nhiều hoạt động khác của FPT như nghiên cứu và phát triển sản phẩm, dịch vụ khách
hàng, … Bên cạnh đó các phân tích của FPT có độ chính xác cao, cập nhật thường xuyên
giúp cho doanh nghiệp có những phản ứng rất nhạy với những thay đổi của nhu cầu
khách hàng. Do đó hoạt động phân tích khách hàng của FPT được đánh giá là điểm mạnh
quan trọng của họ.


Sản phẩm, dịch vụ
Trong năm 2017, mục tiêu đó là khối viễn thông tiếp tục nâng cấp hạ tầng quang

tại các địa bàn còn lại và tiếp tục mở rộng vùng phủ để phát triển thuê bao mới. Bên cạnh
đó, tiếp đà tăng trưởng tốt trong năm 2016, mảng Truyền hình trả tiền tiếp tục được đẩy
mạnh phát riển trong năm 2017. Lĩnh vực nội dung số tiếp tục hoàn thiện và phát triển
phiên bản tiếng Anh cũng như đầu tư cho các trang mới, các tính năng công nghệ theo xu
hướng mới. Cũng như đã đề cập ở trên, FPT dự định phát triển các sản phẩm viễn thông
dựa trên nền tảng lõi của công nghệ số nhằm bắt kịp xu hướng cách mạng mới. Trong đó,
dịch vụ Internet băng thông rộng ADSL đã được đưa vào triển khai và đạt nhiều thành
công. Bên cạnh đó còn một số dịch vụ khác vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu. Đồng
thời FPT phân phối các sản phẩm dịch vụ đến với khách hàng theo phương thức nhanh
chóng và hiệu quả nhất.
Những sản phẩm của FPT luôn được đánh giá có chất lượng tốt, bắt kịp xu hướng
mới nhất. Đồng thời FPT luôn đảm bảo chỉ cung cấp những sản phẩm, dịch vụ mang lại
hiệu quả cao cho doanh nghiệp và khách hàng.


Hoạt động quảng cáo và khuyến mại
20


FPT mới thành lập công ty quảng cáo lập trình tự động với dịch vụ quảng cáo trực
tuyến FPT AdTrue vào tháng 9/2016 từ đó dẫn đến sự chủ động và hiệu quả hơn trong
khâu quảng cáo của FPT. Các hình thức quảng cáo chủ yếu là các bảng biển, tờ rơi và
quảng cáo trên mạng. Các hình thức quảng cáo này tuy không mới mẻ tuy nhiên đem lại
hiệu quả khá cao và tương đối ổn định do những chiến lược đúng hướng. Đồng thời chi
phí quảng cáo hàng năm của FPT cũng là một con số khá hợp lý. Tuy không công bố con
số chính thức nhưng chúng ta có thể dự đoán được điều này qua mật độ và chất lượng của
những quảng cáo của FPT.
Bên cạnh đó FPT có rất nhiều chương trình khuyến mại vô cùng hấp dẫn như
những gói lắp mạng giá rẻ nếu thanh toán trước 6 tháng hoặc 12 tháng, ưu đãi về giá khi
lắp gói combo internet và truyền hình chỉ với 700 nghìn đồng, … Những chương trình
khuyến mại này đem lại hiệu quả rất cao trong việc thu hút khách hàng.
2. Tài chính kế toán
• Công tác hoạt động của bộ phận tài chính kế toán

Các nhân viên của bộ phận tài chính kế toán luôn thực hiện tốt nhiệm vụ của mình
mà không có bất kỳ hành vi thiếu trung thực hay vì lợi ích cá nhân nào bị phát hiện.
Trong năm 2016 Ban Kiểm soát cũng không ghi nhận bất cứ dấu hiệu bất thường nào làm
ảnh hưởng hay vi phạm quy định của Nhà nước cũng như của công ty trong hoạt động
của các thành viên HĐQT, BĐH cũng như các cán bộ quản lý của công ty. Ban Kiểm soát
cũng đã kết hợp chặt chẽ với Ban Giám sát tuân thủ nhằm phối kết hợp, đánh giá kết quả
các cuộc thanh, kiểm tra trong kỳ nhằm phát hiện một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất
các hành vi sai phạm của các nhân viên các bộ phận trong đó có tài chính kế toán.


