Tải bản đầy đủ

Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán theo luật hình sự việt nam

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ GIAO LINH

TỘI CỐ Ý CÔNG BỐ THÔNG TIN SAI LỆCH HOẶC
CHE GIẤU SỰ THẬT TRONG HOẠT ĐỘNG CHỨNG KHOÁN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HỌC

HÀ NỘI - 2015

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ GIAO LINH


TỘI CỐ Ý CÔNG BỐ THÔNG TIN SAI LỆCH HOẶC
CHE GIẤU SỰ THẬT TRONG HOẠT ĐỘNG CHỨNG KHOÁN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Quốc Toản

HÀ NỘI - 2015

2


Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Giao Linh

3


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời
cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU


1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỘI CỐ Ý CÔNG BỐ THÔNG TIN

7

SAI LỆCH HOẶC CHE GIẤU SỰ THẬT TRONG HOẠT
ĐỘNG CHỨNG KHOÁN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1.

Khái niệm và đặc điểm của chứng khoán

7

1.2.

Khái niệm, đặc điểm pháp lý của các tội phạm về chứng khoán

11

và sự cần thiết quy định các tội phạm về chứng khoán trong
luật hình sự Việt Nam
1.2.1. Khái niệm tội phạm về chứng khoán

11

1.2.2. Các yếu tố cấu thành tội phạm chứng khoán

16

1.3.

21

Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong
hoạt động chứng khoán theo Điều 181a Bộ luật Hình sự hiện hành

1.3.1. Sự cần thiết phải hình sự hóa hành vi công bố thông tin sai

21

lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán
1.3.2. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội cố ý công

26

bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động
chứng khoán
1.3.3. Hình phạt của tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu

35

sự thật trong hoạt động chứng khoán
1.3.4. Một số tồn tại, hạn chế trong quy định của Bộ luật Hình sự về

37

tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong
hoạt động chứng khoán
1.4.

Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong
hoạt động chứng khoán trong luật hình sự một số nước

4

41


Chương 2:

THỰC TIỄN XỬ LÝ VI PHẠM VÀ TỘI PHẠM CỐ Ý

46

CÔNG BỐ THÔNG TIN SAI LỆCH HOẶC CHE GIẤU SỰ

2.

THẬT TRONG HOẠT ĐỘNG CHỨNG KHOÁN VÀ MỘT

1.

SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU



QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH

nh

SỰ VỀ TỘI PHẠM NÀY


nh
vi
ph

m

ph

m
tộ
i
cố
ý

ng
bố
th
ôn
g
ti
n
sa
i
lệ
ch
46


hoặc

sự thật trong hoạt động chứng

4

5

che

khoán của các cơ

6

8

giấu

quan tiến hành tố

sự

tụng

thật

5
4

trong
hoạt
động
chứn
g
khoá
n và
xử lý
hình
sự
đối
với
tội
phạm
này
của
các

quan
tiến
hành
tố
tụng
2.1.1. Tình hình
vi phạm trong
trường hợp
công bố thông
tin sai lệch
h

2.2.

Một số giải pháp hoàn thiện các quy định

6
3

của Bộ luật Hình sự
58
về tội cố ý công bố thông tin sai lệch

6
5

hoặc che giấu sự thật
trong hoạt động chứng khoán và
nâng cao hiệu quả áp dụng
2.2.1. Sự cần thiết và yêu cầu của việc hoàn
thiện những quy định

khoán
7
KẾT3

của Bộ luật Hình sự hiện hành về tội

LUẬN

cố ý công bố thông tin

7
DANH

sai lệch hoặc che giấu sự thật trong

MỤC6

hoạt động chứng khoán

TÀI

2.2.2. Giải pháp hoàn thiện các quy định của

LIỆU

Bộ luật Hình sự hiện

THAM

hành về tội cố ý công bố thông tin sai
lệch hoặc che giấu sự
thật trong
hoạt động
chứng
khoán
2.2.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng các quy định của
Bộ luật Hình sự về tội cố ý công bố
thông tin sai lệch hoặc che
giấu sự thật trong
hoạt động chứng

