Tải bản đầy đủ

Mối quan hệ giữa khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và chất lượng quyết định cho vay – bằng chứng thực nghiệm từ khu vực ngân hàng tại thành phố hồ chí minh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
----------

NGUYỄN THỊ KIỀU OANH

MỐI QUAN HỆ GIỮA KHOẢNG CÁCH KỲ
VỌNG KIỂM TOÁN VÀ CHẤT LƯỢNG QUYẾT
ĐỊNH CHO VAY – BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM TỪ KHU VỰC NGÂN HÀNG TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
----------


NGUYỄN THỊ KIỀU OANH

MỐI QUAN HỆ GIỮA KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG
KIỂM TOÁN VÀ CHẤT LƯỢNG QUYẾT ĐỊNH CHO
VAY – BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TỪ KHU VỰC
NGÂN HÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN
MÃ SỐ: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM NGỌC TOÀN

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Mối quan hệ giữa khoảng cách kỳ vọng
kiểm toán và chất lượng quyết định cho vay – Bằng chứng thực nghiệm từ khu vực
ngân hàng tại thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu khoa học của tôi
với. Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực.
Luận văn này chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào. Tất cả các
nguồn tài liệu tham khảo đã được công bố đầy đủ.
TP. HCM, ngày 28 tháng 10 năm 2016
Tác giả

Nguyễn Thị Kiều Oanh


MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu .........................................................................................3
3. Câu hỏi nghiên cứu ...........................................................................................3

4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ..................................................3
5. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................4
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ..........................................................5
6.1.

Ý nghĩa khoa học ...........................................................................................5

6.2.

Ý nghĩa thực tiễn ...........................................................................................5

7. Kết cấu của đề tài .............................................................................................. 5
CHƢƠNG 1:

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ............................... 7

1.1.

Các nghiên cứu nước ngoài ...........................................................................7

1.2.

Các nghiên cứu trong nước..........................................................................13

1.3.

Khe trống nghiên cứu ..................................................................................18

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ........................................................................................19
CHƢƠNG 2:
2.1.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT ...................................................................20

Tổng quan về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ...........................................20

2.1.1.

Khái niệm khoảng cách kỳ vọng kiểm toán..........................................20

2.1.2.

Nguyên nhân hình thành khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ...................21


2.1.3.

Thành phần và cấu trúc của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ..............24

2.1.4.

Trách nhiệm của kiểm toán viên ........................................................... 26

2.1.4.1.

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 200 ...................................26

2.1.4.2.

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 240 ...................................27

2.1.5.

Đo lường khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ...........................................29

2.1.6. Các nhân tố cá nhân liên quan đến nhân viên tín dụng và khoảng cách
kỳ vọng kiểm toán .............................................................................................. 30
2.2.

Khung lý thuyết giải thích tồn tại AEG .......................................................32

2.2.1.

Lý thuyết vai trò ....................................................................................32

2.2.2.

Lý thuyết ủy nhiệm ...............................................................................32

2.2.3.

Lý thuyết hồi ứng của người đọc ..........................................................33

2.2.4.

Lý thuyết niềm tin tín thác (Theory of Inspired Confidence) ...............33

2.3.

Chất lượng quyết định cho vay....................................................................34

2.3.1.

Tổng quan về chất lượng quyết định cho vay .......................................34

2.3.2.

Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng quyết định cho vay ........................... 35

2.4.

Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và chất lượng quyết định cho vay ...........38

2.5.

Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết ............................................39

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ........................................................................................41
CHƢƠNG 3:
3.1.

PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...............................................42

Thiết kế nghiên cứu .....................................................................................42

3.1.1.

Quy trình nghiên cứu ............................................................................42

3.1.2.

Nghiên cứu định tính ............................................................................43

3.1.3.

Nghiên cứu định lượng .........................................................................43

3.1.3.1.

Chọn mẫu và thu thập dữ liệu ........................................................43


3.2.

3.1.3.2.

Kích thước mẫu nghiên cứu ........................................................... 44

3.1.3.3.

Phương pháp phân tích dữ liệu ......................................................44

Xây dựng thang đo lường ............................................................................45

3.2.1.

Thang đo khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ...........................................45

3.2.2.

Thang đo chất lượng quyết định cho vay .............................................46

KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ........................................................................................47
CHƢƠNG 4:
4.1.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..........................................................48

Mô tả mẫu nghiên cứu .................................................................................48

4.1.1.

Phương pháp chọn mẫu ........................................................................48

4.1.2.

Thông tin mẫu nghiên cứu ....................................................................48

4.2.

Đánh giá thang đo ........................................................................................50

4.2.1.

Độ tin cậy (Cronbach’s Alpha) ............................................................. 50

4.2.2.

Phân tích nhân tố khám phá EFA .........................................................52

4.3.

Phân tích hồi quy .........................................................................................55

4.3.1.

Phân tích mô hình hồi quy 1 .................................................................57

4.3.2.

Phân tích mô hình hồi quy 2 .................................................................60

4.3.3.

Tính hệ số phù hợp tổng hợp ................................................................ 62

4.4.

Bàn luận về kết quả nghiên cứu...................................................................62

4.4.1.

Giả thuyết H1 ........................................................................................62

4.4.2.

