Tải bản đầy đủ

Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ giảng viên các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở việt nam hiện nay

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

CAO TH H

nâng cao năng lực tư duy lý luận
cho đội ngũ giảng viên các trường đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức ở việt nam hiện nay

LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: CH NGHA DUY VT BIN CHNG
V CH NGHA DUY VT LCH S
Mó s: 62 22 03 02

Ngi hng dn khoa hc:

1. GS.TS. TRN THNH
2. TS. MAI TH THANH

H NI - 2017



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo
quy định.
Tác giả luận án

Cao Thị Hà


MỤC LỤC
Trang
1

MỞ ĐẦU

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Năng lực tư duy lý luận và vai trò của nó đối với đội ngũ cán bộ,
giảng viên
1.2. Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ, giảng viên ở nước
ta hiện nay
1.3. Giải pháp nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ, giảng viên
1.4. Khái quát kết quả các công trình khoa học có liên quan và những
hướng chính luận án cần tiếp tục nghiên cứu

5
5
11
27
30

Chương 2: NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CHO ĐỘI
NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM - MỘT SỐ
LÝ LUẬN CƠ BẢN

2.1. Năng lực tư duy lý luận - khái niệm và các đặc trưng cơ bản
2.2. Vai trò và nội dung nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ
giảng viên các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở
Việt Nam


36
36

52

Chương 3: NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CHO ĐỘI
NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
- THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN

3.1. Thực trạng nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ giảng
viên các Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
3.2. Nguyên nhân của thực trạng nâng cao năng lực tư duy lý luận
cho đội ngũ giảng viên các Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức

78
78

103

Chương 4: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ DUY
LÝ LUẬN CHO ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY

4.1. Nhóm giải pháp tuyển chọn, đào tạo, đào tạo lại đội ngũ giảng
viên các Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
4.2. Nhóm giải pháp tạo môi trường đòi hỏi giảng viên phải nâng cao
năng lực tư duy lý luận
4.3. Nhóm giải pháp khuyến khích giảng viên tự nâng cao năng lực
tư duy lý luận
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

117
117
132
146
153
155
156


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBCC

:

Cán bộ, công chức

CBGD

:

Cán bộ giáo dục

CNXH

:

Chủ nghĩa xã hội

ĐTBD

:

Đào tạo bồi dưỡng

ĐTBDCBCC

:

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

GV

:

Giảng viên

HCQG

:

Hành chính Quốc gia

LLCT

:

Lý luận chính trị

NCKH

:

Nghiên cứu khoa học

NLTDLL

:

Năng lực tư duy lý luận

TD

:

Tư duy

TDLL

:

Tư duy lý luận

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 2.1: Định mức thời gian hàng năm của mỗi giảng viên

63

Bảng 3.1: Cơ cấu giới tính đội ngũ giảng viên năm 2016

81

Bảng 3.2: Cơ cấu ngành đào tạo của đội ngũ giảng viên

82

Bảng 3.3: So sánh ngạch giảng viên năm 2016 của các Trường

87

Bảng 3.4: Kết quả đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên của 03
Trường theo tiêu chuẩn giảng viên

88

Bảng 3.5: Kết quả đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên của 03
Trường theo tiêu chuẩn giảng viên chính

89

Bảng 3.6: Cơ cấu thành phần chính trị của giảng viên

92

Bảng 3.7: Trình độ lý luận chính trị của giảng viên năm 2016

93

Bảng 3.8: Cơ cấu độ tuổi đội ngũ giảng viên năm 2016

96

Bảng 3.9: Sản phẩm sáng tạo của giảng viên từ năm 2013-2016

99


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1:

Số lượng và trình độ giảng viên một số trường

Biểu đồ 3.1:

Số lượng và trình độ giảng viên Học viện Hành chính
quốc gia

Biểu đồ 3.2:

84

Học hàm, học vị giảng viên Trường Đào tạo cán bộ Lê
Hồng Phong năm 2012 đến năm 2016

Biểu đồ 3.5:

84

Học vị giảng viên Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức Bộ Nội vụ năm 2012 đến năm 2016

Biểu đồ 3.4:

83

Học hàm, học vị giảng viên Học viện Hành chính
Quốc gia

Biểu đồ 3.3:

59

85

Trình độ lý luận chính trị giảng viên Học viện Hành
chính Quốc gia, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức Bộ Nội vụ, Trường Đào tạo cán bộ Lê

Biểu đồ 3.6:

Hồng Phong

94

So sánh tỉ lệ độ tuổi giảng viên giữa 03 Trường

97


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năng lực tư duy lý luận là tổng hợp các phẩm chất trí tuệ của chủ thể
đáp ứng yêu cầu phát hiện, nhận thức nhanh, nhạy, đúng đắn đối với hiện thực
ở trình độ lý luận, nhờ vậy có những đề xuất cụ thể, sắc bén, sáng tạo, thiết
thực góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
của con người. Sự phát triển của năng lực tư duy lý luận (NLTDLL) là kết quả
tổng hợp của sự tương tác giữa nhiều nhân tố, trong đó, mỗi nhân tố giữ vị trí
không ngang bằng nhau, song chúng đều góp phần quy định sự tồn tại, phát
triển của NLTDLL.
Năng lực tư duy lý luận có vai trò quan trọng trong nhận thức và hoạt
động thực tiễn, đặc biệt là đối với đội ngũ giảng viên; là vũ khí sắc bén trong
hoạt động giảng dạy, NCKH của đội ngũ giảng viên. Năng lực ấy thể hiện ở
khả năng nắm bắt bản chất, linh hồn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà
nước trong mối quan hệ với nhiệm vụ của họ, khả năng nắm bắt thực tiễn và
xác định phương hướng, giải pháp tối ưu để giải quyết các vấn đề nảy sinh
trong thực tiễn, trong thực thi nhiệm vụ. Thực tiễn cho thấy, năng lực tư duy
lý luận (TDLL) của đội ngũ giảng viên là giá trị định hướng cho hoạt động
nhận thức, hoạt động thực tiễn của họ. Cùng với việc nắm vững lý luận cách
mạng, đội ngũ giảng viên còn phải biết vận dụng, cụ thể hoá hệ thống lý luận
đó trong các bài giảng của mình cho có chất lượng.
Trong Báo cáo Chính trị và Báo cáo Công tác xây dựng Đảng của Văn
kiện Đại hội Đảng toàn quốc khoá XI, XII, vấn đề xây dựng và nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) đã trình bày khá sâu sắc và toàn
diện. Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến
lược cán bộ từ nay đến năm 2020, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cải cách nền
hành chính triệt để, từ một nền hành chính quản lý truyền thống sang một nền


