Tải bản đầy đủ

luận án dạy học đọc hiểu thơ mới 1932 – 1945 ở trường phổ thông theo đặc điểm loại hình

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

PHAN NGỌC THANH

D¹y häc ®äc hiÓu Th¬ míi 1932 – 1945
ë tr-êng phæ th«ng theo ®Æc ®iÓm lo¹i h×nh

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

PHAN NGỌC THANH

D¹y häc ®äc hiÓu Th¬ míi 1932 – 1945
ë tr-êng phæ th«ng theo ®Æc ®iÓm lo¹i h×nh
Chuyên ngành: Lí luận và PPDH bộ môn Văn – tiếng Việt

Mã số: 62.14.01.11

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. Nguyễn Ái Học
2. PGS.TS. Nguyễn Quang Ninh

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận án
là trung thực và chƣa từng công bố trong bất kì một công trình
nào khác.
Tác giả luận án

Phan Ngọc Thanh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................................... 1
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án ............................................................... 3
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án .................................................................. 4
4. Giả thuyết khoa học.......................................................................................................... 4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................................. 4
6. Đóng góp mới của luận án ............................................................................................... 5
7. Cấu trúc của luận án ......................................................................................................... 5
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI .......................... 6
1.1. Về vấn đề loại hình trong nghiên cứu văn học ............................................................ 6
1.2. Về nghiên cứu loại hình Thơ mới .............................................................................. 12
1.3. Về tri thức đặc điểm loại hình Thơ mới đƣợc giới thiệu trong các bộ SGK, SGV......... 25
1.4. Về những nội dung hƣớng dẫn dạy, học Thơ mới của các bộ SGV, SGK Ngữ
văn phổ thông...................................................................................................................... 27
1.5. Về những tài liệu nghiên cứu dạy học và dạy học đọc hiểu Thơ mới ở trƣờng
phổ thông............................................................................................................................. 31
Chƣơng 2: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY HỌC ĐỌC
HIỂU35THƠ MỚI 1932- 1945 Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG35THEO
ĐẶC ĐIỂM LOẠI HÌNH ............................................................................... 35

2.1. Cơ sở lí luận ................................................................................................................. 35
2.1.1. Lí thuyết đọc hiểu văn bản .................................................................................. 35
2.1.2. Đặc điểm loại hình với việc đọc hiểu và dạy học đọc hiểu VBVH ................. 41
2.1.3. Đặc điểm loại hình Thơ mới 1932- 1945........................................................... 49
2.2. Cơ sở thực tiễn............................................................................................................. 59
2.2.1. Vị trí của Thơ mới trong chƣơng trình Ngữ văn phổ thông ............................. 59
2.2.2. Khảo sát tình hình dạy học đọc hiểu Thơ mới trong chƣơng trình Ngữ văn
lớp 11 hiện nay ở một số trƣờng phổ thông ................................................................. 61


Chƣơng 3: YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP DẠY HỌC ĐỌC HIỂU THƠ MỚI
1932-1945 Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG THEO ĐẶC ĐIỂM LOẠI HÌNH ............ 68
3.1. Một số yêu cầu dạy học đọc hiểu Thơ mới theo đặc điểm loại hình ....................... 68
3.1.1. Phải hƣớng dẫn HS sử dụng đặc điểm loại hình để hƣớng đến khám phá
vẻ đẹp độc đáo của mỗi tác phẩm Thơ mới ................................................................. 68
3.1.2. Phải hƣớng dẫn HS phối hợp đặc điểm loại hình với các tri thức đọc hiểu
khác để chiếm lĩnh tác phẩm Thơ mới ......................................................................... 69
3.1.3. Phải cụ thể hóa việc vận dụng đặc điểm loại hình vào dạy học đọc hiểu Thơ
mới thành hệ thống các cách thức, biện pháp, hoạt động,... đọc hiểu VB cụ thể ........... 74
3.1.4. Phải vận dụng đặc điểm loại hình trong dạy học đọc hiểu Thơ mới phù
hợp với khả năng, hứng thú và tích cực hóa quá trình tiếp nhận của HS ................... 75
3.2. Biện pháp dạy học đọc hiểu Thơ mới theo đặc điểm loại hình ................................ 76
3.2.1. Xây dựng và xử lí nguồn tƣ liệu về đặc điểm loại hình Thơ mới thành tri
thức công cụ dạy học đọc hiểu ...................................................................................... 76
3.2.2. Hƣớng dẫn HS sử dụng tri thức công cụ về đặc điểm loại hình Thơ mới
để đọc hiểu VB Thơ mới ............................................................................................... 85
3.2.3. Củng cố, nâng cao kết quả đọc hiểu VB Thơ mới theo đặc điểm loại hình
của HS qua hoạt động đánh giá................................................................................... 107
Chƣơng 4: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ................................................................... 117
4.1. Những vấn đề chung ................................................................................................. 117
4.1.1. Mục đích của TNSP .......................................................................................... 117
4.1.2. Đối tƣợng TN, địa bàn TN................................................................................ 117
4.1.3. Kế hoạch, nội dung TN ..................................................................................... 119
4.2. Tiến trình TN ............................................................................................................. 120
4.2.1. Tổ chức dạy TN ................................................................................................. 120
4.2.2. Đánh giá kết quả TN ........................................................................................ 132
4.3. Nhận xét và phân tích kết quả TN ............................................................................ 138
4.3.1. Nhận xét về điểm số nhóm HS TN và nhóm HS ĐC ..................................... 138
4.3.2. Phân tích kết quả làm bài của nhóm HS TN và nhóm HS ĐC....................... 145


4.4. Nhận xét, kết luận rút ra sau TN ............................................................................. 146
4.4.1. Về quá trình TN ................................................................................................. 146
4.4.2. Về tính khoa học và tính thực tiễn của đề tài................................................... 147
4.4.3. Về những lƣu ý khi vận dụng kết quả nghiên cứu của đề tài trong thực
tiễn dạy học .................................................................................................................. 148
KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 149
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ152LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI................................................................................................................................................ 152
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 153
PHỤ LỤC


DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
Thơ mới

: Thơ mới 1932 - 1945

HS

: Học sinh

GV

: Giáo viên

GA

: Giáo án

VB

: Văn bản

VBVH

: Văn bản văn học

THPT

: Trung học phổ thông

THCS

: Trung học cơ sở

TN

: Thực nghiệm

GATN

: Giáo án thực nghiêm

ĐC

: Đối chứng

GAĐC

: Giáo án đối chứng

KT

: Kiểm tra

SGK

: Sách giáo khoa

SGV

: Sách giáo viên

Nxb

: Nhà xuất bản

CT

: Chƣơng trình


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1.

Các bài Thơ mới đƣợc đƣa vào học trong nhà trƣờng phổ thông từ
năm 1989 đến nay ......................................................................................... 60

Bảng 2.2.

Bảng câu hỏi khảo sát tri thức về đặc điểm loại hình Thơ mới, kết quả
đọc hiểu các VB Thơ mới của HS................................................................ 62

Bảng 2.3.

Bảng câu hỏi khảo sát nhận thức của GV trong việc vận dụng đặc
điểm loại hình để hƣớng dẫn HS đọc hiểu Thơ mới ................................... 63

Bảng 4.1.

Tần số điểm của các nhóm ĐC và TN ở các bài kiểm tra: ....................... 138

Bảng 4.2.

Điểm trên TB, điểm đạt loại khá, giỏi (7 điểm trở lên) của nhóm TN
và nhóm ĐC ................................................................................................. 141

Bảng 4.3.

Điểm bình quân và độ lệch chuẩn nhóm TN và nhóm ĐC ở các bài
kiểm tra ........................................................................................................ 142

Bảng 4.4.

