Tải bản đầy đủ

Đề kháng cho văn học

TỪ CHỨC NĂNG GIẢI TRÍ ĐẾN “ĐỀ KHÁNG” VĂN HỌC
Nguyễn Nhật Huy

Trong những năm gần đây, thị trường sách nước ta bị tấn công “ồ
ạt” bởi văn chương ngôn tình Trung Quốc. Lứa tuổi “tiêu thụ” loại sách
này lại chủ yếu là thanh thiếu niên - độ tuổi đông đảo nhất của dân số Việt
Nam hiện nay. Trước sự lan tràn của sách ngôn tình, nhiều cơ quan báo đài
đã lên tiếng báo động: “Những câu chuyện đẫm nước mắt trong các tác
phẩm ngôn tình từ Trung Quốc tràn vào nước ta, khiến một bộ phận giới
trẻ tốn thời gian, tiền bạc, mơ mộng hão huyền, lãng quên cuộc sống hiện
tại...” [2]. Nhưng nếu nhìn một cách lâu dài hơn thì có lẽ tự thân văn học
Việt Nam phải tạo ra sức đề kháng để có thể tồn tại. Sức đề kháng này có lẽ
nằm chính ở mảng văn học giải trí.
Có thể nói, chức năng giải trí của văn học Việt Nam bị đối xử khá bất
công trong lịch sử. Từ thời Trung đại, văn chương vốn được xem là phải “tải
đạo”, “quán đạo”… tức là văn học chủ yếu để giáo dục, nhận thức chứ không
mấy ai nhắc đên tiêu khiển. Chỉ một số ít nhà văn, nhà thơ có đả động qua nó:
“Lời quê chắp nhặt dông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh”
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Tính giải trí chủ yếu tồn tại trong dân gian như “Trang Quỳnh”, “Trạng

Lợn”… nhưng dòng văn học này luôn bị xem là thứ không chính thống.
Sang đầu thế ki XX, thị trường sách Việt Nam cũng nổi lên một số cây
bút quan tâm đến việc đáp ứng nhu cầu giải trí của bạn đọc. Văn học giai đoạn


này khá phong phú với các thể loại truyện đường rừng của Lan Khai, truyện
thiếu nhi của Tô Hoài…
Từ năm 1945 đên 1975, trong hoàn cảnh chiến tranh, mảng văn học giải
trí Việt Nam gần như biến mất ở miền Bắc là điều dễ hiểu, nhưng cho đến tận
hôm nay, văn học giải trí nước ta vẫn không sao “cất cánh” lên được. Nó vẫn “ì
ạch” để rồi bị truyện giả tưởng Mỹ, manga Nhật Bản, ngôn tình Trung Quốc lấn
át… Số tác giả thành công với mảng văn học này, tức là chinh phục được thị
trường, chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Nhìn sang các lĩnh vực nghệ thuật khác
như hội họa, điện ảnh, âm nhạc… chúng ta cũng có thể thấy tình trạng tương tự.
Phải chăng người Việt nghiêm túc quá mà không cần nhu cầu giải trí?
Nếu làm một khảo sát đơn giản ở thế hệ trẻ hiện nay, chúng ta có thể dự
đoán họ rất ít biết đến các nhà văn đương đại ở Việt Nam nhưng lại thuộc tên rất
nhiều tập truyện ngôn tình Trung Quốc. Có thể thấy thị trường sách giải trí nội
thiếu trầm trọng các cây bút đáp ứng nhu cầu giải trí cho lứa tuổi này và tất yếu
họ hướng tới ngôn tình. Nhà phê bình Văn Giá (Trường ĐH Văn hóa Hà Nội)
khẳng định: “Sách ngôn tình thực chất không có tội, đó là dòng tiểu thuyết lãng
mạn, hài hước, mang tính giải trí cao, hướng tới số đông. Ngôn ngữ của tiểu
thuyết ngôn tình rất phù hợp với điện ảnh cho nên rất nhiều phim truyền hình
được chuyển thể từ tiểu thuyết ngôn tình và rất thành công. Cũng có rất nhiều
tác giả của dòng ngôn tình là những trí thức trẻ, tốt nghiệp các trường đại học
danh tiếng nhất thế giới, thông thạo đông tây kim cổ, trí tưởng tượng phong phú
và họ đã sáng tạo ra những câu chuyện tình tuyệt vời, không phải bỗng dưng mà
ngôn tình có được đời sống mạnh mẽ. Nhưng tiểu thuyết ngôn tình không có
khả năng đại diện cho bất cứ một nền văn học nào. Cho nên, nếu công chúng chỉ
biết tới nó như một giá trị duy nhất thì sẽ là mối nguy lớn làm suy kiệt đời sống
thẩm mỹ và tinh thần của xã hội” [5].


