Tải bản đầy đủ

Bai tap tuan phân tích thiết kế hệ thống thông tin đề tài xây dựng hệ thống hộ nghèo điện tử

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
---------------*--------------

BÀI TẬP I
NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN, PHÂN TÍCH VÀ THIẾT
KẾ HỆ THỐNG THÔNG TIN
Đề tài: HỆ THỐNG QUẢN LÝ HỘ NGHÈO ĐIỆN TỬ
Giảng Viên hướng dẫn :
Nhóm sinh viên thực hiện
Bùi Tiến Dũng

MSSV 20130628

Nguyễn Đức Mạnh

MSSV 20131702

Trần Văn Thành

MSSV 20133561


Dương Tuấn Anh

MSSV 20130034

Dương Tuấn Anh

MSSV 20130034

HÀ NỘI 3-2016

1


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ 6.7.16
Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối
tượng nghèo (hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực
nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin

2


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

MỤC LỤC

3


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

DANH MỤC CÁC HÌNH


DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu
DTTS
CSDL
UNDP
LĐ -TBXH

Ý nghĩa
hộ người dân tộc thiểu số
Cơ sở dữ liệu
Phát triển Liên Hợp quốc
Sở Lao động, Thương binh và Xã hội

4


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong khi nền văn minh thế giới đã đạt được những thành tựu hiển
nhiên về tiến bộ khoa học kĩ thuật–công nghệ, làm tăng đáng kể của cải vật chất xã
hội, tăng thêm vượt bậc sự giàu có cho con người, thì vẫn còn đó là sự nghèo đói
vẫn đeo đuổi thế giới.
Chuyên đề nghiên cứu các hệ thống thông tin đối tượng nghèo để việc xóa
đói giảm nghèo rất quan trọng. Các quốc gia trên thế giới có nhiều cách tiếp cận và
quản lý người nghèo giúp họ vượt qua đói nghèo một cách bền vững. Một trong
những biện pháp áp dụng quản lý người nghèo là sử dụng các hệ thống thông tin về
đối tượng, hộ nghèo. Qua chuyên đề nghiên cứu về các hệ thống thông tin quản lý
đối tượng nghèo hộ nghèo trên thế giới, chúng tôi đưa ra được những công việc và
quá trình thực hiện sau đây:
-

Tổng quan về đối tượng nghèo, hộ nghèo.
5


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ
-

Các hệ thống thông tin về đối tượng nghèo (hộ nghèo) trên thế giới.
Kết luận rút ra

Sau chuyên đề này, những kết quả cần đạt được là:
-

Hiểu rõ hơn được về các hệ thống thông tin quản lý hộ nghèo trên thế giới
cũng như ở Việt Nam.
Đánh giá rút kinh nghiệm phù hợp với hệ thống thông tin quản lý hộ nghèo ở
nước ta.

6


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHÈO, HỘ NGHÈO HÌNH
THÀNH CÁC HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ
Sự nghèo đói được hiểu là sự thiếu thốn các nguồn lực vật chất như thức ăn,
nước uống, quần áo, nhà ở, và các điều kiện sống nói chung, nhưng đồng thời cũng
là sự thiếu thốn các nguồn lực hữu hình như việc tiếp cận giáo dục, việc làm có giá
trị, sự tôn trọng của người khác. Vấn đề nghèo đói nói chung được xem là rất đa
dạng, tuy nhiên, thường được xem xét ở phương diện nghèo đói về tiền.[1]
Báo cáo “Phát triển con người” năm 1997, UNDP đã đề cập đến khái niệm
nghèo đói về năng lực khi đề cập đến các yếu tố nguồn lực của cá nhân hoặc của hộ
gia đình (bao gồm cả nguồn lực vật chất: tài chính, các công cụ phục vụ sản xuất và
phi vật chất: các quan hệ xã hội/vốn xã hội, vốn con người,…). Theo quan niệm
này, một cá nhân hay một hộ gia đình được xác định là nghèo khi họ thiếu các cơ
hội tiếp cận các nguồn lực đảm bảo cho cá nhân hoặc hộ gia đình có được một cuộc
sống cơ bản nhất “có thể chấp nhận được”.[1]