Các chỉ số hoạt động cơ bản

Chỉ tiêu

2015

2016

1,27
10,91

1,26
1,00

1. Chỉ tiêu về khả năng thanh toán

Hệ số thanh toán ngắn hạn (lần)

Hệ số thanh toán nhanh (lần)
2. Chỉ tiêu về cơ cấu vốn và đảm bảo lãi vay
21



Hệ số Nợ/Tổng tài sản

Hệ số Nợ/Vốn chủ sở hữu

Hệ số Nợ thuần/ Vốn chủ sở hữu
3. Chỉ tiêu về năng lực hoạt động

33,8%
86,5%
26,5%

33,3%
86,8%
4,3%


Vòng quay hàng tồn kho (lần)

Vòng quay khoản phải thu (lần)

Vòng quay khoản phải trả (lần)

Vòng quay tiền mặt (ngày)
4. Chỉ tiêu về khả năng sinh lời

6,6
8,9
11,8
65,2

6,6
8,3
10,6
65,2








7%
7,1%
6,1%
15,4%
24,8%
10,4%

7,3%
7,4%
6,4%
14,4%
23,8%
9,7%

Tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tư (ROCE)
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)

Bảng các chỉ số hoạt động cơ bản của tập đoàn FPT
(Theo báo cáo thường niên năm 2016 của tập đoàn FPT)
Tổng tài sản tính tới thời điểm 31/12/2016 là 29.833 tỷ đồng, tăng 14,5% so với
thời điểm 31/12/2015, chủ yếu do hoạt động kinh doanh được mở rộng khiến lợi nhuận
tăng tốt so với năm trước. Bên cạnh đó, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh tăng trưởng
rất mạnh đạt 4.312 tỷ đồng làm lượng tiền mặt và tiền gửi tăng thêm 3.336 tỷ đồng, đạt
9.443 tỷ đồng vào cuối năm, song công ty chưa kịp trả các hợp đồng vay do chưa đến hạn
nên làm tổng tài sản tăng thêm.
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong năm tăng mạnh do một số nguyên nhân.
Thứ nhất là do các khoản phải thu tăng tổng cộng 515 tỷ đồng, chủ yếu ở mảng Xuất
khẩu phần mềm (phù hợp với tốc độ tăng trưởng doanh thu của mảng này là 26% và việc
tăng tỷ trọng loại hợp đồng giá cố định nên khoản phải thu theo tiến độ hợp đồng cuối
năm tăng mạnh so với thời điểm cuối năm trước). Thứ hai, hàng tồn kho giảm 714 tỷ
đồng, chủ yếu trong lĩnh vực phân phối (giảm tồn kho liên quan tới hai dòng sản phẩm
iPhone và Lumia) và lĩnh vực dịch vụ viễn thông (dự án quang hóa đã được hoàn thành
phần lớn nên vật tư tồn kho còn lại ít). Thứ ba, các khoản phải trả tăng mạnh, chủ yếu ở