Nhưng không tìm đọc ngôn tình thì người trẻ họ khá khó khăn khi tìm cái
để thỏa mãn nhu cầu giải trí. Sau hai cuộc chiến tranh kéo dài nửa thế kỷ, con
người phải căng ra với ngôn ngữ chính trị, ngôn ngữ nhà binh thì họ rất cần
được thỏa mãn phần tự nhiên. Họ cần được cười, được đáp ứng về giấc mơ, về
những tình cảm ngọt ngào, trí tưởng tượng bay bổng… Trong khi đó, văn học
Việt Nam vẫn mang nặng tâm lí coi văn chương thị trường và chức năng giải trí
là cái gì thấp kém, dễ dãi. Chúng ta có rất ít công trình nghiên cứu hay hội thảo,

trại sáng tác đáp ứng cho sự phát triển của mảng văn học này. Giáo trình giảng
dạy ở các trường đại học ngành văn cũng chỉ nói về chức năng giải trí một cách
hời hợt. Trong khi đó, ở Nhật Bản hay Trung Quốc, họ có một nền công nghiệp
khổng lồ từ khảo sát thị trường, sáng tác, phát hành… để đáp ứng nhu cầu hết
sức chính đáng đó. Chẳng hạn như manga Nhật Bản, chúng ta cũng có thể thấy
sức mạnh to lớn của văn học giải trí như thế nào. Tại Nhật Bản, các thể loại
manga khác nhau được chia ra theo đối tượng mà chúng sẽ giúp phát triển tâm
lý tối đa như shōnen manga dành cho thanh niên chủ yếu là robot, du hành
không gian, khoa học giả tưởng, khoa học kỹ thuật... Sự hoàn thiện cá nhân, kỷ
luật thép, hy sinh vì sứ mệnh và vinh dự phục vụ xã hội, cộng đồng, gia đình và
bạn bè. Còn shojo dành cho thiếu nữ thì tập trung vào cuộc sống nội tâm của
nhân vật nữ chính với các hình ảnh vừa nhẹ nhàng vừa phức tạp và thường bỏ
qua ranh giới của các khuôn hình để tạo ra một mạch thời gian liên tục mà
không hề có sự tự sự. Thể loại Kodomo dành cho thiếu nhi mang tính giáo dục
rất cao nói về đạo đức, lẽ phải của cuộc sống, cách cư xử như những người tốt
và chu đáo...
Với con số 2,26 tỉ ấn bản mỗi năm (trung bình 17 quyển/người), chiếm
trung bình 40% tổng số ấn bản sách báo, tạp chí, Manga đem lại nguồn lợi
nhuận khổng lồ cho thị trường xuất bản ở Nhật Bản. Theo số liệu thống kê năm
2006 của The Research Institute for Publications, doanh thu từ ngành công


