Tải bản đầy đủ

Phát triển kinh tế trang trại tại việt nam

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
----------

BÀI TẬP LỚN
Quản trị kinh doanh nông nghiệp
Đề tài: Đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp để phát triển
kinh tế trang trại tại Việt Nam hiện nay

Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Ngọc
Mã sinh viên

: 11143180

Lớp tín chỉ

: QTKDNN_2

Hà Nội, Tháng 4 - 2017

1



Mở đầu
Nước ta là nước nông nghiệp, nhờ nông nghiệp xây dựng nền tảng bền vững
cho sự phát triển của đất nước. Vị trí của nông nghiệp và kinh tế nông thôn trong chính
sách phát triển kinh tế xã hội rất quan trọng, nhằm đảm bảo an ninh lương thựcc góp
phần ổn định kinh tế xã hội, phát huy tiềm năng đất đai trong nông nghiệp ngày càng
hiệu quả hơn. Chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước luôn coi trọng và tạo điều
kiện cho các hình thức kinh tế mới ở nông thôn.
Sau khi thực thi hàng loạt những chính sách, cơ chế quản lý trong nông nghiệp,
kinh tế nông thôn, nền nông nghiệp nước ta đã có những thay đổi, phát triển đáng kể,
đảm bảo nhu cầu lương thực, cơ sở hạ tầng ở nông thôn đã và đang được nâng cấp xây
mới, việc trồng rừng, bảo vệ rừng, khai thác đánh bắt thuỷ hải sản đã được đầu tư chú
ý đúng mức, các chương trình xoá đối giảm nghèo, tạo việc làm cho người lao động…
tạo đà phát triển cho nông nghiệp nông thôn, đáp ứng các nguyện vọng của đông đảo
bà con nông dân.
Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn những vấn đề còn tồn tại, những khó khăn chưa
được giải quyết. Nhìn chung, trong nông nghiệp, năng suất lao động còn thấp do trình
độ cơ hoá công nghệ còn yếu kém, bình quân đất đai nông nghiệp thực tế canh tác
ngày càng giảm, đất hoang nhiều, chưa được sử dụng hợp lý, lãng phí…
Sự xuất hiện của mô hình kinh tế trang trại tạo ra sự phát triển trong nông
nghiệp, tạo được giá trị hàng hoá cao vượt trội so với kinh tế hộ nông dân.

2


I.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI NÔNG NGHIỆP
1. Khái niệm và bản chất kinh tế trang trại
1.1. Khái niệm kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá chủ yếu trong nông

nghiệp nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao
hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng
gắn với sản xuất chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản.
1.2.

Bản chất kinh tế trang trại


Kinh tế trang trại xuất phát từ kinh tế hộ gia đình nói chung, hộ nông dân chỉ là
một trong những hộ làm trang trại.
Quy mô sản xuất của trang trại lớn hơn quy mô sản xuất của hộ nông dân. Kinh
tế trang trại không hạn chế về số lượng. Như vậy về cơ bản kinh tế trang trại vừa là
kinh tế nông hộ vừa là kinh tế doanh nghiệp, vì vậy trang trại không tổ chức sản xuất
như nông hộ nhưng không hoàn toàn tổ chức sản xuất như doanh nghiệp, trang trại có
những cơ sở khách quan và nội dung mang tính chất đặc thù của trang trại.
2. Các đặc trưng của kinh tế trang trại

Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá với
quy mô lớn.
Mức độ tập trung hóa và chuyên môn hóa các điều kiện và yếu tố sản xuất cao
hơn hẳn vượt trội so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như: đất đai
đầu con và gia súc, lao động giá trị nông sản, thủy sản hàng hóa. Chủ trang trại có kiến
thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật,
tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất sử dụng lao động gia đình và thuê
lao động bên ngoài, sản xuất hiệu quả cao có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ.
3. Vai trò của kinh tế trang trại