2
hành chính dịch vụ, chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch, với sự hoạt động
hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính Nhà nước thông suốt từ trung ương
tới cơ sở không thể tách rời sự đổi mới và nâng cao chất lượng công tác đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức (ĐTBDCBCC). Giảng viên là lực chính yếu
để đẩy mạnh và tạo sự chuyển biến sâu sắc trong công tác ĐTBDCBCC, do
đó việc làm cần thiết, có tính then chốt là phải phát triển và nâng cao chất
lượng đội ngũ giảng viên tại các cơ sở ĐTBDCBCC về lực lượng (số lượng),
về phẩm chất - đạo đức và tri thức - năng lực (chất lượng).
Trong những năm qua, việc nâng cao NLTDLL cho đội ngũ giảng viên
các trường ĐTBDCBCC đã đạt được những kết quả đáng khích lệ: việc vận
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào bài giảng đã thường xuyên
thực hiện. Tuy nhiên, giảng viên các Trường Đào tạo, bồi dưỡng (ĐTBD)
CBCC được tuyển dụng với các chuyên ngành đào tạo khác nhau, số lượng
giảng viên chưa qua đào tạo về lý luận chính trị (LLCT) còn nhiều. Do đó,
trong các bài giảng của giảng viên của đội ngũ này cũng còn một số hạn chế:
Đó là bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, giáo điều, chủ quan, kinh nghiệm thực
tiễn ... Với vị trí đặc thù là giảng viên trong các trường đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức, đối tượng học viên là những người đã làm việc trong các cơ quan
nhà nước, đã có nhiều kinh nghiệm thực tiễn. Do vậy, để đáp ứng chất lượng
giảng dạy thì đỏi hỏi đội ngũ giảng viên cần phải có trình độ và năng lực tư duy
lý luận, nhất định mới hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Vì vậy, việc nâng cao năng lực TDLL cho đội ngũ giảng viên các trường
ĐTBD CBCC là vấn đề hết sức cần thiết. Việc nghiên cứu đề tài: "Nâng cao
năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ giảng viên các trường đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay" sẽ đóng góp lý luận, phương
pháp luận, phương hướng và những giải pháp cơ bản để xây dựng đội ngũ
giảng viên đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức, có tâm huyết, đủ năng lực


3
đảm đương nhiệm vụ đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
ĐTBDCBCC, góp phần xây dựng đội ngũ CBCC có trình độ, năng lực và
chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng hành chính đáp ứng yêu cầu cải cách hành
chính, hoàn thành thắng lợi mục tiêu chiến lược cán bộ của đất nước trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là việc làm rất cần thiết.
Luận án không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, còn có ý nghĩa thực tiễn hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ NLTDLL và phân tích thực trạng nâng cao NLTDLL đối
với đội ngũ giảng viên các Trường ĐTBD CBCC, từ đó đề xuất các giải pháp chủ
yếu nâng cao NLTDLL cho đội ngũ này ở nước ta hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về NLTDLL cho đội ngũ giảng viên
các Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay.
- Làm rõ cơ sở lý luận về nâng cao NLTDLL cho đội ngũ giảng viên
các Trường ĐTBD CBCC.
- Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng nâng cao NLTDLL cho đội ngũ
giảng viên các Trường ĐTBD CBCC ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao NLTDLL cho đội ngũ giảng
viên các trường ĐTBD CBCC trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án chỉ đi vào nghiên cứu về nâng cao NLTDLL cho đội ngũ giảng
viên các Trường ĐTBD CBCC ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án chỉ tập trung khảo sát NLTDLL cho đội ngũ giảng viên tại các
cơ sở đào tạo, bồi dưỡng: Học viện Hành chính Quốc gia; Trường ĐTBD
CBCC, Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong thành phố Hà Nội từ năm


4
2012 đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận của luận án là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước, của ngành và các tài liệu khoa học có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
4.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Ngoài ra còn sử dụng
một số các phương pháp nghiên cứu thực tiễn như: Phương pháp điều tra xã
hội học, thống kê, so sánh, thu thập và xử lý thông tin.
5. Những đóng góp về khoa học của luận án
Luận án góp phần làm rõ quan niệm về NLTDLL và nâng cao
NLTDLL của giảng viên các Trường ĐTBD CBCC; đặc điểm, nội dung, tiêu
chí đánh giá NLTDLL của giảng viên Trường ĐTBD CBCC; phân tích, đánh
giá thực trạng về NLTDLL của giảng viên các Trường ĐTBD CBCC giai
đoạn từ 2012-2016, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
NLTDLL cho đội ngũ giảng viên các Trường ĐTBD CBCC ở Việt Nam hiện
nay.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc xây
dựng, hoạch định chiến lược, kế hoạch xây dựng đội ngũ giảng viên các
Trường ĐTBD CBCC ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và tiếp theo.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận án gồm 4 chương, 11 tiết.