KHẢO


5


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Trong những năm gần đây, chủ trương phát triển thị trường chứng
khoán đã góp phần làm cho nền kinh tế nước nhà có những chuyển biến tích
cực, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển. Bên cạnh mặt mạnh này, xuất
hiện ngày càng nhiều các vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường
chứng khoán làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đầu tư và lưu thông
vốn, tác động tiêu cực đến trật tự quản lý kinh tế và nền kinh tế quốc dân.
Thị trường chứng khoán minh bạch là mục tiêu mà bất kỳ quốc gia
nào cũng hướng đến trong đó có Việt Nam. Nhưng tính minh bạch của thị
trường chứng khoán Việt Nam lại chưa được như kỳ vọng của các nhà quản
lý cũng như các nhà đầu tư. Đây cũng là lý do vì sao thị trường chứng khoán
trong những năm 2009-2011 gần như giậm chân tại chỗ, nhiều nhà đầu tư
trong nước cũng như nước ngoài muốn đầu tư vào thị trường mới phát triển và
nhiều tiềm năng như Việt Nam nhưng lại e ngại vấn đề minh bạch của thị
trường. Chính vì thế, hệ thống pháp luật có vai trò đảm bảo cho sự hoạt động
của thị trường chứng khoán, đảm bảo tính công bằng, công khai, minh bạch,
đúng sự thật của thị trường này.
Ngày càng có nhiều doanh nghiệp, công ty niêm yết không tuân thủ
luật công bố thông tin. Có thể thấy các quyết định xử phạt hành chính không đủ
mạnh để giáo dục, răn đe và ngăn chặn hành vi vi phạm trong lĩnh vực này.
Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm không nhận thức được hậu quả nghiêm
trọng do mình gây ra nên họ tiếp tục vi phạm. Hàng loạt vụ việc liên quan đến
tình trạng công bố thông tin sai lệch, che giấu thông tin… của các doanh
nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán trong thời gian gần đây, đã khiến
cho nhiều nhà đầu tư rời bỏ thị trường chứng khoán. Trong khi đó, chúng ta
chưa có một công cụ pháp lý đủ mạnh để kịp thời trừng trị, răn đe người có
hành vi sai phạm.

6


Thấy được sự cần thiết phải có những chế tài nghiêm khắc hơn để xử
lý triệt để các hành vi vi phạm này, lần đầu tiên, Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực từ ngày 01/01/2010, đã bổ
sung quy định tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong
hoạt động chứng khoán trong ba tội danh trong lĩnh vực chứng khoán. Việc
ban hành này là hoàn toàn kịp thời, khá sát thực tiễn nhằm làm lành mạnh hóa các
giao dịch trong thị trường chứng khoán, từ đó, hạn chế có hiệu quả vi phạm
cũng như tội phạm xảy ra trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên, đối chiếu Bộ luật Hình sự với các quy định hiện hành về
công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán
vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế nhất định như quy định về định mức hậu quả
nghiêm trọng chưa phù hợp với điều kiện thực tế, những lĩnh vực buộc phải
minh bạch chưa được Bộ luật Hình sự hiện hành quy định chưa bao quát, còn
mang tính chất liệt kê, v.v…
Trước tình hình trên, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu đề tài "Tội cố ý
công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng
khoán theo luật hình sự Việt Nam" là cần thiết, khách quan, đáp ứng yêu cầu
của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, dưới những góc độ khác nhau,
đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề tính minh bạch trong
hoạt động chứng khoán, điển hình như:
- Dương Tuyết Miên (2010), Về các tội phạm chứng khoán trong luật
sửa đổi, bổ sung của Bộ luật Hình sự năm 1999, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 2;
- Nguyễn Thu Dung (2007), Pháp luật về công bố thông tin trên thị
trường chứng khoán, Luận văn tốt nghiệp đại học;
- Nguyễn Thị Ánh Vân (2006), Chế độ công bố thông tin theo Luật
Chứng khoán năm 2006, Tạp chí Luật học, số 8;

7


- Phan Anh Tuấn (2011), Các tội phạm về chứng khoán trong luật
hình sự Việt Nam và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp
luật hình sự về các tội này, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4;
- Viên Thế Giang (2012), Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che
giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán theo Bộ luật Hình sự sửa đổi, Tạp
chí Tòa án nhân dân, số 1;
- Viên Thế Giang (2013), Trách nhiệm hình sự đối với tội phạm trong
lĩnh vực chứng khoán ở VN hiện nay, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3;
- Hoàng Thị Quỳnh (2009), Một số ý kiến về sửa đổi, bổ sung Bộ luật
Hình sự năm 1999 liên quan đến tội phạm chứng khoán, Tạp chí Tòa án nhân
dân, số 8;
- Đỗ Thúy Vân (2010), Cần hướng dẫn áp dụng thống nhất quy định
tại Điều 181a, 181b, 181c Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình
sự năm 1999, Tạp chí Kiểm sát, số 4;...
Tuy nhiên, qua nghiên cứu, khảo sát nội dung các công trình khoa học
này về tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt
động chứng khoán ở nước ta, cho thấy hầu hết đó là các công trình nghiên cứu
chưa chuyên sâu. Sự nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở các công trình nghiên cứu
nhỏ lẻ trên tạp chí hoặc là đề cập đến tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán
nói chung, trong đó tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật
trong hoạt động chứng khoán chỉ là một phần nhỏ, chưa được quan tâm đúng
mức. Do đó, nguyên nhân của những tồn tại, bất cập trong thực tiễn áp dụng
chưa được phân tích có hệ thống để đưa ra những kiến nghị, giải pháp đồng bộ.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu đề tài với những mục đích sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận tội cố ý công bố thông tin sai lệch
hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán theo pháp luật hình sự
Việt Nam;