Trang trại là đơn vị cơ sở sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình nông dân, được
hình thành và phát triển từ khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dần thay thế
phương thức sản xuất phong kiến ngày nay. Phát triển kinh tế trang trại là bước đi tất
yếu phổ biến của tất cả các nền sản xuất nông nghiệp trên thế giới. Ở Việt Nam phong
3


trào phát triển trang trại đã và đang được đẩy mạnh tại tất cả các địa phương trong toàn
quốc. Vấn đề đặt ra là cần định hướng phát triển trang trại theo hướng nào quy mô lớn
hay nhỏ, sản xuất chuyên canh hay đa canh. Dựa trên ý nghĩa phát triển kinh tế trang
trại tại các nước trên thế giới để đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam trong quá trình phát
triển một mình nông nghiệp bền vững. Ở nước ta kinh tế trang trại mặc dù mới phát
triển trong những năm gần đây trong vai trò tích cực và quan trọng của nền kinh tế
trang trại đã thể hiện khá rõ nét cả về mặt kinh tế cũng như mặt môi trường và xã hội.
-

Về kinh tế, các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế phát triển các loại
cây trồng, vật nuôi có giá trị cao, khắc phục dần tình trạng phân tán, tạo nên
những vùng chuyên môn hóa cao. Mặt khác qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt công nghiệp chế
biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn. Thực tế cho thấy việc phát triển kinh tế
trang trại ở những nơi có điều kiện bao giờ cũng đi liền với việc khai thác và sử
dụng một cách đầy đủ và hiệu quả các loại nguồn lực trong nông nghiệp nông thôn
so với kinh tế nông hộ. Do vậy, phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực hoạt

-

động để tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Về mặt xã hội, phát triển kinh tế trang trại góp phần làm tăng số hộ giàu trong
nông thôn, tạo thêm việc làm, tăng thêm thu nhập cho lao động. Điều này rất có ý
nghĩa trong giải quyết vấn đề lao động và việc làm, một trong những vấn đề bức
xúc của nông nghiệp nông thôn nước ta hiện nay. Mặt khác, phát triển kinh tế
trang trại còn góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn và tạo
tấm gương cho các hộ nông dân về cách tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh…
Do đó phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề

-

xã hội và đổi mới bộ mặt xã hội nông thôn nước ta.
Về mặt môi trường: do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết thực và lâu
dài của mình mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm
bảo vệ các yếu tố môi trường, trước hết và trong phạm vi không gian sinh thái
trang trại và sau nữa là trong phạm vi từng vùng. Các trang trại ở trung du miền
núi đã góp phần quan trọng vào việc trồng rừng và bảo vệ rừng, phủ xanh đất
trống đồi trọc và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai - những việc làm này góp
phần tích cực cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái trên các vùng đất nước.
4


4. Phân loại kinh tế trang trại

Dựa vào mục đích sản xuất của trang trại mà ta có thể phân loại kinh tế các trang trại
thành những dạng sau:
-

Trang trại trồng trọt: trang trại trồng cây hàng năm, trang trại trồng cây lâu năm,

-

trang trại lâm nghiệp
Trang trại chăn nuôi: trang trại chăn nuôi gia súc trâu bò, chăn nuôi gia súc lợn dê,
chăn nuôi gia cầm gà vịt ngan, trang trại nuôi trồng thủy sản.

II.

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI
TRONG NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY.

5


1.

Tình hình chung về phát triển kinh tế trang trại ở nước ta.