22


lĩnh vực Bán lẻ do tăng quy mô cửa hàng và tại một số lĩnh vực kinh doanh khác do thỏa
thuận được thời gian thanh toán tốt hơn.
Ngược lại với bức tranh trên của toàn cầu hóa, với những khó khăn đến từ vĩ mô,
từ chính sách của hãng nên kết quả kinh doanh từ thị trường trong nước có sự suy giảm
khi doanh thu và LNTT giảm lần lượt 2,0% và 4,7%. Về số dư trích lập dự phòng phải
thu ngắn hạn khó đòi, số dư tại thời điểm 31/12/2016 bao gồm số dư chủ yếu tại lĩnh vực
Dịch vụ viễn thông (căn cứ trên tỷ lệ cước viễn thông của khách hàng rời mạng không có
khả năng thu hồi).
Với đặc thù kinh doanh viễn thông, khoản trích lập dự phòng hàng năm được coi
là một tỷ lệ thất thoát trong hoạt động. Khác với các năm trước, tại thời điểm cuối năm,
Công ty đã bù trừ số dư phải thu của các khách hàng đã rời mạng các năm trước đây
không có khả năng thu hồi với số dư đã trích lập dự phòng nên số dư trích lập dự phòng
lĩnh vực Dịch vụ viễn thông cuối năm giảm 171 tỷ đồng. Ngoài ra, lĩnh vực Dịch vụ viễn
thông cũng trích thêm 40 tỷ đồng liên quan tới các thuê bao mới, phản ánh đúng tình hình
kinh doanh khi doanh thu của lĩnh vực này tăng mạnh. Biến động số dư ở lĩnh vực dịch
vụ viễn thông như phân tích trên đây là nguyên nhân chính khiến số dư trích lập dự
phòng phải thu ngắn hạn khó đòi hợp nhất tại thời điểm 31/12/2016 giảm 139,5 tỷ đồng
so với cùng kỳ năm trước, còn 142,7 tỷ đồng.
Tại thời điểm 31/12/2016, tổng các khoản vay phải trả lãi tăng từ 8.806 tỷ đồng
lên 9.939 tỷ đồng (tăng 1.133 tỷ đồng), trong đó vay ngắn hạn tăng 1.015 tỷ đồng và vay
dài hạn tăng 118 tỷ đồng. Tuy vậy, số dư tiền mặt tại thời điểm 31/12/2016 cũng tăng
3.336 tỷ đồng nên nợ thuần (tổng nợ phải trả lãi trừ đi tiền mặt) chỉ còn 497 tỷ đồng,
giảm 2.202 tỷ đồng so với thời điểm cuối năm 2015. Hệ số đòn bẩy nợ thuần/vốn chủ sở
hữu chỉ còn 4,3%, thấp hơn thời điểm 31/12/2015 (ở mức 26,5%, như bảng Các chỉ số
hoạt động cơ bản ở trên). Chỉ số này thấp ở mức đáng báo động là một điểm yếu chí
mạng với FPT. Hệ số đòn bẩy nợ thuần/vốn chủ sở hữu cần được duy trì ở một mức nhất
định và không nhỏ hơn 20%, nhằm cân đối nhuần vốn của doanh nghiệp. Với hệ số chỉ
đạt 4,3% cho thấy doanh nghiệp sử dụng quá nhiều vốn chủ sở hữu điều nay khiến doanh
23


nghiệp gặp rất nhiều rủi ro tài chính đồng thời không tận dụng được lá chắn thuế hiệu
quả.
3. Sản xuất, tác nghiệp

FPT Telecom cũng đi đầu phát triển theo xu hướng công nghệ viễn thông mới
nhất, từ ADSL đến FTTH, NGN đến MetroE, từ Wifi đến thử nghiệm LTE (4G), xây
dựng các Trung tâm tâm dữ liệu (Data Center) đạt chuẩn Tier III... nhằm đảm bảo hiệu
quả, tốc độ cao nhất cho hệ thống server, máy chủ của khách hàng đặt tại Data Center của
FPT Telecom.
FPT rất chú trọng về dịch vụ hỗ trợ dành cho khách hàng. Về chính sách về lắp đặt
dịch vụ và thiết bị, FPT cam kết thời gian dự kiến lắp đặt dịch vụ với trường hợp khu vực
đã có sẵn hạ tầng của FPT: trong vòng 5 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng. Thời gian
cung cấp này có thể nhanh hơn hoặc chậm hơn tùy thuộc vào tình hình thực tế khách
quan khi lắp đặt. FPT luôn nỗ lực cung cấp dịch vụ trong thời gian sớm nhất.