8


- Nghiên cứu, phân tích thực tiễn pháp luật Việt Nam quy định về tội
cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng
khoán, rút ra được những tồn tại, hạn chế các quy định đó và những nguyên
nhân của nó;
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu quả áp
dụng các quy định của luật hình sự về tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc
che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để có thể đạt được mục đích đó, trong phạm vi đề tài, tác giả tập trung
vào những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề chung về chứng khoán, tội phạm chứng
khoán, tội công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động
chứng khoán;
- Phân tích rút ra những tồn tại và hạn chế của các quy định về tội cố ý
công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán
theo Bộ luật Hình sự và thực tiễn áp dụng;
- Trên cơ sở phân tích sự cần thiết, những yêu cầu của việc hoàn thiện
pháp luật quy định về tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật
trong hoạt động chứng khoán, tác giả đề xuất các kiến nghị, giải pháp hoàn
thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về loại tội này.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu là chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về pháp luật, đấu
tranh chống và phòng ngừa tội phạm.
Đồng thời được tiến hành bằng những phương pháp nghiên cứu khoa
học cơ bản như: phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống, logic, đối chiếu thực
tiễn, thống kê, v.v... Nhờ vậy, những vấn đề có liên quan tới tội cố ý công bố

9


thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán được
xem xét, đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau, bảo đảm tính đầy đủ, toàn diện, có
hệ thống và xác thực.
5. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những đề xuất được nêu trong luận văn, có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Thông
qua công trình nghiên cứu này, tác giả mong muốn đóng góp vào việc hoàn
thiện pháp luật nói chung và vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói
riêng, nhất là tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ làm
công tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật
hình sự, tội phạm học và các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các cơ quan
bảo vệ pháp luật,…
6. Những điểm mới của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên ở cấp luận văn thạc sĩ luật
học, nghiên cứu hệ thống, toàn diện, đầy đủ về vấn đề về tội cố ý công bố
thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán theo luật
hình sự Việt Nam. Những điểm mới của luận văn là:
- Phân tích một cách sâu sắc và đánh giá toàn diện về tội cố ý công bố
thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán theo Bộ
luật Hình sự;
- Phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật
về tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động
chứng khoán; nêu ra những hạn chế, bất cập về mặt lập pháp, những tồn tại
trong trong thực tiễn áp dụng pháp luật cũng như nguyên nhân của những hạn
chế, bất cập đó. Và trên cơ sở đó luận văn đề xuất các giải pháp khả thi để
hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu của áp dụng pháp luật về loại tội cố ý
công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán
này.

10


7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về tội cố ý công bố thông tin sai lệch
hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán theo luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Thực tiễn xử lý vi phạm và tội phạm cố ý công bố thông
tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán và một số giải
pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự
về tội phạm này.

11


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỘI CỐ Ý CÔNG BỐ THÔNG TIN SAI LỆCH
HOẶC CHE GIẤU SỰ THẬT TRONG HOẠT ĐỘNG CHỨNG
KHOÁN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CHỨNG KHOÁN

Thuật ngữ chứng khoán được hiểu theo những nghĩa khác nhau tùy
theo mục đích khi điều chỉnh loại tài sản đặc biệt này.
Chứng khoán lần đầu tiên xuất hiện tại Bỉ vào giữa thế kỷ XV, theo
đó, "các thỏa thuận được xác lập cho các giao dịch thực hiện ngay và các giao
dịch được thực hiện ngay và các giao dịch được thực hiện sau khoảng thời gian
nhất định" [41, tr. 7].
Black Law's Dictionary lại cho rằng "chứng khoán là công cụ chứng
minh quyền sở hữu công ty, quyền chủ nợ với công ty hoặc chính phủ hoặc
các quyền khác của người nắm giữ" [52, tr. 1358].
Khoản 1 Điều 6 Luật Chứng khoán năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm
2010 (sau đây gọi tắt là Luật Chứng khoán) quy định:
Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp
pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức
phát hành.
Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút
toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua,
quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ
số chứng khoán;
c) Hợp đồng góp vốn đầu tư;
d) Các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định [31, tr.26].