Kinh tế trang trại là một bước phát triển mới của kinh tế hộ gắn với mục tiêu sản
xuất hàng hoá quy mô lớn, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế
nông nghiệp và nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng sản xuất hàng hoá, tạo ra
các vùng sản xuất tập trung làm tiền đề cho công nghiệp chế biến nông lâm sản, đưa
công nghiệp và các ngành nghề dịch vụ vào nông thôn, tăng tốc độ phủ xanh đất trống,
đồi núi trọc, cải thiện môi trường sinh thái.
Tính đến cuối năm 2016, cả nước có khoảng 33.488 trang trại, tăng 13.460 trang
trại (67,2%) so với năm 2011. Số liệu điều tra do Tổng cục Thống kê thực hiện năm
2016 công bố kết quả sơ bộ cho thấy, từ năm 2011-2016, bình quân mỗi năm số trang
trại của cả nước tăng trên 13%. Trong đó, vùng đồng bằng sông Hồng trang trại phát
triển mạnh nhất (tăng 6.435 trang trại), chiếm gần một nửa số trang trại tăng thêm
trong vòng 5 năm qua của cả nước.
Số trang trại của cả nước tăng tập trung chủ yếu ở loại hình trang trại chăn nuôi,
tăng 14.521 trang trại (gấp 3,3 lần) so với năm 2011. Trong vòng 5 năm vừa qua, bình
quân mỗi năm số trang trại chăn nuôi phát triển tăng trên 45%. Trong khi đó, số lượng
trang trại thủy sản lại giảm mạnh, giảm 2.172 trang trại (48%) so với năm 2011, trung
bình giảm gần 10% mỗi năm.
Trong tổng số trang trại trên cả nước, hiện có khoảng 9.216 trang trại trồng trọt
(chiếm 27,5%), 20.869 trang trại chăn nuôi (chiếm 62,4%), 112 trang trại lâm nghiệp
(chiếm 0,3%), 2.350 trang trại nuôi trồng thủy sản (chiếm 7%), 941 trang trại tổng hợp
(chiếm 2,8%).
(Theo bài “kinh tế trang trại phát triển nhanh” báo Bộ công thương ra ngày
3/1/2017)

6


2. Kinh tế trang trại khai thác nước, đất trồng

Các trang trại đã sử dụng tổng cộng 187.000ha đất sản xuất nông, lâm nghiệp và
thủy sản, tăng 35.900 ha so với năm 2011. Trong đó, có 60.000 ha đất trồng cây hàng
năm; 79.500 ha đất trồng cây lâu năm; 17.600 ha đất lâm nghiệp và 29.800 ha đất nuôi
trồng thủy sản. Mức bình quân đất đai sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của 1
trang trại trên cả nước sử dụng là 5,6 ha/trang trại.
(Theo bài “kinh tế trang trại phát triển nhanh” báo Bộ công thương ra ngày
3/1/2017)
Kinh tế trang trại phát triển đã góp phần khai thác thêm diện tích lớn đất trống, đồi
núi trọc, diện tích còn hoang hoá (khoảng 20-30 vạn ha) đưa vào sản xuất nông, lâm,
ngư nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, nhất là ở các vùng trung du, miền núi và
ven biển.
3. Thu hút vốn, tạo việc làm

Kinh tế trang trại huy động lượng vốn đầu tư khá lớn trong dân (có thể tới 20.000
tỷ đồng) để đầu tư cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Nhiều trang trại đã
tự hợp tác, liên doanh với các doanh nghiệp có vốn đầu tư đẩy mạnh xây dựng chuồng
trại đồng bộ, khép kín; áp dụng quy trình công nghệ sản xuất tiên tiến theo hướng công
nghiệp và bán công nghiệp để phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa lớn và tăng
sức cạnh tranh sản phẩm trên thị trường.
Đồng thời, kinh tế trang trại cũng giải quyết việc làm thường xuyên cho 134.700
lao động năm 2016, tăng 40.000 lao động (42,4%) so với năm 2011. Trong đó, lao
động của hộ chủ trang trại là 75.800 người, chiếm 56,3% tổng số lao động, còn lại là
lao động do chủ trang trại thuê mướn thường xuyên. Bình quân 1 trang trại sử dụng
khoảng 4 lao động thường xuyên. Số lượng lao động bình quân của 1 trang trại sử
dụng vào thời điểm năm 2016 giảm so với năm 2011 (năm 2011 là 4,7 lao động) do
các trang trại đã áp dụng khoa học kỹ thuật, đưa máy móc thiết bị kỹ thuật vào phục vụ
các khâu trong sản xuất. Bên cạnh đó, do các trang trại phát triển có sự chuyển đổi loại