Giả thuyết H2 ........................................................................................63

KẾT LUẬN CHƢƠNG 4 ........................................................................................65
CHƢƠNG 5:

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .....................................................66

5.1.

Kết luận chung ............................................................................................. 66

5.2.

Một số kiến nghị đề xuất .............................................................................67


5.3.

Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo ......................................70

KẾT LUẬN CHƢƠNG 5 ........................................................................................71
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ý nghĩa

Ký hiệu, chữ viết tắt
AEG

Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán (Audit Expectation Gap)

BCTC

Báo cáo tài chính

BCKT

Báo cáo kiểm toán

BTC

Bộ Tài Chính

BGĐ

Ban giám đốc

BQT

Ban quản trị

CMKT
DN
NVTD

Chuẩn mực kiểm toán
Doanh nghiệp
Nhân viên tín dụng

NQL

Nhà quản lý

KTV

Kiểm toán viên

VACPA

Hiệp hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (Vietnam
Association of Certified Public Accountants)

VSA

Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam (Vietnamese Standards
on Auditing)


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Danh mục bảng biểu
Bảng 1.1: Tóm tắt một số nghiên cứu liên quan đến AEG
Bảng 4.1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Bảng 4.2: Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha
Bảng 4.3: Kiểm tra KMO và Bartlett’s
Bảng 4.4: Kết quả EFA
Bảng 4.5: Mã dummy cho các biến định tính
Bảng 4.6: Ma trên hệ số tương quan giữa AQ, AE, OW và AEG
Bảng 4.7: Bảng kết quả phân tích hồi quy mô hình hồi quy 1
Bảng 4.8: Ma trận hệ số tương quan giữa AEG và LDQ
Bảng 4.9: Bảng kết quả phân tích hồi quy mô hình hồi quy 2
Bảng 4.10: Bảng tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết
Danh mục hình vẽ
Hình 2.1: Mô hình về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán (Porter, 1993)
Hình 2.2: Tác động của báo cáo của kiểm toán viên đến việc thực hiện quyết định
(Libby, 1979)
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghề nghiệp kiểm toán ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với xã hội, có
thể ví von nghề nghiệp kiểm toán như là nghề “bán lòng tin” cho công chúng. Tầm
quan trọng của nghề nghiệp sẽ càng gia tăng khi các đối tượng sử dụng tin cậy vào
dữ liệu BCTC và BCKT cho việc ra quyết định.
BCTC là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ tài chính kế
toán hiện hành, phản ánh các thông tin kinh tế tài chính tổng hợp của đơn vị. Tuy
nhiên, những người sử dụng BCTC chưa thể tin cậy vào chất lượng BCTC mà đơn
vị lập do còn mang tính chủ quan. Vì thế cần thiết cần có một bên thứ ba, kiểm tra
và đưa ra ý kiến khách quan, đó chính là ý kiến từ KTV và công ty kiểm toán. Mặt
khác, đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán rất đa dạng, họ có thể là các nhà quản lý
DN, cổ đông, nhà đầu tư, ngân hàng, … và cũng không phải tất cả những người sử
dụng này đều có thể hiểu rõ về bản chất của BCTC cũng như hoạt động kiểm toán
mà KTV thực hiện. Vì vậy một câu hỏi được đặt ra, liệu những người sử dụng hay
những người có lợi ích liên quan có thể tin cậy vào các thông tin tài chính trên báo
cáo đã được kiểm toán để đưa ra các quyết định kinh tế đúng đắn hay không?
Kết quả của một số vụ bê bối trên phạm vi quốc gia và quốc tế đã làm cho độ
tin cậy của kết quả kiểm toán trở nên bị hoài nghi như qua các vụ bê bối kiểm toán
liên quan đến sự phá sản của World Com, sự sụp đổ của Enron, bông Bạch Tuyết…
Theo đó, sự hoài nghi và không tin tưởng vào hoạt động kiểm toán đã xuất hiện
trong nhận thức của những người sử dụng BCTC.
Đối tượng sử dụng khác nhau sẽ nhận thức khác nhau cho việc ra quyết định
kinh tế. Nhiều người sử dụng BCTC hiểu sai về bản chất cuộc kiểm toán cũng như
ý kiến mà KTV đưa ra. Sự khác biệt trong cách nhìn nhận và hiểu biết giữa những
người sử dụng BCTC và KTV đã nảy sinh sự khác biệt. Sự khác biệt này được cho
là có khoảng cách kỳ vọng giữa những người sử dụng BCTC và KTV và công ty
kiểm toán.