5
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỘI
NGŨ CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN

Ở Việt Nam, vấn đề về tư duy, TDLL và vai trò của TDLL nói chung
và đối với đội ngũ cán bộ, giảng viên nói riêng đã được nhiều lãnh đạo Đảng,
Nhà nước, quân đội và các ngành khoa học, các nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu; đặc biệt từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đến nay.
Nhiều công trình khoa học, tạp chí, luận án, kỉ yếu hội thảo khoa học lĩnh vực
này đã được công bố, xuất bản thành sách. Điển hình trong đó là các cuốn
sách, công trình khoa học:
- "Đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội qua thực tiễn Việt Nam"
của Nguyễn Đức Tài [84] đã phân tích quan niệm tư duy, TDLL; biện giải
TDLL - hình thức phản ánh cao nhất hiện thực khách quan bởi bộ óc con
người và làm rõ quan niệm về đổi mới TDLL về xã hội chủ nghĩa (XHCN),
tính tất yếu của việc đổi mới TDLL về XHCN. Theo tác giả, đổi mới TDLL
về chủ nghĩa xã hội (CNXH) là đổi mới phương pháp tư duy, khắc phục lối
TD kinh nghiệm, giáo điều, chủ quan, siêu hình về CNXH; loại bỏ những
quan điểm, nhận thức sai trái, lạc hậu, lỗi thời; là sự đổi mới kiến thức, tri
thức về XHCN và hình thành những quan niệm, nhận thức mới về CNXH và
con đường đi lên CNXH ở nước ta. Trong Chương 2, tác giả đã phân tích việc
đổi mới TDLL của Đảng ta về CNXH và con đường đi lên CNXH theo 05 nội
dung: nhận thức lại về CNXH và mô hình CNXH ở nước ta; đổi mới TDLL
về kiểu quá độ đi lên CNXH ở nước ta; đổi mới TDLL về lĩnh vực kinh tế;
đổi mới TDLL trong lĩnh vực xã hội và văn hóa; đổi mới TDLL của Đảng ta
trong lĩnh vực chính trị. Chương 3, đã làm rõ những vấn đề đặt ra phải tiếp
tục đổi mới và nâng cao trình độ TDLL, đó là: từ tình hình đổi mới của đất


6
nước, các xu thế phát triển của thế giới, những vấn đề đặt ra trong hoạt động
nghiên cứu lý luận; đồng thời, đề xuất một số phương hướng tiếp tục đổi mới
và nâng cao trình độ TDLL của Đảng nhằm đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới ở
Việt Nam; cụ thể: (i) Tiếp tục đổi mới và nâng cao nhận thức về chủ nghĩa
Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; (ii) Coi trọng công tác tổng kết thực
tiễn; (iii) Đổi mới và nâng cao trình độ TDLL đối với đội ngũ cán bộ làm
công tác tư tưởng, lý luận và NCKH; theo đó: nâng cao phương pháp TD
khoa học và giữ vững lập trường chính trị; thể chế hóa quyền tự do tư tưởng,
tự do sáng tạo trong công tác lý luận, xây dựng và thực hiện quy chế bảo đảm
dân chủ, phát huy tinh thần sáng tạo, tăng cường đoàn kết, ý thức trách nhiệm
xã hội...; xác lập và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lý luận khoa học và
chính trị; xây dựng và thể chế hóa cơ chế quản lý công tác lý luận, NCKH;
quan tâm đến những điều kiện vật chất, chăm lo đời sống của đội ngũ cán bộ
(xây dựng chế độ lương bậc, chế độ đãi ngộ thích đáng cho những người làm
công tác lý luận, NCKH...).
- "Vai trò của triết học Mác-Lênin trong đổi mới tư duy lý luận ở Việt
Nam hiện nay" của Lê Văn Quang [74] đã khẳng định: trong hàng loạt nhân tố
tạo nên sự thành công của quá trình đổi mới TDLL ở Việt Nam, triết học
Mác-Lênin có vai trò đặc biệt quan trọng. Theo tác giả, trong điều kiện hiện
nay, triết học Mác-Lênin vẫn giữ được tính khoa học và đúng đắn, vẫn giữ
nguyên giá trị định hướng cho những người cách mạng; nó giúp cho Đảng
Cộng sản và nhân dân Việt Nam nhận thức đúng các vấn đề của thời đại có
liên quan chặt chẽ đến đổi mới TDLL; đồng thời, là cơ sở lý luận và phương
pháp để TD đúng đắn về con đường phát triển của cách mạng Việt Nam. Trên
cơ sở đó, tác giả cho rằng, nắm vững các vấn đề cơ bản của triết học mácxít
và không ngừng hoàn thiện phương pháp TD có ý nghĩa vô cùng to lớn trong
đổi mới nhận thức, đổi mới TDLL. Nguyên tắc bất di, bất dịch trong sự
nghiệp đổi mới đất nước nói chung và đổi mới TDLL nói riêng ở nước ta là


7
giữ vững độc lập dân tộc và CNXH. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh được xác định là nền tảng tư tưởng của Đảng, của dân tộc, là hệ thống
lý luận và phương pháp luận của sự nghiệp đổi mới. Chức năng thế giới quan
và chức năng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ
Chí Minh đã được các các nhà khoa học, các nhà lý luận nhận thức lại và lựa
chọn để vận dụng sáng tạo vào điều kiện mới của Việt Nam. Những người có
trọng trách trong đổi mới TDLL của Đảng, của dân tộc đã nhận thức đúng đắn
giá trị đích thực của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và học thuyết triết học
Mác - Lênin nói riêng đối với sự nghiệp đổi mới đất nước. Đó là bước đi đầu
tiên để có được những đổi mới TDLL một cách đúng đắn, cách mạng và khoa
học. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trang bị cho Đảng Cộng
sản Việt Nam, dân tộc Việt Nam nhận thức đúng đắn các vấn đề thời đại có
quan hệ chặt chẽ đến đổi mới TDLL. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh là cơ sở lý luận để TD đúng đắn về con đường phát triển của cách mạng
Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt; đây là thành công đáng ghi nhận
trong đổi mới TDLL của chúng ta trong suốt hơn 30 năm qua. Sự tiến bộ về
điều kiện vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân trong quá trình đổi mới đất
nước đã làm cho trình độ dân trí có sự chuyển biến về chất và nâng cao TDLL
phát triển lên tầm cao mới. Các ý tưởng đổi mới đất nước, con người và tổ
chức thực hiện sự đổi mới ở Việt Nam theo mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc
và phát triển XHCN nhất thiết phải có TDLL, trong đó TD triết học là chìa
khoá phương pháp luận khoa học. Từ những thành công của chúng ta trong
hơn 30 năm đổi mới vừa qua, có thể khẳng định rằng chủ nghĩa Mác-Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh có vai trò to lớn và đặc biệt quan trọng đối với tiến
trình đổi mới TDLL ở Việt Nam.
- "Đổi mới tư duy lý luận - khâu đột phá trong sự nghiệp đổi mới của
Đảng ta" của Trần Sỹ Phán [69] đã nhận thức một cách sâu sắc ý nghĩa và
tầm quan trọng của TDLL trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta lấy đổi