7


hình khá rõ nét gia tăng trang trại chăn nuôi, một loại hình sử dụng ít lao động hơn các
loại hình trang trại khác như trồng trọt, nuôi trồng thủy sản… nên mức bình quân sử
dụng lao động của một trang trại giảm.
Loại hình kinh tế trang trại phát triển nhanh đã góp phần tạo ra nhiều giá trị sản
phẩm hàng hóa nông, lâm nghiệp và thủy sản. Tổng cục Thống kê cho biết, tổng thu từ
sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của các trang trại trong năm 2016 ước đạt
93.098 tỷ đồng, tăng 54.007 tỷ đồng (138,2%) so với giá trị đạt được cách đây 5 năm
(2011). Tính bình quân 1 trang trại có thu nhập đạt 2.780 triệu đồng, tăng 828 triệu
đồng (tăng 42,4%) so với cách đây 5 năm.
(Theo bài “kinh tế trang trại phát triển nhanh” báo Bộ công thương ra ngày
3/1/2017)
Trong quá trình tổ chức sản xuất cho thấy một số trang trại thực hiện tích tụ ruộng
đất nên quy mô diện tích lớn, đặc biệt có trang trại có tới trên 100 ha. Nhiều trang trại
đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất như sản xuất an toàn, sản xuất sạch, công
nghệ cao, nên tạo ra năng suất và chất lượng cao và hiệu quả kinh tế. Theo báo cáo của
các địa phương, thu nhập bình quân của trang trại đạt 02 tỷ đồng/năm, đã tạo thêm
công ăn việc làm cho lao động ở địa phương, mỗi trang trại bình quân giải quyết được
khoảng 8 lao động, có nhiều trang trại thu hút được hàng trăm lao động.
Có thể khẳng định kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến của kinh
tế hộ, mang lại hiệu quả cao cho sản xuất nông nghiệp do đó cần có chính sách phát
triển.
4. Những tồn tại trong kinh tế trang trại tại Việt Nam hiện nay
a. Về quy mô và số lượng: Số lượng trang trại hiện nay tăng chậm và phân bố không

đều giữa các vùng trong cả nước. Khu vực Trung du miền núi phía Bắc là nơi có
diện tích đất đai rộng nhưng số lượng trang trại ít, trong khi đó khu vực Đồng bằng
Sông Cửu Long, Đông Nam Bộ lại tập trung nhiều trang trại thì quy mô diện tích
lại thấp, việc phân bố này cũng không đồng đều ở các vùng và các lĩnh vực.

8


b. Về giá trị sản xuất: Mặc dù giá trị sản xuất hàng hóa bình quân một trang trại tương

đối lớn (trung bình 02tỷ đồng/trang trại) nhưng số có thu nhập cao chỉ tập trung ở
một số loại hình trang trại chăn nuôi, thủy sản còn các loại hình trang trại trồng
trọt, lâm nghiệp, kinh doanh tổng hợp giá trị sản xuất thấp, do chất lượng sản phẩm
chưa cao, sản phẩm bán ra chủ yếu dưới dạng thô hoặc tươi sống, chưa qua chế
biến nên giá bán thấp, sức cạnh tranh yếu, nhiều chủ trang trại chưa nắm bắt được
nhu cầu thị trường nên sản xuất thụ động.
c.

Về khoa học công nghệ: Số lượng trang trại ứng dụng công nghệ cao trong sản
xuất, chế biến bảo quản còn hạn chế mới chỉ tập trung ở một số lĩnh vực và khu
vực nhất định. Nhiều chủ trang trại vẫn áp dụng phương pháp sản xuất truyền
thống, chưa chú ý tới việc áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào quá trình sản
xuất cũng như tìm hiểu thị trường đầu ra cho sản phẩm, dẫn đến năng suất, chất
lượng sản phẩm làm ra chưa cao, sản phẩm làm ra có lúc khó tiêu thụ…

d. Trình độ quản lý và sản xuất của các chủ trang trại: Chủ trang trại chủ yếu là nông

