Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu chỉ số sáng tạo của sinh viên học viên khoa học quân sự

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

**************

NGUYỄN BÍCH NGỌC

NGHIÊN CỨU CHỈ SỐ SÁNG TẠO
CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Hà nội 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

**************

NGUYỄN BÍCH NGỌC


NGHIÊN CỨU CHỈ SỐ SÁNG TẠO
CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ
Chuyên ngành: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
Mã số: 60140120

LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Công Khanh

Hà nội 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề "Nghiên cứu chỉ số sáng tạo của
sinh viên Học viện Khoa học Quân sự" hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của
chính bản thân tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên
cứu nào của người khác. Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện
nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận
văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu
tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng quy
định.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội
dung khác trong luận văn của mình.
Hà Nội, ngày 05 tháng 9 năm 2014
Học viên
Nguyễn Bích Ngọc


LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng dạy trong
chương trình cao học chuyên ngành Đo lường và đánh giá trong giáo dục khóa 8 - Viện Đảm
bảo Chất lượng Giáo dục, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích về
chuyên ngành, làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Công Khanh, người đã tận tình
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn Viện Đảm bảo Chất lượng Giáo dục đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn
thành khóa học và bảo vệ luận văn này.
Tôi xin cám ơn Ban Giám đốc và các cơ quan của Học viện Khoa học Quân sự đã
giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu và thông tin luận văn.

Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động
viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn!


MỤC LỤC
Nội dung

Trang

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU………………………………………….

3

MỞ ĐẦU…………….……………………………….………………………..

5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ……………….

9

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

9

1.1.1. Nghiên cứu về sáng tạo ở nước ngoài …………….……………

9

1.1.2. Nghiên cứu về sáng tạo ở Việt Nam…………….………………… 1.2.

13

Cơ sở lý luận thuộc về đề tài ……………….……………………..

15

1.2.1. Quan niệm về trí sáng tạo, năng lực sáng tạo ………………….

15

1.2.2. Những cách tiếp cận nghiên cứu sáng tạo …………..………….

16

1.2.3. Các mô hình lý thuyết về trí sáng tạo……………….……………

21

1.2.4. Phương pháp đo lường năng lực sáng tạo……………………….

28

CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU …………………….

33

2.1. Tổng thể và mẫu nghiên cứu……………….…………………….. 2.2.

33

Thiết kế công cụ đo lường: bộ trắc nghiệm đánh giá chỉ số CQ 2.3.

34

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu……………….…………

34

2.4. Đánh giá độ tin cậy và độ hiệu lực của các thang đo

37

2.4.1. Đánh giá độ tin cậy .……………………….………….……………

37

2.4.2. Đánh giá độ hiệu lực ……………….…………………………….…

40

2.5. Kiểm tra tính phân phối chuẩn của các mẫu ……………….

44

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ……………….……………

48

3.1. Kết quả nghiên cứu chỉ số sáng tạo của sinh viên Học viện
Khoa học Quân sự ……………….……………….……………….………

48

3.1.1. Kết quả đo lường chỉ số sáng tạo của sinh viên Học viện
Khoa học Quân sự: chỉ số về năng lực sáng tạo của sinh viên.………

48

3.1.2. So sánh năng lực sáng tạo giữa các nhóm sinh viên.……………

50


3.1.3. So sánh giữa năng lực thực sự với tự đánh giá ……………….

52

3.2. Phân tích mối quan hệ giữa năng lực sáng tạo với các kỹ năng,
năng lực khác đạt được trong quá trình học đại học của sinh viên. …

53

3.2.1. Mối liên hệ giữa năng lực sáng tạo với các kỹ năng đạt được
của sinh viên……………….……………….……………….………………… 3.2.2.

53

Mối liên hệ giữa năng lực sáng tạo với các năng lực khác của sinh viên

55

3.3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo của
sinh viên……………….……………….……………….……………………..

58

3.3.1. Mối quan hệ giữa yếu tố gia đình với chỉ số CQ……………….

58

3.3.2. Mối liên hệ giữa thời gian tự học với năng lực sáng tạo của
sinh viên. ……………….……………….……………….……………….……

60

3.3.4. Mối liên hệ giữa việc sử dụng internet với năng lực sáng tạo

62

3.4. Mối liên hệ giữa năng lực sáng tạo với kết quả điểm thi tốt
nghiệp PTTH, điểm thi đại học và điểm trung bình các môn học