8
mới TDLL làm khâu "đột phá" cho toàn bộ sự nghiệp đổi mới của mình. Đổi
mới trên cơ sở kế thừa, kế thừa trên cơ sở đổi mới. Đó là biện chứng của sự
phát triển nói chung, của TDLL nói riêng. Với ý nghĩa đó, đổi mới TD không
có nghĩa là phủ nhận những thành tựu lý luận đã đạt được, phủ nhận những
quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng CNXH, phủ nhận đường lối đúng
đắn đã được Đảng ta lựa chon và dân tộc ta, nhân dân ta thống nhất đi theo.
Về nguyên tắc, đổi mới không làm thay đổi mục tiêu XHCN mà làm cho mục
tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả hơn. Muốn đổi mới tư duy, đòi hỏi Đảng ta
phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin,
kế thừa di sản tinh thần quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, tiếp thu những thành tựu lý luận, những kinh nghiệm mà
các đảng cộng sản anh em đạt được. Trong đó việc vận dụng sáng tạo phép
biện chứng duy vật mácxít có ý nghĩa quan trọng vì đó là cơ sở lý luận, là nền
tảng cho đổi mới TDLL. Để đổi mới tư duy một cách có hiệu quả, tác giả
nhấn mạnh, cần phải tạo ra những điều kiện xã hội thuận lợi cho quá trình đổi
mới đó; tạo bầu không khí dân chủ trong xã hội, nhất là trong sinh hoạt Đảng,
trong NCKH, nghiên cứu lý luận; tôn trọng lẽ phải, tôn trọng chân lý theo tinh
thần: nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật; tiến hành tự
phê bình và phê bình một cách thường xuyên và nghiêm túc... Như vậy, mới
khắc phục được những yếu kém, tính chất trì trệ, bảo thủ, lạc hậu về TDLL.
- "Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ năm 1986 đến nay"
của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh [34] đã phân tích tác động của
tình hình thế giới và trong nước tới công cuộc đổi mới, làm rõ thời cơ, thách
thức và những đặc điểm chủ yếu của đổi mới ở Việt Nam, luận chứng đổi mới
để phát triển là một quyết sách chiến lược của Đảng. Các tác giả đề cập một
cách hệ thống về vai trò của lý luận và TDLL đối với công cuộc đổi mới;
phân tích TDLL của Đảng về CNXH và xây dựng CNXH thời kỳ đổi mới,
nhất là trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay. Làm rõ đổi mới TDLL của Đảng


9
trên các lĩnh vực, từ mô hình kinh tế, cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế
đến các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội, xây dựng con người, quốc phòng,
an ninh và đối ngoại. Đánh giá tổng quát ưu điểm, hạn chế và kinh nghiệm
của quá trình đổi mới của TDLL của Đảng từ năm 1986 đến nay; nêu lên
phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm phát triển và hoàn thiện lý luận trong
giai đoạn hiện nay. Công trình khoa học này, khẳng định vai trò to lớn của
TDLL đối với hoạt động lãnh đạo của Đảng trong quá trình đổi mới đất nước.
Nó sẽ được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành, các lực lượng phát huy hơn
nữa nhằm đem lại nhiều thành quả cách mạng trong giai đoạn mới.
- "Vai trò của tư duy lý luận đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ
giảng viên trẻ" của Vũ Văn Ban [2] đã đi sâu phân tích làm rõ vai trò của
TDLL đối với việc nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng viên trẻ trong các
Học viện, Trường sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam trên 03 nội dung sau:
Thứ nhất, giúp họ ngày càng nhận thức thấu đáo tri thức khoa học chuyên
ngành và các khoa học khác; Thứ hai, giúp họ có điều kiện tìm tòi, lựa chọn
phương pháp giảng dạy hiệu quả; Thứ ba, giúp họ thực hiện tốt nhiệm vụ
NCKH và các nhiệm vụ khác... Qua đó, các nhà quản lý cũng như người
giảng viên trẻ nhận thức rõ vấn đề này để có những biện pháp thích hợp bồi
dưỡng, rèn luyện và phát huy vai trò của TDLL, làm cơ sở cho nâng cao chất
lượng giảng dạy và NCKH, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Theo tác giả, TDLL là TD ở cấp độ cao, dựa trên các công cụ là khái niệm,
phạm trù, phán đoán, suy luận hướng tới phân tích, tổng hợp, khái quát để tìm
ra bản chất, quy luật của hiện thực khách quan, từ đó định hướng, hướng dẫn
hoạt động thực tiễn của con người và sáng tạo tri thức mới.
Những năm gần đây, các quan điểm, chủ trương phát triển giáo dục của
Đảng đều đề cao vai trò của đội ngũ những người làm công tác giáo dục, xem
đó là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục. Là một bộ phận cấu thành
đội ngũ nhà giáo, đội ngũ giảng viên trẻ là lực lượng kế cận, là những tri thức