12


Chứng khoán thường mang các đặc điểm sau:
Tính sinh lời: người phát hành ra chúng phải trả cho người sở hữu chứng
khoán khoản lợi tức trong tương lai để nhận về mình quyền sử dụng vốn. Tính
sinh lời của chứng khoán là động lực thúc đẩy người đầu tư mua chứng khoán và
cũng là tiền đề xuất hiện chứng khoán. Tính sinh lời còn xuất hiện khi người nắm
giữ chứng khoán giao dịch chứng khoán như loại tài sản được phép.
Tính thanh khoản là khả năng cho phép người sở hữu chứng khoán có
thể bán chứng khoán để nhận được khoản tiền nhất định. Tính thanh khoản tạo
cho người sở hữu chứng khoán chuyển đổi dạng tài sản chứng khoán sang tiền
thông qua giao dịch tại thị trường thứ cấp hoặc thông qua nghiệp vụ ngân hàng.
Tính thanh khoản tạo ra sự hấp dẫn đối với người đầu tư, thỏa mãn nhu cầu của
họ đồng thời cũng hạn chế rủi ro làm giảm sút giá trị tiền tệ của chứng khoán.
Tính thanh khoản của chứng khoán phụ thuộc vào uy tín của chủ thể phát hành,
vào chuyển đổi và sự biến động của thị trường.
Tính rủi ro của chứng khoán, thể hiện ở bản chất của hoạt động đầu tư
vốn, đó là "lượng tiền trong hiện tại và chỉ có thể thu hồi trong tương lai" thì cả
quãng thời gian đó chứa đựng rủi ro. Mức độ rủi ro lớn hay không phụ thuộc
vào nhiều yếu tố như: thời gian đầu tư, chủ thể nhận vốn cùng các cam kết khác
chính,… Mức độ rủi ro của chứng khoán có mối quan hệ chặt chẽ với tính sinh lời và
tính thanh khoản của chứng khoán.
Căn cứ vào quyền của người sở hữu chứng khoán đối với người phát
hành, chứng khoán vốn và chứng khoán nợ.
Chứng khoán vốn là loại chứng khoán xác nhận sự góp vốn và quyền
liên quan đến phần vốn góp của chủ sở hữu chứng khoán đối với đối tượng
phát hành ra nó. Đặc điểm của loại chứng khoán này có đặc điểm nhà đầu tư
không xác định được thời gian thu hồi vốn, mức thu nhập từ việc đầu tư
nhưng lại có cơ hội tham gia vào kiểm soát hoặc trực tiếp kinh doanh phần
vốn đã thu hút. Chứng khoán vốn có hai dạng cơ bản: cổ phiếu và chứng chỉ

13


quỹ đầu tư. Ngoài ra còn có chứng khoán phái sinh từ loại chứng khoán vốn
như chứng quyền.
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của
người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành (Khoản 2
Điều 6 Luật Chứng khoán).
Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà
đầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng (Khoản 4 Điều 6 Luật
Chứng khoán).
Chứng chỉ khoán nợ là loại chứng khoán rất phổ biến, tạo ra sự ổn
định tương đối trong giao dịch trên thị trường là trái phiếu.
Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp
của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành (Khoản 3
Điều 6 Luật Chứng khoán).
Bên cạnh đó, cũng cần phải làm rõ khái niệm về thị trường chứng
khoán. Về khái niệm thị trường chứng khoán hiện nay cũng tồn tại nhiều quan
điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, thị trường chứng khoán và thị
trường vốn là một, chỉ là tên gọi khác nhau của cùng một khái niệm: Thị
trường tư bản (Capital Market). Nếu xét về mặt nội dung, thì thị trường vốn
biểu hiện các quan hệ bản chất bên trong của quá trình mua bán các chứng
khoán. Thị trường chứng khoán là biểu hiện bên ngoài, là hình thức giao dịch
vốn cụ thể. Do đó, các thị trường này không thể phân biệt, tách rời nhau mà
thống nhất và cùng phản ánh các quan hệ bên trong và bên ngoài của thị
trường tư bản. Quan điểm thứ hai của đa số các nhà kinh tế cho rằng: Thị
trường chứng khoán được đặc trưng bởi thị trường vốn chứ không phải đồng
nhất là một. Như vậy, theo quan điểm này, thị trường chứng khoán và thị
trường vốn là khác nhau, trong đó thị trường chứng khoán chỉ giao dịch, mua bán
các công cụ tài chính trung và dài hạn như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và
trái phiếu công ty. Các công cụ tài chính ngắn hạn được giao dịch trên thị

14


trường tiền tệ, không thuộc phạm vi hoạt động của thị trường chứng khoán.
Quan điểm thứ ba, dựa trên những gì quan sát được tại đa số các Sở giao dịch
chứng khoán lại cho rằng "thị trường chứng khoán là thị trường cổ phiếu",
hay là nơi mua bán các phiếu cổ phần được các công ty phát hành ra để huy
động vốn. Theo quan điểm này, thị trường chứng khoán được đặc trưng bởi thị
trường mua bán các công cụ tài chính mang lại quyền tham gia sở hữu. Các
quan điểm trên đều được khái quát dựa trên những cơ sở thực tiễn và trong
từng điều kiện lịch sử nhất định. Tuy nhiên, chúng tôi quan niệm đầy đủ và rõ
ràng, phù hợp với sự phát triển chung của thị trường chứng khoán hiện nay đó
là: thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các
loại chứng khoán. Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá hay bút
toán ghi sổ, nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản
của tổ chức phát hành hoặc quyền sở hữu. Các quyền yêu cầu này có sự khác
nhau giữa các loại chứng khoán, tuỳ theo tính chất sở hữu của chúng. Các
giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường sơ cấp
(Primary Market) hay thị trường thứ cấp (Secondary Market), tại Sở giao dịch
(Stock Exchange) hay thị trường chứng khoán phi tập trung (Over The Counter
Market), ở thị trường giao ngay (Spot Market) hay thị trường có kỳ hạn (Future
Market). Các quan hệ mua bán trao đổi này làm thay đổi chủ sở hữu của
chứng khoán, và như vậy, thực chất đây chính là quá trình vận động của tư bản,
chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh. Thị trường chứng khoán không
giống với thị trường các hàng hoá thông thường khác vì hàng hoá của thị trường
chứng khoán là một loại hàng hoá đặc biệt, là quyền sở hữu về tư bản. Loại
hàng hoá này cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Như vậy, có thể nói, bản chất của
thị trường chứng khoán là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của
vốn đầu tư mà ở đó, giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn
hay giá cả của vốn đầu tư. Thị trường chứng khoán là hình thức phát triển bậc
cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hoá.