Bảng kết quả kiểm chứng t-test .................................................................. 144


DANH MỤC BIỂU ĐỔ
Biểu đồ 4.1.

Tần số điểm của nhóm TN và nhóm ĐC ở bài kiểm tra số 1 .............. 139

Biểu đồ 4.2.

Tần số điểm của nhóm TN và nhóm ĐC ở bài kiểm tra số 2 .............. 139

Biểu đồ 4.3.

Tần số điểm của nhóm TN và nhóm ĐC ở bài kiểm tra số 3 .............. 140

Biểu đồ 4.4.

Tần số điểm của nhóm TN và nhóm ĐC ở bài kiểm tra số 4 .............. 140

Biểu đồ 4.5.

So sánh điểm trên trung bình, điểm khá, giỏi của nhóm HS TN và
nhóm HS ĐC........................................................................................... 142

Biểu đồ 4.6.

Điểm bình quân và độ lệch chuẩn nhóm TN và nhóm ĐC ở
câu hỏi số 1 ........................................................................................... 143

Biểu đồ 4.7.

Điểm bình quân và độ lệch chuẩn nhóm TN và nhóm ĐC ở câu
hỏi số 2 .................................................................................................... 143

Biểu đồ 4.8. Điểm bình quân và độ lệch chuẩn nhóm TN và nhóm ĐC ở
câu hỏi số 3 ............................................................................................ 143
Biểu đồ 4.9.

Điểm bình quân và độ lệch chuẩn nhóm TN và nhóm ĐC ở câu
hỏi số 4 .................................................................................................... 144


1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Đọc hiểu sẽ luôn đƣợc xem là một trong những năng lực cốt lõi của
con ngƣời khi trong xã hội việc giao tiếp bằng ngôn ngữ còn diễn ra. Vai trò của
đọc hiểu càng đƣợc đề cao khi con ngƣời luôn cần phải học cách học để có thể
cập nhật tri thức, tự học suốt đời trong bối cảnh các nguồn thông tin phát triển
ngày càng đa dạng và nhanh chóng. Làm cho ngƣời học thật sự biết cách đọc là
góp phần nâng trình độ văn hóa của ngƣời học lên một mức cao hơn. Trong nhà
trƣờng phổ thông, yêu cầu rèn luyện kĩ năng đọc hiểu đối với từng loại văn bản
(VB) để hƣớng đến khả năng tự đọc của học sinh (HS) luôn đƣợc quan tâm, nhất
là rèn luyện kĩ năng đọc hiểu VB nghệ thuật ngôn từ. Đó cũng là tƣ tƣởng cốt lõi
của công cuộc đổi mới dạy học văn, là “một khâu đột phá trong nội dung và
phƣơng pháp dạy văn hiện nay” [166].
Sự chuyển dịch tƣ tƣởng trong dạy học văn, từ “giảng văn” sang “dạy học
đọc hiểu văn bản” đã thực sự làm thay đổi phƣơng pháp dạy học. “Dạy văn là
dạy cho học sinh năng lực đọc, kĩ năng đọc để giúp các em hiểu bất cứ văn bản
nào cùng loại. Từ đọc hiểu văn bản mà trực tiếp tiếp nhận các giá trị văn học,
trực tiếp thể hiện các tƣ tƣởng và các cảm xúc đƣợc truyền đạt bằng nghệ thuật
ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính. Do đó, hiểu bản chất môn Văn là
môn dạy đọc văn vừa thể hiện cách hiểu thực sự bản chất của văn học, vừa hiểu
đúng thực chất của việc dạy văn là dạy năng lực, phát triển chủ thể năng lực của
học sinh” [166, tr.2]. Cách dạy văn theo kiểu thầy cảm thụ tác phẩm, truyền
giảng cho HS, HS thụ động tiếp thu đã không còn phù hợp mà phải là HS trực
tiếp đọc VB và kiến tạo nên ý nghĩa của VB thông qua hệ thống các hoạt động,
hành động, thao tác. Nghiên cứu về đọc hiểu, về tiếp nhận văn học trong giai
đoạn gần đây đã chỉ ra vai trò quan trọng của tri thức nền độc giả sở hữu đối với
việc kiến tạo nghĩa của VB nghệ thuật ngôn từ. Nền tảng tri thức mà độc giả có
và cần có ấy rất phong phú, song có thể khái quát thành tri thức miêu tả
(declarative knowledge) và tri thức phƣơng pháp (procedure knowledge). Hai
loại tri thức này có đặc điểm khác biệt, có vai trò riêng đối với quá trình đọc hiểu
song có thể chuyển hóa sang nhau một cách linh hoạt và có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau. Từ các nghiên cứu đã đặt ra câu hỏi cho phƣơng pháp dạy học văn là


2
vậy thì làm thế nào để tạo dựng nền tảng đọc hiểu cho độc giả, giúp họ sở hữu và
chuyển hóa tri thức miêu tả sang tri thức phƣơng pháp và sử dụng nguồn tri thức
nền đó để tự mình chiếm lĩnh văn bản nghệ thuật trong hoạt động đọc văn ?
1.2. Thơ mới 1932 – 1945 (Thơ mới) là một hiện tƣợng độc đáo của văn học
Việt Nam, từ khi ra đời đến nay thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê
bình văn học, làm đắm say biết bao thế hệ độc giả. Thơ mới đã trải qua biết bao “thăng
trầm” [88]. Có giai đoạn, Thơ mới bị xem nhƣ là đứa con lạc loài của gia đình văn học
dân tộc. Ở chế độ ta, đến những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, Thơ mới mới
đƣợc đánh giá đúng với giá trị của nó, đƣợc đƣa vào học trong nhà trƣờng phổ thông.
Thế rồi hơn 30 năm qua, sau nhiều lần cải cách chƣơng trình sách giáo khoa (SGK)
Ngữ văn phổ thông, Thơ mới luôn luôn giữ một vị trí quan trọng trong chƣơng trình và
đây là một mảng chƣơng trình hết sức hấp dẫn ngƣời dạy cũng nhƣ ngƣời học.
Về mặt phƣơng pháp, việc dạy học Thơ mới trong nhà trƣờng qua các thời kì có
nhiều điểm khác biệt. Trƣớc 1975, ở nhà trƣờng miền Nam, những tác phẩm Thơ mới
đƣợc đƣa vào chƣơng trình ở nội dung thuyết trình văn học, lối dạy học nghiêng về
hoạt động bình thơ, tán tụng. Trƣớc năm 2000, SGK, sách giáo viên (SGV) văn học
biên soạn về dạy học Thơ mới chƣa dựa trên tƣ tƣởng lí thuyết đọc hiểu nên dạy học
tác phẩm văn học nói chung và Thơ mới nói riêng gọi là “giảng văn”, vai trò của HS
nhƣ là một bạn đọc sáng tạo, kiến tạo ý nghĩa của tác phẩm chƣa đƣợc đề cao. Từ khi lí
thuyết về đọc hiểu VB, lí thuyết tiếp nhận văn học đƣợc vận dụng vào lĩnh vực phƣơng
pháp dạy học văn ở nƣớc ta, hoạt động “giảng văn” đƣợc thay bằng hoạt động dạy học
đọc hiểu. HS sẽ đƣợc hƣớng dẫn cách thức đọc văn bản văn học (VBVH) để tiếp nhận
những giá trị nội dung, nghệ thuật của nó, trở thành ngƣời đồng sáng tạo với tác giả.
1.3. Để nghiên cứu văn học, từ trƣớc đến nay ngƣời ta sử dụng rất nhiều
phƣơng pháp, trong đó có phƣơng pháp loại hình. Vấn đề loại hình không chỉ có ý
nghĩa với nhà nghiên cứu văn học mà còn có ý nghĩa với bạn đọc trong tiếp nhận
văn học nói chung, bạn đọc HS trong đọc hiểu VB ở nhà trƣờng phổ thông nói
riêng. Thơ mới “có thi pháp mới, một kiểu trữ tình mới” [162, tr.107] so với thơ
trƣớc đó. Nói các khác, Thơ mới có những đặc trƣng rõ rệt về loại hình và những
đặc điểm về loại hình của Thơ mới đã đƣợc nghiên cứu. Việc trang bị những tri
thức về loại hình Thơ mới 1932 – 1945 cho HS là điều có thể thực hiện đƣợc. Với
những tri thức về loại hình Thơ mới 1932 – 1945 mà HS đƣợc trang bị, giáo viên