dân, không được đào tạo chuyên môn về quản lý, kỹ thuật nên khả năng quản lý
sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, liên kết tiêu thụ nông sản còn nhiều
hạn chế, chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm thực tế. Lực lượng lao động của các trang
trại chưa được đào tạo nghề cơ bản lao động chưa được đào tạo nghề, tập huấn
nghiệp vụ chuyên môn. kinh tế trang trại chủ yếu vẫn là trang trại hộ gia đình nông
dân và gia đình cán bộ, công nhân viên đã nghỉ hưu Sự tham gia của các thành
phần kinh tế, nhất là thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chưa nhiều
e. Việc cơ giới hóa trong nông nghiệp chưa được trú trọng do trang trại chủ yếu quy

mô nhỏ, dẫn đến sử dụng nhiều lao động, hiệu quả thấp. Hầu hết các trang trại có
quy mô diện tích dưới mức hạn điền, có nguồn gốc đa dạng, đã gây không ít những
bất cập trong việc quản lý, sử dụng diện tích đất để phát triển kinh tế trang trại
f. Lao động: Các trang trại chủ yếu sử dụng lao động của gia đình; một số trang trại

có thuê lao động thời vụ và lao động thường xuyên, tiền công lao động chỉ được

9


thực hiện theo hình thức thoả thuận giữa hai bên, chưa thực sự tạo sự ổn định về
giải quyết việc làm.
g. Hầu hết vốn đầu tư là vốn tự có và vốn vay của cộng đồng. Vốn vay của các tổ

chức tín dụng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ.
h. Nhiều địa phương có kinh tế trang trại chưa làm tốt công tác quy hoạch sản xuất,

hệ thống thuỷ lợi, điện, thị trường… làm cho không ít trang trại gặp khó khăn trong
quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Đã có nhiều trường hợp người dân nuôi bò
sữa phải đổ bỏ hàng trăm tấn sữa tươi do không tiêu thụ được.

10


III.

GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI VIỆT
NAM HIỆN NAY
Nhằm khắc phục những vấn đề đang còn tồn tại trong kinh tế trang trại tại Việt

Nam hiện nay, sau đây là những đề xuất giải pháp để phát triển kinh tế trang trại:
1. Giải pháp về đất đai

Tiến hành giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
diện tích đất chưa được cấp. Các địa phương rà soát lại các trang trại hiện có, xúc tiến
nhanh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ trang trại chưa được
cấp giấy chứng nhận theo chính sách đất đai nêu trong Nghị quyết của Chính phủ và
hướng dẫn của Tổng cục Địa chính.
2. Giải pháp về vốn

Các cơ quan chức năng cần hỗ trợ hành lang pháp lý cho việc tích tụ ruộng đất
cũng như tạo điều kiện giúp người dân mở rộng quy mô, diện tích trang trại. Đồng thời
triển khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tạo thuận lợi cho các chủ trang trại
tiếp cận vốn vay đầu tư trực tiếp từ các chương trình của Nhà nước, Ngân hàng Chính
sách xã hội với lãi suất, thời hạn vay phù hợp, bảo đảm cho chiến lược đầu tư sản xuất
lâu dài. Tạo điều kiện cho các chủ trang trại được tiếp cận nhiều nguồn vốn tín dụng,
11


nhất là với các nguồn vốn tín dụng ưu đãi. Thủ tục vay vốn đơn giản, hợp lý, có sự ưu
tiên, có thể tín chấp bằng công trình đầu tư trên đất.
3. Giải pháp về khoa học công nghệ