15


1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ CỦA CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨNG
KHOÁN VÀ SỰ CẦN THIẾT QUY ĐỊNH CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨNG KHOÁN
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.2.1. Khái niệm tội phạm về chứng khoán
Có thể nói, chứng khoán và thị trường chứng khoán đã xuất hiện, tồn
tại và phát triển ở Việt Nam như một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị
trường. Bắt đầu từ năm 2000 và khởi sắc mạnh mẽ từ năm 2005 đến nay. Chủ
trương phát triển thị trường chứng khoán (kênh huy động vốn đầu tư và lưu
thông giữa các nguồn vốn đầu tư) đã góp phần làm cho nền kinh tế nước ta có
những chuyển biến tích cực nhất định, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát
triển. Bên cạnh mặt mạnh này, xuất hiện càng nhiều các vi phạm trong lĩnh
vực chứng khoán và thị trường chứng khoán làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới
môi trường đầu tư và lưu thông vốn, tác động tiêu cực đến trật tự quản lý kinh tế
và nền kinh tế quốc dân. Trong báo cáo tổng kết công tác năm của Cục Cảnh
sát điều tra tội phạm kinh tế và chức vụ đều nhấn mạnh và khẳng định từ năm
2005 đến nay vi phạm trên lĩnh vực chứng khoán có dấu hiệu gia tăng. Hành vi vi
phạm chủ yếu là các doanh nghiệp niêm yết tăng vốn nhưng không báo cáo Ủy
ban Chứng khoán Nhà nước, lừa đảo bán cổ phiếu trên thị trường OTC, sử dụng
vốn nhà nước, vốn của cổ đông để đầu tư chứng khoán nhưng chưa được sự
đồng ý của Hội đồng quản trị và Đại hội cổ đông, làm giả chứng khoán... Đặc
biệt, trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều doanh nghiệp, công ty niêm
yết không tuân thủ quy định của pháp luật về việc công bố thông tin, thậm chí
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước phạt không kịp, bỏ sót hoặc vì lý do gì đó
không phạt khiến doanh nghiệp kinh nhờn và nhà đầu tư lãnh đủ... Hàng loạt
vụ việc liên quan đến tình trạng công bố thông tin sai lệch, thiếu, nhiễu thông
tin… về tình hình tài chính, hiệu quả kinh doanh của các công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán trong thời gian gần đây, đã khiến cho nhiều nhà đầu tư
chán nản, rời bỏ thị trường, làm cho thị trường chứng khoán trở nên ảm đạm.

16


Có thể nói sai phạm trong lĩnh vực chứng khoán ngày càng phổ biến
và nghiêm trọng. Các giao dịch tại thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC)
diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Để đối phó với thực trạng này Ngân
hàng Nhà nước đã ra Chỉ thị 03 ngày 28/5/2007 yêu cầu các ngân hàng
thương mại kiểm soát dư nợ đầu tư chứng khoán không quá 3% tổng dư nợ
của ngân hàng. Việc Ngân hàng Nhà nước ra chỉ thị trên cùng một số can
thiệp khác của Chính phủ, Ủy ban chứng khoán Nhà nước... đã làm thị trường ổn
định hơn song vi phạm không có biểu hiện giảm.
Trước tình hình chúng ta chưa có một công cụ pháp lý đủ mạnh để
ngăn chặn, kịp thời trừng trị, răn đe người có sai phạm đến mức phải xử lý
hình sự. Thông tư liên tic hc số 46/2009, ngày 13/3/2009 giữa Bô c Công an và
Bộ Tài chính hướng dẫn phối hơp xử lý vi pham pháp luâṭ trong linh vưc
chứng khoan và thi ṭ rường chứn g khoan và việc sửa đổi Nghị định 36/NĐ-CP
về xử phạt hành chính trên lĩnh vực thị trường chứng khoán được ban hành đã
giúp công tác quản lý, giám sát, thanh tra của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
cũng được tăng cường hơn. Trước ngày Luật sửa đổi bổ sung có hiệu lực,
những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán, thị trường chứng khoán
được giải quyết bằng các biện pháp hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm
hình sự bởi một số các tội phạm trong Bộ luật Hình sự nếu ở mức độ nguy
hiểm cho xã hội đến mức đáng kể như Tội lừa đảo, Tội làm giả con dấu, tài liệu
của cơ quan, tổ chức, cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý
kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng…
Luật sửa đổi đã bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999
lần đầu tiên quy định ba điều luật (Điều 181a, 181b, 181c) trong lĩnh vực chứng
khoán đã góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế trong lĩnh vực
quản lý, kinh doanh chứng khoán. Với ba tội phạm mới được ghi nhận trong
Luật sửa đổi bổ sung năm 2009 là cơ sở pháp lý hình sự để chúng ta điều tra,
truy tố, xét xử những người có hành vi phạm tội trong lĩnh vực này.

