Tải bản đầy đủ

Truyền thông phòng chống HIVAIDS ở cộng đồng dân tộc thiểu số tại tỉnh tuyên quang một tiếp cận nhân học

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------

LƢƠNG ANH NGỌC

TRUYỀN THÔNG PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS
Ở CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ
TẠI TỈNH TUYÊN QUANG: MỘT TIẾP CẬN
NHÂN HỌC

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 60 31 03 10

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thu Hƣơng

Hà Nội - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Lƣơng Anh Ngọc, học viên cao học chuyên ngành Dân tộc học khóa

QH-2012, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tôi cam đoan rằng các kết quả nghiên cứu thực địa trình bày trong luận văn thạc sĩ này
đƣợc tôi thu thập trong quá trình điền dã tại các địa phƣơng. Mọi trích dẫn và tham
khảo từ nguồn tài liệu liên quan đều đƣợc chú thích đầy đủ. Cá nhân tôi chịu trách nhiệm
hoàn toàn về nội dung trình bày, cũng nhƣ bất kỳ sai sót nếu có, trong luận văn.

Hà Nội, tháng 08 năm 2015
Học viên

Lương Anh Ngọc


LỜI TRI ÂN
Trƣớc hết tôi xin đặc biệt bày tỏ lời tri ân sâu sắc nhất tới TS. Nguyễn Thị Thu
Hƣơng, giảng viên Khoa Nhân học, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại
học Quốc gia Hà Nội. Dƣới sự dìu dắt của cô, tôi đã xác định đƣợc rõ hƣớng khai
triển đề tài nghiên cứu cả về mặt nội dung lẫn phƣơng pháp tiến hành, cũng nhƣ tự tu
chỉnh các nếp lỗi của bản thân khi chập chễnh những bƣớc đầu tiên trên con đƣờng
nghiên cứu hàn lâm.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cá nhân nhƣ Bà Nguyễn Thu Hoàn chuyên viên Phòng Thanh tra Pháp chế (Trƣờng Đại học Tân Trào); Ông Lã Văn Hào phụ trách Phòng Lý luận Chính trị (Ban Tuyên giáo Tỉnh Ủy); Ông Hoàng Đức Hợp Phó Viện trƣởng Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Hàm Yên; Bà Phan Ngọc Hƣơng chuyên viên phòng Dân tộc huyện Hàm Yên; Bà Nguyễn Thị Khánh Ly - giáo viên
Trƣờng Trung học Cơ sở Bán trú Hùng Lợi; Ông Hoàng Lƣơng Đức Hiệp; Ông Lý A
Hùng; Ông Đặng Quốc Nghị - giáo viên Trƣờng Trung học Cơ sở Công Đa trên địa bàn
tỉnh Tuyên Quang đã tận tình cộng tác trong quá trình lựa chọn mẫu nghiên cứu.
Nghiên cứu này cũng khó khả thi nếu nhƣ không nhận đƣợc sự hỗ trợ quý báu từ phía
chính quyền địa phƣơng và đặc biệt là bà con ở các điểm nghiên cứu thuộc huyện Yên
Sơn và huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang.


MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT......................................................................................1
DANH MỤC BẢNG BIỂU SƠ ĐỒ ...........................................................................2
MỞ ĐẦU.....................................................................................................................1
1. Mục đích và ý nghĩa của đề tài ............................................................................1 2.
Phƣơng pháp nghiên cứu .....................................................................................3
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu....................................................................................3 2.2.
Địa bàn nghiên cứu........................................................................................4 2.3.
Phƣơng pháp nghiên cứu...............................................................................7 2.4.
Hạn chế nghiên cứu .....................................................................................10
3. Cấu trúc của luận văn ........................................................................................10
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .................11

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ..............................................................................11
1.1.1. Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài ...................................................................11
1.1.2. Các nghiên cứu trong nƣớc ......................................................................15
1.2. Các khái niệm công cụ....................................................................................19
1.2.1. Phân biệt khái niệm HIV và AIDS...........................................................19 1.2.2.
Định nghĩa truyền thông...........................................................................21 1.2.3. Khái
niệm cộng đồng ...............................................................................22 1.2.4. Khái niệm
dân tộc thiểu số .......................................................................24
1.3. Các lý thuyết áp dụng .....................................................................................25
1.3.1. Lý thuyết về mô hình truyền thông của Claude Shannon ........................25
1.3.2. Lý thuyết truyền thông điệp cho đối tƣợng ..............................................26
1.4. Sơ lƣợc về tình hình truyền thông phòng chống HIV/AIDS tại tỉnh Tuyên
Quang.....................................................................................................................28
Chƣơng 2: NHẬN THỨC VỀ TRUYỀN THÔNG PHÕNG CHỐNG HIV/AIDS
TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: GÓC NHÌN NGƢỜI DÂN.........32
2.1. Nhận thức về bản chất HIV/AIDS..................................................................32 2.2.
Nhận thức về con đƣờng lây nhiễm HIV........................................................34


2.3. Nhận thức về biện pháp phòng chống lây nhiễm HIV ...................................36
2.4. Nhận thức về HIV/AIDS trong so sánh tộc ngƣời..........................................38
Chƣơng 3: CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG TỪ GÓC ĐỘ "NGUỒN" ..................49
3.1. Chủ trƣơng ......................................................................................................49
3.2. Thực tiễn hoạt động truyền thông...................................................................51
3.2.1. Từ thực hành gán nhãn .............................................................................51
3.2.2. Đến diễn ngôn "tệ nạn xã hội" .................................................................53 3.2.3.
Đánh giá hậu truyền thông bị "bỏ ngỏ"....................................................55 3.2.4.
Thiếu vắng phản hồi từ ngƣời dân ...........................................................57 3.2.5. Tình
trạng kiêm nhiệm trong phân bổ cán bộ ..........................................59 3.2.6. Ùn đẩy
trách nhiệm hay phối hợp liên ngành lỏng lẻo ............................61
Chƣơng 4: RÀO CẢN VÀ THÁCH THỨC - BÀI TOÁN KHÓ CHO...................66
NGƢỜI DÂN VÀ CÁN BỘ TRUYỀN THÔNG .....................................................66
4.1. Rào cản của ngƣời dân khi tiếp cận các chƣơng trình truyền thông ..............66
4.1.1. Rào cản ngôn ngữ.....................................................................................66
4.1.2. Đa dạng tên gọi địa phƣơng về HIV/AIDS ..............................................71
4.1.3. Hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém ..............................................................74 4.1.4.
Tài liệu truyền thông thiếu nhạy cảm văn hóa .........................................77
4.2. Khó khăn của cán bộ truyền thông .................................................................79
4.2.1. Thiếu nhân lực có trình độ chuyên môn ở cấp cơ sở ...............................79
4.2.2. Hệ thống cơ sở hạ tầng chƣa đƣợc nâng cấp............................................82
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ...........................................................................84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................90
PHỤ LỤC ẢNH ........................................................................................................97


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HIV : Human Immunodeficiency Virus (Virus suy giảm miễn dịch ở ngƣời)
AIDS : Acquired Immunodeficiency Syndrome (Hội chứng suy giảm miễn dịch
mắc phải)
CTMTQG : Chƣơng trình Mục tiêu quốc gia
VNĐ : Việt Nam đồng
ARV : Antiretroviral therapy (Liệu pháp kháng retro vi rút)
PEPFAR : President's Emergency Plan For AIDS Relief (Kế hoạch cứu trợ khẩn cấp về
AIDS đƣợc Tổng thống Hoa kỳ George W. Bush khởi xƣớng từ 2003)
UNAIDS : United Nations Programme on HIV/AIDS (Chƣơng trình phối hợp của
Liên Hiệp Quốc về HIV/AIDS)
WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
WB : World Bank (Ngân hàng Thế giới)
UNFPA : United Nations Population Fund (Qũy dân số Liên Hợp Quốc)
VAAC : Cục Phòng, chống HIV/AIDS Việt Nam
GSO : Tổng cục Thống kê Việt Nam


