Tải bản đầy đủ

Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã trên địa bàn huyện kim động, tỉnh hưng yên

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TH TUYT

THựC HIệN PHáP LUậT Về DÂN CHủ CƠ Sở ở Xã
TRÊN ĐịABàN HUYệN KIM ĐộNG, TỉNH HƯNG
YÊN

Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s nh nc v phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. TRNG H
HI

H NI - 2015


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy
và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả
các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có
thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Tuyết


MỤC
LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời
cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở XÃ ........................................................... 7
1.1.

Khái niệm, quan điểm về dân chủ trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh ...... 7

1.1.1.

Khái niệm........................................................................................... 7

1.1.2.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ........................................................... 9

1.2.

Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã ............ 12

1.2.1.


Khái niệm pháp luật về dân chủ ...................................................... 12

1.2.2.

Khái niệm thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã .............................. 13

1.2.3.

Đặc điểm của thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã ......................... 16

1.3.

Pháp luật về dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam từ năm 1945 đến khi

có Chỉ thị số 30 của Bộ Chính trị………………………………………….20
1.4.

Các hình thức thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã................... 21

1.5.

Các yếu tố ảnh hƣởng đến thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã..... 24

1.5.1.

Thể chế............................................................................................. 25

1.5.2.

Sự lãnh đạo của tổ chức Đảng cơ sở ............................................... 26

1.5.3.

Tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân trong hoạt động của
chính quyền cấp xã .......................................................................... 27

1.5.4.

Sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xã ................... 28

1.5.5.

Trình độ, năng lực, uy tín của đội ngũ cán bộ, công chức xã............... 30

1.5.6.

Đặc điểm địa bàn dân cư, trình độ dân trí ....................................... 31


1.6.

Kinh nghiệm thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phƣờng,
thị trấn của một số địa phƣơng trong tỉnh và trong cả nƣớc .... 33

1.6.1.

Những kinh nghiệm rút ra từ phong trào xây dựng nông thôn
mới gắn với thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tại xã Tuy Lộc,
thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái..................................................... 33

1.6.2.

Những kinh nghiệm rút ra từ mô hình tổ dân vận điểm thực
hiện tốt Quy chế dân chủ của thôn Bãi Sậy 3, xã Tân Dân ............. 35

1.6.3.

Những kinh nghiệm trong thực hiện QCDC ở cơ sở của xã
Nhật Tân, huyện Tiên Lữ................................................................. 38

1.6.4.

Bài học kinh nghiệm rút ra trong thực hiện pháp luật về dân
chủ ở cơ sở đối với huyện Kim Động.............................................. 40
Chƣơng 2: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG VÀ THỰC
TRẠNG
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở
CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM
ĐỘNG ...................................... 41
2.1

2.2.2. 2.2.3. 2.2.4.

.

2.3.

2.1.1
.
2.1.2
.
2.1.3
.
2.2
.
2.2.1
.


Cở

H xã
T
đ tr
T
N ên
l
đị
a

n
hu
yệ
n
Ki
m
Đ
ộn
g..
....
....
....
....
....
.
68


2.3.1.

Hạn chế ............................................................................................ 68

2.3.2.

Nguyên nhân của những hạn chế..................................................... 73

Chƣơng 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG THỰC
HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CẤP XÃ TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN KIM ĐỘNG........................................................... 77
3.1.

Các quan điểm về tăng cƣờng thực hiện pháp luật về dân
chủ ở xã, phƣờng, thị trấn............................................................. 77

3.1.1.

Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, thị trấn phải trên cơ sở
chủ trương, chính sách của Đảng về dân chủ nói chung và dân
chủ ở xã, phường, thị trấn nói riêng ................................................ 77

3.1.2.

Hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân phải có vị trí, vai
trò quan trọng việc thực hiện pháp luật dân chủ ở xã...................... 78

3.1.3.

Mở rộng dân chủ phải bảo đảm trật tự, kỷ cương, trong khuôn
khổ Hiến pháp và pháp luật ............................................................. 79

3.1.4.

Thực hiện pháp luật dân chủ ở xã gắn với đẩy mạnh học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và các phong trào
thi đua yêu nước .............................................................................. 80

3.1.5.

Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phòng, chống
quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ở cơ sở........................... 81

3.2.

Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về
dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện Kim Động ........................ 82

3.2.1.

Kiến nghị cấp có thẩm quyền trong việc hoàn thiện pháp luật
về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn .................................... 82

3.2.2.

Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng....................................... 88

3.2.3.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
về dân chủ ở cơ sở ........................................................................... 90

3.2.4.

Nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền xã....................... 92


3.2.5.

Phát huy vai trò của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị
- xã hội và các tổ chức xã hội khác.................................................. 95

3.2.6.

Phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân ............................ 99

3.2.7.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có đủ phẩm chất,
năng lực.......................................................................................... 101

3.2.8.

Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về dân
chủ ở xã.......................................................................................... 105
KẾT
LUẬN ..................................................................................................
108 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM
KHẢO................................................... 110


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBCC

Cán bộ, công chức

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

GDTX

Giáo dục thường xuyên

GSĐTCCĐ Giám sát đầu tư của cộng đồng
HĐND

Hội đồng nhân dân

HTX

Hợp tác xã

KT - XH

Kinh tế - xã hội

Nxb

Nhà xuất bản

PLTHDC

Pháp luật thực hiện dân chủ

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

TSVM

Trong sạch vững mạnh

TTND

Thanh tra nhân dân

TTNN

Thanh tra nhà nước

UBMTTQ Ủy ban Mặt trận tổ quốc
UBND

Ủy ban nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xuyên suốt tư tưởng của mình, Hồ Chí Minh luôn quan niệm "Dân là
chủ" và "Dân làm chủ". Quán triệt tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân
chủ, Đảng ta đã đề ra những chủ trương, chính sách để đề cao và phát huy dân
chủ trong nhân dân và nhà nước ta đã thể chế hóa các chủ trương, đường lối đó
thành pháp luật và đảm bảo thi hành. Thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW ngày
18/02/1998 Bộ Chính trị khóa XIII về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở
cơ sở, Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 (sau được thay thế bằng
Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003) ban hành Quy chế thực hiện dân
chủ ở xã, phường, thị trấn. Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XI đã ban hành
Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh số 34) ngày
20/4/2007 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn được ra đời. Đây là
những văn bản pháp lý quan trọng, đánh dấu một bước phát triển về thực hiện
dân chủ và sự thể chế hoá phương châm ''dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra'' của Đảng nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngay từ cơ sở.
Thời gian qua, ở nước ta, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở nói
chung và ở xã, phường, thị trấn nói riêng đã được cấp ủy Đảng, chính quyền và các
ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở quan tâm thực hiện nghiêm túc, từ việc ban
hành các văn bản chỉ đạo, triển khai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều
hình thức khác nhau, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, tổ chức sơ kết, tổng
kết rút kinh nghiệm, đề ra những giải pháp đẩy mạnh thực hiện pháp luật về dân
chủ ở xã, phường, thị trấn đạt hiệu quả cao hơn. Chính vì vậy, trong những năm
gần đây, ở Hưng Yên nói chung và huyện Kim Động nói riêng việc thực hiện dân
chủ ở xã, phường, thị trấn đã đạt được kết quả đáng kể và tương

1


đối toàn diện góp phần bảo đảm quyền lực thực sự của nhân dân trong xây
dựng Nhà nước, quản lý xã hội; kiện toàn nâng cao chất lượng hoạt động của hệ
thống chính trị ở cơ sở; phát triển kinh tế, xã hội; bảo đảm an ninh, quốc phòng
và trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc thực
hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Ở
một số nơi, nhận thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên,
công chức chưa đầy đủ, chưa thấy hết tầm quan trọng của việc thực hiện dân
chủ ở cơ sở, còn xảy ra tình trạng cản trở việc thực hiện quyền dân chủ của
nhân dân. Một số địa phương thực hiện còn hình thức, tổ chức triển khai chưa
đồng bộ và thường xuyên. Một số cán bộ, công chức cơ sở còn thiếu trách nhiệm,
không muốn triển khai thực hiện hoặc triển khai còn nặng về hình thức, làm qua
loa, chiếu lệ. Quyền làm chủ của nhân dân ở không ít địa phương chưa được thực
hiện một cách đầy đủ, quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân còn bị vi phạm.
Một bộ phận nhân dân chưa biết và chưa thấu hiểu về thực hiện dân chủ ở cơ sở,
chưa nhận thức đầy đủ quyền và lợi ích của mình khi tham gia các quan hệ xã
hội, nhất là quan hệ với chính quyền cơ sở, cá biệt còn có trường hợp lợi dụng
dân chủ, gây mất ổn định về an ninh trật tự ở nông thôn. Bên cạnh đó, một số
quy định của pháp luật còn chưa phù hợp với thực tiễn, tính khả thi không cao
khi áp dụng đã ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ ở
cơ sở hiện nay.
Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã) luôn là vấn đề
mang tính thời sự. Vì thế, chúng ta vừa phải thường xuyên tổng kết thực tiễn vừa đi
sâu nghiên cứu và nhận thức đúng đắn về lý luận, vừa phải thường xuyên đổi
mới hình thức, biện pháp tổ chức thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã.
Với lý do trên, tác giả chọn đề tài: "Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ
sở ở xã trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên" làm luận văn Thạc sĩ,
chuyên ngành lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật. Đây là vấn đề cần