3
(GV) có thể giúp HS chuyển hóa thành tri thức phƣơng pháp để các em đọc hiểu tốt
hơn những bài thơ cụ thể trong chƣơng trình các em đang học.
1.4. Ở chƣơng trình Ngữ văn phổ thông, HS đƣợc học nhiều loại hình thơ nên
nắm vững đặc điểm của từng loại hình và vận dụng chúng để đọc hiểu những bài thơ cụ
thể là việc làm cần thiết. Với loại hình Thơ mới 1932 – 1945, trong các công trình nghiên
cứu cũng nhƣ thực tiễn dạy học, việc vận dụng đặc điểm loại hình để đọc hiểu những bài
thơ cụ thể từ trƣớc đến nay chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. SGK, SGV cho đến các tài
liệu tham khảo, hƣớng dẫn dạy học đọc hiểu mới chỉ điểm đến lẻ tẻ nhƣ là những lƣu ý,
hoặc mới dừng lại ở việc cung cấp các tri thức loại hình cho GV và HS chứ chƣa có
những nghiên cứu bài bản, hệ thống về vấn đề dạy học đọc hiểu nói chung, dạy học đọc
hiểu Thơ mới nói riêng từ đặc điểm loại hình. Từ trƣớc đến nay cũng chƣa có công trình,
luận văn, luận án nào nghiên cứu việc dạy học đọc hiểu Thơ mới theo đặc điểm loại
hình. Qua thực tiễn dạy học, chúng tôi nhận thấy nếu vận dụng những đặc điểm loại hình
Thơ mới nhƣ là định hƣớng để giúp HS đọc hiểu những tác phẩm Thơ mới cụ thể có lẽ
sẽ đạt hiệu quả tốt. Chính vì thế, chúng tôi chọn đề tài Dạy học đọc hiểu Thơ mới 1932 –
1945 ở trường phổ thông theo đặc điểm loại hình để nghiên cứu nhằm góp phần vào việc
đổi mới và nâng cao hiệu quả dạy học đọc hiểu Thơ mới trong nhà trƣờng phổ thông nói
riêng và dạy học đọc hiểu VBVH nói chung.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tƣợng nghiên cứu của luận án là đặc điểm loại hình Thơ mới, các
phƣơng pháp, biện pháp hƣớng dẫn HS lớp 11 đọc hiểu những bài Thơ mới trong
chƣơng trình Ngữ văn theo đặc điểm loại hình.
Phạm vi nghiên cứu của luận án là những bài thơ thuộc phong trào Thơ mới
những công trình nghiên cứu về loại hình Thơ mới của những ngƣời đi trƣớc, các đặc
điểm loại hình Thơ mới kết tinh trong những bài Thơ mới đƣợc đƣa vào chƣơng trình
Ngữ văn trung học (giới hạn trong chƣơng trình lớp 11), lí thuyết về đọc hiểu VB và
vận dụng lí thuyết đọc hiểu VB vào đọc hiểu Thơ mới theo đặc điểm loại hình.
Sở dĩ chúng tôi giới hạn đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu là những bài Thơ
mới trong chƣơng trình lớp 11 (chứ không mở rộng đến chƣơng trình lớp 8) là vì
mức độ yêu cầu về kiến thức – kĩ năng đạt đƣợc khi đọc hiểu những bài Thơ mới ở
lớp 11 cao hơn hẳn lớp 8, nếu không vận dụng đặc điểm loại hình một cách bài bản, có
hệ thống để đọc hiểu thì HS khó đạt đƣợc những kiến thức – kĩ năng quan trọng này.


4
Về đối tƣợng HS tham gia hoạt động thực nghiệm (TN), chúng tôi chỉ thực
hiện hoạt động dạy TN cho đối tƣợng HS lớp 11 trên địa bàn một số tỉnh đồng bằng
sông Cửu Long, nơi có điều kiện học tập của HS tƣơng đối khó khăn, phƣơng pháp
dạy học còn chậm đổi mới. Nếu đề tài khẳng định đƣợc tính khoa học, hiệu quả đối
với đối tƣợng HS vùng này thì sẽ có khả năng vận dụng với mọi đối tƣợng HS và
vùng các vùng miền khác nhau trên cả nƣớc.

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
3.1. Mục đích nghiên cứu đề tài Dạy học đọc hiểu Thơ mới 1932 – 1945 ở
trƣờng phổ thông theo đặc điểm loại hình nhằm khẳng định dạy học đọc hiểu
VBVH theo đặc điểm loại hình là một việc làm có cơ sở khoa học; Thơ mới là một
trào lƣu thơ có đặc điểm loại hình rõ rệt, trong trƣờng phổ thông, dạy học đọc hiểu
Thơ mới theo đặc điểm loại hình là một cách thức dạy học đọc hiểu tốt.
3.2. Để đạt đƣợc mục đích đề ra, luận án sẽ thực hiện các nhiệm vụ nghiên
cứu: xác định cơ sở khoa học của đề tài; hệ thống lại các đặc điểm loại hình của
Thơ mới qua việc tổng hợp những nghiên cứu về loại hình Thơ mới của những
ngƣời đi trƣớc; đề ra các yêu cầu khi dạy đọc đọc hiểu Thơ mới cũng nhƣ xác định
các biện pháp dạy học đọc hiểu Thơ mới theo đặc điểm loại hình; TN sƣ phạm
nhằm khẳng định tính khoa học của đề tài nghiên cứu.

4. Giả thuyết khoa học
Việc hƣớng dẫn HS đọc hiểu Thơ mới trong chƣơng trình Ngữ văn phổ
thông theo đặc điểm loại hình nhằm trang bị cho HS một cách đọc hiểu VB mà
trƣớc đây chƣa đƣợc quan tâm đúng mức: đọc hiểu theo đặc điểm loại hình. Nếu
luận án này khẳng định đƣợc các yêu cầu, biện pháp dạy đọc hiểu Thơ mới theo đặc
điểm loại hình nhƣ đề ra có cơ sở khoa học thì sẽ giúp cho việc dạy học loại hình
thơ này nói riêng cũng nhƣ VBVH nói chung khai thác đúng bản chất, quy luật tồn
tại của một văn bản nghệ thuật, mang lại hiệu quả cao.