17


Như vậy, để bảo vệ các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chứng
khoán, việc quy định các hành vi bị coi là tội phạm trong lĩnh vực chứng
khoán hay tội phạm chứng khoán được rất nhiều nước trên thế giới quan tâm từ
nhiều thập kỷ trước. Tuy nhiên, tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán không
được quy định thành nhóm tội riêng trong Bộ luật Hình sự của nhiều quốc gia
hay nói cách khác là được quy định thành một chương riêng trong Bộ luật
Hình sự, đạo luật duy nhất quy định về hành vi phạm tội cũng như chế tài áp
dụng đối với hành vi phạm tội đó, trong đó có Việt Nam.
Hiện nay, Bộ luật Hình sự chưa có định nghĩa trong luật về nhóm tội
phạm này, do đó định nghĩa về khái niệm khoa học về tội phạm trong lĩnh vực
chứng khoán chỉ được đề cập trong các sách báo pháp lý, công trình khoa học
của Việt Nam cũng như của nhiều quốc gia khác. Tuy nhiên, mức độ đề cập và
làm rõ khái niệm về tội phạm chứng khoán còn rất hạn chế, các sách báo pháp lý
thường chỉ đề cập đến hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán,
cũng như hình thức xử phạt đối với các hành vi này mà chưa khát quát được
lên tầm lý luận, làm rõ bản chất của các tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán.
Tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán cũng như tội phạm trong các lĩnh
vực chuyên biệt khác đều là một bộ phận của tội phạm nói chung. Vì vậy, về
nguyên tắc, khái niệm tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán không những phải
thỏa mãn các dấu hiệu của tội phạm nói chung mà còn phải phản ánh những dấu
hiệu riêng thể hiện nét đặc thù của tội phạm trong lĩnh vực chuyên biệt này.
Tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán có thể được hiểu theo hai nghĩa.
Theo nghĩa hẹp, tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán chỉ bao gồm các hành vi
trực tiếp vi phạm các quy định của pháp luật chứng khoán ở mức độ bị coi là
tội phạm. Theo nghĩa này, tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán có thể được
gọi là tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán có tính riêng biệt (chỉ xảy ra trong
lĩnh vực chứng khoán, thị trường chứng khoán). Theo nghĩa rộng, tội phạm
trong lĩnh vực chứng khoán bao gồm không chỉ tội phạm theo nghĩa

18


hẹp này mà còn cả các tội phạm khác xảy ra trong lĩnh vực chứng khoán, thị
trường chứng khoán. Các tội phạm khác này có thể được gọi chung là tội
phạm trong lĩnh vực chứng khoán không có tính riêng biệt (có thể xảy ra
trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực chứng khoán, thị trường chứng
khoán). Như vậy, tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán theo nghĩa rộng bao
gồm tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán có tính riêng biệt và tội phạm trong
lĩnh vực chứng khoán không có tính riêng biệt. Do có các cách hiểu khác
nhau như vậy mà cũng có thể có những định nghĩa khác nhau về tội phạm
trong lĩnh vực chứng khoán. Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn, chúng tôi
chỉ đề cập, làm rõ khái niệm tội phạm chứng khoán theo nghĩa hẹp.
Theo nghĩa hẹp, hành vi bị coi là tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán
là hành vi xâm hại các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt
động chứng khoán qua việc vi phạm trực tiếp các quy định của pháp luật
chứng khoán về công bố thông tin chứng khoán, về vấn đề sử dụng thông tin
nội bộ trong lĩnh vực chứng khoán, về giá của chứng khoán, qua đó xâm
phạm chế độ quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường
chứng khoán gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho xã hội.
Thông thường, các hành vi vi phạm trực tiếp pháp luật chứng khoán ở
mức độ nghiêm trọng được các quốc gia quy định là tội phạm ngay trong các
văn bản luật về chứng khoán hoặc trong Bộ luật Hình sự tại các điều luật riêng
biệt. Ở Việt Nam, trước thời điểm Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ
sung năm 2009, trong Bộ luật Hình sự hiện hành không có các điều luật riêng
về tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán; còn trong các văn bản luật về chứng
khoán cũng không có quy định về tội phạm cụ thể mà chỉ quy định chung là
cho phép có thể truy cứu trách nhiệm hình sự các hành vi vi phạm có dấu hiệu tội
phạm. Trong trường hợp này, các hành vi vi phạm trực tiếp pháp luật chứng
khoán chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các tội danh chung tương
ứng đã được quy định trong Bộ luật Hình sự.