2


thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, tác giả hi vọng sẽ góp phần nhỏ
vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã nói
chung và trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những nội dung liên quan đến vấn đề thực hiện pháp luật về dân chủ ở
cơ sở nói chung và ở xã, phường, thị trấn nói riêng được nhiều nhà khoa học,
những người làm công tác lý luận nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, góc độ khác
nhau được công bố dưới dạng đề tài khoa học, chuyên đề, luận án tiến sĩ, luận
văn thạc sĩ và các bài báo đăng tải trên các tạo chí, sách, báo....
Đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu như:
- "Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn trong tiến trình đổi mới" của
GS,TS Hoàng Chí Bảo, Nxb Chính trị Quốc gia, 2010.
- "Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta
hiện nay" của TS. Nguyễn Văn Sáu và GS. Hồ Văn Thông, Nxb Chính trị quốc
gia, 2003.
- "Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa" của Thái Ninh - Hoàng
Chí Bảo, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991.
- "Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã - Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn" của PGS,TS Dương Xuân Ngọc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
- "Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay" của TS.
Nguyễn Văn Sáu và GS. Hồ Văn Thông, Nxb Chính trị quốc gia, 2005.
Ngoài ra một số các bài viết của các tác giả đã nghiên cứu một cách cơ
bản, đưa ra những luận cứ khoa học phân tích làm rõ khái niệm, bản chất, vai trò
quan trọng của dân chủ, dân chủ ở cơ sở, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở;
những thành công, hạn chế và những vấn đề đặt ra trong xây dựng và thực hiện
pháp luật về dân chủ ở cơ sở nói chung và từng địa phương nói riêng như:
- "Quan hệ giữa thực thi Quy chế dân chủ ở cơ sở với xây dựng chính

3


quyền cơ sở nông thôn", của TS. Nguyễn Văn Sáu, Tạp chí Lý luận chính trị,
số 11-2002.
- "Chung quanh những vấn đề quy chế dân chủ ở nước ta hiện nay" của
Lương Gia Ban, Tạp chí Cộng sản, số 13, tháng 5 năm 2002.
- "Dân chủ ở cơ sở một sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt Nam" của
Trần Bạch Đằng, Tạp chí Cộng sản, số 35, tháng 12/2003.
- "Để thực hiện dân chủ ở cơ sở", của Lê Quang Minh, Tạp chí Cộng
sản số 11, tháng 4 năm 2003.
- "Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong quá trình đổi mới: thành tựu, vấn đề và
giải pháp" của GS,TS Phạm Ngọc Quang, Tạp chí Lý Luận chính trị, số 3/2004.
- "Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và vấn đề thực hiện quy chế dân
chủ ở cơ sở" của Lê Xuân Đình, Tạp chí Cộng sản, số 20, tháng 10/2004.
- "Đưa cuộc vận động thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở lên một bước
mới, rộng rãi hơn, hiệu quả hơn, thiết thực hơn" của Tổng Bí thư Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Nông Đức Mạnh, Tạp chí Cộng sản, số 20, tháng 10/2004.
- "Về dân chủ ở cơ sở" của PGS. Nguyễn Huy Quý, Tạp chí Cộng sản, số
4, tháng 2/2004.
Tuy nhiên, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở vẫn là đề tài luôn có
tính thời sự cao, bởi việc thực hiện hầu như ở bất cứ nơi nào cũng có rất nhiều
khiếm khuyết, bất cập, mỗi nơi mỗi khác. Trong luận văn này, tác giả sẽ cố
gắng góp phần nghiên cứu, bổ sung những vấn đề mới để nâng cao hiệu quả
thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện Kim Động nói
riêng và tỉnh Hưng Yên nói nói chung.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích: Làm rõ những vấn đề lý luận thực hiện pháp luật về dân
chủ ở xã và đánh giá thực trạng việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã trên
địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, luận văn đề xuất các giải pháp bảo