DANH MỤC BẢNG BIỂU SƠ ĐỒ
Bảng 1: Thống kê các thành phần dân tộc tỉnh Tuyên Quang .................................... 4
Bảng 2: Thống kê các thành phần dân tộc huyện Yên Sơn và huyện Lâm Bình........ 6
Bảng 3: Thiết kế mẫu nghiên cứu của luận văn .......................................................... 9 Bảng
4: Suy nghĩ và hiểu biết về HIV/AIDS của ngƣời dân tộc thiểu số nghiên cứu... 33 Bảng 5:
Suy nghĩ, hiểu biết của ngƣời dân tộc thiểu số nghiên cứu về con đƣờng lây nhiễm
HIV................................................................................................................. 35 Bảng 6:
Một số nhận thức của ngƣời dân tộc thiểu số nghiên cứu về các biện pháp phòng tránh
lây nhiễm HIV....................................................................................... 37 Bảng 7: Nhận
thức về bản chất bệnh HIV/AIDS của dân tộc Tày và dân tộc Hmông.. 40 Bảng 8: Nhận
thức của ngƣời dân tộc Tày và dân tộc Hmông về các con đƣờng lây nhiễm
HIV................................................................................................................. 41 Bảng 9:
Nhận thức của hai nhóm Tày và Hmông về các biện pháp phòng tránh lây nhiễm
HIV................................................................................................................. 42 Bảng 10:
Nhận thức của cộng đồng dân tộc thiểu số tại huyện Yên Sơn và huyện Lâm Bình về
bản chất HIV/AIDS............................................................................. 44 Bảng 11: Nhận
thức của cộng đồng dân tộc thiểu số tại huyện Yên Sơn và huyện Lâm Bình về các con
đƣờng lây nhiễm HIV ............................................................ 45 Bảng 12: Nhận thức của
ngƣời dân tộc thiểu số về các biện pháp phòng tránh lây truyền HIV phân theo
huyện ..................................................................................... 46 Bảng 13: Thực hành gán
nhãn của cán bộ truyền thông phòng chống HIV/AIDS tại cộng đồng dân tộc thiểu
số........................................................................................ 52 Bảng 14: Cơ cấu chuyên môn
của cán bộ truyền thông nghiên cứu......................... 81

Biểu đồ 1: Tỷ lệ giao tiếp bằng ngôn ngữ địa phƣơng và ngôn ngữ phổ thông của
cộng đồng dân tộc thiểu số nghiên cứu..................................................................... 66 Biểu
đồ 2: Tỷ lệ tƣơng quan về tính cần thiết và sự sẵn sàng tham gia xây dựng tài liệu
truyền thông tiếng địa phƣơng của đối tƣợng nghiên cứu cán bộ truyền thông... 70


Biểu đồ 3: Thái độ của ngƣời dân tộc thiểu số tại địa phƣơng đối với nội dung chữ
viết và hình ảnh trong các tài liệu truyền thông phòng chống HIV/AIDS ............... 77 Biểu
đồ 4: Sự hứng thú của ngƣời dân tộc thiểu số tại địa phƣơng đối với các hình ảnh trong
các tài liệu truyền thông phòng chống HIV/AIDS ................................... 78 Biểu đồ 5: Số
bác sĩ/1 vạn dân ở Việt Nam chia theo từng vùng năm 2012 ............ 80

Sơ đồ 1: Mô hình truyền thông của Claude Shannon ............................................... 26
Sơ đồ 2: Quy trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng dân tộc thiểu
tố tại tỉnh Tuyên Quang.................................................................................... 58


MỞ ĐẦU
1. Mục đích và ý nghĩa của đề tài
"Nhiều ngƣời dân tộc thiểu số vận chuyển heroin để đƣợc trả công bằng mấy
gói muối; thậm chí muốn ở tù vì có cơm ăn cả ba bữa; khi bị bắt vẫn không hề biết vận
chuyển ma túy là có thể bị tử hình. Sự "hồn nhiên" của đồng bào phải chăng là do công
tác tuyên truyền của chúng ta?". Đó là những tổng kết đƣợc ông Lê Sơn Hải - Thứ
trƣởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc đƣa ra tại Hội thảo Đánh giá kết quả công tác
phòng chống tệ nạn ma túy, HIV/AIDS vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2011 - 2015. Nó
gợi mở về một thực trạng cần xem xét của công tác truyền thông phòng chống
HIVAIDS cùng các vấn đề xã hội có liên quan trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt
Nam, đặc biệt là khi tình hình HIV/AIDS đang có những diễn biến phức tạp.
Tại Việt Nam, trƣờng hợp nhiễm HIV đầu tiên đƣợc phát hiện vào tháng 12 năm
1990 tại thành phố Hồ Chí Minh và đến năm 1993 thì HIV mới bắt đầu bùng nổ thành
dịch bệnh lớn (Phan Thị Thu Hƣơng, 2013). Theo số liệu báo cáo công tác phòng chống
HIV/AIDS của Cục Phòng chống HIV/AIDS (Bộ Y tế Việt Nam) đƣa ra, tính đến ngày
30 tháng 9 năm 2014, Việt Nam đã phát hiện 224.223 trƣờng hợp ngƣời nhiễm HIV và
69.617 bệnh nhân AIDS hiện còn sống, 70.734 ngƣời tử vong do AIDS, địa bàn đƣợc
phát hiện có HIV lên tới 80,3% xã/phƣờng, gần 98,9% quận/huyện và 100% tỉnh/thành
phố ở Việt Nam (VAAC, 2014). Cũng theo báo cáo trên, mặc dù tỷ lệ phát hiện trƣờng
hợp ngƣời nhiễm HIV mới đã giảm hơn 10% so với năm 2013, nhƣng số trƣờng hợp
ngƣời nhiễm HIV mới vẫn tiếp tục tăng và địa bàn phát hiện ngƣời có HIV/AIDS đang
ngày càng lan rộng nhanh chóng, đặc biệt là trong các nhóm dân tộc thiểu số (VAAC,
2014). Đầu năm 2013, Bộ Y tế tổng kết số liệu báo cáo của 49 tỉnh, thành phố có các
nhóm dân tộc thiểu số cƣ trú tập trung nhiều nhất, cho thấy rằng đến thời điểm cuối
năm 2013 có khoảng hơn 16.000 ngƣời dân tộc thiểu số nhiễm HIV/AIDS còn sống
(Thanh Mai, 2014). Nhƣ vậy, dù ngƣời dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 14% tổng dân
số cả nƣớc, nhƣng số ngƣời dân tộc thiểu số có HIV/AIDS chiếm tới gần 10% tổng số
ngƣời có HIV/AIDS toàn
1