10
mới vào nghề, với lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ, đội ngũ này đang ra sức tu
dưỡng, rèn luyện, phấn đấu vươn lên làm chủ tri thức khoa học, đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ. Tuy nhiên, do tuổi đời và tuổi nghề còn ít, sự tích luỹ tri thức
và kinh nghiệm chưa nhiều nên trình độ và năng lực sư phạm của họ còn hạn
chế. Trước sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng đang đặt ra nhu cầu tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội, trong đó có sự tham gia đóng góp
tích cực của đội ngũ giảng viên trẻ. Để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng
viên trẻ một cách nhanh chóng, hiệu quả, trước hết phải quan tâm bồi dưỡng,
rèn luyện và phát huy vai trò to lớn TDLL của họ vì: (i) TDLL giúp cho đội
ngũ giảng viên trẻ ngày càng nhận thức thấu đáo tri thức khoa học chuyên
ngành và các khoa học khác; (ii) TDLL giúp người giảng viên trẻ có điều kiện
tìm tòi, lựa chọn phương pháp giảng dạy hiệu quả; (iii) TDLL giúp cho giảng
viên trẻ thực hiện tốt nhiệm vụ NCKH và các nhiệm vụ khác; (iv) TDLL là
điều kiện để người giảng viên trẻ tiếp tục học tập, rèn luyện nâng cao hơn nữa
phương pháp TD biện chứng duy vật; (v) TDLL là cơ sở giúp cho đội ngũ
giảng viên trẻ rèn luyện để ngày càng hoàn thiện phẩm chất, nhân cách sư
phạm.... Từ những phân tích trên cho thấy, TDLL có một vai trò hết sức to
lớn. Do đó, để nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng viên trẻ cần phải quan
tâm bồi dưỡng, rèn luyện và nâng cao năng lực TDLL của họ.
- "Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng dạy lý luận Mác
- Lê nin ở các trường Chính trị tỉnh" của Nguyễn Đình Trãi [94] nhận định:
vai trò của NLTDLL với công tác giảng dạy lý luận Mác-Lênin là đảm bảo
cho người cán bộ giảng dạy lý luận Mác-Lênin tiếp tục nghiên cứu sâu, nhận
thức thấu đáo những nội dung khoa học, bản chất cách mạng và sáng tạo của
chủ nghĩa Mác-Lênin; tự nghiên cứu, tìm tòi, lựa chọn phương pháp giảng
dạy tối ưu; thường xuyên học tập, rèn luyện nâng cao trình độ LLCT cũng
như trình độ TDLL; thường xuyên học tập, rèn luyện phương pháp TD khoa
học, phương pháp TD biện chứng duy vật là cơ sở cho việc rèn luyện phẩm


11
chất chính trị, đạo đức, tác phong của nhà sư phạm... Luận án đã đánh giá
thực trạng NLTDLL của đội ngũ cán bộ giáo dục lý luận Mác-Lênin ở các
Trường Chính trị, biểu hiện yếu kém về NLTDLL, như: tốt nghiệp đại học
cách đây hàng chục năm, phương pháp dạy và học vẫn dựa vào quyền uy sư
phạm và nhồi nhét kiến thức; chưa được cập nhật những tri thức mới; nhiều
CBGD phân định chưa rõ ràng giữa TD chính trị với TDLL; năng lực TD
logic biện chứng còn hạn chế... Trên cơ sở phân tích nguyên nhân của các hạn
chế, tác giả đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao NLTDLL cho
giảng viên lý luận Mác-Lênin ở các Trường Chính trị tỉnh là: Học tập, trau dồi
phương pháp TD biện chứng duy vật; Từng bước chuẩn hóa đội ngũ CBGD
lý luận Mác - Lênin theo hướng kết hợp hài hòa giữa năng lực, trình độ
chuyên môn với phẩm chất, đạo đức cách mạng; Tiếp tục đổi mới và hoàn
thiện chính sách đối với CBGD lý luận Mác-Lênin.
1.2. NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CHO CÁN BỘ, GIẢNG
VIÊN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

- "Phát triển năng lực tư duy lý luận của cán bộ chính trị cấp trung
đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Văn Dũng [20] đã
đưa ra quan niệm: NLTDLL của một chủ thể nhất định là tổng hòa các yếu tố
chủ quan của chủ thể trong quá trình TD phản ánh chân thực và nhạy bén hiện
thực khách quan đáp ứng yêu cầu của hoạt động này, từ đó tạo ra khả năng
đánh giá và chỉ đạo hoạt động thực tiễn của chủ thể làm cho những hoạt động
đó đạt được hiệu quả cao. Phát triển NLTDLL là kết quả tổng hợp của sự
tương tác giữa nhiều yếu tố, trong đó mỗi yếu tố giữ vị trí không ngang bằng
nhau, song chúng đều góp phần quy định sự tồn tại, phát triển của năng lực
TDLL. Tác giả đã luận giải để tạo nên NLTDLL của mỗi con người gồm 03
nhóm yếu tố; cụ thể: Một là, những yếu tố tạo ra cơ sở cho sự hình thành và
phát triển NLTDLL là: các tri thức nguồn, tư chất của chủ thể tư duy; Hai là,
những yếu tố nội tại của NLTDLL, gồm: năng lực ghi nhớ, lưu giữ những