5. Phương pháp nghiên cứu
Quá trình thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu
sau:
- Phƣơng pháp loại hình: Dùng phƣơng pháp loại hình để phân loại các đặc


5
điểm của Thơ mới và xác định những đặc điểm loại hình Thơ mới cho những bài
thơ cụ thể sẽ đọc hiểu. Mặt khác, phƣơng pháp loại hình đƣợc sử dụng để nhận diện
loại hình Thơ mới trong thế đối thoại với các loại hình thơ trƣớc và sau nó trong
hành trình thơ trữ tình Việt Nam.
- Phƣơng pháp phân tích tổng hợp: Giúp tìm hiểu các vấn đề lí luận thu nhận
đƣợc nhằm rút ra những kết luận cần thiết cho việc đề xuất các biện pháp.
- Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu: Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp so sánh
trƣớc hết nhƣ một ý thức về hƣớng giải quyết vấn đề tƣơng đồng loại hình, khác
biệt loại hình của Thơ mới với các loại hình thơ trƣớc và sau nó.
- Phƣơng pháp điều tra, khảo sát: Giúp tìm hiểu thực tiễn dạy đọc hiểu
VBVH nói chung và Thơ mới nói riêng trong nhà trƣờng phổ thông hiện nay. Kết
quả sẽ đƣợc xử lí, đánh giá nhằm đề xuất các biện pháp đọc hiểu Thơ mới.
- Phƣơng pháp thống kê: Đƣợc sử dụng để kiểm định giả thuyết, nghiên cứu, so
sánh, đối chiếu các số liệu và kết quả TN, đối chứng trong kết quả học tập của HS
nhóm TN và đối chứng nhằm khẳng định kết quả TN lá có ý nghĩa khoa học, đề tài
nghiên cứu là có giá trị.
- Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm (TNSP): Kiểm tra đánh giá hiệu quả
qua các thiết kế thể nghiệm, kiểm tra tính khoa học, thực tiễn của đề tài.
6. Đóng góp mới của luận án
Luận án xây dựng cơ sở lí luận của việc dạy học đọc hiểu VB nói chung và
dạy học đọc hiểu Thơ mới nói riêng theo loại hình. Luận án đề xuất các yêu cầu và
biện pháp để thực hiện việc dạy học đọc hiểu Thơ mới theo đặc điểm loại hình, qua
đó góp phần rèn luyện các kĩ năng đọc hiểu cơ bản cho HS. Luận án góp thêm một
cách thức đọc hiểu VB, không những với Thơ mới mà còn với những loại hình tác
phẩm văn chƣơng khác nhằm nâng cao hiệu quả của dạy học đọc hiểu trong nhà
trƣờng phổ thông.
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục, luận án
đƣợc cấu trúc thành bốn chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu của đề tài.
Chƣơng 2: Cơ sở khoa học của việc dạy học đọc hiểu Thơ mới ở trƣờng phổ
thông theo đặc điểm loại hình .


6
Chƣơng 3: Yêu cầu và biện pháp dạy học đọc hiểu Thơ mới ở trƣờng phổ
thông theo đặc điểm loại hình .
Chƣơng 4: Thực nghiệm sƣ phạm.
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Về vấn đề loại hình trong nghiên cứu văn học
Văn học là một hình thái ý thức thẩm mĩ, một loại hình nghệ thuật bên cạnh
các loại hình nghệ thuật khác của nhân loại nhƣ hội họa, điêu khắc, múa, âm nhạc,
điện ảnh, … Quá trình xác định văn học là một loại hình nghệ thuật đã có từ rất lâu.
Ngày nay, trong các giáo trình lí luận văn học, những đặc trƣng của loại hình văn học
luôn luôn đƣợc khẳng định. Cách đây hơn hai nghìn ba trăm năm, Aristote (384 – 322
tr. CN) đã phân chia các loại hình nghệ thuật và chỉ ra sức mạnh của “thi ca”, tức văn
học. Nếu nhƣ Aristote chỉ căn cứ vào đặc điểm “mô phỏng” nhƣ là một “chất liệu” để
phân chia các loại hình nghệ thuật thì G.E. Lessing (1729 – 1781) đã biết căn cứ vào
chất liệu xây dựng hình tƣợng nghệ thuật để chỉ ra sự khác nhau giữa hai loại hình
nghệ thuật thơ và họa. Ảnh hƣởng Aristote, G.E. Lessing cũng cho rằng thơ và họa
đều là những nghệ thuật mô phỏng nhƣng ông nhận ra chất liệu dùng để mô phỏng
không nhƣ nhau, và mỗi nghệ thuật lại có những cách thức mô phỏng đặc thù. Ông đã
chỉ ra đặc điểm khác nhau của phƣơng thức tái hiện đời sống bằng lời nói trong sáng
tác văn học (thơ ca) với phƣơng thức tái hiện đời sống bằng màu sắc, đƣờng nét trong
sáng tác hội họa: Hội họa sử dụng “các vật thể và màu sắc tồn tại trong không gian
làm phƣơng tiện và kí hiệu, còn thơ ca thì sử dụng các âm thanh phát ra từng tiếng lần
lƣợt theo thời gian” (dẫn theo [113, tr. 186]). “Có nghĩa một bên là nghệ thuật không
gian, một bên là nghệ thuật thời gian” [113, tr. 186]. Sự phân chia của Lessing chính
xác khi đối sánh giữa văn học (thơ ca) và hội họa nhƣng chƣa chắc đúng khi xem xét
văn học trong mối quan hệ với các loại hình nghệ thuật khác bởi vì không phải chỉ có
văn học thuộc “nghệ thuật thời gian” mà còn có cả âm nhạc, múa chẳng hạn. Vì vậy,
nếu căn cứ vào đặc điểm “nghệ thuật không gian”, “nghệ thuật thời gian” để phân


7
chia loại hình nghệ thuật thì sẽ không ổn thỏa. Ngày nay, những đặc trƣng của loại
hình văn học và các loại hình nghệ thuật khác đã đƣợc xác định một cách khoa học
căn cứ vào chất liệu xây dựng hình tƣợng. Trong sự đối sánh với tất cả các loại hình
nghệ thuật khác, văn học với tƣ cách là nghệ thuật ngôn từ mang những đặc điểm nhƣ
tính hình tƣợng – gián tiếp, tính tƣ duy – trực tiếp, tính vô cực hai chiều về không
gian thời gian, tính phổ biến trong sáng tác, truyền bá và tiếp nhận,…
Văn học là một loại hình nghệ thuật và trong bản thân văn học cũng có
những nhóm tác phẩm cùng có chung những đặc trƣng cơ bản nào đó, chúng làm
nên những loại hình tác phẩm. Ví dụ nhƣ thời cổ đại, Aristote đã phân loại loại hình
nghệ thuật ngôn từ thành các loại hình nhỏ hơn nhƣ nghệ thuật tự sự, trữ tình và
kịch. Trong các “loại hình nhỏ” này, có thể phân chia ra các loại hình nhỏ hơn nữa,
tùy theo những tiêu chí làm chuẩn để căn cứ phân loại, điển hình nhƣ trong loại
hình trữ tình có loại hình thơ, trong loại hình thơ có rất nhiều loại hình thơ nữa vì
chúng có chung “cộng đồng thẩm mĩ”- những yếu tố tƣơng đồng nhất định. Những
nghiên cứu này chính là những nghiên cứu về loại hình trong lĩnh vực văn học.
Những nghiên cứu về loại hình trong lĩnh vực văn học, ở nƣớc ngoài, từ sau
Aristote, có thể kể đến G. Hegel, V. Girmunxki, F. Schiller, L.I. Timôphêep, M.B.
Khravchenko, V.IA.Propp. Trong Mĩ học, Hegel đã chia nghệ thuật (trong đó có
văn học) thành các loại hình: tƣợng trƣng, cổ điển và lãng mạn. Dựa vào cách
phân loại nói trên, Girmunxki cũng chia thơ ca ra hai loại: thơ ca cổ điển và thơ ca
lãng mạn. Kế thừa quan niệm của Schiller về hai loại thơ ca: thơ ca hồn nhiên và
thơ ca tình cảm, Timôphêep vận dụng tiêu chuẩn mối quan hệ giữa văn học với
hiện thực đã chia thực tiễn văn học ra hai kiểu sáng tác: kiểu sáng tác hiện thực và
kiểu sáng tác lãng mạn (dẫn theo [26, tr. 70, 71]. Khravchenko, trong công trình
Những vấn đề lí luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học đã đề xuất việc
nghiên cứu loại hình văn học dựa trên cấu trúc của tác phẩm, đặt trong mối quan
hệ chặt chẽ có tính biện chứng với xã hội, đời sống. Tuy nhiên, trong công trình
của mình Khravchenko lại không làm rõ đƣợc khái niệm loại hình, phân biệt loại
hình, khuynh hƣớng, trào lƣu. Ông cũng “chƣa đƣa ra đƣợc một hệ thống lí thuyết
về loại hình, xem nhƣ một hiện tƣợng văn học hay một nhóm hiện tƣợng văn học