19


Tuy nhiên, năm 2009, với việc lần đầu tiên Bộ luật Hình sự hiện hành
đã có quy định về tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán có tính riêng biệt với ba
tội danh: Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt
động chứng khoán (Điều 181a), tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng
khoán (Điều 181b) và Tội tháo túng giá chứng khoán (Điều 181c). Do vậy, tội
phạm trong lĩnh vực chứng khoán ở Việt Nam đã bao gồm một số hành vi
phạm tội đã được quy định trong các tội phạm nói trên trong Bộ luật Hình sự
và xảy ra trên thực tế trong lĩnh vực chứng khoán.
Từ các phân tích trên có thể định nghĩa tội phạm trong lĩnh vực chứng
khoán một cách chung nhất như sau: Tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán
hay tội phạm về chứng khoán là những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại
những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện các quy định của
pháp luật chứng khoán, được quy định là tội phạm trong Bộ luật Hình sự
hoặc trong các luật liên quan đến chứng khoán, gây thiệt hại cho quyền và lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia chứng khoán, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến chế độ quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường
chứng khoán.
Các luật liên quan đến chứng khoán ở đây có thể là luật chứng khoán...
tùy theo quy định của pháp luật ở mỗi quốc gia. Tuy nhiên, ở Việt Nam do
chúng ta chưa cho phép quy định tội phạm và hình phạt trong các luật chuyên
ngành nên tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán có thể được định nghĩa là:
Những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại những quan hệ xã hội phát sinh
trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật chứng khoán, được quy
định là tội phạm trong Bộ luật Hình sự, gây thiệt hại cho quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân tham gia chứng khoán, ảnh hưởng nghiêm trọng đến
chế độ quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Như vậy, đối với các quốc gia cho rằng nguồn trực tiếp của luật hình
sự chỉ là Bộ luật Hình sự như Việt Nam thì tội phạm trong lĩnh vực chứng

20


khoán dù thuộc nhóm nào - nhóm chỉ xảy ra trong lĩnh vực chứng khoán hay
nhóm có thể xảy ra ở các lĩnh vực khác nhau đều chỉ được quy định trong Bộ
luật Hình sự. Đối với các quốc gia cho rằng nguồn trực tiếp của luật hình sự
không chỉ là Bộ luật Hình sự mà còn có thể là các luật khác thì tội phạm trong
lĩnh vực chứng khoán có thể được quy định trong Bộ luật Hình sự và trong
các luật khác. Các tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán có tính riêng biệt có
thể được quy định trong Bộ luật Hình sự hoặc trong chính các luật riêng biệt
về chứng khoán. Trong các luật riêng biệt về chứng khoán, nhà làm luật có
thể quy định các hành vi vi phạm và các tội phạm, trong đó tội phạm là các
hành vi vi phạm luật chứng khoán ở mức độ nghiêm trọng và do vậy có tính
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Bộ luật Hình sự cũng có thể quy định các tội
phạm trong lĩnh vực chứng khoán tương đối thông thường và ổn định trên cơ sở
pháp điển hóa các hành vi phạm tội đã được quy định trong các luật riêng biệt
về chứng khoán.
1.2.2. Các yếu tố cấu thành tội phạm chứng khoán
Xét về nội dung chính trị - xã hội và nội dung pháp lý, tội phạm nói
chung cũng như tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán có các dấu hiệu (đặc
điểm) như đã được trình bày; xét về cấu trúc, tội phạm nói chung cũng như tội
phạm trong lĩnh vực chứng khoán có bốn yếu tố hợp thành. Đó là khách thể,
mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan.
* Khách thể của tội phạm về chứng khoán. Quan hệ xã hội được luật
hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại, theo khoa học luật hình sự, được coi là
khách thể của tội phạm. Khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ
xã hội bị gây thiệt hại hoặc bị đe dọa gây thiệt hại ở mức độ nhất định, được
Nhà nước xác định cần được bảo vệ bằng pháp luật hình sự.
Tại Việt Nam chứng khoán và thị trường chứng khoán có vai trò rất
quan trọng thông qua một số khía cạnh sau: (i) Tạo vốn cho nền kinh tế quốc
dân. Do có chứng khoán và thị trường chứng khoán nên việc đầu tư các nguồn