1.1

Khái niệm về nghèo
Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển,

Robert McNamara, khi là giám đốc của ngân hàng thế giới, đã đưa ra khái niệm
nghèo tuyệt đối. Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức
độ tuyệt đối... là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt
đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong
tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh
ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta."[1]
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ /ngày theo sức mua tương
đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là
chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị ranh
7


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ
2 đô la cho khu vực Mỹ La tinh vàđến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến
14,40 đô la cho những nước công nghiệp. (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc
1997).[1]
Đối với Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo
trong thời gian từ 1993 đến cuối năm 2005.[1]
Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27
tháng 9 năm 2001, trong đó phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói và
giảm nghèo giai đoạn 2001 -2005", thì những hộ gia đình có thu nhập bình quân
đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng
(960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực nông thôn đồng bằng
những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng
(1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ
có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000 đồng/người/tháng (1.800.000
đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.[1]
Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8
tháng 7 năm 2005về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010
thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000
đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm)trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực
thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới
3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.[1]
Tiêu chuẩn nghèo tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 là thu nhập bình
quân đầu người dưới 330.000 đồng/tháng hoặc 4.000.000 đồng/năm (tương ứng
284USD/năm thấp hơn tiêu chuẩn 360 USD/năm của quốc tế).[1]

1.2

Nghèo tương đối

Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào
hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung
8


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về
một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc
vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ
quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định
khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn
tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Việc nghèo đi về văn
hóa-xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần
được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng. [1]

9


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

CHƯƠNG 2. CÁC HỆ THỐNG THÔNG TIN VỀ ĐỐI TƯỢNG
NGHÈO, HỘ NGHÈO TRÊN THẾ GIỚI.
2.1

Hệ thống thông tin quản lý đối tượng nghèo trên thế giới

2.1.1 Hệ thống thông tin quản lý hộ nghèo - Freedom From Hunger
Freedom from Hunger (FFH) là một tổ chức quốc tế có hoạt động TCVM
ở châu Phi. FFH đã tìm kiếm các đối tác – chủ yếu là ngân hàng hoặc các tổ chức
chính thức của Chính phủ - phù hợp với tiêu chí hoạt động cũng như mô hình của
FFH. Đối tác có thể là các tổ chức chưa từng có kinh nghiệm trong việc cung cấp
dịch vụ TCVM, nên nhân viên sẽ được đào tạo và cung cấp các hỗ trợ kĩ thuật với
các phương thức tài chính phù hợp cho đối tượng thu nhập thấp. Sự phối hợp giữa
FFH và các đối tác đảm bảo được rất nhiều yêu cầu, sự chuyên môn hóa về tài
chính, giảm chi phí nhờ tận dụng mạng lưới của đối tác, tạo cơ hội cung cấp các
dịch vụ tài chính. Cách thức hợp tác trên được cho là rất phù hợp, nhất là với các
nước có khuôn khổ luật pháp chưa hoàn thiện, qua đó không những làm cho hoạt
động tài chính của các ngân hàng, tổ chức hoạt động an toàn, hiệu quả mà còn giúp
cả

các

đối

tượng

của TCVM tiếp cận gần hơn các dịch vụ ngân hàng. [2]
Dưới đây là website của tổ chức FFH, nó giúp cho tổ chức này dễ dàng hơn
trong các hoạt động của mình. Mục đích của website:
-

Đưa nhiều thông tin của các đối tượng nghèo (phụ nữ) hoàn cảnh
Tổng hợp những công việc tổ chức làm được ở đâu
Những dự định làm gì
Đặc biệt là chuyên mục donate (quyên góp) trực tuyến.
Kết nối tới toàn thế giới qua website và liên kết qua các mạng xã hội.

Dưới đây là hình ảnh trang chủ của website với menu với các mục chính: Meet the
women, Where We Work, What We Do, Get Involved, Donate Now.
10


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

Hình 1.1 Hệ thống thông tin FFH
Hình ảnh cả mục quyên góp trực tuyến.