8
có những quy luật nội tại chi phối sự hình thành và phát triển của nó nhƣ là những
hệ thống nguyên tắc cho phép nhận diện và phân loại các hiện tƣợng văn học vào
các loại hình khác nhau” [173, tr. 24]
Một công trình quan trọng nghiên cứu loại hình trong lĩnh vực văn học là Hình
thái học truyện cổ tích của Propp. Hình thái học trong công trình của Propp đƣợc hiểu
là những hình dạng đƣợc tạo nên bởi những tƣơng đồng có tính quay luật về mặt đặc
tính, cấu trúc sinh trƣởng, tồn tại,…Nhƣ vậy, nó đã có nhiều nội dung tƣơng đồng với
loại hình học. Trong nghiên cứu của mình về truyện cổ tích, Propp khẳng định có
những hằng số và biến số chi phối sự tồn tại của truyện nhƣ những tên gọi thay đổi
nhƣng thuộc tính, hành động, chức năng của nhân vật không thay đổi. Nhƣ vậy, có thể
dựa vào hằng số ấy để nghiên cứu một loạt truyện cổ tích. Khẳng định của Propp dựa
trên sự khảo sát hàng loạt truyện cổ tích và ông nhận ra “nhân vật truyện cổ tích dù
cho có đa dạng đến đâu thì cũng thƣờng làm nhƣ nhau” [144, tr. 41], các biện pháp
mà nhân vật thực hiện có thể khác nhau nhƣng tính chất và chức năng vẫn không thay
đổi. Những điều “bất biến” ấy chính là những quy luật chi phối sự hình thành, vận
động của truyện cổ tích thần kì. Khi nghiên cứu những chức năng của nhân vật truyện
cổ thần kì, Propp nhận thấy “số chức năng là hết sức ít trái lại số nhân vật là hết sức
nhiều. Chính vì vậy truyện cổ tích thần kì có hai tính chất: một mặt nó sặc sỡ và chói
lọi, mặt khác, nó nhất dạng một cách kì lạ, nó lặp đi lặp lại” [144, tr. 42]. Nhƣ vậy,
Propp cũng đã chạm đến mục đích sau cùng của phƣơng pháp loại hình học là “truy
tìm quy luật bất biến, hằng định chi phối sự hình thành, vận động và phát triển của
các hiện tƣợng văn học, chỉ ra tính nhất dạng trong phong phú, lí giải cơ sở tồn tại và
hiệu quả thẩm mĩ của các hiện tƣợng văn học” (dẫn theo [173, tr. 17]).
Ở trong nƣớc, có những công trình sau đây nghiên cứu về loại hình trong
lĩnh vực văn học trên phƣơng diện thuần túy lí thuyết (loại hình học và phƣơng
pháp loại hình): Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Lí luận văn học so sánh
của Nguyễn Văn Dân, Giao lưu văn học và sân khấu của Phan Trọng Thƣởng. Từ lí
thuyết loại hình đến thực tiễn ứng dụng có những công trình nhƣ Sơ bộ tìm hiểu
những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám của Đinh Gia Khánh, Nho
giáo và văn học trung cận đại Việt Nam của Trần Đình Hƣợu, Loại hình học tác giả


9
văn học: Nhà Nho tài tử và Văn học Việt Nam, Giao thoa Đông – Tây và sự chuyển
đổi hệ hình văn học của Trần Ngọc Vƣơng, Những thế giới nghệ thuật thơ của Trần
Đình Sử, Giọng điệu trong thơ trữ tình của Nguyễn Đăng Điệp, Loại hình tác phẩm
Thiền uyển tập anh của Nguyễn Hữu Sơn, Kết cấu thơ trữ tình nhìn từ góc độ loại
hình của Phan Huy Dũng, Loại hình Thơ mới Việt Nam (1932 – 1945) của Nguyễn
Thanh Tâm,…
Trong các công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn Văn Dân cho rằng
phƣơng pháp loại hình “là một phƣơng pháp đƣợc xây dựng trên cơ sở của một
nguyên tắc về tính cộng đồng của các hiện tƣợng khác nhau” [19, tr.101]. Ông cũng
cho rằng loại hình “là một thuật ngữ chức năng chứ không phải là thuật ngữ định
danh” [20, tr.294], nghĩa là nó đƣợc sử dụng để làm sáng tỏ một hiện tƣợng văn học
hơn là dùng để gọi tên hiện tƣợng văn học đó. Những giới thiệu và diễn giải của
Nguyễn Văn Dân giúp ngƣời đọc hiểu thêm về phƣơng pháp loại hình và những khả
năng của nó. Phan Trọng Thƣởng trong Những thu hoạch bước đầu về phương pháp
loại hình trong nghiên cứu văn học, Vấn đề thống nhất và đa dạng của chủ nghĩa
hiện thực xã hội chủ nghĩa từ góc độ loại hình học (in trong quyển Giao lưu văn
học và sân khấu) đã làm rõ các vấn đề nhƣ “cộng đồng loại hình”, “tƣơng đồng loại
hình”, “liên hệ loại hình”, “định tính loại hình”, “quy luật loại hình”, “tính trùng lặp
tƣơng đối hằng định”. Cộng đồng loại hình chính là cộng đồng của các hiện tƣợng
văn học có chung những đặc trƣng nào đó để có thể định danh chúng bằng một cái
tên cụ thể, bao quát. Trong sáng tác của nghệ sĩ, trong các hiện tƣợng văn học nhất
định thƣờng có những yếu tố lặp đi lặp lại phản ánh những quy luật bên trong của
các hiện tƣợng văn học đó có thể gọi đó là những yếu tố làm nên tính trùng lặp
tƣơng đối hằng định. Mối liên hệ giữa những hiện tƣợng văn học có những nét trùng
lặp tƣơng đối này gọi là mối liên hệ loại hình. Các hiện tƣợng có chung những dấu
hiệu trùng lặp hằng định ấy làm thành một cơ chế mà loại hình học gọi là tƣơng
đồng loại hình…
Năm 1966, nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh cho ra mắt quyển Sơ bộ tìm
hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám. Trong cuốn sách này,
mặc dù giáo sƣ Đinh Gia Khánh nghiên cứu về loại hình “truyện Tấm Cám”, tức là