2

Bộ phận tín dụng ngân hàng, cụ thể là NVTD cũng là một trong những đối
tượng có sử dụng BCTC đã được kiểm toán để xem xét, phân tích tình hình tài
chính trong việc ra quyết định cho vay (đối với khách hàng là DN), BCTC đã được
kiểm toán là một trong những yêu cầu cần có trong hồ sơ vay vốn của DN, và một
phần rủi ro sẽ bị ảnh hưởng khi NVTD có sự kỳ vọng vào BCTC do DN cung cấp.
Liệu quyết định này có bị tác động bởi khoảng cách kỳ vọng, và các yếu tố cá nhân
liên quan đến kiến thức/kinh nghiệm của NVTD có giảm thiểu khoảng cách kỳ
vọng. Điều này thực sự cần thiết trong nghiên cứu thực nghiệm từ khu vực ngân
hàng.
Kiểm toán có chức năng xã hội, người sử dụng BCKT kỳ vọng KTV thực
hiện các trách nhiệm kiểm toán nhằm đảm bảo lợi ích của mình. Trái lại, KTV
thường chỉ kỳ vọng thực hiện những trách nhiệm kiểm toán có thể và có khả năng
thực hiện tương thích với chức năng kiểm toán. Một khi kiểm toán ngày càng giữ
vai trò quan trọng thì những người sử dụng BCTC ngày càng kỳ vọng KTV sẽ bảo
vệ lợi ích cho họ và BCTC được kiểm toán sẽ giúp họ đưa ra các quyết định kinh tế
đúng đắn.
Các nghiên cứu trên thế giới đã nghiên cứu khá nhiều vấn đề liên quan đến
khoảng cách kỳ vọng chẳng hạn như: bằng chứng về sự tồn tại AEG ở các quốc gia
khác nhau cả những nước phát triển và đang phát triển như Mỹ (Schelluch, 1996),
Singapore (Best và cộng sự, 2001), Malaysia (Fadzly và Ahmed, 2004), Egypt
(Dixon và cộng sự, 2006), … ; AEG tác động đến quyết định cho vay, quyết định
của nhà đầu tư (Noghondari, A.T và Foong, S.Y, 2009), Rien Agustin F (2014), …;
các giải pháp thu hẹp AEG thông qua giáo dục (Monroe và Woodliff, 1993), …
nhưng tại Việt Nam, các nghiên cứu về AEG cũng như tác động của AEG đến việc
ra quyết định chưa nhiều. Vấn đề về khoảng cách kỳ vọng trên các trang các tạp chí,
báo, web điện tử cũng rất ít ỏi. Gần như chưa có nghiên cứu cụ thể nào về khoảng
cách kỳ vọng trong khu vực ngân hàng, đối tượng có sử dụng BCTC và BCKT, cụ
thể là bộ phận tín dụng - những người sử dụng thông tin tài chính trên BCTC đã
được kiểm toán cho việc ra quyết định cho vay (khách hàng là DN), khe trống trong


3

các nghiên cứu tại Việt Nam, tác giả nhận thấy sự cần thiết của nghiên cứu vấn đề
này đóng góp vào việc giảm thiểu AEG và hữu ích trong tình hình kinh tế Việt Nam
hiện nay qua đề tài “Mối quan hệ giữa khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và chất
lượng quyết định cho vay – Bằng chứng thực nghiệm từ khu vực ngân hàng tại
thành phố Hồ Chí Minh”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
+ Hệ thống hóa lý thuyết về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán trong kiểm toán
BCTC.
+ Kiểm tra các yếu tố cá nhân liên quan đến kiến thức/kinh nghiệm của
NVTD có tác động đến việc thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán.
+ Đánh giá thực trạng khoảng cách kỳ vọng kiểm toán của NVTD ngân hàng
trong việc tác động đến chất lượng quyết định cho vay.
+ Kiến nghị những giải pháp để thu hẹp khoảng cách kỳ vọng trong khu vực
ngân hàng nói riêng và những người sử dụng BCTC nói chung nhằm nâng cao chất
lượng trong việc ra quyết định.
3. Câu hỏi nghiên cứu
(1) Các yếu tố cá nhân nào của NVTD liên quan đến kiến thức/kinh nghiệm có tác
động thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán của NVTD ngân hàng?
(2) Mức độ tác động của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán đến chất lượng quyết định
cho vay của NVTD ngân hàng?
(3) Các giải pháp nào nhằm thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán trong khu vực
ngân hàng nhằm nâng cao chất lượng quyết định cho vay?
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố cá nhân liên quan đến NVTD, khoảng
cách kỳ vọng kiểm toán và chất lượng quyết định cho vay.
Đối tượng khảo sát: Nhân viên tín dụng tại một số ngân hàng ở khu vực
thành phố Hồ Chí Minh


4

Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Nghiên cứu này được thực hiện tại một số ngân hàng trên địa
bàn TP.HCM. Và để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu
khoảng cách kỳ vọng hợp lý của nhân viên tín dụng tại một số ngân hàng mà không
đi vào tìm hiểu tất cả những người sử dụng BCTC. Ngoài ra đề tài cũng không đi
vào nghiên cứu cụ thể từng thành phần của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán.
Thời gian: từ tháng 08/2016 đến tháng 10/2016
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp hỗn hợp, bao gồm phương
pháp nghiên cứu định tính và định lượng.
 Cơ sở dữ liệu
Đề tài sử dụng tổng hợp dữ liệu sơ cấp và thứ cấp có liên quan
 Dữ liệu sơ cấp:
Nghiên cứu định tính để kiểm tra sơ bộ thang đo và ngữ nghĩa của các câu
hỏi trong bảng khảo sát.
Nguồn dữ liệu chính thức được thu thập từ phỏng vấn trực tiếp nhân viên tín
dụng tại một số ngân hàng tại TP.HCM dựa trên bảng câu hỏi thiết kế sẵn. Phương
pháp lấy mẫu thuận tiện, các biến quan sát được đo lường bằng thang đo Likert 5
mức độ, trong đó bao gồm những câu hỏi về quan điểm của đối tượng khảo sát về
nhân tố trách nhiệm, độ tin cậy, chất lượng quyết định cho vay và một số câu hỏi
liên quan đến nhân khẩu học.
 Dữ liệu thứ cấp:
Các bài báo, tạp chí, luận văn, nghiên cứu cả trong và ngoài nước về khoảng
cách kỳ vọng kiểm toán.
 Phƣơng pháp phân tích dữ liệu:


5

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0. Sau khi được sàng lọc và làm
sạch, dữ liệu được sử dụng để thực hiện các phân tích sau: thống kê mô tả, phân tích
độ tin cậy thang đo (hệ số Cronbach’s Alpha), phân tích nhân tố khám phá EFA,
phân tích tương quan và phân tích hồi quy đa biến.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1.

Ý nghĩa khoa học

Bằng việc tập trung vào nhân viên tín dụng ngân hàng thay vì công chúng
hay người sử dụng BCTC nói chung, nghiên cứu cũng hy vọng có thể đóng góp vào
kho tài liệu về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán, hệ thống hóa cơ sở lý luận về
khoảng cách kỳ vọng kiểm toán.
Vận dụng được cơ sở lý thuyết về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và chất
lượng quyết định cho vay.
Vận dụng được phương pháp kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính bội để đo
lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân đến khoảng cách kỳ vọng, tác động
của khoảng cách kỳ vọng đến việc ra quyết định.
6.2.

Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu thực nghiệm tại khu vực ngân hàng, xem xét tác động của
khoảng cách kỳ vọng kiểm toán đến chất lượng quyết định cho vay, để từ đó đề ra
phương hướng, giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách kỳ vọng, giảm thiểu rủi ro
trong việc ra quyết định.
Ngoài ra nghiên cứu cũng xem xét tác động của các yếu tố cá nhân góp phần
thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán đối với trường hợp nhân viên tín dụng ngân
hàng, từ đó góp phần đưa nghề nghiệp kiểm toán về đúng vị trí dưới góc nhìn của
xã hội.
7. Kết cấu của đề tài


6

Phần mở đầu
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết
Chƣơng 3: Phương pháp nghiên cứu
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu
Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị


7

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Thuật ngữ “Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán” đã xuất hiện khá lâu và là chủ
đề nghiên cứu được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới, các nghiên cứu về AEG có
thể kể đến như các nghiên cứu thực nghiệm về bản chất của AEG ở các nước khác
nhau {Porter (1993) tại New Zealand; Best và cộng sự (2001) tại Singapore; Fadzly
và cộng sự (2004) Malaysia; Dixon và cộng sự (2006) tại Egypt; …} hay các nghiên
cứu về việc giảm thiểu AEG {Gary S. Monroe và David Woodliff (1993); Javed
Siddiqui và công sự (2009); …}; hay các nghiên cứu về tác động của AEG đến việc
ra quyết định {Noghondari và Foong (2009), (2013); Rien Agustin F (2014), …}.
Trong chương này tác giả sẽ trình bày tổng quan các nghiên cứu nổi bật trong và
ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
1.1. Các nghiên cứu nƣớc ngoài
Nổi bật trong các nghiên cứu về tác động của AEG đến việc quyết định của
các đối tượng sử dụng BCTC hoặc đối tượng có lợi ích liên quan, bao gồm một số
nghiên cứu nổi bật sau:
Amirhossein Taebi Noghondari & Soon Yau Foong (2009) kiểm tra tác động
của kiến thức kế toán và kinh nghiệm liên quan của những nhân viên ngân hàng ở
Iran về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán, và điều tra xem liệu có khoảng cách trung
gian trong mối quan hệ giữa các nhân tố cá nhân – thực hiện quyết định cho vay.
Bảng câu hỏi được phân phát cho 113 nhân viên tín dụng từ 5 ngân hàng thương
mại lớn ở Iran và có 111 bảng hỏi thu về được dùng để phân tích. Với phương pháp
nghiên cứu định lượng thông qua thống kê mô tả, phân tích hồi quy theo hình thức
hồi quy nhiều lần để kiểm tra giả thuyết. Kết quả chỉ ra rằng tồn tại khoảng cách kỳ
vọng kiểm toán khá lớn giữa các nhân viên tín dụng ở các ngân hàng Iran, và kiến
thức kế toán được tìm thấy giảm thiểu đáng kể mức độ của khoảng cách này. Vì thế
cần nâng cao kiến thức về kế toán cho nhân viên tín dụng qua các chương trình đào
tạo tại ngân hàng. Quan trọng hơn nữa, nghiên cứu này đã tìm ra mối quan hệ
nghịch biến giữa khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và chất lượng quyết định cho vay