4


đảm thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã trên địa bàn toàn tỉnh trong giai đoạn
hiện nay
* Nhiệm vụ: Để đạt mục đích trên luận văn có nhiệm vụ làm rõ các vấn
đề cơ bản sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở. Đánh giá thực tế kết quả, chỉ rõ những hạn chế, nguyên nhân, bài học
kinh nghiệm trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã trên địa bàn huyện.
- Đưa ra quan điểm, đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật về dân chủ ở xã trên địa bàn huyện và trên phạm vi toàn tỉnh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã từ khi
thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị, trọng tâm từ khi thực hiện
Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI
về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đến nay.
Phạm vi nghiên cứu: Việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã từ năm
2007 đến nay trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp
luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tiếp thu quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu;
- Phương pháp so sánh;
- Phương pháp phân tích và tổng hợp;
- Kết hợp phương pháp thống kê, điều tra xã hội học

5


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn đóng góp thêm nhận thức về cơ sở lý luận và thực tiễn thực
hiện pháp luật về dân chủ ở xã hiện nay.
- Góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy Đảng,
chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện pháp luật về dân chủ ở
xã trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về
dân chủ ở xã trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn bao gồm.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về dân chủ ở
xã.
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã trên địa bàn
huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật về dân
chủ ở xã trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

6


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CẤP XÃ
1.1. Khái niệm, quan điểm về dân chủ trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
1.1.1. Khái niệm
* Dân chủ và các hình thức của dân chủ
- Khái niệm dân chủ
Thuật ngữ "dân chủ" ra đời sớm vào thế kỷ thứ VII-VI (TCN), người đầu
tiên đặt nền móng cho nguyên lý này là nhà triết học cổ đại Xôlông. Theo
tiếng Hy Lạp thì "dân chủ" là một từ ghép của hai từ Demos (người bình dân)
và Kratos (quyền lực). Như vậy, với nguyên nghĩa của từ dân chủ có nghĩa là
quyền lực thuộc về nhân dân, quyền lực của nhân dân.
Có nhiều quan niệm khác nhau về dân chủ. Có quan niệm cho rằng dân chủ
như một dòng sông chảy xuyên suốt lịch sử, kể cả khi trong đời sống xã hội
trước đây chưa xuất hiện và sau này không còn giai cấp, Nhà nước, vì thế, có một
nền dân chủ chung cho toàn nhân loại và dân chủ là một phạm trù vĩnh viễn.
Quan niệm khác lại hiểu dân chủ là một thể chế chính trị, một hình thức Nhà nước,
ra đời và tồn tại gắn với sự hiện diện của một giai cấp và Nhà nước nhất định, do
đó, nó là một phạm trù lịch sử mang tính giai cấp. Một số học giả lại cho rằng
dân chủ là một phạm trù lịch sử, gắn với giai cấp khi nó là một hình thức Nhà
nước và dân chủ là một phạm trù vĩnh viễn không nhất
thiết phải gắn với giai cấp khi nó là một kiểu tổ chức quản lý xã hội.
Từ góc độ khái quát nhất có thể hiểu dân chủ là một phương thức cầm
quyền mà cho phép các cá nhân, các nhóm và tất cả các chủ thể khác nhau
trong xã hội có những cơ hội bình đẳng để tham gia các tiến trình và hoạt
động chính trị một cách đầy đủ và thực sự.