10
những truyện cổ tích giống truyện Tấm Cám nhƣng ông vẫn chƣa gọi nó là “loại
hình” mà gọi là “kiểu truyện Tấm Cám”. Tuy nhiên, về mặt ngữ nghĩa thì “kiểu”
hay “loại hình” cũng đều là một. Cho nên, trên thực tế có thể nói việc nghiên cứu
loại hình, hay phƣơng pháp loại hình đã đƣợc áp dụng thực sự ở nƣớc ta bắt đầu từ
những năm 1960 và giáo sƣ Đinh Gia Khánh đƣợc coi là một trong những ngƣời
đầu tiên áp dụng phƣơng pháp này một cách đúng nguyên tắc.
Trần Đình Sử trong quyển Những thế giới nghệ thuật thơ đã thể hiện cái nhìn
loại hình của mình khi phân chia thơ trữ tình thành các loại trữ tình cổ điển, lãng
mạn, tƣợng trƣng, cách mạng. Vào thập niên 90 (thế kỷ XX) Trần Đình Hƣợu, trong
cuốn Nho giáo và văn học trung cận đại Việt Nam đã xếp nhà Nho thời văn học
Trung đại Việt Nam vào ba mẫu (loại hình) là nhà Nho hành đạo, nhà Nho ẩn dật và
nhà Nho tài tử. Tiếp theo, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vƣơng với công trình Loại
hình học tác giả văn học − Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam tập trung soi rọi loại
hình thứ ba, loại hình mà theo ông, đã có vai trò lớn đối với văn học − nói đúng hơn
là đối với bộ phận văn học mang tính nghệ thuật, cũng thƣờng là văn học viết bằng
ngôn ngữ dân tộc (tiếng Việt, chữ Nôm), từ thế kỷ XVIII. Năm 2001, Nguyễn Hữu
Sơn đã dùng phƣơng pháp loại hình để nghiên cứu tác phẩm Thiền uyển tập anh.
Ông đã đi sâu vào tìm hiểu cấu trúc VB, phân tích các thành tố nội dung và nghệ
thuật, các phƣơng thức tƣ duy và môtip tƣơng đồng ở từng tiểu truyện thiền sƣ từ đó
xác định những đặc điểm thuộc về loại hình tác phẩm.
Điểm qua những công trình nghiên cứu về loại hình trong lĩnh vực văn học
nhƣ vừa trình bày ở trên, chúng ta nhận thấy, loại hình văn học và vận dụng phƣơng
pháp loại hình để nghiên cứu văn học đã đƣợc đặt ra từ rất lâu và thu đƣợc nhiều kết
quả. Loại hình nhƣ một phƣơng pháp nghiên cứu bên cạnh các phƣơng pháp khác
trong hệ phƣơng pháp luận nghiên cứu văn học nhƣ phƣơng pháp thực chứng,
phƣơng pháp hình thức, phƣơng pháp hiện tƣợng, phƣơng pháp ký hiệu học,
phƣơng pháp cấu trúc, phƣơng pháp trực giác, phƣơng pháp tâm lí học, phƣơng
pháp giải thích học, phƣơng pháp xã hội học, phƣơng pháp tiểu sử, phƣơng pháp
văn hóa học, phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp mĩ học, phƣơng pháp thống
kê,…Ý nghĩa quan trọng nhất của phƣơng pháp loại hình trong nghiên cứu văn học


11
là để phân loại, đánh giá các hiện tƣợng văn học trong mối quan hệ cộng đồng giá
trị và chứng minh cho sự tồn tại của một loại hình văn học nào đó. Xác định ý nghĩa
của phƣơng pháp loại hình trong nghiên cứu khoa học nói chung và văn học nói
riêng, Nguyễn Văn Dân viết: “ Trong thực tiễn nghiên cứu khoa học, có những hiện
tƣợng nếu chỉ đƣợc nghiên cứu một cách riêng biệt, thì ta khó có thể xác định đƣợc
danh tính và giá trị của nó, bởi lẽ ta không có đƣợc các tiêu chuẩn và hệ quy chiếu
của nó để dựa vào đó mà đánh giá nó. Đặc biệt là đối với những hiện tƣợng mới,
nếu ta xác định đƣợc loại hình của nó, thì ta chỉ việc lấy các tiêu chuẩn và ý nghĩa
của loại hình đó để gán cho nó là có thể rất dễ dàng đánh giá đƣợc giá trị của nó.
Nếu không xác định đƣợc loại hình của nó, thì ta sẽ suốt đời loay hoay với nó nhƣ
đứng trƣớc một con vật lạ mà không biết gọi tên nó là gì, và nhƣ thế dĩ nhiên ta
cũng không thể biết đƣợc nó có ý nghĩa và giá trị đối với chúng ta” [20, tr.295].
Nguyễn Văn Dân đã đƣa ra một ví dụ trong thực tiễn văn học, đó là năm 2001, giới
lí luận – phê bình văn học nƣớc ta băn khoăn khi phải xác định danh phận của một
loại truyện đƣợc gọi là “truyện kinh dị”. Khi ấy truyện kinh dị dành cho thiếu nhi
đƣợc xuất bản rất nhiều, làm cho nhiều ngƣời lo lắng về sự tác động của nó đến tâm
hồn, tình cảm của tuổi thơ, bởi ngay cái tên “kinh dị” cũng cho thấy truyện không
phù hợp với trẻ. Tuy nhiên, nếu xác định đƣợc truyện kinh dị không phải là một loại
hình văn học tách biệt trong hệ thống các loại hình sáng tác văn học, nó là một tiểu
loại hình nằm trong loại hình văn học huyễn tƣởng (hay còn gọi là văn học kì ảo) thì
có lẽ sẽ chẳng có tâm lí hoang mang lo lắng khi thấy trẻ con đọc loại truyện này, bởi
bản thân văn học huyễn tƣởng không phải là văn học độc hại. Chỉ khi ngƣời ta khai
thác yếu tố ma quái và khuếch trƣơng nó một cách thuần túy thì chúng ta mới có loại
truyện kinh dị giải trí nằm trong loại hình huyễn tƣởng nói chung. Và nhƣ vậy, không
thể đem truyện kinh dị ra để thay cho loại hình văn học huyễn tƣởng. Việc những
ngƣời làm sách đã “xếp tất cả các loại truyện thuộc nhiều tiểu loại hình khác nhau của
văn học huyễn tƣởng vào cùng một rọ và đƣợc dán chung một cái nhãn ngoài bìa là
truyện quái dị, truyện kinh dị làm cho ngƣời đọc rất bối rối trong việc tiếp nhận, nhất
là độc giả nhỏ tuổi” [20, tr. 297]. Những truyện huyễn tƣởng có ý nghĩa nhân văn,
giáo dục nhân cách trẻ em, khơi dậy trí tƣởng tƣợng mà lại bị gán cho cái tên là “kinh


12
dị” thì rõ ràng là chƣa có sự soi sáng của lí luận về loại hình học.
Trong thực tiễn hoạt động văn học, các hiện tƣợng văn học không ngừng
xuất hiện đặt ra yêu cầu xác định chúng trong một “hệ giá trị”. Nếu không xác định
đƣợc loại hình của chúng thì quá trình đánh giá giá trị chúng sẽ gặp khó khăn. Nhƣ
hiện tƣợng thơ Trần Dần, Lê Đạt, Dƣơng Tƣờng, Hoàng Hƣng trƣớc đây chẳng hạn.
Có một thời gian, khi những tác phẩm của các nhà thơ theo “dòng Chữ” (chữ dùng
của Hoàng Hƣng) này xuất hiện, phần lớn độc giả cảm thấy “nghịch nhĩ”, không
chấp nhận, thậm chí bị lên án bởi thơ của các tác giả này rất khó hiểu: từ ngữ kì
quặc, nội dung tắc tị, hình ảnh lắp ghép…
Trên đây chúng tôi vừa điểm sơ lƣợc qua lịch sử loại hình học, phƣơng pháp
loại hình trong nghiên cứu văn học. Rõ ràng, loại hình học văn học đã đƣợc nghiên cứu
từ rất lâu và phƣơng pháp loại hình cũng đã đƣợc sử dụng từ rất lâu để nghiên cứu văn
học. Sau đây chúng tôi trình bày tổng quan về nghiên cứu loại hình Thơ mới.
1.2. Về nghiên cứu loại hình Thơ mới
Lúc Thơ mới ra đời (chính thức vào năm 1932), các vấn đề về thi pháp,
giọng điệu, kết cấu, trƣờng phái, khuynh hƣớng,… chƣa đƣợc nghiên cứu đầy đủ
nhƣng từ diễn đàn của Hội khuyến học Sài Gòn, Nhà học hội Quy Nhơn đến mặt
báo Phụ nữ Tân văn, Phong hóa, Ngày nay, Văn học tạp chí, Hà Nội báo, An Nam
tạp chí, Tiểu thuyết thứ bảy,… Thơ mới và thơ cũ đã tranh luận với nhau một cách
quyết liệt và những ngƣời đấu tranh cho Thơ mới đã “thuyết minh” những đặc trƣng
mang tính loại hình của một lối thơ vừa xuất hiện. Đó là một loại thơ “đem ý thật có
trong tâm khảm tả ra bằng những câu có vần mà không phải bó buộc bởi những
niêm luật gì hết” [180, tr. 52, 53]. Sau 1937, Thơ mới nổi lên những đỉnh cao thực
sự để có thể từ đó nhận ra bƣớc phát triển, định hình của một loại hình thơ. Những
bài viết của Hàn Mặc Tử về Chế Lan Viên, Bích Khê, bài tựa của Thế Lữ cho Thơ
thơ của Xuân Diệu,… đã khẳng định tƣ cách loại hình của Thơ mới. Từ những bài
viết này có thể nhận ra loại hình Thơ mới từ các phƣơng diện kiểu nhà thơ, khuynh
hƣớng thẩm mĩ hay những tƣơng đồng về mĩ cảm mà loại hình học gọi là “cộng
đồng thẩm mĩ” (M.B. Khravchenko),… Đến những năm 1939, 1940 với sự ra đời
của Thơ Điên (Hàn Mặc Tử - 1939), Tinh huyết (Bích Khê - 1939), Lửa thiêng (Huy