11


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

Hình 1.2 Chức năng donate
Nhận xét:
-

2.2

Giao diện thân thiện dễ sử dụng
Website giúp người trên toàn thế giới hiểu nhiều về khó khăn ở châu phi hơn
Giúp cho mọi người biết đến nhiều hoạt động của FFH hơn
Ủng hộ dễ ràng hơn
Hệ thống thông tin quản lý hộ nghèo Beca
Beca là một tổ chức tại Nicaraquan, Trung mỹ. Tổ chức này gồm các tình

nguyện viên với công việc quản lý, tìm hiểu, thu hút nguồn tại trợ để cung cấp học
bổng cho các học sinh học kỹ thuật tại trường Nicaraquan nhưng không đủ điều
kiện để có thể tự đi học Đại học
Dưới đây là website Beca với mục đích xây dựng dự án sách điện tử để đạt
được:
-

Tuyên truyền về các hoạt động của tổ chức phi lợi nhuận BECA
12


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ
-

Tạo môi trường dễ giao tiếp giúp các học sinh nghèo tiếp cận được với các
hoạt động giúp đỡ của tổ chức.

-

Tìm kiếm nguồn tài trợ từ cộng đồng

Các hoạt động của website:

Hình 1.3 Hệ thống thông tin trang giao diện Beca
Cung cấp tin tức và giới thiệu:
-

Hệ thống giới thiệu về tổ chức, các thành phần và công việc chính của tổ

-

chức
Các thông tin mới nhất về tình hình các đối tượng giúp đỡ và hoạt động mới.
Những chia sẻ của các học sinh nghèo dưới sự giúp đỡ của website

-

13


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

Hình 1.4. Nguyên tắc hoạt động của Beca

Hình 1.5 Hệ thống thông tin của Beca
Liên lạc yêu cầu giúp đỡ:
14


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ
-

Hệ thống cung cấp một số chức năng giúp các nhà tài chợ và học sinh cần

-

giúp đỡ có thể liên lạc với hệ thống.
Yêu cầu những điều khoản cần thiết
Mọi sự giúp đỡ và các trường hợp được cấp học bổng, các loại hình học

-

bổng cũng được công khai trên website

Hình 1.6. Thông tin liên lạc giúp đỡ
Ủng hộ dễ dàng:

15


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

Hình 1.7 Hệ thống ủng hộ người nghèo
Nhận xét:
-

Tuy chỉ là 1 website nhỏ, tuy nhiên hệ thống cung cấp một giao diện khá

-

thân thiện, dễ sử dụng, hình ảnh trực quan và sử dụng hiệu quả.
Là một ví dụ cho 1 hệ thống quản lý đối tượng nghèo mà ở đây trực tiếp là
học sinh kĩ thuật nghèo, thông qua việc cấp học bổng.

2.3

Hệ thống thông tin quản lý người nghèo - Swayam Krishi Sangam
Swayam Krishi Sangam (SKS) Ấn Độ: ra đời vào năm 1998, SKS cung

cấp các sản phẩm TCVM thông qua một mô hình cho vay đối với nhóm phụ nữ
nghèo vì mục đích lợi nhuận. SKS vận hành theo mô hình Tập đoàn trách nhiệm
hữu phần (Joint Liability Group - JLG). Hình thức tín dụng thực hiện theo nhóm
năm thành viên. SKS cung cấp 8 sản phẩm và dịch vụ tài chính cho các khách
hàng: vay tạo thu nhập, các khoản cho vay trung hạn, hỗ trợ tang, khoản vay vàng,
vay nhà ở, bảo hiểm nhân thọ,… Nhờ chú trọng vào thiết kế các sản phẩm dịch vụ
ngân hàng đa dạng, phù hợp với nhu cầu của nhiều đối tượng dân cư và sự tiên
phong trong phát triển hệ thống thông tin quản lý (MIS) mà SKS đã tiếp cận tới
16


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

hàng triệu hộ gia đình nghèo trên khắp Ấn Độ. Từ khi thành lập, SKS đã cung cấp
40 triệu USD tín dụng vi mô cho hơn 150.000 phụ nữ ở miền Nam Ấn Độ thông
qua 45 chi nhánh và 500 nhân viên.[2]
Website của SKS là povertyactionlab.org:
Mục đích là cung cấp:
-