12
phạm trù, quy luật, quan điểm lý luận; năng lực tái hiện những vấn đề lý luận
đã ghi nhớ, lưu giữ...; sự nhanh nhạy, tính độc lập, tự chủ, sáng tạo trong phát
hiện mâu thuẫn, những vấn đề mới của thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện lý
luận; khả năng tiếp nhận sâu sắc và chuyển hóa những vấn đề lý luận thành
kiến thức, niềm tin của chủ thể tư duy; Ba là, những yếu tố góp phần tạo ra
chất lượng, hiệu quả của NLTDLL: nắm vững lý luận một cách cơ bản, hệ
thống và chuyên sâu; sự vận dụng sáng tạo lý luận vào nâng cao hoạt động
hiệu quả thực tiễn; khả năng phê phán và tự phê phán.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng NLTDLL của cán bộ chính trị cấp trung
đoàn và những yêu cầu đặt ra hiện nay, tác giả đã đưa ra một số giải pháp chủ
yếu phát triển NLTDLL của cán bộ chính trị cấp trung đoàn như sau: Hoàn
thiện mục tiêu, yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng để có phẩm chất năng lực toàn
diện; Tăng cường rèn luyện NLTDLL thông qua hoạt động lãnh đạo, chỉ huy
ở đơn vị; Xây dựng trung đoàn vững mạnh toàn diện là môi trường xã hội trực
tiếp phát huy NLTDLL.
- "Nâng cao năng lực tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp
tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay" của Dương Minh Đức [28] đã khẳng định
sức mạnh trí tuệ của con người có cơ sở nền tảng của nó là TDLL - tổng hợp
các phẩm chất trí tuệ của chủ thể, đáp ứng yêu cầu phát hiện, nhận thức
nhanh, nhạy, đúng đắn đối với hiện thực ở trình độ lý luận, nhờ vậy có những
đề xuất cụ thể, sắc bén, sáng tạo, thiết thực, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Theo tác giả, vai trò
của NLTDLL đối với đội ngũ cán bộ, lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh có thể khái
quát qua những nội dung sau: (i) Nâng cao khả năng nhận thức sâu sắc bản
chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tiếp thu những tri
thức khoa học; (ii) Nâng cao năng lực nhận thức thực tiễn và vận dụng sáng
tạo lý luận, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà


13
nước trong việc đề ra những nghị quyết, chủ trương, chính sách cụ thể trên địa
bàn tỉnh; (iii) Nâng cao năng lực xử lý thông tin để trên cơ sở đó đưa ra được
các quyết định đúng đắn, chính xác, kịp thời phù hợp với thực tiễn của tỉnh;
(iv) Nâng cao năng lực tổ chức, động viên, giáo dục, thuyết phục, tập hợp cán
bộ cấp dưới và quần chúng nhân dân để tạo thành phong trào cách mạng sâu
rộng trên địa bàn tỉnh; (v) Nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn; (vi) Nâng cao
năng lực dự báo, định hướng trong hoạt động lãnh đạo của họ.
Về thực trạng năng lực TDLL, tác giả xác định thực trạng năng lực
TDLL của cán bộ này là đang đứng trước mâu thuẫn giữa yêu cầu, nhiệm vụ
ngày càng cao với trình độ và khả năng đáp ứng của cán bộ lãnh đạo chủ chốt
ở đây nhiều mặt chưa ngang tầm, nhất là về năng lực TDLL. Để khắc phục
hạn chế trên, Luận án đưa ra 03 nguyên tắc nhằm nâng cao năng lực TDLL
cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng Đồng bằng Bắc Bộ là:
phải từng bước gắn với sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí cho cán
bộ, đảng viên trên địa bàn; nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ;
kết hợp chặt chẽ với việc tăng cường rèn luyện đạo đức cách mạng... Đồng
thời, đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực TDLL cho đội ngũ cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng Đồng bằng Bắc Bộ: Trau dồi và rèn luyện
phương pháp TD biện chứng duy vật; tăng cường tổng kết thực tiễn; tiếp tục đổi
mới công tác đào tạo, bố trí, sử dụng đãi ngộ cán bộ và phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo...; thực hiện dân chủ trong hoạt động lãnh đạo, quản lý.
- "Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng dạy lý luận Mác
- Lê nin ở các trường Chính trị tỉnh" của Nguyễn Đình Trãi [94] đã phân tích
TDLL và NLTDLL; theo tác giả: NLTDLL là sự phát triển cao của năng lực
TD con người; NLTDLL không chỉ được biểu hiện ở sự hiểu biết lý luận mà
còn ở phương pháp tiếp cận thực tiễn. Về yếu tố ảnh hưởng tới NLTDLL,
theo tác giả đó là tác động về mặt sinh học và tác động về mặt xã hội. Về
NLTDLL trong công tác giảng dạy lý luận Mác-Lê nin, theo tác giả, công tác


14
giảng dạy lý luận Mác-Lê nin nhằm góp phần hình thành thế giới quan và
phương pháp luận khoa học cho người học; chuyển hóa kiến thức thành niềm
tin khoa học, lý tưởng cách mạng; xây dựng cho người học khả năng vận
dụng đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
trong nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn; giúp cho người học hình thành
phẩm chất chính trị, đạo đức của mình.
- "Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
huyện ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay" của Nguyễn Đức Quyền [80] cho rằng:
NLTDLL có sức mạnh đưa lý luận vào cuộc sống, cụ thể hoá lý luận thành
mục tiêu, phương hướng, giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề một cách có
hiệu quả; NLTDLL vừa bị ảnh hưởng bởi các điều kiện của thực tại khách
quan, vừa bị ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan của chủ thể nhận thức. Cán
bộ chủ chốt cấp huyện là những người đứng đầu các tổ chức chính trị, xã hội,
các phòng, ban của huyện, NLTDLL của đội ngũ cán bộ này ở nước ta hiện
nay có nhiều nét đặc trưng. Ngoài lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện đường
lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp huyện là những người phát hiện, khái quát những khả năng sáng tạo,
những nhân tố mới từ cơ sở, từ nhân dân để góp phần xây dựng đường lối,
chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, người cán bộ lãnh đạo,
quản lý cấp huyện nhất thiết phải có NLTDLL và để có NLTDLL, đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp huyện phải thường xuyên nâng cao trình độ hiểu biết về
mọi mặt, khoa học và thực tiễn, đặc biệt là phải có sự hiểu biết sâu sắc về lý
luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng.
Vai trò của NLTDLL đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp huyện được thể hiện ở một số điểm chủ yếu sau: (i)
NLTDLL giúp người cán bộ chủ chốt cấp huyện nâng cao nhận thức về chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và khả năng
tiếp nhận những tri thức khoa học khác; (ii) NLTDLL giúp cho người cán bộ