7


Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, dân chủ là mục tiêu và nguyên tắc trong
mọi hoạt động xã hội mà giai cấp công nhân và chính đảng tiền phong của nó
phải quán triệt, chỉ đạo thực hiện nhằm hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân
vào cuộc sống. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là đỉnh cao của nền dân chủ, vì các nền
dân chủ trước đó đều là dân chủ cho giai cấp thiểu số trong xã hội, dân chủ
mang bản chất giai cấp sâu sắc. Trong đó, con người là thành viên của xã hội
có đầy đủ tư cách công dân - đó là quyền làm chủ của nhân dân trên cơ sở là
tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, dân là gốc, dân là chủ, dân làm
chủ.
- Các hình thức của dân chủ
Hình thức dân chủ là toàn bộ các phương pháp, cách thức thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân. Hai hình thức của dân chủ, đó là dân chủ đại
diện và dân chủ trực tiếp.
Dân chủ đại điện là một thể thức dân chủ, trong đó nhân dân thực hiện
chủ quyền của mình qua khâu trung gian của những đại diện được chọn bằng
phương pháp bầu cử. Phương pháp này được áp dụng rộng rãi trong chế độ tư
bản và trong chủ nghĩa xã hội. Vì thế cho nên, các nhà tư bản hoặc xã hội chủ
nghĩa phần lớn chỉ tổ chức theo chính thể cộng hòa mà không được tổ chức theo
một loại chính thể nào khác.
Dân chủ trực tiếp là hình thức qua đó bằng hành vi của mình nhân dân
trực tiếp thực hiện quyền dân chủ. Về nguyên tắc, dân chủ trực tiếp được hiểu là
dân tự mình quyết định các vấn đề của nhà nước và xã hội. Cao nhất của dân
chủ trực tiếp là hình thức trưng cầu ý dân. Những hình thức thấp hơn của nó
là các hình thức dân chủ như người dân được bàn bạc về các công việc của Nhà
nước và của cộng đồng dân cư; được bàn và quyết định những vấn đề ở cơ sở;
nhân dân trực tiếp kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước nhất là ở
cơ sở.

8


Ở nước ta, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực
tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua
các cơ quan khác của Nhà nước theo quy định tại Điều 6 của Hiến pháp năm
2013.
Nhìn chung, dân chủ được tiến hành bằng hình thức nào cũng phải đảm
bảo yêu cầu, nguyên tắc của pháp chế xã hội chủ nghĩa, tuân thủ nghiêm túc
Hiến pháp, pháp luật và giữ vững đường lối của Đảng, tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh, trí tuệ của nhân dân để ngày càng thu
hút đông đảo nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
1.1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ
Kế thừa tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với giá trị truyền
thống của dân tộc, Hồ Chí Minh đã tiếp cận và lý giải khái niệm "dân chủ"
một cách đơn giản, nhưng hết sức cô đọng và điều quan trọng là mọi người
(đặc biệt là người dân) dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ kiểm soát. Người nói: "Chế độ
ta là chế độ dân chủ. Tức là dân làm chủ" [50, tr.251]. "Nước ta là nước
dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ" [46, tr. 515]
Như vậy, "dân là chủ" và "dân làm chủ" là cốt lõi trong khái niệm "dân
chủ" mà Hồ Chí Minh giải thích. Quan điểm "dân là chủ", "dân làm chủ" là
quan điểm nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một chế độ xã hội
mới, một nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, mà trong đó địa vị của người dân từ
một người dân mất nước (nô lệ) trở thành chủ nhân của xã hội với tư cách là
một "công dân" và nhà nước đó đã bảo đảm quyền "là chủ" đó của công dân
để họ trở thành người "làm chủ" trong việc xây dựng nhà nước và xã hội. Do
vậy, thực hành dân chủ (biến dân chủ trở thành hiện thực) được Hồ Chí Minh
xem như là chiếc "chìa khóa vạn năng" để đi đến thành công.
Theo Người quyền lực của nhà nước là của nhân dân, Nhà nước là của
dân, do dân, vì dân. Trong tổ chức bộ máy Nhà nước có thang, bậc, quyền hạn