Cung cấp các thông tin, đặc biệt là người nghèo những chính sách những
chính sách ưu đãi nhằm cho họ có cuộc sống thật tốt hơn

Hình 1.8. Trang chủ povertyactionlab.org

17


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

Hình 1.9 Tìm hiểu chính sách với từng vùng

Hình 1.10. Hệ thống thông tin các chính sách
Nhận xét:
-

2.4

Giao diện thân thiện
Hỗ trợ cho rất nhiều người nghèo tiếp cận gần hơn
Hệ thống thông tin quản lý người nghèo - Technoserve
Technoserve ở Ghana đã phát triển chương trình tín dụng hàng tồn kho ở

Ghana cho phép các nhóm nông dân nhận được lợi nhuận từ cây trồng bằng cách
cung cấp tín dụng sau thu hoạch thông qua liên kết với một tổ chức tài chính nông
thôn. Thay vì bán tất cả các cây trồng thu hoạch khi giá đang thấp nhất để đáp ứng
nhu cầu tiền mặt, nông dân quy mô nhỏ trong các cửa hàng kế hoạch cây trồng của
họ trong một nhà kho hợp tác quản lý và nhận được một khoản vay khoảng 7580%. Giá trị của các cây trồng được lưu trữ, phục vụ làm tài sản thế chấp. Khoản
vay này cho phép họ để xóa các khoản nợ họ tích lũy và đáp ứng nhu cầu tiền mặt
ngay lập tức. Sau đó, khi giá đã tăng trong mùa, nông dân, hoặc bán cây trồng được
lưu trữ hoặc mua lại nó cho tiêu dùng. Đây là mô hình sáng tạo, giải quyết khó
18


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

khăn đầu ra theo mùa vụ của sản phẩm nông nghiệp, có thể áp dụng hiệu quả tại
nhiều quốc gia trên thế giới.[2]
Website với mục đích:
-

Cung cấp tin tức cho mọi người đặc biệt là người nông dân
Giúp người nông dân giải quyết được vấn đề hàng tồn kho dễ dàng hơn mà

-

không bị ép giá
Cho vay ưu đãi

-

Hình 1.11. Hệ thống thông tin Technoserve

19


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

Hình 1.12. Hệ thống Tin tức

Hình 1.13 Làm việc với tổ chức để được giúp đỡ
2.5

Hệ thống thông tin người nghèo - Agensi Kaunseling Dan Pengurusan
Kredit
Agensi Kaunseling Dan Pengurusan Kredit (AKPK) ở Malaysia là một tổ

chức được thành lập vào năm 2006, được xem như một nhánh của NHTW
Malaysia với nhiệm vụ “Làm cho hoạt động quản lý tài chính thận trọng trở thành
một phương châm sống” của người Malaysia. Thông qua các kênh truyền thông
như hội thảo, các chương trình đào tạo trong nước, giáo dục tài chính tại nơi làm
việc, chương trình định hướng cộng đồng… AKPK tổ chức chương trình giáo dục
tài chính kết hợp với một vài biện pháp khác như chương trình tư vấn và quản lý nợ
nhằm thúc đẩy việc thay đổi hành vi của người đi vay. Chương trình giáo dục tài
chính tập trung vào những nguyên tắc tài chính cơ bản, hướng tới các mục tiêu
quan trọng trong từng giai đoạn cuộc đời, gồm 6 chương: (i) quản lý dòng tiền, (ii)
kiến thức cơ bản về vay vốn, (iii) sử dụng thẻ tín dụng, (iv) mua xe, (v) mua nhà,
(vi) tầm quan trọng của việc quản lý nợ. Kể từ năm 2011, đã có gần 200.000 người
tham gia và 500.000 người hưởng lợi từ chương trình giáo dục tài chính từ năm
2006.[2]
20


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

Website của AKPK:
Mục đích:
-

Việc quản lý tốt dòng tiền của mình, kiến thức về vay vốn, sử dụng tiền giúp
cho kinh tế gia đình, thân sẽ được cải thiện tốt hơn, phù hợp cho mọi người
đặc biệt là người nghèo để có thể hưởng tới mục tiếp thoát nghèo bền vững.