63

3.5. Mối liên hệ giữa tính cách và chỉ số CQ ……………….……… KẾT

64

LUẬN ……………….……………….……………….………………. TÀI

67

LIỆU THAM KHẢO ……………….……………….………………

69

PHỤ LỤC ……………….……………….……………….…………………

71


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 1

Thống kê sinh viên các ngành học tham gia nghiên cứu

33

Bảng 2

Kết quả đo độ tương quan của từng item với toàn bộ
thang đo

38

Bảng 3

Hệ số tương quan của từng item với toàn bộ thang đo

38

Bảng 4

Kết quả đo hệ số tin cậy Alpha của thang đo năng lực
sáng tạo

39

Bảng 5

Bảng tương quan từng item với toàn bộ thang đo

39

Bảng 6

Kết quả phân tích yếu tố của thang đo Sử dụng Internet
và các phần mềm

40

Bảng 7

Ma trận tương quan trong của thang đo kỹ năng

41

Bảng 8

Kết quả phân tích yếu tố thang đo "Năng lực, kỹ năng" Kết

42

Bảng 9

quả phân tích yếu tố của thang đo Năng lực sáng tạo

43

Bảng 10

Tương quan của từng item với biến tổng

43

Bảng 11

Kết quả các thông số định tâm của phân phối điểm CQ

44

Bảng 12

Kết quả đo lường chỉ số CQ của sinh viên HVKHQS

48

Bảng 13

Phân loại sinh viên theo chỉ số CQ

48

Bảng 14

Điểm CQ trung bình theo giới tính

50

Bảng 15

Điểm CQ trung bình theo niên khóa

51

Bảng 16

Tương quan giữa item 10 và 09 item còn lại

53
Bản
g
17a
Điể
m
CQ
trun
g
bìn
h
của
SV
the
o

m
n
ă
B
n
ă
B
n
ă
B
v
i

i


54
54
55
56


Bảng 18b Điểm CQ trung bình của SV theo năng lực tự học

57

Bảng 18c Điểm CQ trung bình của SV theo năng lực tự nghiên
cứu
Bảng 18d Điểm CQ trung bình của SV theo năng lực ngoại ngữ

57

Bảng 19a Điểm CQ trung bình của SV theo học vấn của bố

58

Bảng 19b Điểm CQ trung bình của SV theo học vấn của mẹ

59

Bảng 20a Điểm CQ trung bình của SV theo nghề nghiệp của bố

59

Bảng 20b Điểm CQ trung bình của SV theo nghề nghiệp của mẹ

60

Bảng 21a Điểm CQ trung bình của các nhóm sinh viên theo thờ
lượng học mỗi ngày khi ôn thi

61

Bảng 21b Điểm CQ trung bình của các nhóm sinh viên theo thờ
lượng học mỗi ngày ngoài thời gian ôn thi

61


58


n

i

m

g
C
2Q
2
t
r
Bu
ả n
n
gg
2
3b
ì
n
h
(
đ

i
m


t
Điểm

bình (điểm chuẩn) của sinh viên theo
kết quả điểm đại
học

6
2

CQ
6
3

trung
Bảng 24a Điểm CQ trung bình theo mức độ tính kế hoạch
64
Bảng 24b Điểm CQ trung bình theo mức độ tính năng động, tự tin
65

BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC

Biểu

Tên biểu

Tran

đồ

đồ

g

Biểu đồ 1 Biểu đồ phân phối điểm của thang đo năng lực sáng

4

tạo

5

Biểu đồ 2 Biểu đồ phân phối điểm của tiểu thang đo số 2 sau
khi
loại bỏ giá trị ngoại
lai
Biểu đồ 3 Phân loại sinh viên theo chỉ số

4
6

CQ

5

Biểu đồ 4 Hình biểu diễn điểm CQ trung bình theo niên

1

khóa

i
i

4
9


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình lịch sử tiến hóa của nhân loại, nhờ có lao động và ngôn
ngữ mà loài người đã sáng tạo ra bản thân mình và sáng tạo ra các sản phẩm
vật chất, tinh thần phục vụ cho cuộc sống của mình ngày càng tốt hơn. Nói
cách khác, hoạt động sáng tạo của con người là một phần không thể thiếu trong
hoạt động sống. Bất cứ hoạt động trong lĩnh vực nào cũng không chỉ dựa vào
những cái có sẵn mà phải phát triển nó lên. Tuy nhiên cách phát triển ấy ở mỗi
người một khác, có thể là sự tiệm tiến, nhưng cũng có thể là những bước đột phá,
những bước nhảy vọt. Khi đó, sự sáng tạo được thể hiện. Có những người cho
rằng chính sự sáng tạo mới phân biệt giữa người này với người khác và chính
nó là cốt lõi của trí thông minh. Đó là lý do để người ta đưa ra một khái niệm
mới, một tiêu chí đánh giá nữa, được gọi là trí thông minh sáng tạo. Xét cho
cùng, chính trí thông minh sáng tạo mới làm nên lịch sử khoa học kỹ thuật và
công nghệ, mới xây dựng được một kho tàng văn hóa nghệ thuật khổng lồ, mới
thúc đẩy sự tiến hóa của nhân loại. Dưới cách nhìn hiện đại, sáng tạo là nguồn
tài nguyên cơ bản của con người (a fundamental human resource), nguồn tài
nguyên đặc biệt mà theo như nhà khoa học Mỹ George Koznetsky "bạn càng
sử dụng nó nhiều thì bạn càng có nó nhiều hơn". Chính vì lý do này mà trong
những năm gần đây, việc nghiên cứu và đo lường năng lực sáng tạo - chỉ số sáng
tạo (CQ - Creative Quotient) trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều nhà
khoa học, đặc biệt là khoa học nghiên
cứu về con người. Các quốc gia trên thế giới đều nhận thức được rằng sáng tạo
chính là một động lực quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia, là một
nguồn lực mang tính quyết định cho một đất nước khi tiến vào nền kinh tế tri
thức. Trong thách thức của quá trình hội nhập và toàn cầu hóa, sáng tạo