Trang trại là nơi sản xuất nông sản hàng hoá nên phải có khả năng cạnh tranh
cao. Muốn thực hiện được mục tiêu đó, phải nâng cao trình độ ứng dụng khoa học
công nghệ.
Đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi đầu mối kênh trục chính kết hợp với
vốn của trang trại đào ao, đắp đập, xây dựng các công trình thuỷ lợi nhỏ, ứng dụng các
phương pháp tưới tiêu khoa học, tiết kiệm nước. Đầu tư xây dựng các cơ sở ươm, nhân
giống cây trồng, vật nuôi, cây giống lâm nghiệp. Hỗ trợ các trang trại áp dụng các tiến
bộ kỹ thuật về bảo quản sản phẩm: áp dụng công nghệ chế biến tiên tiến có quy mô
vừa và nhỏ; sử dụng máy móc phù hợp để làm đất, vận chuyển, bơm nước…
Tổ chức tốt công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư để hỗ trợ các trang
trại áp dụng nhanh các tiến bộ khoa học vào sản xuất. Đồng thời khuyến khích các chủ
trang trại tham gia chuyển giao tiến bộ kỹ thuật tới hộ nông dân trong vùng. Các viện
và trung tâm nghiên cứu khoa học theo dõi sát nhu cầu của trang trại, liên kết với các
trang trại để xác định các mô hình chuyển giao kỹ thuật mới cho nông dân.
Tăng cường công tác kiểm tra chất lượng giống cây trồng, vật nuôi, vật tư nông
nghiệp, xử lý kịp thời những trường hợp buôn bán hàng giả, hàng chất lượng xấu, để
giúp nông dân và các chủ trang trại phát triển sản xuất có hiệu quả, hạn chế rủi ro.
4. Giải pháp về lao động và nguồn nhân lực

Số chủ trang trại có trình độ chuyên môn mới chiếm khoảng 32%, do đó việc
đào tạo, nâng cao năng lực quản lý cho các chủ trang trại đặt ra rất cấp bách. Trước
mắt, thông qua tổng kết, tổ chức tham quan các trang trại quản lý kinh doanh giỏi để
học tập lẫn nhau và tổ chức bồi dưỡng những kiến thức về khoa học và quản lý. Về lâu
dài, tổ chức các khoá đào tạo chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ quản lý cho các chủ
trang trại.
5. Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đối với kinh tế trang trại

12


Để trang trại phát triển tạo ra khối lượng hàng hoá lớn, hình thành các vùng sản
xuất tập trung, tạo ra khả năng cạnh tranh mới, khắc phục tình trạng trang trại phát
triển tự phát. Các tỉnh thành phố cần rà soát lại quy hoạch phát triển sản xuất nông,
lâm, ngư nghiệp, xác định các vùng phát triển trang trại; công bố quỹ đất có thể giao
hoặc cho thuê để phát triển trang trại, chủ yếu là các vùng đất trống, đồi núi trọc, đất
còn hoang hoá, ao hồ, đầm, bãi bồi ven sông, ven biển…Hướng trong 5-10 năm tới,
khai thác đưa vào sử dụng trong nông nghiệp khoảng 1 triệu ha, trồng và khoanh nuôi
tái sinh 2 triệu ha rừng sản xuất.
Xác định phương hướng phát triển các loại cây trồng, vật nuôi phù hợp với lợi
thế đất đai, khí hậu của mỗi vùng và có tính đến khả năng tiêu thụ sản phẩm.
Quy hoạch kết cấu hạ tầng, nhất là hệ thống thuỷ lợi, giao thông, hệ thống cung
cấp điện, nước, cơ sở công nghiệp chế biến, cơ sở sản xuất, cung ứng giống cây, con,
vv…đảm bảo đáp ứng tốt các yêu cầu phát triển sản xuất của trang trại.
Hướng dẫn các cơ sở công nghiệp chế biến hợp đồng cung ứng vật tư và tiêu
thụ nông, lâm sản hàng hoá với các chủ trang trại và hộ nông dân. Tuyên truyền,
hướng dẫn và giúp đỡ các trang trại, thực hiện liên kết giữa các trang trại với các
doanh nghiệp Nhà nước để phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Khuyến
khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ trang trại có khả năng tham gia xuất khẩu
sản phẩm trực tiếp. Quy hoạch và đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn ở
các địa bàn tập trung phát triển kinh tế trang trại.
Tổ chức tốt việc cung cấp thông tin thị trường, hướng dẫn các trang trại sản
xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.
Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra đối với kinh tế trang trại, đảm bảo các
chủ trang trại thực hiện đầy đủ quy trình kỹ thuật canh tác bảo vệ và làm giàu đất, bảo
vệ môi trường; thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước theo pháp luật. Đồng thời bảo
vệ quyền lợi chính đáng của chủ trang trại về tài sản và các lợi ích khác.
Các địa phương cần rà soát lại quy hoạch phát triển kinh tế trang trại. Trên cơ
sở xác định các vùng phát triển trang trại, các địa phương cần công bố quỹ đất có thể
giao hoặc cho thuê để phát triển trang trại. Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là
13