Đối với dịch vụ Internet: hướng dẫn khách hàng sử dụng trực tiếp dịch vụ; cài đặt

và hướng dẫn khách hàng sử dụng ứng dụng HiFPT trên điện thoại thông minh.
• Đối với dịch vụ Truyền hình trả tiền: hướng dẫn khách hàng sử dụng trực tiếp
dịch vụ; tài liệu hướng dẫn sử dụng trên ứng dụng của HD box; cài đặt và hướng
dẫn khách hàng sử dụng ứng dụng HiFPT trên điện thoại thông minh.
FPT Telecom cung cấp dịch vụ hỗ trợ miễn phí và cam kết khắc phục sự cố 24/7
qua email và qua tổng đài.
Quản lý chất lượng dịch vụ: Hiện nay, FPT Telecom đang cung cấp các sản phẩm,
dịch vụ chính bao gồm:


Dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất sử dụng công nghệ xDSL
(dịch vụ truy nhập Interent xDSL), và Dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố
định mặt đất sử dụng công nghệ FTTH/xPON (dịch vụ truy nhập Interent cáp

quang)
• Dịch vụ viễn thông cố định mặt đất – dịch vụ điện thoại
• Dịch vụ đăng ký tên miền, Email, lưu trữ, thuê máy chủ, thuê chỗ đặt máy chủ
24





Các dịch vụ giá trị gia tăng trên Internet: Truyền hình trả tiền (IPTV)
Dịch vụ truy nhập Internet dùng riêng

Những thông tin phản hồi và khiếu nại của khách hàng sẽ được gửi về trụ sở của FPT tại
các tỉnh thành và được hỗ trợ xử lý kịp thời.
Năm 2016, Chi phí bán hàng hết 594 tỷ đồng, tăng 64 tỷ đồng. Chi phí quản lý



doanh nghiệp tăng 240 tỷ đồng, lên 1.335 tỷ đồng.
• Tiên phong trong quá trình chuyển đổi IPv6 của Việt Nam. Theo thống kê của
Akamai tính đến ngày 25/10/2016, FPT Telecom hiện đang đứng thứ 47 trên thế
giưới về triển khia IPv6 và xếp thứ 2 tại Việt Nam sau VNNIC
• Mở rộng 2 trung tâm dữ liệu lớn (Data Center) đạt chuẩn Tier III tại Hà Nội và
TP.HCM. Đây là hệ thống tiêu chuẩn đánh giá uy tín nhất dành cho việc xây dựng,
vận hành, quản lý và sự ổn định về dịch vụ của Trung tâm dữ liệu trên thế giới
• Dung lượng băng thông quốc tế 700 Gbps
• Ra mắt phiên bản tiếng Anh của báo điện tử VnExpress.net góp phần mở rộng thị
trường quảng cáo bên ngoài Việt Nam
• Hệ số nợ/VCSH là 86.8% tăng so với 2015 (86.5%)
Trên cơ sở hoàn thành quang hóa hạ tầng viễn thông tại 12 tỉnh, thành lớn, FPT
Telecom đã có những bước tiến trong việc cung cấp dịch vụ truy cập Internet, dịch vụ
truyền hình trả tiền (THTT). Trong đó, lĩnh vực THTT đã đem đến cho khách hàng một
trải nghiệm mới lạ.
4. Nhân sự


Số lượng, chất lượng lao động của FPT

Kết thúc năm 2016, tổng số nhân lực FPT đạt 28.397 cán bộ nhân viên (CBNV), tăng
5,9% so với năm 2015. Cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực tiếp tục duy trì sự ổn định
với tỷ lệ lao động có trình độ đại học và trên đại học chiếm tỷ trọng 64,2% (tăng 4,8% so
với năm 2016), tương đương 18.237 người; tổng số kỹ sư, lập trình viên, chuyên gia công
nghệ đạt 12.219(*) người, tăng 12%, chiếm 43% tổng nhân lực của Tập đoàn.
Tổng chi phí chi cho các hoạt động đào tạo của Công ty đạt 38,4 tỷ đồng với 223.399
lượt CBNV được đào tạo.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×