1


trở thành những phương tiện mạnh mẽ thúc đẩy phát triển kinh tế và toàn cầu
hóa. Vì thế, việc giải quyết thành công các vấn đề lý thuyết để hiểu rõ bản chất
trí sáng tạo, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo của con người, đồng
thời xác định được các phương pháp đo lường năng lực sáng tạo phù hợp có
một giá trị thực tiễn to lớn, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Nếu như trước đây, ngay cả đối với các nhà nghiên cứu, sáng tạo được
coi là huyền bí, mang tính thiên phú, may mắn, ngẫu hứng… thì ngày nay với
những phát hiện mới, người ta cho rằng có thể khoa học hóa được lĩnh vực
sáng tạo và sáng tạo có thể dạy và học được. Từ phát hiện trên, nhiều quốc gia trên
thế giới đã đặt ra cho giáo dục mục tiêu là không chỉ cung cấp kiến thức đào tạo
mà phải tạo ra những người biết suy nghĩ sáng tạo, bởi lẽ năng lực sáng tạo
được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua môi trường giáo dục. Đối với
giáo dục đại học, việc nghiên cứu năng lực sáng tạo (thông qua chỉ số sáng tạo)
của người học là một việc làm rất có ý nghĩa; đối với giảng viên, đó là một trong
những căn cứ để người dạy xác định nội dung, phương pháp dạy học và
phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp; đối với cơ sở đào tạo, đây là căn cứ
để điều chỉnh, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, qua đó nâng cao chất
lượng giáo dục của từng cơ sở đào tạo nói riêng và của cả hệ thống giáo dục đại
học nói chung.
Nằm trong hệ thống các trường đại học trong Quân đội, ngoài nhiệm vụ đào
tạo đội ngũ sĩ quan ngoại ngữ cho Quân đội, từ năm 2002, Học viện Khoa
học Quân sự được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ đào tạo cử nhân ngoại ngữ
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong những năm qua,
Học viện không ngừng quan tâm đến việc nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo
nhằm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của xã hội. Tuy nhiên,

2


cho đến nay, chưa có một nghiên cứu nào đề cập đến năng lực sáng tạo của
sinh viên cũng như tầm quan trọng của chỉ số CQ đối với việc đổi mới nội
dung, chương trình đào tạo.
Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi chọn đề tài "Nghiên cứu chỉ số sáng
tạo của sinh viên Học viện Khoa học Quân sự " làm đề tài nghiên cứu, nhằm
nghiên cứu và đi sâu phân tích các yếu tố tác động đến năng lực sáng tạo của
sinh viên, giúp Học viện có thể đưa ra một số đề xuất trong công tác đánh giá và
phát huy năng lực sáng tạo của người học, góp phần hoàn thành nhiệm vụ đào
tạo nguồn nhân lực cho đất nước của Học viện.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Cung cấp những thông tin về chỉ số sáng tạo của sinh viên Học viện Khoa
học Quân sự.
- Chỉ ra các mối liên hệ, những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo của sinh
viên.
3. Câu hỏi nghiên cứu/ giả thuyết nghiên cứu
- Sinh viên Học viện Khoa học Quân sự có chỉ số sáng tạo chưa cao. Có nhiều
yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo của sinh viên, trong có có cả các yếu tố
gia đình và xã hội.
- Có mối quan hệ giữa năng lực sáng tạo với những năng lực, khả năng khác của
sinh viên, trong đó đáng chú ý nhất là mối quan hệ với năng lực tự học, tự nghiên
cứu.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu: Toàn bộ sinh viên hệ dân sự thuộc các khoa ngoại
ngữ của Học viện Khoa học Quân sự.
4.2. Đối tượng nghiên cứu : Các thành tố của năng lực sáng tạo bao gồm: Năng lực tư duy sáng tạo của sinh viên.
- Năng lực giải quyết vấn đề một cách sáng tạo của sinh viên.

3


6. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng đồng thời các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận, hồi cứu tư liệu: nghiên cứu tài liệu bằng
tiếng Việt và tiếng nước ngoài liên quan đến trí sáng tạo và năng lực sáng tạo; hồi
cứu nội dung các công trình nghiên cứu về chỉ số sáng tạo CQ đã công bố. Phương pháp điều tra xã hội học: sử dụng bảng hỏi phát hiện mức độ ảnh
hưởng của các yếu tố đến chỉ số CQ cũng như mối quan hệ giữa chỉ số CQ với
các kỹ năng và năng lực của các sinh viên tham gia nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý và
phân tích số liệu.
7. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ nghiên cứu chỉ số sáng tạo của sinh viên hệ dân sự (từ năm
thứ nhất đến năm thứ ba) thuộc các khoa ngoại ngữ của Học viện Khoa học
Quân sự trong năm học 2013-2014.
- Đề tài chỉ tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo của sinh viên
và mối quan hệ giữa năng lực sáng tạo với một số năng lực khác của sinh viên,
không đề xuất các giải pháp cụ thể để nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1. Ý nghĩa khoa học
Đây là nghiên cứu đầu tiên về sinh viên Học viện Khoa học Quân sự,
đề tài nghiên cứu sẽ mang ý nghĩa cả trong lí luận giáo dục đại học và cả trong
lĩnh vực ứng dụng đo lường đánh giá trong giáo dục.
8.2. Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua việc phân tích các mối quan hệ giữa năng lực sáng tạo với
các năng lực khác của sinh viên, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là một trong
những căn cứ để cơ sở đào tạo (Học viện Khoa học Quân sự) điều chỉnh nội