hệ thống thuỷ lợi, giao thông, hệ thống cung cấp điện, nước, cơ sở công nghiệp chế
biến, cơ sở sản xuất, cung ứng giống cây, con… đảm bảo đáp ứng tốt các yêu cầu phát
triển sản xuất của trang trại. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm khuyến
nông, khuyến lâm, khuyến ngư để hỗ trợ, đào tạo các chủ trang trại có thêm hiểu biết
về thị trường, khoa học kỹ thuật mới cũng như nâng cao trình độ quản lý. Tiếp tục thực
hiện các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với phát triển kinh tế trang trại về vốn,
thực hiện miễn thuế thu nhập với các trang trại mà Nhà nước khuyến khích đầu tư và
khai thác phù hợp với tình hình mới. Tạo điều kiện để các trang trại tích cực tham gia
vào loại hình bảo hiểm nông nghiệp để góp phần giảm thiểu rủi ro do thiên tai, dịch
bệnh gây ra, sớm khôi phục sản xuất. Đồng thời, tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra
đối với kinh tế trang trại, đảm bảo các chủ trang trại thực hiện đầy đủ công tác bảo vệ
môi trường, tạo ra những sản phẩm nông nghiệp sạch, đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn
thực phẩm, có giá trị kinh tế cao để nâng cao sức cạnh tranh cả ở trong và ngoài
nước...

6. Hình thành, phát triển quan hệ hợp tác giữa các trang trại

Tạo ra những sản phẩm nông nghiệp sạch, an toàn lương thực, thực phẩm đạt
tiêu chuẩn để chủ động hội nhập.
Cần phải tổ chức liên kết hợp tác thích hợp, đó là câu lạc bộ trang trại để cùng
nhau học tập, trao đổi, giúp đỡ nhau về khoa học, công nghệ, về kinh nghiệm sản xuất,
quản lý, thông tin thị trường, giá cả…kịp thời, hiệu quả. Phải xây dựng quy trình sản
xuất từ khâu giống đến chăm sóc, thu hoạch, chế biến, bảo quản tạo ra nông sản, thực
phẩm sạch, an toàn lương thực, thực phẩm đạt tiêu chuẩn VietGAP để sản phẩm của ta
có thể cạnh tranh và tiêu thụ cả ở trong nước và nước ngoài, cũng chính là chúng ta
chủ động bước vào hội nhập.

14


Kết luận
Việc phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai,
vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững; tạo
việc làm, tăng thu nhập; khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo; phân
bổ lại lao động, dân cư, xây dựng nông thôn mới.
Thông qua phát triển kinh tế trang trại đã góp phần quan trọng trong quá trình
chuyển dịch, tích tụ ruộng đất gắn liền với quá trình phân công lại lao động ở nông
thôn, từng bước chuyển dịch lao động nông nghiệp sang làm các ngành phi nông
nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá trong nông nghiệp và nông thôn.
Việc hình thành nhiều mô hình trang trại đã góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư,
khai thác và sử dụng đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá, ao, hồ, đầm, bãi bồi ven
sông… để sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng chuyên canh với tỷ suất hàng
hoá cao. Đồng thời, việc hình thành nhiều mô hình trang trại cũng đã góp phần nâng
cao hiệu quả mô hình trang trại sử dụng ít đất, sử dụng nhiều lao động, có tính thâm
canh cao gắn với chế biến, thương mại và dịch vụ, làm ra hàng hoá nông sản có giá trị
kinh tế lớn.

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×