Hình 1.14 Trang chủ AKPK

2.6

Việt Nam sử dụng phần mềm quản lý hộ nghèo.
Vĩnh Phúc là địa phương đầu tiên trên cả nước xây dựng và triển khai phần

mềm quản lý hộ nghèo 3 cấp, việc triển khai phần mềm góp phần đổi mới, nâng
cao hiệu quả công tác quản lý hộ nghèo, người nghèo, những chính sách liên quan
đến người nghèo, góp phần thiết thực vào công tác giảm nghèo của tỉnh.
Trước đây, việc quản lý hộ nghèo, người nghèo và những chính sách liên
quan đến người nghèo thực hiện theo phương pháp thủ công, nên gặp nhiều khó
khăn. Việc quản lý không thống nhất từ cấp tỉnh đến huyện, xã; khai thác thông tin
chi tiết về hộ nghèo, người nghèo dựa hoàn toàn vào cấp xã dẫn đến số liệu hộ
nghèo, người nghèo nhiều đơn vị không minh bạch. Quản lý thay đổi diễn biến hộ
nghèo như: Hộ nghèo tăng mới; hộ nghèo cũ; hộ thoát nghèo; hộ tái nghèo; hộ
nghèo chuyển đi nơi khác… gặp nhiều khó khăn. Từ những bất cập trong quản lý
khiến việc triển khai chính sách đến các hộ nghèo chậm, nhiều sai sót; công tác
21


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

phối hợp thực hiện các chính sách giảm nghèo ở các cấp không đồng bộ do khó
khăn trong việc cung cấp danh sách thực hiện các chính sách. Số liệu cung cấp cho
các đơn vị không chủ động, có sự sai lệch lớn giữa danh sách báo cáo ban đầu và
thực tế; không phân tích được những nguyên nhân nghèo cụ thể, dẫn đến tham mưu
thực hiện chính sách thiếu hoặc không đủ giải pháp để thực hiện Chương trình
giảm nghèo…..Việc thực hiện kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách đối với hộ
nghèo, người nghèo gặp nhiều khó khăn do không nắm được chính sách đã hỗ trợ
cho từng hộ nghèo, người nghèo.
Từ những khó khăn, bất cập trên, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, thực hiện
chính sách đối với hộ nghèo, người nghèo, từ tháng 8/2008 với sự giúp đỡ của Văn
phòng Giảm nghèo Trung ương và Trung tâm Thông tin (Bộ LĐ – TB&XH), Sở
LĐ-TB&XH xây dựng và triển khai ứng dụng phần mềm quản lý hộ nghèo. Việc
triển khai phần mềm quản lý hộ nghèo ban đầu được thực hiện tại cấp tỉnh và cấp
huyện, theo phương pháp: Cấp tỉnh có phần mềm quản lý hộ nghèo chung toàn
tỉnh, cơ sở dữ liệu gộp do các huyện, thành, thị chuyển về; tại cấp huyện, sau khi
điều tra, rà soát hộ nghèo, cấp xã, phường, thị trấn chuyển toàn bộ biểu mẫu phiếu
điều tra rà soát hộ nghèo, thông tin chi tiết về từng hộ nghèo để cấp huyện nhập dữ
liệu vào phần mềm. Việc triển khai phần mềm bước đầu nhiều kết quả tích cực giúp
cho công tác giám sát, kiểm tra việc thực hiện chính sách với hộ nghèo, người
nghèo được thuận lợi, thông tin về hộ nghèo, người nghèo được công khai, minh
bạch…. Tuy nhiên, quá trình triển khai còn một số khó khăn và tồn tại như: Phần
mềm quản lý hộ nghèo sử dụng tốc độ chậm; quản lý hộ nghèo, hộ cận nghèo trên 2
phần mềm riêng biệt, vì vậy, khó theo dõi được diễn biến liên quan giữa hộ nghèo
và hộ cận nghèo; chưa phát huy được hết vai trò và trách nhiệm của cấp xã,
phường, thị trấn trong việc quản lý hộ nghèo; việc chuyển cơ sở dữ liệu chưa được
tiện ích…