4


dung, chương trình đào tạo cũng như đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá
năng lực của sinh viên một cách phù hợp nhất.
9. Cấu trúc của luận văn

Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Kết luận

5


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.1.1. Nghiên cứu về sáng tạo ở nước ngoài
Trên thế giới, vấn đề sáng tạo đã được nghiên cứu từ những thế kỷ
trước. Tuy nhiên, tính đến giữa thế kỷ XX, việc nghiên cứu vấn đề sáng tạo
còn tản mạn (dưới các góc nhìn về trí tưởng tượng, các phát minh hoặc
nghiên cứu trẻ em có năng khiếu bẩm sinh), chưa mang tính hệ thống và cũng
chưa thực sự được quan tâm. Đến năm 1950, nhà tâm lý học người Mỹ Joy
Paul Guilford, sau khi được bầu là Chủ tịch Hội Tâm lý học Mỹ, đã đặt nền
móng cho khoa học nghiên cứu sáng tạo bằng việc nêu lên ý nghĩa của hoạt
động sáng tạo, vấn đề nhận biết và phát triển khả năng sáng tạo của con
người. Nhà tâm lý học này đã nêu vấn đề với mọi đối tượng chứ không phải
chỉ tập trung nghiên cứu tính sáng tạo của những tài năng ưu tú như trước đây.
Tuy chưa nêu lên được định nghĩa về sự sáng tạo nhưng Guilfort đã mô tả đặc
trưng của sáng tạo là tìm kiếm, thể hiện những phương pháp logic trong tình
huống có vấn đề, tìm kiếm những phương pháp khác nhau trong việc giải quyết
vấn đề. Từ đó, ông khuyến khích các nhà tâm lý học tập trung nghiên cứu làm
sáng tỏ tính sáng tạo của con người.
Sự kiện Liên Xô phóng thành công tàu vũ trụ Vostok 1 lên không trung
năm 1961 đã thôi thúc mạnh mẽ các nước nghiên cứu khả năng sáng tạo của con
người, biến những năm 1960 và 1970 thành những thập kỷ sôi động của tâm lý
học sáng tạo, đi đầu trong số các nước này là Hoa Kỳ với khẩu hiệu: "Để cho
quốc gia có thể sống sót thì mỗi cá nhân phải suy nghĩ sáng tạo" (Donald
Taylor, 1961).
Mở đầu là mô hình lý thuyết về cấu trúc trí tuệ gồm 120 thành tố của
Guilfort, trong đó trí tuệ của con người được phân định thành hai phần cơ bản là
trí thông minh (intelligence) hiểu theo nghĩa truyền thống và tính sáng tạo

6


(creativity). Nhiều mô hình lý thuyết về cấu trúc của tính sáng tạo đã ra đời
trong thời gian này trong đó có thể kể đến hoạt động nghiên cứu của các nhà tâm
lý học Mỹ như John Henry Holland, Donald Wallace Mackinnon, Benjamin
Samuel Bloom, Ellis Paul Torrance, Richard Block.... Họ đã quan tâm nghiên
cứu và xuất bản những tài liệu quan trọng về sáng tạo như: các tiêu chuẩn cơ
bản của hoạt động sáng tạo, sự khác biệt giữa sáng tạo và không sáng tạo,
những thuộc tính của nhân cách sáng tạo, vấn đề kích thích hoạt động sáng tạo.
E.P.Torrance cho rằng, sáng tạo là một quá trình trong đó chủ thể cân
nhắc những yếu tố khách quan, chủ quan, khám phá, tìm tòi các giả thuyết, thử
nghiệm, khi đó con người sẽ thử đi thử lại các giả thuyết đó và cuối cùng tìm ra
kết quả. Ông đã chỉ ra các thuộc tính của sự sáng tạo gồm: tính nhanh nhạy
(fluency), tính linh hoạt (flexibility), tính chi tiết (elaborality) và tính độc đáo
(originality). Còn nhà tâm lý học R.A. Block lại nêu ra ba yếu tố của sự sáng
tạo là tưởng tượng, nhu cầu và yếu tố ngẫu nhiên sau khi nghiên cứu tiểu sử
của hơn 200 nhà khoa học ở các thời đại khác nhau. Theo Block, yếu tố học tập
và năng khiếu bẩm sinh tác động rất ít đến sáng tạo; bằng chứng ông đưa ra là
một số nhà khoa học có kết quả học tập khi còn nhỏ rất kém.
Tiếp sau Mỹ, một số quốc gia Châu Âu cũng có những nghiên cứu về
sáng tạo: chẳng hạn như Vương quốc Anh với các nghiên cứu về sáng tạo ở trẻ
em; ở Liên Xô, các nhà tâm lý học cũng đã tiến hành nghiên cứu có hệ thống,
toàn diện về tính sáng tạo của con người. Năm 1976, A.N.Luk nghiên cứu những
vấn đề lý luận chung của hoạt động sáng tạo (bản chất, quá trình, sản phẩm
sáng tạo...) và ông coi hoạt động sáng tạo là biểu hiện cao nhất của đời sống tâm
lý con người, được thực hiện theo các giai đoạn. Còn theo Sergej Leonidovich
Rubinstein và Lep Xemionvich Vưgotxki, tư duy và tưởng tưởng có ảnh hưởng
to lớn đối với hoạt động sáng tạo. Sáng tạo là một