9


khác nhau nhưng đều là một công cụ thể hiện quyền lực nhân dân. Cán bộ từ
trên xuống dưới làm đầy tớ cho nhân dân, phải xứng đáng là người công bộc
trung thành của nhân dân; "dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa,
là mục tiêu và động lực của phát triển xã hội, dân chủ là dân là chủ và dân
làm chủ; thực hiện dân chủ là chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó
khăn để giành thắng lợi" [51, tr.249].
Cùng với việc xây dựng chế độ dân chủ, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến
việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân vì Người cho
rằng đây là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, là cơ sở pháp lý cho việc đảm bảo
quyền làm chủ của nhân dân trong thực tế. "Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ
đại hơn hết", "không ai chiến thắng được lực lượng đó" [52, tr.20]. Người đã
sớm nhận thức được sức mạnh của quần chúng nhân dân, coi trọng dân, lấy dân
làm gốc và đã nhắc nhở cán bộ, đảng viên: "dân chúng đồng lòng việc gì cũng
làm được, dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên" [50, tr.239].
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc chúng ta: Nước lấy dân làm gốc, dân lấy
cuộc sống làm đầu, chế độ ta là chế độ của dân, do dân. Dân theo Đảng đứng lên
đánh đuổi kẻ thù giành lấy chính quyền mà có được. Các cấp chính quyền và
đoàn thể từ trung ương đến địa phương, cơ sở là do nhân dân bầu cử ra. Do vậy,
mỗi cán bộ phải vì dân, hết lòng phục vụ mang lại cuộc sống ấm no, hạnh
phúc cho nhân dân. Theo người phương thức cơ bản của dân chủ cơ sở là "dân
biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra". Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân
dân. Trên thế giới không có sức mạnh nào bằng sức mạnh đoàn kết của nhân
dân; dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ.
Thực hiện tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ và vai trò
của dân chủ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, Đảng Cộng sản Việt
Nam luôn coi dân chủ là một nội dung quan trọng trong xây dựng, chỉ đạo

10


thực hiện đường lối, chính sách của Đảng. Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để
nhân dân vượt qua khó khăn, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng, lại
vừa là bản chất, là đặc trưng của chế độ mới.
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, trong công cuộc đổi
mới đất nước, Đảng ta đã triển khai mạnh mẽ sự nghiệp dân chủ hóa trên các lĩnh
vực tư tưởng, chính trị, đặc biệt là dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, trao cho nhân
dân quyền chủ động sản xuất kinh doanh, chủ động cải thiện đời sống của
mình. Dân chủ hóa đời sống xã hội đã khơi nguồn sáng tạo cho nhân dân trong
lao động, sản xuất, tham gia xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Vì vậy,
các nhiệm kỳ Đại hội VII, Đại hội VIII, Đại hội IX, Đại hội X, Đại hội XI đã
giành sự chú ý quan tâm nhiều đến vấn đề dân chủ và đặt ra một cách dứt
khoát mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước
của dân, do dân, vì dân. Nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự
nghiệp đổi mới nói chung và xây dựng Nhà nước nói riêng. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về dân chủ. Đây là một
chủ trương đúng đắn, kịp thời, phù hợp với xu thế phát triển, đáp ứng nguyện
vọng của nhân dân, thể hiện ý thức trách nhiệm cao của Đảng, của Nhà nước
trước nhân dân và xã hội. Để tiếp tục khẳng định
mục tiêu trên, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định:
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; mọi
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt
chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục
vụ nhân dân [29, tr.238-239].
Hiện nay, trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở
11


nước ta, Đảng và Nhà nước đã đề ra những nguyên tắc thể chế hóa, đưa ra
những phương châm hành động nhằm hiện thực hóa dân chủ vào cuộc sống
ngày càng sâu rộng và đầy đủ hơn. Đó là cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước
quản lý, nhân dân làm chủ với phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra để thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhờ vậy,
dân chủ đã từng bước phát triển và đạt được những thành tựu nhất định trong
đời sống xã hội; nền dân chủ đang từng bước được mở rộng và hoàn thiện, là điều
kiện để nhân dân sáng tạo, cống hiến cho công cuộc đổi mới đất nước.
1.2. Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã
1.2.1. Khái niệm pháp luật về dân chủ
Dân chủ có mối quan hệ mật thiết với pháp luật. Dân chủ chính là cơ sở,
nền tảng để xây dựng pháp luật. Dân chủ là thước đo giá trị của pháp luật, phản
ánh mức độ của nền dân chủ. Ngược lại, pháp luật đóng vai trò quan trọng
trong quản lý nhà nước, bởi vì pháp luật là công cụ quản lý chủ yếu, phổ biến,
hiệu lực nhất của quản lý nhà nước. Đồng thời, nó là phương tiện ghi nhận và
thực hiện nền dân chủ xã hội. Pháp luật chứa đựng nội dung của dân chủ, quy
định các quyền tự do dân chủ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Cụ thể là, pháp luật là phương tiện để xác lập cơ chế làm chủ cho các tổ
chức và cá nhân, quy định các biện pháp củng cố, mở rộng và thực hiện dân chủ
trên thực tế. Pháp luật với thuộc tính vốn có quy định chặt chẽ, chính xác nhiệm
vụ, quyền hạn của các thiết chế quyền lực, hạn chế tình trạng lạm quyền, độc
đoán chuyên quyền, vi phạm các quyền tự do dân chủ của các chủ thể cầm quyền.
Từ những trình bày ở trên, ở mức độ chung nhất, có thể hiểu pháp luật về
dân chủ là những quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước, các tổ chức và cá nhân