22


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

Để khắc phục những hạn chế trên, Sở LĐ-TB&XH tỉnh tiếp tục nghiên cứu
đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cấp phần mềm quản lý hộ nghèo.
Theo đó, phần mềm mới được quản lý theo 3 cấp, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Hệ
thống quản lý hộ nghèo được phân cấp rõ ràng: UBND cấp xã chịu trách nhiệm về
cơ sở dữ liệu trong phần mềm quản lý hộ nghèo của địa phương, UBND cấp huyện
chịu trách nhiệm về cơ sở dữ liệu trong phần mềm của các đơn vị thuộc phạm vi
quản lý, phần mềm cấp tỉnh thực quản lý chung toàn tỉnh… Đồng chí Vũ Anh Nam,
Phó Trưởng phòng Phòng Bảo trợ xã hội, Sở LĐ-TB&XH cho biết: “Phần mềm
mới được quản lý trên môi trường mạng internet, không cần máy tính để cài đặt
phần mềm cố định, việc nhập dữ liệu có thể thực hiện ở mọi nơi khi được kết nối
mạng internet. Thông tin về chính sách với hộ nghèo, xác định hộ nghèo thống nhất
trên toàn hệ thống (việc điều chỉnh, nâng cấp, bổ sung thông tin vào phần mềm
được thực hiện điều chỉnh thống nhất trên toàn hệ thống). Ngoài ra, phần mềm mới
giúp việc phân tích nguyên nhân nghèo, triển khai chính sách với hộ nghèo được
chính xác, nhanh chóng, thuận lợi hơn nhiều; việc thu thập thông tin, tiếp cận với
hộ nghèo, người nghèo được thực hiện theo hướng đa chiều. Nếu như trước đây
phải chờ hàng tuần để có báo cáo thì với phần mềm quản lý hộ nghèo mới, chỉ cần
truy cập vào hệ thống, các cấp lãnh đạo, người quản lý từ cấp tỉnh đến cấp huyện,
cấp xã đều có thể báo cáo chi tiết về nguyên nhân nghèo, hộ nghèo được hỗ trợ,
người nghèo trong danh sách của địa phương".[3]
Chia sẻ về tiện ích của phần mềm quản lý hộ nghèo 3 cấp, đồng chí Lê Thị
Trang, chuyên viên phòng LĐ-TB&XH huyện Vĩnh Tường cho biết: “Phần mềm
quản lý hộ nghèo 3 cấp rất tiện ích, dễ sử dụng, giúp công tác quản lý hộ nghèo và
thực hiện các chính sách giảm nghèo ở địa phương được triển khai nhanh chóng,
hiệu quả; ít tốn thời gian, công sức, số liệu chính xác hơn; triển khai phần mềm
giúp cấp xã, thị trấn chủ động hơn trong việc theo dõi, quản lý hộ nghèo, người
nghèo và đề xuất các giải pháp giảm nghèo phù hợp trên địa bàn”.[3]
23


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

Đến nay, phần mềm quản lý hộ nghèo được chuyển giao cho 100% các xã,
phường, thị trấn toàn tỉnh; cơ sở dữ liệu về hộ nghèo, người nghèo của từng xã,
phường thị trấn được các địa phương nhập đầy đủ bổ sung, hoàn thiện thường
xuyên. Hiệu quả của việc triển khai phần mềm 3 cấp quản lý hộ nghèo tại tỉnh được
Bộ LĐ-TB&XH đánh giá cao và sẽ nhân rộng tại nhiều tỉnh, thành trên toàn quốc
trong thời gian tới.
Dưới đây là một vài giao diện thể hiện các chức năng chính của phần mềm
quản lý hộ nghèo tỉnh Vĩnh Phúc:

Hình 1.15 Trang chủ

24


Chuyên đề 6.7.16: Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuẩn trao đổi thông tin số quản lý đối tượng nghèo
(hộ nghèo) điện tử áp dụng ở tỉnh Ninh Bình và đánh giá thực nghiệm theo chuẩn trao đổi thông tin HỘ
NGHÈO ĐIỆN TỬ

Hình 1.16 Tìm kiếm hộ nghèo

Hình 1.17. Nhập các khoản hỗ trợ

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×