quốc (Hà An, 2014). Theo báo cáo của Bộ Y tế thì trong số 10 tỉnh của Việt Nam có
tỷ lệ nhiễm HIV/100 nghìn dân cao nhất năm 2012 có đến bảy tỉnh thuộc khu vực miền
núi phía bắc (Thanh Mai, 2014). Tổng kết công tác phòng chống HIV/AIDS trên toàn
quốc đến tháng 09/2014, Cục Phòng chống HIV/AIDS đƣa ra số liệu cho thấy có
những xã, thôn bản thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc có tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS cao
gấp trên 10 lần so với tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trung bình toàn quốc (VAAC, 2014). Tỉnh
Tuyên Quang cũng là một trong 15 tỉnh trung du miền núi phía Bắc đƣợc xếp vào nhóm
dự báo có nguy cơ tăng nhanh và tăng cao tỷ lệ ngƣời dân tộc thiểu số nhiễm HIV trong
thời gian tới (Bộ Y tế, 2014). Đã có những chƣơng trình truyền thông đƣợc triển khai
trong các nhóm dân tộc thiểu số trên cả nƣớc nói chung và tại tỉnh Tuyên Quang nói
riêng, nhằm phổ biến kiến thức về HIV/AIDS, giáo dục, thay đổi hành vi có nguy cơ lây
nhiễm của ngƣời dân (VAAC, 2014). Tuy nhiên, kể từ năm 2012 đến nay số trƣờng hợp
nhiễm HIV phát hiện mới là ngƣời dân tộc thiểu số vẫn tiếp tục tăng lên và tập trung
nhiều ở các huyện miền núi phía Bắc và miền trung của Việt Nam (VAAC, 2014). Đặc
biệt, theo báo cáo gần đây nhất của Cục Phòng chống HIV/AIDS thì Tuyên Quang là
một trong năm tỉnh có số ngƣời nhiễm HIV tăng cao nhất so với cùng kỳ năm 2013 với
tỷ lệ tăng lên tới 137% (Bộ Y tế, 2014).
Tỷ lệ gia tăng số ngƣời lây nhiễm này lại diễn ra trong bối cảnh nguồn kinh phí
viện trợ cho hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam hiện đang
dần bị thu hẹp (VAAC, 2014). Thực tế ở Việt Nam, trong những năm qua khoảng 70%
kinh phí cho chƣơng trình phòng, chống HIV/AIDS và 90% kinh phí mua thuốc kháng
virút (ARV) cho ngƣời nhiễm HIV là nhờ vào sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế; phần
kinh phí còn lại là do trung ƣơng cung cấp (thông qua Chƣơng trình mục tiêu quốc gia
phòng, chống HIV/AIDS đã đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt), ngân sách nhà nƣớc
ở địa phƣơng có thể huy động đƣợc, bảo hiểm y tế chi trả, doanh nghiệp tự chi trả và
ngƣời dân tự chi trả (VAAC, 2014). Bắt đầu từ năm 2014, phần lớn nguồn viện trợ từ
nƣớc ngoài đã chấm dứt hoàn toàn kinh phí đầu tƣ cho hoạt động truyền thông phòng
chống HIV/AIDS tại Việt Nam (cắt giảm gần

2


nhƣ 100%); đồng thời, nguồn viện trợ chính từ Chƣơng trình Mục tiêu quốc gia cho
hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam cũng bị cắt giảm 60%,
từ 43183 tỷ VNĐ năm 2013 xuống 17369 tỷ VNĐ năm 2014 (VAAC, 2014)1. Có thể thấy
rằng hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam
đang đứng trƣớc thách thức mới trong vấn đề huy động nguồn lực tài chính.
Trƣớc bối cảnh chính sách trên, tôi muốn thực hiện nghiên cứu này nhằm đi sâu
phân tích các hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS tại cộng đồng dân tộc
thiểu số thuộc tỉnh Tuyên Quang. Tôi tin rằng các phát hiện ban đầu từ nghiên cứu này
có thể góp phần đƣa ra một số khía cạnh thực tiễn phục vụ công tác hoạch định chính
sách, chƣơng trình can thiệp của các ban ngành hữu quan. Nhìn từ góc độ học thuật,
nghiên cứu này sẽ là nguồn tham khảo hữu ích cho các học giả, sinh viên chuyên
ngành, chuyên gia phát triển cộng đồng và những ngƣời làm công tác truyền thông can
thiệp.
2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn này là các hoạt động truyền thông phòng
chống HIV/AIDS trong cộng đồng dân tộc thiểu số tại hai huyện Lâm Bình và Yên Sơn
thuộc tỉnh Tuyên Quang. Cần làm rõ rằng, tôi không xem xét tất cả các hình thức
truyền thông phòng chống HIV/AIDS tại địa phƣơng. Tôi xem xét khái niệm "truyền
thông" ở đây bao gồm hai hình thức truyền thông là: (1) Truyền thông qua hội họp
thôn/xã và (2) truyền thông qua tài liệu phát tay. Đây là hai kênh truyền thông phổ biến
nhất tại các địa phƣơng trên toàn tỉnh do dễ triển khai và không đòi hỏi phải đầu tƣ
nhiều kinh phí. Hai hình thức truyền thông này đƣợc áp dụng chủ yếu trong các
chƣơng trình truyền thông sức khỏe nói chung và các chƣơng trình truyền thông
phòng chống HIV/AIDS nói riêng tại hai huyện Yên Sơn và Lâm Bình. Bởi lẽ các hình
thức truyền thông khác chƣa phổ biến tại các địa phƣơng. Ví
WB (2013): Việt Nam nằm trong danh sách các quốc gia nghèo nên nhận đƣợc nhiều nguồn viện trợ quốc
1

tế cho các hoạt động phòng chống HIV/AIDS. Tuy nhiên, từ năm 2011 Việt Nam đã không còn trong danh sách các
nƣớc nghèo (thu nhập bình quân đầu ngƣời là 1.260 USD, số ngƣời nghèo theo chuẩn Việt Nam vào khoảng 20%).
Trong bối cảnh Việt Nam đã bƣớc vào ngƣỡng của một quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp, các nguồn tài trợ
cho Việt Nam sẽ đƣợc cắt, giảm để đầu tƣ cho các nƣớc nghèo hơn.

3


nhƣ kênh truyền thông qua loa phóng thanh thì chƣa đảm bảo số lƣợng loa phóng
thanh tại các thôn xã. Quan sát trên thực địa tôi thấy thƣờng các xã chỉ có một loa
phóng thanh loại lớn ở trụ sở ủy ban xã và các thôn có một loa phóng thanh ở nhà văn
hóa thôn (nhƣng không phải thôn nào cũng có loa phóng thanh). Hoặc nhƣ kênh truyền
thông qua thƣ viện hoặc tủ sách cộng đồng tại các địa phƣơng cũng có những hạn chế
riêng. Một số xã thuộc huyện Yên Sơn và Lâm Bình đã có tủ sách cộng đồng đặt tại các
điểm bƣu điện xã, ngƣời dân có thể đọc sách, báo, truyện… tại đây miễn phí. Tuy nhiên
số lƣợng sách chƣa phong phú, chủ yếu là sách kinh tế nông nghiệp, các loại báo Nhân
dân, Tiền phong, Ngƣời đại biểu nhân dân… Số lƣợng ngƣời đến đọc sách và mƣợn
sách rất ít. Còn nhƣ kênh truyền thông qua tivi thì không phải hộ gia đình nào cũng có
điều kiện kinh tế để sở hữu một chiếc tivi, đặc biệt là ở các thôn/xã vùng sâu vùng xa.
2.2. Địa bàn nghiên cứu
Do điều kiện tài chính cũng nhƣ thời gian có hạn, tôi lựa chọn phạm vi nghiên
cứu ở hai huyện Lâm Bình và Yên Sơn (bản đồ địa giới hành chính tỉnh Tuyên Quang
xem ảnh 9 tại phụ lục ảnh. Hai huyện chọn mẫu đƣợc tô màu xanh đậm). Tôi muốn chọn
một huyện ở vị trí xa trung tâm thành phố nhất (Lâm Bình) và một huyện ở vị trí gần
trung tâm thành phố nhất (Yên Sơn) nhằm có những so sánh đối chiếu, để có thể xem
xét các khác biệt trong việc tiếp cận thông tin truyền thông phòng chống HIV/AIDS của
cộng đồng dân tộc thiểu số.
Bảng 1: Thống kê các thành phần dân tộc tỉnh Tuyên Quang2
TT