13
Cận - 1940),… về cơ bản các nhà nghiên cứu, phê bình Thơ mới đều cho rằng Thơ
mới đã đến thời kì hƣng thịnh nhất. Tiểu luận Một thời đại trong thi ca và công
trình Thi nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh, Hoài Chân đã chính thức vẽ nên
diện mạo Thơ mới với tính chất là một loại hình thơ. Trƣớc năm 1945, những công
trình này của Hoài Thanh, Hoài Chân là nghiên cứu sâu, toàn diện nhất về loại hình
Thơ mới. Đầu tiên, hai ông tìm hiểu những ảnh hƣởng của tƣ tƣởng, văn hóa
phƣơng Tây làm tiền đề cho sự ra đời của Thơ mới: “Phƣơng Tây bây giờ đã đi tới
chỗ sâu nhất trong hồn ta. Ta không còn có thể vui cái vui ngày trƣớc, yêu, ghét
giận hờn nhất nhất nhƣ ngày trƣớc (…). Sống trên đất nƣớc Việt nam ở đầu thế kì
hai mƣơi, những mối tình của ta không khỏi có cái màu sắc riêng, cái dáng dấp
riêng của thời đại (…). Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng đổi mới vậy.
Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm –
u uất, cái khát vọng đƣợc thành thực” [175, tr. 17]. Hai ông nhận ra những đổi mới
về hình thức thơ nhƣ “khuôn khổ bài thơ bắt đầu rạn nứt”, “phép dùng chữ , phép
đặt câu đổi mới một cách táo bạo cũng thay hình dáng câu thơ không ít”. Điều cốt
lõi nhất để phân biệt “thơ mới” với “thơ cũ” là “cái tôi” trữ tình và giọng điệu thơ
đã đƣợc hai ông nhận ra: “Ngày trƣớc là thời chữ ta, bây giờ là thời chữ tôi”, “Thực
chƣa bao guiờ thơ Việt nam buồn và nhất là xôn xao nhƣ thế”. Hoài Thanh, Hoài
Chân cũng đã chính thức vẽ nên diện mạo các thi sĩ đã làm nên hình thái Thơ mới
đồng thời cũng xác định các khuynh hƣớng thơ có đặc điểm riêng: Thơ mới thuần
Việt, Thơ mới ảnh hƣởng Đƣờng thi, Thơ mới ảnh hƣởng thơ Pháp. Trên phƣơng
diện nhận định về phong cách tác giả, Thi nhân Việt Nam cũng đã đề cập đến tiểu
loại hình tác giả Thơ mới với việc xác lập phong cách nghệ thuật của Thế Lữ, Lƣu
Trọng Lƣ, Huy Thông, Nguyễn Nhƣợc Pháp, Huy Cận, Nguyễn Bính, Chế Lan
Viên, Xuân Diệu,…
Phân tích những biểu hiện của Thơ mới, những tác giả nhƣ Lƣơng Đức
Thiệp, Kiều Thanh Quế quy về các tiểu loại hình (nhóm thơ) rất thú vị [183, tr. 55],
[147, tr. 14 - 15].
Trƣớc năm 1945, tuy có nhiều ý kiến bàn về những đặc điểm Thơ mới trong đối
sánh với thơ cũ, những khuynh hƣớng, phong cách nhà thơ – những vấn đề thuộc về


14
loại hình thơ nhƣng chƣa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, sâu sắc
về Thơ mới với tính chất là một “hệ hình” thẩm mĩ khác biệt với mĩ học trung đại.
Giai đoạn 1945 – 1975, do đặc điểm tình hình đất nƣớc, việc nghiên cứu Thơ
mới cũng nhƣ loại hình Thơ mới diễn ra kém sôi nổi hơn giai đoạn trƣớc. Những
công trình tiêu biểu có thể kể đến nhƣ cuốn Văn học sử trích yếu của Hạo Nhiên
Nghiêm Toản do Nhà sách Vĩnh Bảo xuất bản năm 1949. Tổng kết nhận thức của
mình về Thơ mới, Nghiêm Toản cho rằng Thơ mới thoát ra khỏi điển cố, luật lệ, mở
rộng chân trời thi tứ, dùng chữ mới mẻ, tinh vi,... Năm 1969 xuất hiện công trình
Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại của Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức. Công
trình này đề cập đến nhiều thể loại của văn học Việt Nam, nguồn gốc, sự vận động
của thể loại. Đáng chú ý là các tác giả đã bàn đến những thể thơ, thanh điệu, nhịp
điệu và vần trong phong trào Thơ mới, đồng thời nhận định “những hình thức biểu
hiện của Thơ mới không đoạn tuyệt với quá khứ hoặc mang tính chất ngoại lai”
[125, tr. 299]. Năm 1967, Thanh Lãng hoàn thành công trình Bảng lược đồ văn học
Việt Nam: Ba thế hệ của nền văn học mới 1862-1945 - 2 tập do Nxb Trình bày ấn
hành. Năm 1972, Thanh Lãng cho in Phê bình văn học thế hệ 1932, Phong trào Văn
hoá xuất bản. Riêng về nghiên cứu Thơ mới, Thanh Lãng trình bày trong Quyển hạ
của Bảng lược đồ văn học Việt Nam. Thanh Lãng đã nhận diện Thơ mới trên một số
phƣơng diện: Số câu trong bài thơ không hạn định/ Số chữ trong câu không hạn
định/ Cách hiệp vần luôn thay đổi, không bó buộc, theo lối phƣơng Tây/ Âm thanh
không gò bó vào khuôn vị nào, tự do biểu hiện theo ý tình. Tiết điệu cũng phát triển
tự do theo ý tình, thừa tự liên cú thơ Pháp, chú ý nhạc tính. Thanh Lãng đã chú ý
đến loại hình Thơ mới trên các phƣơng diện ý tình, âm thanh, vần, tiết điệu, nhạc
tính, số câu, số chữ,…
Từ năm 1989, Lê Đình Kỵ tái bản Thơ mới những bước thăng trầm (xuất bản
lần đầu năm 1964) nhận định về loại hình của Thơ mới trên các phƣơng diện: câu
thơ, nhịp điệu, cảm xúc cá nhân bùng nổ, chủ đề thiên nhiên mở rộng.
Năm 1992, xuất hiện Mắt thơ – Phê bình phong cách Thơ mới của Đỗ Lai
Thúy, phê bình phong cách học Thơ mới với những đỉnh cao rực rỡ của loại hình thơ
ca này. Đỗ Lai Thúy đã nhìn Thơ mới với tƣ cách là một loại hình thơ từ góc nhìn