8

của nhân viên tín dụng ở Iran. Phân tích cũng đã chỉ ra rằng khoảng cách kỳ vọng
kiểm toán là trung gian giữa mối quan hệ kiến thức cá nhân – chất lượng quyết
định.
Amirhossein Taebi Noghondari & Soon Yau Foong (2013) nghiên cứu điều
tra ảnh hưởng của kiến thức/kinh nghiệm cá nhân liên quan đến khoảng cách kỳ
vọng kiểm toán của nhân viên tín dụng ở 4 ngân hàng thương mại lớn tại Malaysia,
và ảnh hưởng của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán đến chất lượng quyết định cho
vay. Hơn nữa, vai trò trung gian của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán cũng được
kiểm tra. Với phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua phân tích mô hình cấu
trúc tuyến tính SEM bằng phần mềm AMOS, kết quả chỉ ra rằng nhân tố kiến
thức/kinh nghiệm cá nhân liên quan cụ thể là trình độ chuyên môn kế toán, kinh
nghiệm liên quan đến kế toán, kinh nghiệm liên quan đến nghề nghiệp có thể thu
hẹp đáng kể khoảng cách kỳ vọng kiểm toán. Quan trọng hơn, khoảng cách kỳ vọng
kiểm toán tác động nghịch biến đến chất lượng quyết định cho vay. Vai trò trung
gian của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán cũng được kiểm tra.
Rien Agustin F (2014) dựa trên tranh luận rằng có khoảng cách giữa những
người sử dụng BCTC và KTV, liên quan đến trách nhiệm của KTV trong việc phát
hiện gian lận và sai sót trọng yếu trên BCTC. Trách nhiệm của KTV trong việc phát
hiện gian lận và sai sót trọng yếu trên BCTC là một trong những nhân tố chủ yếu có
thể ảnh hưởng đến nhân viên ngân hàng, là người sử dụng BCTC khi thực hiện
quyết định tín dụng. Tác giả đã sử dụng tranh luận này để điều tra sự tồn tại khoảng
cách kỳ vọng kiểm toán giữa nhân viên ngân hàng và KTV ở Indonesia. Với
phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua kiểm định sự khác biệt qua kiểm
định Independent T-test giữa các nhóm khảo sát, kết quả cho thấy bằng chứng về
khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Indonesia. Dựa trên kết quả nghiên cứu này đề
nghị giáo dục kế toán nên đóng một vai trò lớn trong việc giảm thiểu khoảng cách
kỳ vọng kiểm toán ở Indonesia.


9

Fazel Tamoradi, Jaber Mohamad Mosaee (2015) mục đích nhằm nghiên cứu
khoảng cách kỳ vọng giữa KTV và những người sử dụng thông tin tài chính liên
quan đến sự đảm bảo của BCTC, lợi ích của việc ra quyết định dựa trên thông tin tài
chính đã được kiểm toán, và độ tin cậy của thông tin. Với phương pháp nghiên cứu
định lượng thông qua kiểm định t-test với hai mẫu độc lập. Kết quả cho thấy có sự
mơ hồ giữa vai trò của KTV và nhận thức của những người sử dụng. Tồn tại sự
khác biệt đáng kể giữa kỳ vọng của những người sử dụng và KTV về trách nhiệm
kiểm toán, sự bảo đảm và lợi ích của việc ra quyết định.
Bên cạnh các nghiên cứu nổi bật liên quan đến vấn đề nghiên cứu, trong
phần tổng quan các nghiên cứu nước ngoài tác giả cũng hệ thống hóa các nghiên
cứu nổi bật liên quan về sự tồn tại của AEG ở những nước phát triển và đang phát
triển, cụ thể như sau:
Cơ sở cho các nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán phải kể đến
công trình nghiên cứu có thể nói là tiên phong đầu tiên của Lee TA (1970) được tiến
hành ở Anh. Các đối tượng khảo sát gồm KTV, công ty được kiểm toán và các đối
tượng có lợi ích từ kiểm toán. Kết quả cho thấy rằng KTV dường như đã nhầm lẫn
và không xác định rõ mục tiêu kiểm toán.
Tiếp theo đó là nghiên cứu của Beck GW (1974) được tiến hành ở Úc. Kết
quả cho thấy cổ đông có mâu thuẫn về tính độc lập của KTV, cổ đông tin rằng nếu
KTV sở hữu cổ phần trong công ty được kiểm toán thì lợi ích của KTV sẽ được kết
hợp chặt chẽ hơn với những lợi ích của cổ đông. Beck cho rằng những bên liên quan
có kỳ vọng cao hơn về hoạt động kiểm toán hơn là những gì mà KTV đang thực
hiện.
Low AM (1980) đã kiểm tra khoảng cách kỳ vọng tại Úc nhằm kiểm tra mức
độ phát hiện và trách nhiệm công bố sai sót, gian lận và các hành vi bất hợp pháp
theo nhận thức của KTV và những người sử dụng BCTC. Kết quả là cả hai nhóm có