Dân tộc

1

Tổng số

Thành thị

Nông thôn

Chung

Nam

Nữ

Chung

Nam

Nữ

Chung

Nam

Nữ

Kinh

334993

167093

167900

77684

38501

39183

257309

128592

128717

2

Tày

185464

92885

92579

11681

5494

6187

173783

87391

86392

3

Thái

348

231

117

89

52

37

259

179

80

4

Mƣờng

725

348

377

141

72

69

584

276

308

5

Khmer

34

17

17

5

4

1

29

13

16

2

Số liệu đƣợc lấy từ kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 của Tổng cục Thống kê Việt

Nam.

4


6

Hoa

5982

3179

2803

1075

539

536

4907

2640

2267

7

Nùng

14214

7244

6970

610

318

292

13604

6926

6678

8

Mông

16974

8521

8453

118

65

53

16856

8456

8400

9

Dao

90618

45530

45088

1478

695

783

89140

44835

44305

10

Gia Rai

98

97

1

9

9

0

89

88

1

11

Ê Đê

95

73

22

14

6

8

81

67

14

12

Ba N a

15

14

1 4

40

11

10

113

Sán Chay

61343

30832

30511

1074

510

564

60269

30322

29974

14

Chăm

4

1

3

0

0

0

4

1

3

15

Cơ Ho

1

1

0

0

0

0

1

1

0

16

Xơ Đăng

7 3

42

11

5

2

317

Sán Dìu

12565

6361

6204

158

88

70

12407

6273

6134

18

Hrê

12

5

7

8

5

3

4

0

4

19

Raglay

4

3

1

0

0

0

4

3

1

20

Mnông

35

17

18

1

1

0

34

16

18

21

Thổ

15

4

11

0

0

0

15

4

11

22

Xtiêng

1

0

1

0

0

0

1

0

1

23

Khơ Mú

5

3

2

0

0

0

5

3

2

24

Cơ Tu

15

9

6

4

2

2

11

7

4

25

Giáy

74

37

37

18

7

11

56

30

26

26

Tà Ôi

4

3

1

0

0

0

4

3

1

27

Xinh Mun

3

3

0

0

0

0

3

3

0

28

Hà Nhì

1

1

0

0

0

0

1

1

0

29

Lào

1

1

0

0

0

0

1

1

0

30

La Chí

100

61

39

11

8

3

89

53

36

31

La Hủ

3

12

3

1

2

0

0

032



Thẻn 877

444

433

2

2

0

875

442

433

33

Ngái

43

16

27

23

8

15

20

8

12

34

Lô Lô

11

3

8

1

1

0

10

2

8

35

Cơ Lao

69

28

41

2

1

1

67

27

40

36

Bố Y

18

12

6

2

2

0

16

10

6

37

Pu Péo

48

27

21

9

6

3

39

21

18

5


Về mặt địa giới, huyện Lâm Bình phía đông giáp với xã Sinh Long, xã Khâu
Tinh, xã Năng Khả (huyện Na Hang, Tuyên Quang); phía Nam giáp với xã Phúc Sơn,
xã Xuân Quang, xã Trung Hà (huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang); phía Bắc giáp với xã
Thƣợng Tân, xã Minh Ngọc, xã Phiên Luông (Bắc Mê, Hà Giang), xã Linh Hồ (Vị
Xuyên, Hà Giang); phía Tây giáp với xã Bạch Ngọc, Ngọc Minh (Vị Xuyên, Hà
Giang), xã Hữu Sản, xã Liên Hiệp (Bắc Quang, Hà Giang). Đây là huyện cách xa
trung tâm thành phố Tuyên Quang nhất (khoảng 100km), và cách trung tâm thành phố
Hà Giang khoảng hơn 100km đƣờng bộ.
Còn huyện Yên Sơn là huyện có vị trí ở gần với thành phố Tuyên Quang. Các xã
của huyện Yên Sơn tiếp giáp với địa giới thành phố: Xã Tân Long, Tân Tiến, Phú Thịnh,
Thái Bình, Tiến Bộ, Thắng Quân, Kim Phú, Hoàng Khai, Nhữ Khê… Tác giả lựa chọn
một huyện ở vị trí xa trung tâm thành phố nhất (Lâm Bình) và một huyện ở vị trí gần
trung tâm thành phố nhất (Yên Sơn) nhằm có những so sánh đối chiếu, để có thể rút ra
các kết luận về sự khác biệt trong tiếp cận thông tin truyền thông phòng chống
HIV/AIDS của cộng đồng dân tộc thiểu số dựa trên địa bàn sinh sống.
Bảng 2: Thống kê các thành phần dân tộc huyện Yên Sơn và
huyện Lâm Bình3
TT

Dân tộc

Huyện Yên Sơn

Huyện Lâm Bình

Hộ

Khẩu

Hộ

Khẩu

1

Kinh

23698

88063

195

844

2

Tày

5649

23244

4468

19333

3

Dao

5419

24109

1838

8645

4

Sán Chay

4539

17917

1

12

5

Nùng

930

4091

7

37

6

Hoa

349

1329

3

15

7

Thái

13

71

1

8

8

Lô Lô

1

12

0

0

Số liệu điều tra tính đến tháng 01 năm 2014 do Ủy ban Nhân dân huyện Yên Sơn, Ủy ban Nhân dân huyện
3

Lâm Bình, Ủy ban Nhân dân tỉnh Tuyên Quang cung cấp.

6


9

Hmông

1481

7568

390

2063

10

Pu Péo

12

65

0

0

11

Mƣờng

32

203

0

16

12

Thanh Y

3

4

0

0

13

Sán Dìu

5

37

0

0

14

Ê Đê

5

27

0

0

15

Khơ Me

3

10

0

0

16

Giáy

5

14

0

0

17

Pà Thẻn

13

43

80

412

18

La Chí

1

2

0

0

19

Pa Kô

1

4

0

0

20

Cơ Tu

1

4

0

0

21

Bố Y

2

16

0

0

22

Hơ Rê

1

3

0

0

23

Cơ Ho

1

1

0

0

2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này kết hợp tiếp cận định tính và định lƣợng. Cụ thể là dữ liệu
nghiên cứu chủ yếu đƣợc thu thập trong quá trình điền dã Nhân học tại các địa bàn
đƣợc lựa chọn, dựa trên các phƣơng pháp phỏng vấn sâu cá nhân, quan sát tham gia và
thảo luận nhóm tập trung. Bên cạnh đó tôi cũng kết hợp sử dụng điều tra bảng hỏi có
cấu trúc về một số nội dung nhƣ kiến thức về HIV/AIDS của ngƣời dân, tỷ lệ các ngôn
ngữ đƣợc sử dụng phổ biến tại địa phƣơng, cơ cấu chuyên môn của cán bộ truyền thông,
thái độ của ngƣời dân đối với nội dung truyền thông bằng hình ảnh… nhằm đƣa ra các
phân tích mang tính định lƣợng. Nội dung trình bày trong luận văn này là kết quả nghiên
cứu rút ra từ 34 cuộc phỏng vấn sâu, chín buổi thảo luận nhóm tập trung và 106 phiếu
trả lời bảng hỏi có cấu trúc (64 phiếu trả lời của ngƣời dân địa phƣơng, 42 phiếu trả lời
của cán bộ truyền thông) với hai nhóm đối tƣợng ngƣời dân và cán bộ truyền thông các
cấp.