7


hoạt động và tư duy là nội dung cơ bản. Vưgotxki cho rằng sáng tạo là hoạt
động tạo ra cái mới, đa dạng, không phân biệt kết quả có ý nghĩa hiện thực hay
không. Rubinstein khẳng định lao động là sáng tạo và trong lao động có tư
duy, trong tư duy có sáng tạo, sáng tạo là phẩm chất của tư duy, sản phẩm của
sáng tạo là những chất liệu mới có ý nghĩa xã hội.
Cùng với Liên Xô, Đức, Italia cũng cho xuất bản một số công trình
nghiên cứu trong khi Pháp cũng có một vài nghiên cứu trong lĩnh vực sáng tạo.
Tiêu biểu trong số đó có Abraham Moles với nghiên cứu về sáng tạo trong lĩnh
vực khoa học và đổi mới. Nhà tâm lý học này đã cho xuất bản hai cuốn sách
Sáng tạo trong khoa học (La création scientifique - 1957) và Sáng tạo và các
phương phương pháp đổi mới (Créativité et méthodes d'innovation - 1970).
Ngoài ra còn có các nhà tâm lý học như Bernard Demory với các nghiên cứu
về sáng tạo trong thực tiễn hay Rachel Desrosiers với nghiên cứu
năng lực sáng tạo trong ngôn ngữ của trẻ em…
Xét về phương pháp nghiên cứu trí sáng tạo, các nhà khoa học nước
ngoài chủ yếu tiến hành theo các phương pháp sau:
Phương pháp hồi cứu tiểu sử: Phương pháp này chính là việc nghiên cứu tiểu
sử của các vĩ nhân, những con người nổi tiếng trong quá khứ. Phương pháp
này được các nhà nghiên cứu như Cattell, Wiener, Ghiselin áp dụng với việc
nghiên cứu tiểu sử của Newton, Huxley, Lord Kevin, Freud, Bacon, Cannon,
Poincaré...
Phương pháp nghiên cứu lịch sử : Phương pháp này sử dụng tất cả các nguồn
thông tin về một người hoặc một nhóm người xuất sắc. Nhà nghiên cứu sẽ xem
xét các khía cạnh, các phẩm chất của người được nghiên cứu từ lúc ấu thơ đến
khi trưởng thành. Điển hình cho phương pháp này là các nghiên cứu của Lewis
Terman, W.J.Smith (1961), Chambers (1964), Buel (1965), Mac Dermid
(1965), D.W.Taylor (1966), Schaefer và Anastasi (1968).

8


Phương pháp điều tra thống kê: Đây là phương pháp nghiên cứu các tài liệu
in ấn, tiểu sử, bách khoa toàn thư, cho phép phát hiện ra các đặc trưng cơ bản
của trí sáng tạo từ nhiều yếu tố khác nhau.
Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Nhà nghiên cứu sẽ quan sát kỹ lưỡng
(có thể tiến hành thêm hình thức phỏng vấn) đối tượng nghiên cứu. Phương
pháp nghiên cứu này cung cấp một số lượng thông tin đáng kể liên quan đến
nhân cách của đối tượng đó. Nữ tâm lý học người Mỹ Anna Roe là người đầu
tiên mở hướng nghiên cứu này từ những năm 1950 bằng các test thiết kế dành
riêng cho nghiên cứu sáng tạo, bà đã áp dụng cho 20 nhà sinh vật học, 22 nhà
vật lý, 14 nhà tâm lý và 8 nhà nhân loại học. Năm 1962, Jerome Bnuner rồi
đến MacKinnon cũng áp dụng phương pháp này để nghiên cứu tính sáng tạo
của một nhóm người.
Phương pháp nghiên cứu tâm thần học: Đây chính là phương pháp nghiên
cứu của nhà tâm lý học Guilford và các cộng sự của ông tại trường Đại học
Bắc California với việc tạo ra và hoàn thiện các trắc nghiệm về trí sáng tạo.
Xét về hướng nghiên cứu: Nghiên cứu về vấn đề sáng tạo ở nước ngoài có
thể tựu trung thành một số hướng nghiên cứu dưới các góc độ như sau: Nghiên
cứu sáng tạo dưới góc độ nhân cách; góc độ quá trình sáng tạo; góc độ văn hóa;
góc độ sinh lý thần kinh và dưới góc độ phân tích sản phẩm hoạt động. Hiện nay,
nghiên cứu về sáng tạo đã lan rộng và phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế
giới. Tâm lý học, với việc chỉ ra bản chất, con đường phát triển sáng tạo, giữ một
vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu sáng tạo ở con người. Áp dụng những
thành tựu của các nghiên cứu về sáng tạo, nhiều nước trên thế giới, trong đó có
các nước vùng Châu Á-Thái Bình Dương đã đưa những nội dung chương trình
và phương pháp giáo dục, đào tạo con người sáng tạo vào việc xây dựng chiến
lược con người, Những trung tâm nghiên cứu tính sáng tạo được thành lập, các
hội thi sáng tạo nghệ thuật, khoa