nghiệp xuất bản Manga là 481 tỉ yên (Trung bình mỗi người Nhật bỏ ra 3.777
yên/năm - tương đương 30USD - để mua Manga).
Thông qua các loại truyện giải trí, có thể nói một số nước như Nhật Bản,
Trung Quốc… đều thành công với việc truyền bá văn hóa của họ ra nước ngoài.
Và Việt Nam trước các làn sóng ồ ạt ấy chỉ miễn cưỡng có một vài nhà văn có
thể trụ được với thị trường sách. Thực tế, nước ta cũng đã có một số cây bút
“ôm mộng” tấn công vào mảng văn học này, trước đây có các tiểu thuyết kiếm
hiệp Việt Nam và hiện nay trên các trang mạng, chúng ta có thể thấy xuất hiện
các truyện ma, ngôn tình, trình thám Việt… Tuy vậy, hầu hết những trường hợp
đó mới chỉ dừng ở mức độ “bản sao”. Và trong thị trường sách như hiện nay,
các tác giả đó khó có thể cạnh tranh được với Tây Tầu để rồi phải “gác bút”.
Đối diện với nguy cơ xâm lấn văn hóa, đánh mất thị trường sách hiện nay,
có lẽ văn học Việt trước hết cần thay đổi cái nhìn với dòng nghệ thuật này. Văn
chương cũng như món ăn. Mỗi người một khẩu vị. Bên cạnh dòng văn chương
bác học, người đọc cũng rất cần được đáp ứng nhu cầu giải trí chính đáng. Và
chính trong lĩnh vực giải trí, chúng ta có điều kiện và cơ hội tạo nên “kháng thể”
cho văn học nước nhà. Bên cạnh việc cảnh tỉnh tư duy, xã hội cũng cần khuyến
khích các tác giả có khả năng đi sâu vào lĩnh vực này. Nếu vẫn giữ một cái nhìn
cũ và không có cơ chế thỏa đáng thì có lẽ văn học Việt Nam khó có thể cạnh
tranh với ngôn tình hay kiếm hiệp của Trung Quốc, manga Nhật Bản…Ngay cả
khi cấm xuất bản các thể loại này, với sự phát triển của công nghệ thông tin hiện
nay, người đọc cũng có thể dễ dàng tìm được nguồn khác.
Có thể nhiều người cho rằng, người Việt Nam hạn chế về trí tưởng tượng
nên dòng văn học giải trí không thể phát triển được dẫn đến tình trạng thiếu hụt
sách phải sử dụng sách dịch. Điều này cũng có thể đúng nhưng quan trọng hơn
là cái thành kiến quá nặng nề của chúng ta với nó. Chúng ta thường cho rằng,
văn học giải trí gắn liền với bạo lực và sexy, nhưng có lẽ đó là cách nhận định


của những người chưa thực sự đọc thử một lần loại sách này hoặc là đọc với
thành kiến. Như tác giả Natsume Fusanosuke khẳng định: “Mặc dù có thể do là
sự khác biệt văn hóa, những người trưởng thành chưa từng đọc hay là biết
manga có thể cảm thấy rằng, khi chỉ nhìn thấy những cảnh tượng đó, võ thuật
thật là bạo lực và cái chết của các nhân vật thật sự tàn nhẫn. Những thiếu niên,
với tư cách là độc giả, cảm thông với các nhân vật khi chúng sinh sống, phát
triển và các cảnh bảo lực đó nên được xem xét trong toàn bộ bối cảnh của cốt
truyện. Bạo lực xuất hiện ở đấy không đơn giản chỉ phục vụ cho bạo lực. Một
con người trải qua hai giai đoạn thay đổi chính. Một giai đoạn vào lúc 3 tuổi,
giai đoạn kia vào lúc trước khi trưởng thành. Một con người thay đổi bản ngã
trẻ con của mình và thoát khỏi cái vỏ bọc của mình để được tái sinh. Hình ảnh
thể hiện sự thay đổi này chính là sự tự biểu hiện bởi bạo lực. Điều tương tự có
thể được giải thích cho các biểu hiện về tình dục.” [1]
Bên cạnh nhiều cuốn sách không hay thì vẫn có những tác phẩm thỏa
mãn không những giải trí mà còn chạm được vào những cung bậc cảm xúc nhân
văn của người đọc. Và với một thị trường sách mang tính cạnh tranh như hiện
nay, để tồn tại trước sự nhập khẩu văn học, đã đến lúc chúng ta cần tự tạo nên
sức mạnh từ chính văn hóa của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, ở những người trẻ
tuổi, họ chính là nhân tố giầu sức sáng tạo. Chỉ bản thân họ mới có thể viết nên
những gì họ thực sự khao khát bằng một tâm trí mở.
Có lẽ đã đến lúc để văn học Việt Nam tháo bỏ cái nhìn một chiều để mở
cửa cho dòng văn học giải trí có thể phát triển mạnh mẽ. Tự thân nó sẽ tạo ra
sức mạnh để chống lại nguy cơ xâm lấn văn hóa. Đồng thời đây cũng là một đáp
ứng hết sức nhân văn cho con người.

TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Natsume Fusanosuke (2003), Japanese Manga: Its Expression and Popularity,
http://www.accu.or.jp
2. Mai Thi, Hạ Du, (2015) ‘Dính độc”… vì truyện ngôn tình Trung Quốc,
doisongphapluat.com.
3. Nguyễn Ngọc Thiện, (2004), Chức năng giải trí trong sáng tạo và thưởng
thức văn nghệ, vanhocviet.org.
4. Phương Lựu, (2003), Giáo trình Lý luận văn học, NXB. ĐHSP Hà Nội.
5. Văn Giá, (2015), Loạn sách ngôn tình: chống đỡ cách nào?, nld.com.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×