7


Về đối tƣợng ngƣời dân
Ở phạm vi nghiên cứu này, tôi nghiên cứu trƣờng hợp hai nhóm tộc ngƣời Tày
và Hmông. Tại Tuyên Quang, ngƣời Tày là nhóm dân tộc thiểu số chiếm ƣu thế hơn cả
về số lƣợng cũng nhƣ trình độ phát triển kinh tế - xã hội (Nguyễn Thu Hƣơng &
Nguyễn Trƣờng Giang, 2012). Trong khi nhóm ngƣời Hmông là nhóm dân tộc ít
ngƣời hơn và kém ƣu thế hơn (Nguyễn Thu Hƣơng & Nguyễn Trƣờng Giang, 2012).
Nghiên cứu trƣờng hợp hai nhóm tộc ngƣời có thể làm sáng rõ những khác biệt trong
tiếp cận thông tin truyền thông phòng chống HIV/AIDS.
Do các chƣơng trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS đƣợc triển khai tại Việt
Nam thƣờng hƣớng tới đối tƣợng trong độ tuổi từ 15 - 49 nên luận văn này cũng giới
hạn mẫu nghiên cứu ngƣời dân ở độ tuổi từ 15 - 494.
Tại mỗi huyện, tôi áp dụng phƣơng pháp trái bóng tuyết qua sự giới thiệu của
một số ngƣời quen ở địa phƣơng để tìm kiếm và lựa chọn thông tín viên tại 4 xã tham
gia phỏng vấn sâu cá nhân. Tại mỗi xã tôi thực hiện phỏng vấn sâu với hai ngƣời dân
bao gồm một nam và một nữ. Đồng thời 02 thảo luận nhóm cũng đƣợc tiến hành ở mỗi
huyện. 64 ngƣời dân thuộc 8 xã này cũng tham gia trả lời bảng hỏi phỏng vấn có cấu
trúc.
Về đối tƣợng cán bộ truyền thông
Thực tiễn tại các địa bàn nghiên cứu cho thấy với công tác truyền thông, thì ở
mỗi cấp lại có sự tham gia của đại diện các ban ngành khác nhau: Trung tâm y tế, trung
tâm truyền thông giáo dục sức khỏe, phòng dân tộc5. Do đó, để vận dụng linh hoạt theo
từng cấp quản lý, tôi cố gắng tiếp cận những cán bộ truyền thông có thể thuộc các
ban/ngành khác nhau, nhƣng trực tiếp thực thi hoặc có trách nhiệm chỉ
4

Cục Phòng, chống HIV/AIDS (2014): Do số ngƣời nhiễm HIV/AIDS ở độ tuổi từ 15-49 chiếm tỷ lệ cao

nhất trong các nhóm tuổi nên các chƣơng trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS thƣờng hƣớng đến đối tƣợng
thuộc nhóm tuổi này. Trong năm 2013, ba nhóm tuổi có số ngƣời nhiễm HIV/AIDS cao nhất là: 20-29 (32.9%), 30-39
(45,1%), 40-49 (13,7%).
5
Ở cấp tỉnh đó là cán bộ thuộc các đơn vị cụ thể: Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe, Trung tâm
Phòng chống HIV/AIDS, Trung tâm Y tế dự phòng, Trung tâm Phòng chống các bệnh xã hội. Ở cấp huyện là cán bộ
thuộc các đơn vị: Trung tâm Y tế huyện, Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội, Phòng Dân tộc, Phòng Văn
hóa và Thông tin, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Huyện đoàn. Ở cấp xã/thôn thì cán bộ truyền thông là cán bộ y tế xã/thôn,
cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ, cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, không có cán bộ truyền thông chuyên
biệt.

8


đạo tổ chức, thực hiện truyền thông phòng chống HIV/AIDS tại cộng đồng dân tộc
thiểu số.
Bảng 3: Thiết kế mẫu nghiên cứu của luận văn
Phƣơng pháp nghiên cứu

Địa bàn nghiên cứu
Cấp huyện

Cấp tỉnh

Tổng
cộng

Yên Sơn

Lâm Bình

15

15

4

34

Người dân (cuộc)

8

8

0

16

Nam (ngƣời)

4

4

0

8

Nữ (ngƣời)

4

4

0

8

7

7

4

18

Nam (ngƣời)

4

4

3

11

Nữ (ngƣời)

3

3

1

7

Thảo luận nhóm tập trung
(buổi)

4

4

1

9

Người dân (buổi)

2

2

0

4Nam (ngƣời) 4

4

0

8Nữ (ngƣời)

4

0

8Cán bộ truyền thông (buổi) 2

2

1

5Nam (ngƣời) 4

4

3

11 Nữ (ngƣời) 3

3

1

7

Bảng hỏi có cấu trúc (phiếu)

49

49

8

106

Người dân (phiếu)

32

32

0

64

Nam (ngƣời)

16

16

0

32

Nữ (ngƣời)

16

16

0

32

Cán bộ truyền thông (phiếu)

17

17

8

42

Nam (ngƣời)

9

9

5

23

Nữ (ngƣời)

8

8

3

19

Phỏng vấn sâu cá nhân (cuộc)

Cán bộ truyền thông (cuộc)

4

Trong các cuộc phỏng vấn sâu cá nhân và thảo luận nhóm tập trung, tôi đều
có sử dụng máy ghi âm. Việc sử dụng máy ghi âm này tôi có xin phép và nhận
9


đƣợc sự đồng ý của tất cả thông tín viên với cam kết rằng những chia sẻ của họ chỉ
phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học. Vì lý do nhạy cảm, trƣớc khi tiến hành
phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung hay phỏng vấn bảng hỏi, tôi đã cam kết
không công bố những thông tin cá nhân quan trọng (họ tên, số điện thoại, địa chỉ, ngày
sinh) của ngƣời tham gia trả lời phỏng vấn. Nên trong một số trích dẫn dữ liệu ở luận
văn này tôi mã hóa tên của các thông tín viên bằng các chữ cái.
Dữ liệu định tính thu thập từ phỏng vấn sâu cá nhân và thảo luận nhóm tập trung
đƣợc tôi xử lý và lƣu trữ bằng phần mềm NVIVO. Dữ liệu định lƣợng thu thập từ
điều tra bảng hỏi đƣợc tôi xử lý và lƣu trữ bằng phần mềm SPSS.
2.4. Hạn chế nghiên cứu
Nghiên cứu này cũng không tránh khỏi những hạn chế nhất định về mặt
phƣơng pháp. Trƣớc hết do tôi không thông thạo tiếng Tày và Hmông nên phải cần đến
hai ngƣời địa phƣơng hỗ trợ phiên dịch trong một số cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận
nhóm tập trung và điều tra bảng hỏi. Do đó ý nghĩa một số câu trả lời của ngƣời dân
có thể chƣa đƣợc chuyển ngữ chính xác hoàn toàn. Tuy nhiên, chỉ có 3 trƣờng hợp
ngƣời Hmông và 1 trƣờng hợp ngƣời Tày gặp khó khăn trong giao tiếp bằng tiếng Việt
và cần phiên dịch. Các thông tín viên khác đều có khả năng giao tiếp thành thạo bằng
tiếng phổ thông.
Tiếp nữa do điều kiện thời gian và tài lực hạn hẹp, việc tiến hành chọn mẫu
nghiên cứu chƣa mang tính ngẫu nhiên. Hạn chế này dẫn đến khả năng là các phát hiện
nghiên cứu chƣa có tính đại diện, khái quát cao.
3. Cấu trúc của luận văn
Bên cạnh phần mở đầu và phần kết luận, luận văn đƣợc tôi bố cục bao gồm
bốn chƣơng nội dung chính sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chƣơng 2: Nhận thức về truyền thông phòng chống HIV/AIDS trong cộng
đồng dân tộc thiểu số: Góc nhìn ngƣời dân
Chƣơng 3: Công tác truyền thông từ góc độ "nguồn"
Chƣơng 4: Rào cản và thách thức - Bài toán khó cho ngƣời dân và cán bộ
truyền thông
10


Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài
Trong số các nghiên cứu về truyền thông phòng chống HIV/AIDS (Grov,
2015; Eggermont, 2014; Kajubi, 2014; Iqbal, 2007; Muturi, 2005; Obregon, 2000), rất
nhiều nghiên cứu mang tính đánh giá về hiệu quả của các chƣơng trình truyền thông
phòng chống HIV/AIDS triển khai ở cấp cơ sở (Okidu, 2013; Peltzer, 2012; Karlyn,
2001). Những nghiên cứu này thƣờng đánh giá sự thay đổi nhận thức của ngƣời dân về
kiến thức phòng chống HIV/AIDS và sự thay đổi hành vi nguy cơ lây nhiễm trƣớc và sau
khi triển khai các chƣơng trình truyền thông cộng đồng, để từ đó xác định đƣợc tầm quan
trọng của truyền thông trong cuộc chiến phòng chống đại dịch này. Nhƣ nghiên cứu của
Celeste Farr và cộng sự (2005) đi vào tìm hiểu mức độ hiệu quả của hình thức truyền
thông qua đài phát thanh đến việc thay đổi nhận thức của ngƣời dân Ethiopia về giảm
thiểu hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV. Hay nhƣ nghiên cứu của William Brown
(2009) nhằm tìm hiểu mức độ ảnh hƣởng của việc các ngôi sao giải trí nổi tiếng tham
gia vào hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS đến sự giảm thiểu thực hiện các
hành vi có nguy cơ lây nhiễm của ngƣời dân tại miền tây của Hoa Kỳ. Hoặc nhƣ nghiên
cứu của Julie Duck (1995) đi vào tìm hiểu sự thay đổi tích cực và tiêu cực trong nhận
thức của ngƣời dân Úc sau khi xem các đoạn phim truyền thông ngắn về AIDS và tình
dục an toàn. Có thể kể đến nghiên cứu của Janaki Vidanapathirana và cộng sự (2005)
nhằm tìm hiểu mức độ tác động của truyền thông đại chúng tới việc khuyến khích ngƣời
dân quyết định xét nghiệm HIV.
Các nghiên cứu dạng này thƣờng tập trung vào việc đánh giá hiệu quả các
chƣơng trình truyền thông, nhƣng có rất ít học giả đi sâu phân tích các bất cập trong quá
trình xây dựng và tổ chức chƣơng trình truyền thông. Đáng chú ý là nghiên cứu của
Jane Bertrand và cộng sự (2006) dựa trên 15 chƣơng trình truyền thông đại chúng trong
khoảng thời gian từ năm 1990 đến 2004 tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Phi, Mỹ
Latinh và châu Á. Nhóm tác giả cho thấy tại nhiều nơi các chƣơng

11


trình truyền thông đại chúng chỉ thay đổi nhận thức và hành vi có nguy cơ lây
nhiễm HIV của ngƣời dân ở mức rất thấp (1-2% so với trƣớc khi truyền thông). Nhóm
nghiên cứu cũng khẳng định rằng, truyền thông có vai trò tích cực đối với việc thay đổi
nhận thức và hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV của ngƣời dân, tuy nhiên cách thực
hiện truyền thông nhƣ thế nào mới là yếu tố quyết định. Bertrand và cộng sự cũng thừa
nhận rằng, cần có những đánh giá chi tiết hơn nữa để phân tích một cách toàn diện về
tác động của truyền thông đại chúng về phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng.
Một hƣớng nghiên cứu thứ hai trên lĩnh vực này là các nhà nghiên cứu (Okidu,
2013; Hasler, 2013) thƣờng đặt ra mục tiêu xây dựng đƣợc một khung chuẩn chung cho
các chƣơng trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS. Theo đó nhiều nghiên cứu
(Hanan, 2009; Airhihenbuwa, 1999; Arora, 2007) đƣợc tiến hành nhằm phân tích
những ƣu điểm, hạn chế từ các chƣơng trình truyền thông đã triển khai và kinh nghiệm
từ các bên hữu quan. Nhƣ nghiên cứu của Tisha Wheeler (2003) tổng hợp dữ liệu về
các chƣơng trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS tại Somalia nhằm đƣa ra một
khung lý thuyết chung mà các chƣơng trình truyền thông và vận động phòng chống
HIV/AIDS tại Somalia thƣờng áp dụng. Hay nhƣ nghiên cứu của Travis Hasler (2013)
đi vào tìm hiểu những ý kiến của công nhân ở miền Bắc Uganda về các chƣơng trình
truyền thông phòng chống HIV/AIDS mà họ đƣợc tiếp cận nhằm xây dựng một khung
truyền thông chiến lƣợc dành cho đối tƣợng này. Cũng nhƣ nghiên cứu của Catherine
Medina (2011) tìm hiểu những nhu cầu cơ bản có liên quan đến tình dục của phụ nữ da
màu sống tại Mỹ nhằm xây dựng một khung lý thuyết về truyền thông phòng chống
HIV/AIDS phù hợp với họ. Những nghiên cứu dạng này có tính ứng dụng cao nhƣng
hạn chế khi chỉ có thể áp dụng cho một địa phƣơng hoặc một cộng đồng cụ thể.
Truyền thông có sự tham gia của cộng đồng cũng là một hƣớng nghiên cứu đƣợc
các nhà nghiên cứu (Arora, 2007; Gill, 2005) quan tâm và tìm hiểu, đặc biệt là với đối
tƣợng truyền thông là các nhóm cộng đồng yếu thế và nhạy cảm nhƣ ngƣời lao động
tình dục, nam giới có quan hệ tình dục với nam giới, ngƣời nghiện ma túy,