15
chủ chốt cấp huyện nâng cao khả năng nhận thức thực tiễn và vận dụng sáng
tạo lý luận, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước để đề ra những nghị
quyết, chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển
toàn diện trên địa bàn huyện; NLTDLL giúp cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
huyện nâng cao khả năng nắm bắt, đánh giá tình hình thực tiễn, tổng kết thực
tiễn, tìm ra nguyên nhân của thành công và thất bại, rút ra bài học kinh
nghiệm, định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn tiếp theo. Ngoài ra,
NLTDLL còn giúp cho người cán bộ chủ chốt cấp huyện hoàn thành tốt mọi
nhiệm vụ, đạt kết quả tối ưu, luôn chủ động trong việc đề xuất và thực hiện kế
hoạch, chương trình hành động. Tuy nhiên, NLTDLL của đội ngũ này cũng
còn một số hạn chế, đó là: bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, giáo điều, chủ quan,
TD lôgic yếu; một phần đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện còn mang nặng lối
TD theo đường mòn, duy ý chí trong suy nghĩ và hành động, có tâm lý ngại
thay đổi, ngại va chạm và khi gặp khó khăn thì thường đổ lỗi cho khách quan,
nhanh chóng quay lại cách làm cũ; lấy các mong muốn cá nhân áp đặt cho
thực tế, lấy nhu cầu, nguyện vọng chủ quan thay cho khả năng hiện thực, lấy
ý muốn, ý chí của người lãnh đạo làm điểm xuất phát, bất chấp quy luật khách
quan... Từ thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện và NLTDLL của họ,
tác giả nêu một số nguyên tắc cơ bản để nâng cao NLTDLL cho đội ngũ cán
bộ này: (1) Nâng cao NLTDLL phải xuất phát từ thực tiễn, phải gắn với quá
trình tổng kết thực tiễn trên địa bàn người cán bộ chủ chốt phụ trách. (2) Nâng
cao NLTDLL phải gắn với công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. (3)
Nâng cao NLTDLL cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện phải gắn với nâng
cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của họ và nâng cao
trình độ dân trí cộng đồng. (4) Phải gắn việc nâng cao NLTDLL với việc giải
quyết nhiệm vụ chính trị ở địa phương là phát triển kinh tế - xã hội mà người
cán bộ chủ chốt trực tiếp phụ trách. (5) Nâng cao NLTDLL cho đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp huyện phải gắn liền với việc trau dồi phẩm chất đạo đức cách


16
mạng.
- "Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý cấp huyện người dân tộc thiểu số Tây Nguyên" của Nguyễn Văn Lý [46] đã
đưa ra quan niệm NLTDLL như sau: NLTDLL là tổng hợp các phẩm chất trí
tuệ của chủ thể TD đáp ứng yêu cầu phát hiện, nhận thức đúng đắn, kịp thời
những vấn đề nảy sinh ở trình độ lý luận và đóng vai trò đặc biệt quan trọng
trong hoạt động của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp với những yêu cầu cụ
thể khác nhau. Đề tài đã khẳng định, đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp
huyện người dân tộc thiểu số, NLTDLL giúp họ nhận thức bản chất cách
mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các tri thức
khoa học khác để có các quyết định lãnh đạo, quản lý đúng đắn, phù hợp với
thực tế của địa phương, giúp họ nâng cao khả năng tổ chức quần chúng và cán
bộ cấp dưới thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra. Trong Chương 2, về
thực trạng và yêu cầu nâng cao NLTDLL cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý cấp huyện người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; đề tài trình bày đặc điểm
tự nhiên và xã hội của Tây Nguyên ảnh hưởng đến NLTDLL của đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện người dân tộc thiểu số, từ đó đi sâu phân tích
thực trạng NLTDLL của đội ngũ cán bộ này cả về những ưu điểm: sự nhạy
cảm chính trị và bản lĩnh chính trị vững vàng trong nhận thức và hoạt động
thực tiễn; có nhiều kinh nghiệm, có thế mạnh về TD thực hành trong việc vận
dụng đường lối của Đảng, nghị quyết của cấp trên vào thực tế cấp huyện; biết
tổng kết việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước một cách có khoa học và bước đầu dự báo được sự phát triển
của địa phương; và những hạn chế, bất cập: TD còn mang tính kinh nghiệm,
cảm tính; trong chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, chương trình công tác còn
có biểu hiện của bệnh giáo điều, máy móc, giản đơn; TD lôgic còn yếu, trình
độ khái quát hóa, trừu tượng hóa chưa cao; năng lực tổ chức thực tiễn, khả


17
năng áp dụng lý luận vào thực tiễn còn hạn chế, đồng thời chỉ ra nguyên nhân,
những vấn đề đặt ra.
Từ thực trạng NLTDLL và yêu cầu của việc nâng cao NLTDLL để
nâng cao cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện người dân tộc thiểu
số ở Tây Nguyên, đề tài đã đưa ra 6 giải pháp: (i) Đẩy mạnh phát triển kinh tế
xã hội nhằm tạo tiền đề vật chất cho việc nâng cao NLTDLL của đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện người dân tộc thiểu số; (ii) Tích cực đào tạo,
bồi dưỡng, nâng cao trình độ các mặt, nhất là trình độ LLCT - hành chính, rèn
luyện TD biện chứng duy vật cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện người
dân tộc thiểu số; (iii) Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn; (iv) Tăng cường rèn luyện
đạo đức cách mạng, chú trọng học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh; (v) Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, chú trọng phát huy dân
chủ trong hoạt động thực tiễn; (vi) Chú trọng công tác cán bộ, nhất là hoàn
thiện chính sách đối với cán bộ người dân tộc thiểu số để tạo động lực khuyến
khích cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện nâng cao NLTDLL.
- "Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
huyện ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay" của Nguyễn Đức Quyền [80] đã đưa ra quan
niệm: NLTDLL là khả năng dư duy về những vấn đề chung, tổng thể, toàn
vẹn, nắm bắt đối tượng trong tính chỉnh thể của sự tồn tại, vận động và phát
triển; đó là khả năng TD khoa học, sáng tạo trong sử dụng các quan niệm,
phạm trù để phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa đem
lại những tri thức mới mang tính chính xác, sâu sắc, chặt chẽ, logic và có hệ
thống... phù hợp với quy luật khách quan của sự tồn tại và vận động của hiện
thực. Luận án đã phân tích, làm rõ 03 yếu tố ảnh hưởng đến NLTDLL, là: đặc
tính bẩm sinh của con người; quá trình giáo dục, học tập, rèn luyện; môi
trường kinh tế-xã hội, nền tảng văn hóa, khoa học xã hội; hoạt động thực tiễn;
nhu cầu và lợi ích. Về vai trò của NLTDLL đối với hoạt động lãnh đạo, quản
lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện, Luận án đã luận giải theo 04 vấn