10

nhận thức hoàn toàn khác nhau. Nghiên cứu này cũng nhất quán với nghiên cứu của
Beck (1974).
Low và các cộng sự (1988) đã kiểm tra mức độ của khoảng cách kỳ vọng
giữa KTV và các nhà phân tích tài chính về mục tiêu kiểm toán trong môi trường
công ty khách hàng tại Singapore. Kết quả chỉ ra rằng mục tiêu cơ bản của cuộc
kiểm toán là đưa ra ý kiến về BCTC. Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng cuộc
kiểm toán như là sự bảo đảm về tính chính xác về BCTC của một đơn vị. Hơn nữa,
nhận thức của các nhà phân tích trong việc ngăn chặn và phát hiện sai phạm trọng
yếu từ phía KTV khắt khe hơn là những gì mà KTV phải thực hiện.
Porter, B. (1993) đã tiến hành một cuộc khảo sát thực nghiệm ở New
Zealand để xác định ý kiến trách nhiệm của KTV hiện có theo quy định của pháp
luật, các tiêu chuẩn trách nhiệm. Bà tiến hành cuộc khảo sát qua mail gửi đến hai
nhóm đối tượng: nhóm cộng đồng tài chính và nhóm công chúng. Kết quả nghiên
cứu cho thấy người sử dụng BCTC vẫn có sự hiểu lầm về kiểm toán và trách nhiệm
của KTV. Nghiên cứu này cung cấp hiểu biết mới về cấu trúc, thành phần, mức độ
của khoảng cách kiểm toán giữa kỳ vọng-thực hiện, nhưng quan trọng hơn, nó báo
hiệu một cách tiếp cận toàn diện hợp lý theo hướng thu hẹp khoảng cách này.
Epstein MJ, Hill J (1995) nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
giữa các nhà đầu tư và KTV. Kết quả cho thấy rằng các nhà đầu tư kỳ vọng nhiều
hơn về mức độ bảo đảm liên quan đến gian lận và sai sót; các nhà đầu tư thiếu sự
hiểu biết liên quan đến sự khác biệt về khả năng của KTV trong phát hiện sai phạm
do gian lận và sai sót gây ra; các nhà đầu tư không hiểu được sự khó khăn trong
việc phát hiện các sai phạm trọng yếu do gian lận và sai sót trong kiểm toán BCTC.
Nghiên cứu của Hia Chye Koh và E-Sah Woo (1998) cho rằng có một sự lo
ngại khi KTV và công chúng có niềm tin khác nhau về trách nhiệm của KTV và các
thông điệp được truyền đạt qua các BCKT. Trong những năm gần đây, nhiều công
ty lớn sụp đổ đã làm cho khoảng cách kỳ vọng kiểm toán càng lớn. Rõ ràng, nhận
thức không hợp lý của công chúng là một nguyên nhân chính của khoảng cách này.


11

Và điều phù hợp với các nghiên cứu trước về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán. Mục
tiêu của nghiên cứu này là tổng quan lý thuyết về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
theo cách: định nghĩa khoảng cách kỳ vọng, bản chất và cấu trúc của khoảng cách
kỳ vọng, và những cách để làm giảm khoảng cách kỳ vọng. Tác giả hi vọng rằng đó
là một nỗ lực có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán.
Best, P.J, Buckby, S & Tan, C (2001) thu thập bằng chứng về khoảng cách
kỳ vọng kiểm toán ở Singapore. Động lực để thực hiện do ở Singapore thiếu hụt
nghiên cứu về vấn đề này trong những năm gần đây. Nghiên cứu cung cấp chi tiết
hơn về bản chất và phạm vi của AEG. Kết quả của nghiên cứu đã tìm ra bằng chứng
về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán khá lớn ở Singapore về trách nhiệm của KTV.
Có sự khác biệt đáng kể về trách nhiệm của KTV trong việc phát hiện tất cả các
gian lận và sai sót; trong khi đó KTV lại cho rằng không có trách nhiệm trong việc
phát hiện và ngăn chặn gian lận và sai sót. Ngoài ra, các nhà đầu tư còn cho rằng
KTV có trách nhiệm về hoạt động hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại công
ty khách hàng.
Koh, Hian Chye; E-Sah, Woo (2001) nghiên cứu thực nghiệm về sự tồn tại
khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa KTV và NQL tại Singapore, xác định các
nhân tố tạo nên sự kỳ vọng kiểm toán của NQL. Mẫu gồm 302 KTV và 264 NQL
được khảo sát. Kết quả phân tích cho thấy tồn tại khoảng cách kỳ vọng khá lớn giữa
KTV và NQL về mục tiêu công ty kiểm toán. Giáo dục được cho rằng có thể giảm
thiểu khoảng cách này.
Fadzly, Mohamed Nazri & Zauwiyah Ahmad (2004), nghiên cứu với mục
đích điều tra sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Malaysia. Động lực
chính đến từ việc thiếu hụt nghiên cứu về vấn đề này. Bên cạnh đó, môi trường kế
toán ở Malaysia đã được cải thiện đáng kể từ những năm 1998, với việc thông qua
đạo luật BCTC và thành lập Hội đồng chuẩn mực kế toán Malaysia. Kết quả chỉ ra
rằng tồn tại khoảng cách kỳ vọng khá lớn và sự hiểu lầm về kiểm toán ở Malaysia.
Một sự kiểm tra được tiến hành giữa các nhà đầu tư tiết lộ hiệu quả của việc sử