12


trong việc thực hiện quyền làm chủ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội. Còn, pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn là một nội dung quan
trọng của pháp luật về dân chủ, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền thừa nhận hoặc ban hành nhằm điều chỉnh quan hệ
giữa chính quyền cơ sở, các tổ chức và cá nhân đảm bảo thực hiện đầy đủ
quyền làm chủ của mình trong đời sống xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn.
1.2.2. Khái niệm thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã
1.2.2.1. Khái niệm
Thực hiện pháp luật là một hiện tượng xã hội mang tính pháp lý. Quá
trình thực hiện pháp luật được diễn ra tiếp nối với quá trình xây dựng và hoàn
thiện pháp luật của nhà nước. Về phương diện lý luận, thực hiện pháp luật là
khái niệm hiện nay đang có những cách hiểu ít nhiều khác nhau.
Theo Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và pháp luật của Trường Đại
học Luật Hà Nội, "Thực hiện pháp luật được quan niệm là quá trình hoạt động có
mục đích làm cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành
những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật" [66, tr.463].
Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Viện Nhà
nước và pháp luật - Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh:
Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích là
cho những quy phạm của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc
sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể
pháp luật [35, tr.270].
Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; Thực hiện pháp luật là một
quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật
đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ
thể pháp luật [44, tr.494]

13


Nhìn chung các định nghĩa nêu trên đều có nội hàm tương đối giống
nhau, theo đó, thực hiện pháp luật là hoạt động (việc, quá trình) nhằm thực
hiện những yêu cầu của pháp luật, làm cho những quy định của pháp luật trở
thành hiện thực trong cuộc sống. Trong quan hệ với cơ sở, thực hiện pháp luật về
dân chủ ở xã, phường, thị trấn là hoạt động có mục đích làm cho những quy
định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã đi vào cuộc sống nhằm mở
rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự là của dân, do dân và vì dân.
Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã được thực hiện theo nguyên tắc:
đảm bảo trật tự kỷ cương, đảm bảo quyền của nhân dân được biết, được bàn,
được tham gia ý kiến, quyết định, thực hiện và giám sát việc thực hiện dân
chủ ở cấp xã để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân; công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện dân chủ ở cấp
xã; đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Hiện nay, thực
hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã chủ yếu là tập trung thực hiện những nội
dung quy định của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (Pháp
lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11).
1.2.2.2. Nội dung pháp luật về thực hiện dân chủ ở xã
Nội dung pháp luật về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn theo quy
định tại Pháp lệnh số 34 gồm:
- Những nội dung công khai để dân biết:
+ Chính quyền cấp xã thực hiện công khai các nội dung như kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và dự toán,
quyết toán ngân sách hàng năm của cấp xã; dự án, công trình đầu tư và thứ tự
ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái
định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã, quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư

14


trên địa bàn cấp xã; nhiệm vụ, quyền hạn của CBCC cấp xã trực tiếp giải
quyết các công việc của nhân dân; quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu
tư, tài trợ, các khoản huy động nhân dân đóng góp; chủ trương, kế hoạch vay
vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, phương thức và
kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn; đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị
hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã; kết
quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của
CBCC cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố, kết quả lấy phiếu tín nhiệm các
chức danh chủ chốt cấp xã; nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân
đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính
quyền cấp xã đưa ra lấy ý kiến nhân dân; đối tượng, mức thu các loại phí, lệ
phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cáp xã trực tiếp thu; các quy
định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan
đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện.
Nội dung đó được công khai bằng các hình thức như niêm yết tại trụ sở
HĐND, UBND cấp xã; trên hệ thống loa truyền thanh của cấp xã; công khai
thông qua Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.
- Những nội dung nhân dân bàn và quyết định:
+ Nội dung, hình thức nhân dân bàn và quyết định trực tiếp như chủ
trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công
cộng trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ
hoặc một phần kinh phí dưới hình thức như tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri
đại diện hộ gia đình theo địa bàn; phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại
diện hộ gia đình.
+ Nội dung, hình thức nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền
quyết định như hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố; bầu, miễn nhiệm, bãi
nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố; thành viên Ban thanh tra nhân