18
đề: năng lực xác lập tri thức; năng lực xác lập quan hệ giữa các tri thức; năng
lực hiện thực hóa tri thức; năng lực phát triển tri thức. Trong phần thực trạng
của Luận án tác giả đã đánh giá, trong thời gian qua, đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp huyện ở tỉnh Lạng Sơn đã được quan tâm, tăng cường về số lượng và
nâng cao về chất lượng; trình độ chuyên môn nghiệp vụ, LLCT, quản lý nhà
nước được nâng lên; được đào tạo cơ bản và được rèn luyện, trưởng thành;
công tác quy hoạch, phát triển được quan tâm và thực hiện đào tạo, bồi dưỡng
theo tiêu chuẩn phù hợp với chức danh. Về NLTDLL, Luận án chỉ rõ những
ưu điểm của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở tỉnh Lạng Sơn có thế mạnh
về kinh nghiệm lãnh đạo thực tiễn; có năng lực nhất định trong vận dụng
đường lối đổi mới của Đảng, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và có khả năng
dự báo... Tuy nhiên, NLTDLL của đội ngũ cán bộ này vẫn còn một số hạn chế
như: TD logic yếu; còn một số cán bộ có biểu hiện của bệnh giáo điều, dập
khuôn, máy móc; việc dự báo chưa theo kịp thực tế, xử lý thông tin thiếu nhạy
bén, kịp thời, chính xác; chưa coi trọng đúng mức khâu tổng kết kinh nghiệm
thực tiễn...
Qua phân tích nguyên nhân hạn chế NLTDLL của đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp huyện ở tỉnh Lạng Sơn, Luận án đưa ra một số giải pháp là: tiếp tục
đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội tạo bước chuyển biến tích cực đời sống vật
chất, văn hóa cho cán bộ và cộng đồng, là tiền đề để nâng cao TDLL cho đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện; Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác cán
bộ, coi trọng các khâu trong công tác cán bộ trên cơ sở chuẩn hóa đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp huyện; Tăng cường ĐTBD cán bộ, đổi mới nội dung, phương
pháp giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng, trình độ, NLTDLL và năng lực
hoạt động thực tiễn; Thường xuyên học tập, nghiên cứu tiếp thu lý luận MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và trau dồi phẩm chất, rèn luyện phương pháp
TD biện chứng duy vật; Nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn và đổi mới
phương pháp tổng kết thực tiễn; gắn lý luận với thực tiễn; thực hiện dân chủ


19
trong lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện.
- "Nâng cao năng lực NCKH và tiếp cận thực tế của giảng viên: cách
tiếp cận và giải pháp" của Nguyễn Xuân Minh [62] đã đưa ra một số quan
niệm về năng lực, một số khung nghiên cứu năng lực và từ các cách tiếp cận
khác nhau, tác giả cho rằng: năng lực là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ
năng, thái độ để hoàn thành một nhiệm vụ cụ thể trong một điều kiện công
việc vụ thể. Theo tác giả, hoạt động NCKH và tiếp cận thực tiễn của giảng
viên phụ thuộc rất lớn vào hai nhóm yếu tố chính: năng lực của bản thân
giảng viên và các yếu tố thuộc môi trường nghiên cứu. Thứ nhất, năng lực
nghiên cứu và tiếp cận thực tiễn phụ thuộc vào: nhận thức của giảng viên về
tầm quan trọng, sự cần thiết và nỗ lực dành thời gian, tâm huyết cho hoạt
động NCKH và tiếp cận thực tiễn; Kiến thức chuyên môn để có thể hoàn
thành nhiệm vụ nghiên cứu hoặc tiếp cận thực tiễn, cập nhật các vấn đề mới
trong lĩnh vực nghiên cứu; Kỹ năng nghiên cứu và tiếp cận thực tiễn với các
kỹ năng liên quan như: kỹ năng tiếp cận vấn đề, kỹ năng tiếp cận nguồn thông
tin, kỹ năng thiết lập quan hệ, kỹ năng tổ chức triển khai hoạt động nghiên
cứu và thâm nhập thực tiễn. Thứ hai, môi trường nghiên cứu bao gồm các yếu
tố: Điều kiện hỗ trợ triển khai hoạt động NCKH, bao gồm các yếu tố như thời
gian, kinh phí, chương trình phần mềm, máy tính, hỗ trợ về thủ tục; quy trình
triển khai, khả năng thành lập các nhóm nghiên cứu; Ghi nhận, liên quan đến
các hình thức thưởng, khích lệ khi giảng viên hoàn thành nhiệm vụ nghiên
cứu hay đi thực tế; Khai thác, việc đưa kết quả nghiên cứu hay tổng kết những
thực tiễn mới có ý nghĩa khích lệ giảng viên trong việc tập trung công sức cho
các hoạt động có nhiều giá trị gia tăng.
Bài viết đã khái quát tình hình NCKH và tiếp cận thực tiễn của giảng
viên tại Cơ sở II (Trường Đại học Ngoại thương), cho thấy: giảng viên tại Cơ
sở II đã bắt đầu quan tâm và đầu tư vào việc viết sách tham khảo, chuyên
khảo và thực hiện đề tài khoa học các cấp; từ năm 2005-2011 có 9 đề tài khoa


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×