12

dụng các tài liệu để giáo dục những người sử dụng và điều chỉnh một số quan niệm
sai lầm.
Dixon, R; Woodhead, A D & Sohliman, M (2006) cho rằng những nhà đầu
tư và những người sử dụng BCTC có lẽ có những niềm tin khác nhau về trách
nhiệm của công ty kiểm toán trong việc thực hiện kiểm toán với BCTC cho khách
hàng. Mục đích của nghiên cứu này là điều tra xem có sự tồn tại khoảng cách kỳ
vọng kiểm toán giữa KTV và những người sử dụng BCTC ở Egypt. Kết quả tìm
thấy bằng chứng về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán khá lớn ở Egypt.
Omid Pourheydari, Mina Abousaiedi (2011) nghiên cứu điều tra liệu có tồn
tại AEG giữa KTV độc lập và những người sử dụng BCTC tại Iran, sử dụng phương
pháp tương tự như các nghiên cứu của Schelluch, Best và cộng sự, Fadzly &
Ahmad, Dixon và cộng sự, kết quả cho thấy có sự khác biệt đáng kể liên quan đến
độ tin cậy và sự hữu ích của BCTC đã được kiểm toán.
Anila Devi và Shila Devi (2014) mục đích của nghiên cứu này nhằm xác
định các biến là cơ sở của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa KTV và những
người sử dụng BCTC như cán bộ ngân hàng (quản lý quỹ kho bạc) và các nhà đầu
tư (cá nhân cũng như doanh nghiệp). Các biến được sử dụng là trách nhiệm kiểm
toán, độ tin cậy kiểm toán, sự hữu ích của BCTC đã được kiểm toán. Dữ liệu được
thu thập thông qua bảng câu hỏi với kích thước mẫu là 300, gồm 100 mẫu cho mỗi
nhóm, kết quả thu về được 259. Công cụ thống kê “mẫu độc lập t-test” được thực
hiện. Nghiên cứu này tìm thấy rằng có khoảng cách tồn tại giữa KTV và nhà đầu tư
qua hai biến độ tin cậy và sự hữu ích của BCTC đã được kiểm toán. Lý do đằng sau
của khoảng cách này là thiếu hụt giáo dục thích hợp và hiểu biết về chuẩn mực
kiểm toán và thực hành kiểm toán, như vậy khoảng cách này sẽ được giảm thiểu
bằng cách đưa ra đầy đủ kiến thức và nhận thức về kiểm toán cho những người sử
dụng BCTC.


13

Ngoài các nghiên cứu nổi bật về sự tồn tại AEG, một số nghiên cứu khác lại
nghiên cứu về việc giảm thiểu khoảng cách này thông qua giáo dục, đào tạo, gồm
một số nghiên cứu nổi bật sau:
Nghiên cứu của Monroe & Woodliff (1993) nhằm kiểm tra tác động của giáo
dục đến nhận thức của sinh viên về trách nhiệm của KTV và độ tin cậy của BCKT
trước và sau giáo dục. Kết quả có sự khác biệt, ông đề nghị rằng giáo dục có thể ảnh
hưởng đến nhận thức của người sử dụng về vai trò của chức năng kiểm toán, có thể
là phương pháp hiệu quả để thu hẹp hoặc giảm thiểu khoảng cách hợp lý.
Javed Siddiqui và cộng sự (2009) cũng tìm ra bằng chứng giáo dục kiểm toán
giúp giảm thiểu đáng kể AEG trong nền kinh tế sáp nhập ở Bangladesh thông qua
việc điều tra thực tế KTV, nhân viên ngân hàng và sinh viên.
Giáo dục có thể giảm thiểu AEG cũng là kết quả của John Uzoma
Ihendimihu & Silvia Nwakaego Robert (2014) tại Nigeria, nghiên cứu xác định liệu
việc cung cấp các khóa học kiểm toán, thực nghiệm về kiểm toán có thể làm tăng
kiến thức cho sinh viên, được so sánh thông qua nhóm kiểm chứng.
1.2. Các nghiên cứu trong nƣớc
Các nghiên cứu trong nước, theo cơ sở dữ liệu mà tác giả tìm kiếm có rất ít
nghiên cứu về AEG, tác động của AEG đến việc ra quyết định, tác giả đưa ra một số
nghiên cứu có liên quan sau:
Vũ Hữu Đức & Võ Thị Như Nguyệt (2012) “Khoảng cách thông tin trên báo
cáo kiểm toán – Nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam” nghiên cứu AEG liên quan
đến (i) nhận thức về mục đích và hạn chế của kiểm toán, (ii) nhận thức về các thuật
ngữ kỹ thuật sử dụng trên BCKT. Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại khoảng cách
thông tin giữa các nhóm KTV, nhân viên tín dụng và nhà đầu tư.