15


dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng dưới hình thức như tổ chức cuộc họp
cử tri, hoặc cử tri đại diện hộ gia đình; phát phiếu lấy ý kiến tới từng cử tri
hoặc cử tri đại diện hộ gia đình.
- Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm
quyền quyết định: dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã;
phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, sản xuất; dự thảo quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, việc quản lý, sử dụng quỹ đất
của cấp xã… thể hiện dưới hình thức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo
địa bàn từng thôn, tổ dân phố; phát phiếu lấy ý kiến; thông qua hòm thư góp ý.
- Những nội dung nhân dân giám sát: là những nội dung công khai để
dân biết; những nội dung nhân bàn và quyết định trực tiếp; nội dung nhân dân
bàn, biểu quyết và những nội dung nhân dân tham gia ý kiến được thực hiện
dưới hình thức thông qua hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát
đầu tư của cộng đồng; thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị.
- Quy định trách nhiệm của chính quyền, CBCC xã, phường thị trấn; của cán
bộ thôn, làng; của tổ dân phố, khu phố, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã.
1.2.3. Đặc điểm của thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã
Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã bên cạnh những đặc điểm chung,
còn có điểm riêng, đó là:
Một là, chủ thể thực hiện:
Thực hiện pháp luật dân chủ ở xã được tiến hành bởi nhiều chủ thể khác
nhau, trong đó, nhân dân là một chủ thể đặc biệt quan trọng. Không ít người
dân hiện nay khi được hỏi về quy chế dân chủ, dân chủ ở cấp xã thì trả lời với
một thái độ rất bàng quan rằng đó là việc của chính quyền, đoàn thể. Nhiều
người dân quanh năm sống với đồng ruộng, một quyết định từ UBND xã ban

16


hành chứ chưa nói đến những cấp cao hơn là huyện, tỉnh, rồi trung ương, họ
luôn tự nhìn nhận mình với vị trí là "đối tượng phải thi hành". Khác với nhiều
quan hệ pháp luật trong đó chủ thể thực hiện chủ yếu là nhà nước thì pháp luật
về dân chủ ở xã được thực hiện bởi nhiều chủ thể. Đó chính là hệ thống chính
trị ở cơ sở, và quan trọng hơn là những người dân sống tại địa bàn cơ sở.
Chính họ sẽ quyết định hiệu lực, hiệu quả của việc thực hiện pháp luật về dân
chủ ở cấp xã. Xét cho cùng, sự nghiệp đổi mới của đất nước nói chung và công
cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng tùy thuộc lớn vào cơ sở, vào chính
quyền xã, mà sức mạnh của chính quyền là ở nơi dân, là việc quy tụ được lòng
dân, là phát huy tình đoàn kết, truyền thống, tinh thần làm chủ của nhân dân, là
hướng tới dân, vì lợi ích của dân.
Hai là, phạm vi thực hiện: việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã được
triển khai trên địa bàn rộng lớn nhất so với các loại hình dân chủ khác ở cơ sở.
Điều này lý giải bởi hệ thống chính quyền xã là hệ thống quyền lực có địa bàn rộng
lớn nhất. Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2009, 70% dân số nước ta đang
sống ở khu vực nông thôn, lao động nông thôn hiện chiếm 75% tổng lực lượng
lao động cả nước và chủ yếu tập trung sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, cấp
xã chính là cấp gắn với cuộc sống nhân dân nhất. Chính quyền cấp cơ sở được
hình thành trên một cộng đồng dân cư, cộng đồng lãnh thổ bền vững. Do đó
"dân chủ ở cơ sở" phải được hiểu là dân chủ ở cấp thấp nhất, là nơi người dân
thể hiện trực tiếp nhất quyền làm chủ của mình. Đó là thôn, làng, bản, ấp - là
những đơn vị hành chính tự nhiên được hình thành bằng một cộng đồng dân cư
chặt chẽ. Và suy cho cùng, tất cả các tổ chức quyền lực nhà nước cấp trên, muốn
phát huy tác dụng cuối cùng đều phải thông qua vai trò của hệ thống chính
quyền xã; dân gắn với nhà nước, trước hết và trực tiếp thông qua quan hệ với
chính quyền cơ sở; tạo lập lòng tin của dân với Đảng, với Nhà nước trước hết
cũng thực hiện thông qua quan hệ giữa nhân dân với

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×