9


học-kỹ thuật và những cuộc thi theo từng môn học, chuyên ngành đang được
định kỳ tổ chức. Có thể kể ra ở đây những cuộc thi như Olympic quốc tế, quốc
gia; Robocon, Intel ISEF (Intel International Science and Engineering Fair),
Best Innovator ...
1.1.2. Nghiên cứu sáng tạo ở Việt Nam
Ở nước ta, việc nghiên cứu phát triển sáng tạo của con người trong tâm
lý học, giáo dục học và các khoa học có liên quan đến nay chưa nhiều. Các
nhà tâm lý học, giáo dục học, giáo viên các cấp học và nhất là các nhà quản lý
giáo dục và quản lý nhân sự còn ít quan tâm, nói cách khác là biết rất ít thông
tin về vấn đề tính sáng tạo của con người. Hiện tại, chưa có một công trình
khoa học nào đánh giá có hệ thống bằng phương pháp kỹ thuật đáng tin cậy
trên quy mô đủ thuyết phục về khả năng sáng tạo của người Việt Nam ở độ tuổi
khác nhau.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực nghiên cứu lý thuyết, đã có một số tác giả cho
xuất bản một số tài liệu nghiên cứu về sáng tạo, trong số đó phải kể đến Phan
Dũng, người đã đề cập đến vấn đề lý luận sáng tạo như phương pháp luận
sáng tạo, cách tiếp cận xây dựng phương pháp luận sáng tạo, các nguyên tắc
và phương pháp sáng tạo, các quy luật phát triển hệ thống... Bên cạnh đó, trong
khuôn khổ các chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước (KX-07 và
KHXH-04), tác giả Nguyễn Huy Tú là một trong những người đầu tiên nghiên
cứu về tính sáng tạo, đánh giá tính sáng tạo và con đường phát huy tính sáng
tạo của trẻ em và con người Việt Nam. Ông đã nghiên cứu, chuẩn hóa và ứng
dụng các bộ trắc nghiệm của nước ngoài để đánh giá tính sáng tạo của học sinh,
sinh viên Việt Nam. Từ 2001-2005, tác giả Trần Kiều và các cộng sự (Viện
KHGD VN) đã thực hiện đề tài khoa học cấp nhà nước về nghiên cứu phát
triển trí tuệ (IQ, EQ, CQ) của học sinh, sinh viên và lao động trẻ đáp ứng yêu cầu
CNH-HĐH đất nước. Năm 2007, tác giả Nguyễn Công

10


Khanh chủ trì đề tài mã số QCL 0604 "nghiên cứu chỉ số sáng tạo của sinh
viên Đại học Quốc gia Hà Nội" trên cơ sở trắc nghiệm sáng tạo STAT-A đã
được thiết kế lại. Ngoài ra, còn một số tác giả cũng đã sử dụng các bộ trắc
nghiệm của nước ngoài (đã thiết kế lại để phù hợp với người Việt Nam) để đo
lường chỉ số sáng tạo của học sinh, sinh viên như Trần Văn Tính với đề tài "Tính
sáng tạo trong trò chơi học tập của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi"; tác giả Đặng Thị
Vân với các đề tài "Đo lường chỉ số sáng tạo của sinh viên một số ngành trường
đại học nông nghiệp Hà Nội"; "Biểu hiện sáng tạo trong học tập của sinh viên
trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội"; "Nghiên cứu tiềm năng sáng tạo của sinh
viên đại học nông nghiệp qua trắc nghiệm ngôn ngữ của Shoppe"...
Trong lĩnh vực đào tạo, đã xuất hiện các trung tâm nghiên cứu và giảng
dạy sáng tạo cho học sinh, sinh viên như Trung tâm sáng tạo khoa học-kỹ
thuật thuộc ĐHQG TPHCM; các khóa học về phương pháp luận sáng tạo và
đổi mới tại Trung tâm sáng tạo khoa học - kỹ thuật (TSK) của PGS.TSKH
Phan Dũng; Các khóa học về tâm lý sáng tạo được tổ chức với dự tham gia
giảng dạy của các giáo sư như Nguyễn Huy Tú, Lê Đức Phúc, Nguyễn Công
Khanh, Phạm Thành Nghị...;
Ngoài ra, không thể không kể đến các hội thi về khoa học sáng tạo như
Hội thi sáng chế khoa học kỹ thuật VIFOTEC của Bộ khoa học và công nghệ, và
gần đây là các cuộc thi Robocon trong nước và khu vực, các giải thưởng về
sáng tạo như Giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam thuộc 5 lĩnh
vực: Công nghệ thông tin và viễn thông; Cơ khí và tự động hóa; Sinh học
phục vụ sản xuất và đời sống; Công nghệ vật liệu mới và Công nghệ nhằm bảo
vệ môi trường và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên.
Có thể nói, việc nghiên cứu về sáng tạo ở Việt Nam tuy đã có bước phát
triển, nhưng nhìn chung mới chỉ dừng lại ở việc đo lường, đánh giá mức