15
phong cách nghệ thuật tác giả. Từ Xuân Diệu “ám ảnh thời gian” đến Huy Cận “khắc
khoải không gian”, kiểu tƣ duy thơ Hàn Mặc Tử đến kiến trúc chiêm bao của Đinh
Hùng, từ một Vũ Hoàng Chƣơng “Đào nguyên lạc lối” đến “đƣờng về chân quê” của
Nguyễn Bính,...Trƣớc đó, ông cũng nhìn ra đặc điểm loại hình của Thơ mới ở phƣơng
diện “một cái nhìn thế giới: quan niệm về con ngƣời, thời gian, không gian: “Cái nhìn
thế giới của con ngƣời cá nhân đƣợc phản ánh trọn vẹn trong Thơ mới. Những quan
niệm tân kì về con ngƣời, về không gian, thời gian, … là cơ sở của một triết học văn
hóa cho cái nhìn nghệ thuật của Thơ mới. Đây là sự quán xuyến, là tính chỉnh thể của
Thơ mới, nét khu biệt với những dòng thơ tồn tại cùng, trƣớc hoặc sau nó” [192, tr.15].
Nghiên cứu về loại hình Thơ mới phải nhắc đến những công trình của
GS.Trần Đình Sử trong Những thế giới nghệ thuật thơ với các bài viết phân định
loại hình thơ lãng mạn với thơ cổ điển, Thơ mới và sự đổi mới thi pháp thơ trữ tình
Việt Nam. Theo ông, Thơ mới đã mang lại một nhãn quan mới về ngôn ngữ thơ.
Thơ mới đem lại một ngôn ngữ thơ gắn với lời nói và dòng ngữ điệu – cảm xúc của
con ngƣời (thơ cổ giảm thiểu tới mức tối đa các yếu tố ngữ điệu, giọng điệu, màu
sắc, cảm xúc của tác giả). Không đơn giản là lời thơ “buông”, lời “văn xuôi”, “tự
do” mà là lời thơ đƣợc tổ chức theo một nguyên tắc khác: Tâm thế sáng tạo thơ đã
chuyển từ ý, hình sang lời, giọng, điệu. Câu Thơ mới và từ Thơ mới mất dần tính
độc lập để kết hợp nhau thành giọng bão hòa tình cảm cá thể. Câu Thơ mới đã đƣợc
chủ thể hóa, cá thể hóa cao độ để gắn với lời phân trần, hơi thở dài, tiếng giục giã,
câu tâm sự. Chất liệu thơ không chỉ là từ, mà là ngữ. GS.Trần Đình Sử chỉ ra rằng,
cùng với câu thơ chủ thể hóa về giọng điệu, ngữ điệu là cảm xúc chủ quan. Cảm
xúc trong thơ cổ gợi lên bằng thuộc tính khách thể, còn ở Thơ mới cảm xúc trở
thành đối tƣợng miêu tả. Xét về đơn vị câu thơ, câu Thơ mới thực là câu thơ “trữ
tình” đúng nghĩa. Thành tựu lớn nhất, trƣớc nhất của phong trào Thơ mới là giải
phóng câu thơ, tạo dáng lại cho câu thơ tiếng Việt,...
Về loại hình tác giả Thơ mới, theo GS.Trần Đình Sử, Thơ mới có một kiểu
thi nhân mới, tức là một nhãn quan thơ mới mẻ về con ngƣời và thế giới. Cái khát
vọng của các tác giả Thơ mới là cái “khát vọng đƣợc thành thực”, khát vọng biểu
hiện cái tôi đã đƣợc ý thức. Nhà thơ cổ không dám dùng quan điểm cá nhân, lập


16
trƣờng cá nhân, cái nhìn cá nhân để nhìn đời và nói chuyện với mọi ngƣời. Cái mới
của Thơ mới là đã dám coi cái tôi cá nhân nhƣ một quan điểm, một tƣ cách để nhìn
đời và nói với mọi ngƣời. Muốn đƣợc “thành thực”, Thơ mới phải giải thoát khỏi
quan điểm duy lí và giáo huấn vốn là sự ràng buộc của cái chung truyền thống đối
với mỗi cá nhân. Sự thức tỉnh ý thức cá nhân đòi hỏi nhà Thơ mới lấy cái tôi, cái cá
nhân làm đề tài, thậm chí làm trung tâm. Cái gọi là “khát vọng đƣợc thành thực” là
khát vọng đƣợc nói về mình, về cá nhân mình. Cũng nhƣ mọi nhà thơ lãng mạn trên
thế giới, các nhà Thơ mới cũng đều cảm thấy mình là kẻ bị đày ải, bị bỏ rơi, ngƣời
giang hồ, lạc loài, cô đơn, bị tách khỏi phần còn lại của xã hội. Khám phá thế
giới “cái tôi” , Thơ mới cho thấy thực trạng tha hóa của cá nhân và khao khát vƣơn
tới một sự thông cảm mới giữa ngƣời và ngƣời.
Đặc điểm loại hình Thơ mới còn đƣợc GS. Trần Đình Sử xem xét ở khía
cạnh “một nhãn quan tạo hình mới với cái nhìn hƣớng ngoại”. Hƣớng ngoại đƣợc
hiểu nhƣ là một nguyên tắc xây dựng hình tƣợng thơ, một yếu tố của cái nhìn nghệ
thuật trong thơ, một sự đối lập với cái tôi chủ thể để chỉnh đốn nội bộ thế giới thơ
tạo thành ngôn ngữ thơ chứ không phải hiểu theo tinh thần hƣớng ngoại là miêu tả
thế giới bên ngoài, đối lập với hƣớng nội là nhìn vào nội tâm. Cái nhìn hƣớng ngoại
chủ yếu xác định một quan hệ trực tiếp giữa nhân vật trữ tình và thế giới xung
quanh nó nhƣ một cảm nhận quan hệ trực tiếp, cho phép phản ánh thế giới cảm tính
của con ngƣời một cách cụ thể, sắc bén chƣa từng có. Nguyên tắc hƣớng ngoại giải
phóng cho thi nhân khỏi cái khung lí tính để trực tiếp nhìn, nghe, cảm thế giới bên
ngoài và tâm hồn. Cái nhìn hƣớng ngoại của Thơ mới là một thi pháp mới có nhiều
biểu hiện đa dạng. Nó có thể tả chân, ký sự theo kiểu phong tục, trực quan, có thể
biểu hiện những giấc mơ đẹp đẽ, nhƣ cổ tích, lại có thể khắc họa bức tranh thế giới
đậm màu sắc tƣợng trƣng,...
Nhƣ vậy, trong những công trình nghiên cứu của mình, GS. Trần Đình Sử đã
nêu lên những vấn đề có tính cốt lõi để nghiên cứu Thơ mới nhƣ một hệ thống thi
pháp mới phân biệt với thi pháp thơ cổ điển: Thơ mới là một hiện tƣợng thơ phong
phú không đồng nhất. Thơ mới là thơ lãng có ảnh hƣởng thơ trữ tình dân gian, thơ
Đƣờng, thơ tƣợng trƣng, siêu thực,...Những nguyên tắc thi pháp mới của Thơ mới


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×