12


dân tộc thiểu số. Những nghiên cứu dạng này chứng tỏ sự cần thiết của việc khuyến
khích đối tƣợng mục tiêu (ngƣời nhận/thụ hƣởng thông tin truyền thông) tham gia vào
quá trình truyền thông. Chính vì vậy, mô hình truyền thông có sự tham gia
(participatory communication model) đƣợc các tác giả nghiên cứu (Gao, 2007; Basu,
2009) khuyến nghị nhƣ là một mô mình mẫu mực trong công tác truyền thông phòng
chống HIV/AIDS ở nhóm đối tƣợng yếu thế và nhạy cảm. Nhƣ nghiên cứu của Ambar
Basu (2009) phân tích các câu chuyện đƣợc chia sẻ từ ngƣời lao động tình dục nữ tại
thành phố Kolkata (Tây Bengal, Ấn Độ) khi chính bản thân họ tham gia vào hoạt động
truyền thông phòng chống HIV/AIDS trong mạng lƣới ngƣời lao động tình dục tại đây.
Các kết nghiên cứu của Basu cho thấy việc ngƣời lao động tình dục nữ tham gia vào
hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS trong mạng lƣới ngƣời lao động tình
dục giúp đối tƣợng truyền thông thay đổi hành vi có nguy cơ lây nhiễm một cách tích
cực và bền vững. Hay nhƣ nghiên cứu của Yun Gao và cộng sự (2007) về mức độ hiệu
quả của các chƣơng trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS trong nhóm nam giới
có quan hệ tình dục với nam giới (MSM) tại thành phố Thành Đô (Trung Quốc). Gao và
nhóm cộng sự đã phân tích và chỉ ra tính kém hiệu quả của các chƣơng trình truyền
thông phòng chống HIV/AIDS theo phƣơng thức truyền thống vì không thể tiếp cận
sâu vào cộng đồng nam giới có quan hệ tình dục với nam giới; đồng thời cho thấy tỷ lệ sử
dụng bao cao su trong cộng đồng này tăng lên đáng kể khi có sự tham gia của chính
thành viên trong cộng đồng vào hoạt động truyền thông.
Một hƣớng nghiên cứu thứ tƣ trên lĩnh vực này là các nhà nghiên cứu (Uwah,
2013; Hayford, 2001; Dutta, 2009; Airhihenbuwa, 2004…) nhấn mạnh yếu tố văn hóa
trong thiết kế chƣơng trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS. Theo đó nhiều
nghiên cứu (Webster, 2004; Resnicow, 1999; Matthew Kreuter, 2004; Wilson,
2003…) đƣợc tiến hành nhằm làm rõ sự cần thiết của việc lồng ghép nhiều yếu tố kết hợp với
nhau trong một chƣơng trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS, đặc biệt chú
trọng đến các yếu tố văn hóa. Ví dụ nhƣ nghiên cứu của Chijioke Uwah (2013) đi vào
tìm hiểu các thiết kế chƣơng trình truyền thông phòng

13


chống HIV/AIDS ở KwaZulu Natal - tỉnh có số ngƣời nhiễm HIV/AIDS cao nhất
của Nam Phi. Bằng những phân tích của mình, Uwah đã cho thấy sự lặp lại rập khuôn trong
các bản thiết kế những chƣơng trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS tại đây mà
không chú ý tới các yếu tố văn hóa ở địa phƣơng, dẫn đến tính kém hiệu quả các các
chƣơng trình truyền thông này. Hay nhƣ nghiên cứu của Collins Airhihenbuwa (2004)
đi vào tìm hiểu vai trò của văn hóa trong truyền thông thay đổi hành vi có nguy cơ lây nhiễm
HIV của ngƣời dân ở châu Phi. Các kết quả nghiên cứu của Airhihenbuwa cho thấy các
chƣơng trình truyền thông tác động đến những giá trị văn hóa có liên quan đến tình dục
làm thay đổi tích cực các hành vi tình dục không an toàn của ngƣời dân. Từ đó,
Airhihenbuwa đƣa ra kết luận về sự cần thiết của việc xây dựng mô hình truyền thông
chú trọng tới yếu tố văn hóa ở mỗi địa phƣơng tại châu Phi. Hay nhƣ nghiên cứu của
Muturi (2005) nhằm tìm hiểu sự ảnh hƣởng của các niềm tin văn hóa đến quyết định sử
dụng biện pháp tránh thai của phụ nữ ở vùng nông thôn của Kenya nhằm xác định các
yếu tố văn hóa cần lƣu ý khi tiến hành truyền thông phòng chống HIV/AIDS tại đây.
Các kết quả nghiên cứu của Muturi ngoài việc cho thấy mức độ ảnh hƣởng sâu sắc của
những niềm tin văn hóa tới việc quyết định sử dụng các biện pháp tránh thai còn chứng
minh tính thất bại của các chƣơng trình truyền thông tại Kenya vì không thiết lập đƣợc
mối quan hệ với ngƣời dân do tính không phù hợp với những đặc trƣng văn hóa của họ.
Vấn đề truyền thông phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng dân tộc thiểu
số cũng là một hƣớng nghiên cứu thứ năm đƣợc nhiều nhà nghiên cứu (Stevens, 2010;
Patton, 2009; Cargill & Stone, 2005…) quan tâm và tìm hiểu. Các nghiên cứu dạng này chủ
yếu chứng minh tính bất bình đẳng khi ngƣời dân tộc thiểu số tiếp cận với các dịch vụ
truyền thông hoặc xác định những rào cản mà họ gặp phải. Ví dụ nhƣ nghiên cứu của
Valerie Stone (2003) đi vào đo lƣờng mức độ hài lòng của cộng đồng ngƣời di cƣ gốc Phi
cùng các cộng đồng ngƣời dân tộc thiểu số khác sinh sống tại Mỹ khi tiếp cận những dịch
vụ chăm sóc sức khỏe có liên quan đến HIV/AIDS nhằm xác định tính cần thiết của
việc đẩy mạnh hơn nữa hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS trong nhóm
đối tƣợng này. Bằng những cứ liệu thuyết

14


phục, Stone chứng minh tình trạng kém hài lòng của cộng đồng ngƣời di cƣ gốc Phi
cùng các cộng đồng ngƣời dân tộc thiểu số khác sinh sống tại Mỹ khi tiếp cận các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe có liên quan đến HIV/AIDS. Stone đề xuất một mô hình truyền
thông phòng chống HIV/AIDS đƣợc lồng ghép vào điều trị y tế; trong đó, tăng cƣờng
sự giao tiếp của các bác sĩ với bệnh nhân là ngƣời dân tộc thiểu số, xóa bỏ sự bất bình
đẳng và kỳ thị đối với họ. Hay nhƣ nghiên cứu của Mark Johnson (1996) về rào cản
đối với cộng đồng dân tộc thiểu số ở vùng miền Tây Midlands của nƣớc Anh khi tiếp
cận các thông tin về truyền thông sức khỏe nói chung và truyền thông phòng chống
HIV/AIDS nói riêng. Các kết quả nghiên cứu của Johnson cho thấy rào cản tiếp cận
với thông tin truyền thông của ngƣời dân tộc thiểu số đƣợc sinh ra từ sự nghèo đói,
vấn đề bất bình đẳng giới và các vấn đề kinh tế - xã hội khác, đặc biệt là yếu tố văn
hóa. Chính vì vậy, việc thực hiện truyền thông phòng chống HIV/AIDS với đối tƣợng
là ngƣời dân tộc thiểu số cần đặc biệt xem xét mức độ ảnh hƣởng của các đặc trƣng
nhƣ văn hóa, trình độ phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.2. Các nghiên cứu trong nƣớc
Ở Việt Nam, trƣờng hợp nhiễm HIV đầu tiên đƣợc phát hiện vào tháng 12
năm 1990 t ại thành ph ố Hồ Chí Minh, nhƣ ng đ ến năm 1993 thì H IV m ới b ắt đ ầ u bùng
nổ thành dịch bệnh lớn và HIV/AIDS đƣợc quan tâm nghiên cứu nhiều hơn từ cuối thế
kỷ XX. Những nghiên cứu đầu tiên về HIV/AIDS trong nhóm đối tƣợng ngƣời dân
tộc thiểu số là các điều tra về tình hình hiện nhiễm (Bộ Y tế Việt Nam và WB, 2007;
Nguyễn Thanh Long, 2007; Nguyễn Bá Cẩn, 2006; Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự,
2010…). Kể từ đó, vấn đề truyền thông phòng chống HIV/AIDS trong nhóm đối tƣợng
ngƣời dân tộc thiểu số ngày càng đƣợc quan tâm và tìm hiểu nhiều hơn.
Trong số các nghiên cứu về truyền thông phòng chống HIV/AIDS với cộng đồng
dân tộc thiểu số ở Việt Nam (Phạm Hùng, 2008; Nguyễn Vũ Thƣợng, 2005; Chu Quốc
Ân, 2010), rất nhiều nghiên cứu đƣợc tiến hành nhằm đánh giá hiệu quả công tác truyền
thông phòng chống HIV/AIDS ở các địa phƣơng khác nhau