11


độ sáng tạo của trẻ nhỏ hoặc của học sinh, sinh viên thông qua các bộ trắc
nghiệm về sáng tạo của nước ngoài đã được Việt hóa là chủ yếu. Chính vì vậy
đã có không ít những hạn chế, ảnh hưởng nhất định đến chất lượng giáo dục
đào tạo, chất lượng nguồn lực con người. Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu sâu
hơn nữa về tính sáng tạo của con người để từ đó phát huy được tối đa những
tinh hoa, năng lực tiềm ẩn của con người Việt Nam.
1.2. Cơ sở lý luận của đề tài
1.2.1. Quan niệm về trí sáng tạo
Thuật ngữ "sáng tạo" - creativity có nguồn gốc từ tiếng Latin creõ với
nghĩa là tạo ra, làm ra. Hiện nay, nó được hiểu với nghĩa là một hành động của
con người nhằm phát minh, tạo ra một thứ gì mới, chưa từng xuất hiện.
Về góc độ khái niệm: Khái niệm sáng tạo được quan niệm khác nhau tùy
thuộc vào góc nhìn của từng nhà khoa học.
Theo Guilford (1970), trí sáng tạo là năng lực tìm ra những mối liên hệ
mới giữa các kinh nghiệm, tri thức vốn tồn tại đơn lẻ, rời rạc. Những kinh
nghiệm tri thức này dưới dạng mới sẽ tạo ra các ý tưởng mới, hành động mới hay
sự vật, hiện tượng mới độc đáo, phù hợp và có giá trị tối lợi. [21, trang 17].
Trong cuốn sách Creating Creativity: 101 Definitions, các tác giả Andrei G.
Aleinikov, Sharon Kackmeister và Ron Koenig đã liệt kê được 101 định nghĩa về
sáng tạo của các chuyên gia trong lĩnh vực, có thể kể ra một vài định nghĩa
trong cuốn sách này như sau [17, trang 63]:
- Henri Piéron cho rằng sáng tạo là khả năng phát minh, tưởng tượng ra
một điều gì đó hoặc tìm ra nhiều giải pháp cho một vấn đề và sáng tạo không thể
được đo bằng các trắc nghiệm về trí thông minh thông thường.
- Từ điển tiếng Pháp hiện đại (Le Trésor de la langue francaise
informatisée) định nghĩa: Sáng tạo là khả năng, là năng lực của một cá nhân

12


tạo ra, nói cách khác là tưởng tượng và thực hiện một cái gì đó chưa từng xuất
hiện và nhất là khả năng khám phá những giải pháp mới mẻ, độc đáo cho một vấn
đề nào đó.
- Edward de Bono thì định nghĩa sáng tạo bằng một thuật ngữ hết sức
ngắn gọn là "hiệu quả bất ngờ".
- Genrich Saulovich Altshuller người khai sinh ra phương pháp luận
sáng tạo TRIZ (giúp canh tân, sáng chế sản phẩm mới trong khoảng thời gian
ngắn nhất): "Sáng tạo là hoạt động tạo ra bất cứ cái gì vừa mới, vừa có lợi
ích".
Một nhà khoa học khác thì định nghĩa: "sáng tạo là sự đột khởi hành
động của một sản phẩm liên hệ mới mẻ, nảy sinh từ sự độc đáo của một cá
nhân". [18, trang 587].
Trong một hội nghị về sáng tạo, nhà khoa học Michel Mumford cũng
định nghĩa rằng sáng tạo ra việc tạo ra một thứ gì đó mới mẻ…[19, trang 26].
Phan Dũng (2010) thì cho rằng: "Sáng tạo gắn liền với sự thay đổi, đưa ra
cái mới (đổi mới), sáng chế, các ý tưởng mới, các phương án lựa chọn mới. Sự
sáng tạo thuộc về năng lực ra quyết định, thuộc về sự kết hợp độc đáo
hoặc liên tưởng, phát ra các ý tưởng đạt được kết quả mới và ích lợi."
Cho dù có rất nhiều định nghĩa về sự sáng tạo nhưng theo chúng tôi,
định nghĩa của Torrance (1962) là hợp lý nhất: " Tư duy sáng tạo là một quá
trình tạo ra ý tưởng hoặc giả thuyết, thử nghiệm ý tưởng này đi đến kết quả …
Kết quả này có ít nhiều mới mẻ, có chút ít cái gì đó trước đây con người chưa bao
giờ nhìn thấy, chưa có ý thức về nó". Như vậy tiêu chí sáng tạo ở đây là "mới",
"độc đáo", "cần thiết" và được một nhóm người nào "thừa nhận" là có
ích. [20, trang 9 ]
1.2.2. Những cách tiếp cận nghiên cứu sáng tạo
Vấn đề trong khoa học là tiếp cận bản chất của sự sáng tạo như thế