21


vốn tạm thời nhàn rỗi dễ dàng hơn. Từ việc nguồn vốn bị ứng đọng từ nhiều
nơi, không có khả năng sinh lời, cho đến khi có thị trường chứng khoán việc đầu
tư, tích lũy vốn sôi động và dồi dào hẳn lên. Thông qua đó nền kinh tế tăng
trưởng mạnh mẽ, công ăn việc làm được giải quyết, thất nghiệp giảm. Bên
cạnh, thị trường chứng khoán như một trung tâm thu gom mọi nguồn vốn từ dân
chúng, như một nam châm cực mạnh hút các nguồn vốn từ nước ngoài. Ngoài ra
còn giúp Nhà nước giải quyết vấn đề thiếu hụt ngân sách, có thêm vốn xây
dựng hạ tầng cơ sở. (ii) Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng vốn linh
hoạt và có hiệu quả hơn. Khi doanh nghiệp cần vốn để mở rộng qui mô sản xuất
họ có thể phát hành chứng khoán, vào thị trường để huy động vốn. Đây là
phương thức tài trợ vốn qua phát hành và lúc đó nguồn vốn của doanh nghiệp
tăng lên. Lúc này rủi ro đối với doanh nghiệp là rất nhỏ vì những cổ đông của
họ đã gánh đỡ thay. Một điều thuận lợi nữa, khi doanh nghiệp chưa có cơ hội
sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp có thể dự trữ chứng khoán như là một
tài sản kinh doanh và các chứng khoán đó sẽ được chuyển nhượng thành tiền
khi cần thiết thông qua thị trường chứng khoán. Ngoài ra, khi doanh nghiệp
niêm yết trên thị trường chứng khoán, có nghĩa là đã có chữ tín đối với công
chúng đầu tư. Như vậy các công ty chứng khoán sẽ là tác nhân kích thích giúp
doanh nghiệp tạo vốn nhanh chóng hơn. (iii) Chứng khoán và thị trường chứng
khoán là công cụ đánh giá doanh nghiệp, dự đoán tương lai. Thị trường chứng
khoán ngày càng đa dạng và phức tạp, liên quan đến vận mệnh của nền kinh tế
quốc dân. Sự hình thành thị giá chứng khoán của một doanh nghiệp trên thị
trường chứng khoán đã bao hàm sự hoạt động của doanh nghiệp đó trong hiện
tại và dự doán tương lai. Khi giá cổ phiếu của một doanh nghiệp cao (hay thấp)
biểu hiện trạng thái kinh tế tức là khả năng mang lại cổ tức cao (hay thấp) cho
các cổ đông của doanh nghiệp đó. Triển vọng tương lai của các doanh nghiệp
cũng được thể hiện một cách trực tiếp trên thị giá cổ phiếu và cũng như sự
biến động của nó. Ngoài ra, với phương

22


pháp chỉ số hóa thị giá của các loại chứng khoán chủ yếu trong nền kinh tế và
việc nghiên cứu phân tích một cách khoa học hệ thống chỉ số giá chứng khoán
trên thị trường chứng khoán ở từng nước trong mối quan hệ với thị trường thế giới,
đã dự đoán được trước sự biến động kinh tế của một hoặc hàng loạt các nước
trên thế giới. Như vậy, chứng khoán, thị trường chứng khóa có vai trò, tầm
quan trọng rất lớn đối với nền kinh tế, nó cần phải được bảo vệ khỏi sự xâm hại
bằng những công cụ pháp lý trong đó có luật hình sự.
Với việc quy định Bộ luật Hình sự về ba tội phạm trong lĩnh vực
chứng khoán thì có thể hiểu rằng các quan hệ xã hội trong lĩnh vực chứng
khoán là nhóm quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và có thể trở
thành khách thể của tội phạm. Đó là quan hệ giữa các chủ thể - Nhà nước, các tổ
chức chứng khoán, người tham gia chứng khoán. Quan hệ này được hình
thành, duy trì và phát triển là nhằm mục đích tạo vốn cho nền kinh tế của Nhà
nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng vốn linh hoạt và có hiệu quả
hơn, và tạo lợi nhuận trực tiếp cho người tham gia chứng và qua đó đảm bảo
cho sự ổn định của xã hội nói chung. Quan hệ xã hội trong lĩnh vực chứng
khoán chỉ có thể duy trì và phát triển để thực hiện chức năng xã hội tốt đẹp đó khi
các chủ thể thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ của mình. Như vậy, với tầm
quan trọng của chứng khoán, thị trường chứng khoán đối với sự ổn định xã hội
và hơn nữa với nguy cơ dễ bị xâm phạm, các quan hệ xã hội trong lĩnh vực
chứng khoán được xác định là nhóm quan hệ xã hội phải được bảo vệ bằng
pháp luật hình sự. Hay nói cách khác, quan hệ chứng khoán được coi là khách
thể bảo vệ của pháp luật hình sự và trong trường hợp bị xâm phạm ở mức độ
đáng kể, quan hệ chứng khoán trở thành khách thể của tội phạm trong lĩnh vực
chứng khoán.
* Mặt khách quan của tội phạm về chứng khoán. Cũng như các tội
phạm khác, yếu tố mặt khách quan của tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán
gồm trước hết là hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và quan

23


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×