15


(Nguyễn Thùy Dƣơng, 2010; Phan Thị Thu Hƣơng, 2012; Hà Minh Nguyệt, 2012).
Ví dụ nhƣ nghiên cứu của Bộ Y tế Việt Nam phối hợp cùng WB (2007, 2012) nhằm mục
đích đánh giá kết quả truyền thông can thiệp về các chỉ số kiến thức, thái độ, hành vi
phòng chống HIV/AIDS, đồng thời xác định tỷ lệ hiện nhiễm HIV trƣớc và sau can thiệp
trên nhóm dân tộc Thái tại huyện Quan Hóa và Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa. Kết quả
nghiên cứu cho thấy kiến thức về HIV/AIDS của ngƣời dân tăng lên rõ rệt ở lần điều tra
năm 2012 so với lần điều tra năm 2007. Nghiên cứu cũng bƣớc đầu đánh giá sự phù hợp
của các biện pháp truyền thông tại địa bàn bao gồm cả truyền thông đại chúng và một
số mô hình truyền thông trực tiếp, truyền thông dựa vào cộng đồng. Các kết quả nghiên
cứu chỉ ra rằng biện pháp truyền thông trực tiếp, dựa vào cộng đồng khá là phù hợp với
đối tƣợng đồng bào dân tộc thiểu số. Hay nhƣ nghiên cứu của Phan Thị Thu Hƣơng
(2013) đi vào đánh giá hiệu quả mô hình truyền thông can thiệp phòng lây nhiễm HIV
với trƣờng hợp ngƣời Thái trong độ tuổi 15 - 49 tuổi tại 2 huyện thuộc tỉnh Thanh
Hóa. Tác giả đã thực hiện việc đánh giá thông qua khung chỉ số về nhận thức, thái độ
và hành vi của nhóm đối tƣợng nghiên cứu về phòng chống HIV/AIDS. Những nghiên
cứu dạng này có sự đóng góp lớn đối với việc cung cấp dữ liệu cơ bản và đánh giá khả
năng duy trì hiệu quả, nhân rộng các các chƣơng trình truyền thông phòng chống
HIV/AIDS với đối tƣợng là ngƣời dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới
dừng lại ở mức độ mô tả cắt ngang, nên chƣa chỉ ra đƣợc các yếu tố cụ thể nào cần nhấn
mạnh khi thực hiện truyền thông phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng dân tộc thiểu
số.
Một hƣớng nghiên cứu thứ hai trong lĩnh vực này (Bùi Đức Thắng, 2001;
Nguyễn Thanh Long, 2007) là các nhà nghiên cứu đi vào tìm hiểu khả năng tiếp cận các
dịch vụ truyền thông, dịch vụ chăm sóc sức khỏe có liên quan đến HIV/AIDS ở ngƣời
dân tộc thiểu số. Nghiên cứu của Trịnh Hữu Vách (2010) tìm hiểu về sự tiếp cận thông
tin truyền thông phòng chống HIV/AIDS và dịch vụ chăm sóc sức khỏe có liên quan đến
HIV/AIDS của ngƣời dân tộc thiểu số tại năm huyện (Tuần Giáo, Ngọc Hồi, Tân Châu,
Điện Biên Đông, Tịnh Biên) thuộc ba tỉnh Kon Tum, An

16


Giang, Điện Biên. Các kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ sẵn có của các dịch vụ
truyền thông cũng nhƣ dịch vụ chăm sóc sức khỏe chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu thực tế
của ngƣời dân; đồng thời, năng lực cung cấp dịch vụ truyền thông cũng nhƣ dịch vụ
chăm sóc sức khỏe của địa phƣơng còn tƣơng đối hạn chế. Cho nên cộng đồng dân tộc
thiểu số tại đây gặp nhiều thách thức trong việc tiếp cận các thông tin truyền thông và
dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Tƣơng tự nghiên cứu của Lã Mạnh Cƣờng và các cộng sự
(2007) xem xét thực trạng cung cấp dịch vụ truyền thông và chăm sóc sức khỏe sinh sản
có liên quan đến HIV/AIDS cho ngƣời dân tộc thiểu số thuộc ba huyện miền núi, vùng
sâu vùng xa của tỉnh Bình Định là An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh. Các kết quả nghiên
cứu cũng cho thấy tình trạng thiếu thốn và năng lực cung cấp dịch vụ truyền thông cũng
nhƣ dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản còn hạn chế. Ngoài việc thiếu cơ sở vật chất và
thiếu cán bộ y tế có trình độ chuyên môn thì các dịch vụ truyền thông phòng chống
HIV/AIDS và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cũng chƣa đƣợc thiết kế phù
hợp với tập tục văn hoá của ngƣời dân địa phƣơng. Lã Mạnh Cƣờng và các cộng sự
còn nhấn mạnh khía cạnh bất cập về thời điểm tiến hành các hoạt động truyền thông tại
cộng đồng chủ yếu vào tối muộn nên gây ra nhiều khó khăn cho cả cán bộ truyền thông
và ngƣời dân. Đáng chú ý là tình trạng thiếu vắng những hoạt động truyền thông ở
nhóm đối tƣợng chức sắc uy tín trong cộng đồng và nam giới (những ngƣời có vai trò
ảnh hƣởng hoặc quyết định đối với phụ nữ và trẻ em trong cộng đồng của họ).
Xác định các rào cản trong công tác truyền thông phòng chống HIV/AIDS với
cộng đồng dân tộc thiểu số cũng là một hƣớng nghiên cứu thứ ba đƣợc các nhà nghiên
cứu (Nguyễn Đình Tuấn, 2014; Phan Thị Thu Hƣơng, 2012…) quan tâm và tìm hiểu. Có
thể kể đến nghiên cứu của Nguyễn Thùy Dƣơng (2010) đi vào phân tích tác động của
các chƣơng trình truyền thông đại chúng và rào cản ngôn ngữ trong việc phổ cập kiến
thức về HIV/AIDS trong nhóm dân tộc Dao ở tỉnh Yên Bái. Các kết quả hồi quy logistic
nhị phân cho thấy rào cản ngôn ngữ là nhân tố quan trọng ảnh hƣởng đến nhận thức về
HIV/AIDS. Cụ thể, tỷ lệ những ngƣời có khả năng giao tiếp bằng tiếng Kinh phổ thông
(tiếng Việt) nhận thức khá đầy đủ về

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×