13


nào: qua phân tích nhân cách sáng tạo, phân tích sản phẩm sáng tạo hay quá
trình sáng tạo?
Thật ra tiếp cận nghiên cứu về sáng tạo như thế nào là tuỳ thuộc vào mục
đích của người nghiên cứu. Đối với nhà quản lý công nghiệp, nhà lịch sử mỹ
thuật và các nhà khoa học tương tự thì tính sáng tạo thể hiện trong sản phẩm
sáng tạo. Đối với nhà trị liệu tâm lý và nhiều nhà nghệ thuật thì sự sáng tạo
được xét như một quá trình. Nhà giáo dục, nhà tâm lý học hay nhà phân tâm
thì quan tâm đến việc chẩn đoán và giáo dục tính sáng tạo, do đó họ chú trọng
đến nghiên cứu nhân cách sáng tạo.
Tiếp cận sự sáng tạo dưới góc độ nhân cách:
Guilford là người đầu tiên nói về các đặc điểm của "nhân cách sáng tạo"
và biểu diễn nó thành một mô hình. Ông cho rằng nhân cách sáng tạo được xác
định bởi một tổ hợp các đặc điểm và năng lực sau: tính lưu loát (fluency), tính
mềm dẻo (flexibility), tính chi tiết (elaboration), tính độc đáo (originality),
tính nhạy cảm (sensibility) và sự định nghĩa lại (redefinition). [21, trang 18].
Qua đây cho thấy, tác giả nghiên cứu sáng tạo dựa trên cơ sở các phẩm chất của
chủ thể. Một con người sáng tạo cần có nhiều sáng kiến, có khả năng thao tác
thuần thục đối với những vấn đề khác nhau. Họ cũng rất nhạy cảm với vấn đề
và độc đáo trong cách giải quyết vấn đề.
Nhà tâm lý học Đức Pippig định nghĩa: Năng lực sáng tạo là thuộc tính
nhân cách đặc biệt, thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề;
Thuộc tính nhân cách này là tổ hợp các phẩm chất tâm lý mà nhờ đó con người
trên cơ sở kinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý tưởng
mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội. Ở đó người sáng tạo gạt
bỏ được các giải pháp truyền thống và đưa ra giải pháp mới, độc đáo và thích hợp
đối với vấn đề đặt ra. [23, trang 39].

14


K.K.Urban thì cho rằng: Tính sáng tạo của con người là thuộc tính nhân
cách bộc lộ trong sản phẩm hoạt động mới mẻ, độc đáo và tối lợi, gây nhiểu ngạc
nhiên cho bản thân và cũng mới mẻ đối với người khác [11, tr 188].
Carl Roger lại cho rằng: người sáng tạo là người có tính linh hoạt. Họ có
khả năng chuyển đổi nhanh chóng các loại tư duy khác nhau tùy thuộc yêu cầu
của tình huống. Thông thường họ cởi mở nhưng đôi khi họ cũng vui vẻ một
cách điên rồ, hoặc có thể trở nên rất khó tính và luôn săm soi tìm lỗi. Nhưng họ
luôn kiên trì để đạt được mục tiêu. [24, trang 2].
Về vấn đề này, các nghiên cứu của Viện nhân cách của Đại học tổng
hợp Calìfornia cũng khẳng định rằng:
+ Người sáng tạo trội hơn về tính phức hợp trong tư duy.
+ Người sáng tạo tinh tế hơn và phức hợp hơn trong tâm vận động. +
Người sáng tạo có tính độc lập hơn trong đánh giá.
+ Người sáng tạo có tự ý thức cao hơn, tự tin cao hơn.
+ Người sáng tạo luôn chống lại sự áp đặt và sự hạn chế. [21, trang 27]
Nguyễn Huy Tú - một nhà nghiên cứu chuyên bàn về vấn đề sáng tạo cho
rằng: Sáng tạo là một thuộc tính tâm lý đặc biệt, thể hiện khi con người đứng trước
hoàn cảnh có vấn đề. Thuộc tính này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó
con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý
tưởng mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội. Ở đó, người sáng
tạo gạt bỏ được các giải pháp truyền thống để đưa ra các giải pháp mới, độc đáo
và thích hợp cho vấn đề đặt ra [9, trang 48].
Qua các cách nhìn nhận như trên, có thể cho rằng sáng tạo là một thuộc tính
nhân cách bộc lộ thông qua những ý tưởng mới, lạ, các sản phẩm độc đáo không chỉ
có giá trị đối với cá nhân mà còn có giá trị xã hội.
Tiếp cận sự sáng tạo dưới góc độ sản phẩm:

15


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×