14

Đề tài tham dự cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2012 của nhóm
sinh viên trường ĐH Ngoại Thương “Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại các doanh
nghiệp niêm yết” nhằm đánh giá khoảng cách chuẩn mực thông qua đánh giá nhận
thức của KTV về CMKT VSA 240 có đáp ứng được yêu cầu thực tế hay không,
đánh giá khoảng cách hợp lý thông qua việc đánh giá nhận thức của người sử dụng
BCTC đối với trách nhiệm của KTV về gian lận và sai sót, đánh giá khoảng cách
năng lực thông qua phân tích hoạt động của các công ty kiểm toán tại Việt Nam có
phù hợp với những quy định của chuẩn mực và Luật kiểm toán hay không. Kết quả
cung cấp bằng chứng tồn tại khoảng cách năng lực, khoảng cách chuẩn mực và
khoảng cách hợp lý.
Một số luận văn thạc sĩ kinh tế cũng nghiên cứu về vấn đề này, có thể kể đến
như:
Phan Thanh Trúc (2013) “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm
toán độc lập nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm
toán tại Việt Nam” mục tiêu đề tài nhằm phân tích, đánh giá chất lượng hoạt động
kiểm toán độc lập tại Việt Nam và sự tồn tại khoảng cách mong đợi của xã hội về
chất lượng kiểm toán tại Việt Nam, đề xuất các giải pháp. Kết quả cho thấy tồn tại
khoảng cách đáng kể giữa KTV và người sử dụng BCTC liên quan đến những kỳ
vọng về chất lượng hoạt động kiểm toán.
Ngô Thị Thúy Quỳnh (2015) “Giải pháp thu hẹp khoảng cách kỳ vọng giữa
kiểm toán viên và nhà quản lý trong việc kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam”
mục tiêu của đề tài chứng minh sự tồn tại của AEG giữa KTV và NQL tại môi
trường kiểm toán Việt Nam, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kỳ vọng của NQL
theo các đặc tính cá nhân, từ đó đề xuất các giải pháp. Kết quả cho thấy có tồn tại
khoảng cách kỳ vọng giữa KTV và NQL tại Việt Nam, NQL có những kỳ vọng quá
mức vào cuộc kiểm toán hơn những gì KTV nhận thức được.


15

Nguyễn Quốc Kịp (2015) “Khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của kiểm
toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính – Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt
Nam” mục tiêu của đề tài xem xét liệu có tồn tại khoảng cách mong đợi về trách
nhiệm của KTV trong kiểm toán BCTC tại VN, xác định nguyên nhân tạo ra
khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV và đề xuất các giải pháp, tiến hành
khảo sát nhóm KTV, nhóm người làm việc tại đơn vị kiểm toán, nhóm người sử
dụng BCTC xử lý thông qua công cụ excel 2010. Kết quả cho thấy vẫn còn những
mong đợi chưa hợp lý về những trách nhiệm của KTV.
Bên cạnh những nghiên cứu trong các luận văn thạc sĩ liên quan đến vấn đề
khoảng cách kỳ vọng mà tác giả tổng hợp được, còn có một số công trình nghiên
cứu trên các báo, tạp chí như của tác giả Trần Mạnh Dũng và Lại Thị Thu Thủy
(2013) tạp chí Kế toán & Kiểm toán số 5-2013 theo hướng tóm tắt và đề xuất giải
pháp dựa trên việc tổng hợp các nghiên cứu trước đây.
Nguyễn Ngọc Khánh Dung (2015) tạp chí ĐH Công Nghiệp số 1. Nghiên
cứu này tập trung vào việc xác định tồn tại ba thành phần khoảng cách quan trọng
cấu thành nên khoảng cách kỳ vọng - hiện thực kiểm toán (theo cách sử dụng của
Porter năm 1993 là (i) khoảng cách kỳ vọng hợp lý, (ii) khoảng cách hoàn thiện
chuẩn mực và (iii) khoảng cách tăng cường trách nhiệm kiểm toán viên. Kết quả
nghiên cứu cho thấy tồn tại một số trách nhiệm kiểm toán cấu thành nên mỗi thành
phần khoảng cách này ở Việt Nam.
Bảng 1.1: Tóm tắt một số nghiên cứu liên quan đến AEG
Tác giả nghiên cứu

Nhân tố đo

Đối tƣợng khảo sát

Kết quả

lƣờng
Trên thế giới
Best và cộng sự Trách nhiệm Độ KTV,

nhân

viên Khoảng cách kỳ


16

tin cậy; Sự hữu ngân hàng, nhà đầu vọng kiểm toán khá

(2001)

ích quyết định



lớn ở Singapore về
trách

nhiệm

của

KTV
Fadzly,

Mohamed Trách nhiệm của Nhà môi giới, KTV, Nhất quán với phát

Nazri & Zauwiyah KTV, Độ tin cậy ngân hàng , nhà đầu hiện của Best và
Ahmad (2004)

của kiểm toán & tư

cộng sự (2001), có

BCTC đã được

khoảng

kiểm toán, Tính

vọng ở Malaysia về

hữu

của

trách

BCTC đã được

KTV

ích

cách

kỳ

nhiệm

của

kiểm toán
Dixon,

R; Trách nhiệm của KTV,

nhân

viên Nhất quán với phát

Woodhead, A D & KTV, Độ tin cậy ngân hàng, Nhà đầu hiện của Best và
Sohliman, M (2006)

của kiểm toán & tư

cộng

BCTC đã được

Fadzly và Ahmed

kiểm toán, Tính

(2004),

hữu

của

chứng về khoảng

BCTC đã được

cách kỳ vọng ở

kiểm toán

Egypt

ích

sự

(2001),


về

bằng

trách

nhiệm của KTV
Omid Pourheydari, Trách nhiệm của KTV, nhà môi giới, Kết quả cho thấy
Mina
(2011)

Abousaiedi KTV, Độ tin cậy chủ nợ, nhà đầu tư

có sự khác biệt

của kiểm toán &

đáng kể liên quan

BCTC đã được

đến độ tin cậy và

kiểm toán, Tính

sự hữu ích của

hữu

BCTC

ích

của

đã

được


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×