Tải bản đầy đủ

TÀI LIỆU THAM KHẢO sự DU NHẬP của PHẬT GIÁO vào VIỆT NAM

PHẦN MỞ ĐẦU
Văn hóa Việt Nam là sợi chỉ đỏ xuyết suốt toàn bộ lịch sử dân tộc, nó làm
nên sức sống mạnh liệt giúp cộng đồng dân tộc ta vuợt qua bao khó khăn, thử
thách để không ngừng phát triển mạnh mẽ. Có đuợc điều này là nhờ ông cha ta đã
biết không những giữ gìn những truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình, tiếp thu,
kế thừa những giá trị tốt đẹp của văn hóa của các dân tộc khác để xây dựng nên
một nền văn hóa mang đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong các bộ phận cấu thành văn hóa Việt Nam thì Phật giáo có ảnh huởng
rất to lớn trong tiến trình lịch sử tư tưởng dân tộc. Du nhập vào nước ta từ rất
sớm, trải quá qua những biến đổi thăng trầm của lịch sử, Phật giáo dần dần xâm
nhập vào đời sống tinh thần của dân tộc, ngày càng phát triển mạnh mẽ và những
giá trị triết lý Phật giáo đã trở thành một trong những giá trị truyền thống tốt đẹp
của dân tộc.
Phật giáo Việt Nam đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp
dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đặc biệt trong thời kỳ Lý – Trần, giai đoạn
hào hùng của lịch sử dân tộc cũng là giai đoạn Phật giáo phát triển cực thịnh và
đã trở thành quốc giáo. Phật giáo đã tham gia tích cực vào đời sống xã hội cùng
dân tộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ những giá trị truyền thống tốt
đẹp của quê hương đất nuớc mình. Các nhà sư vừa là nhà tu hành, vừa là nhà
chính trị, còn nhân dân ta từ vua quan cho đến những ngừoi dân bình thường rất
sùng kính đạo phật, thậm chí một số vị vua khi về già đã trao quyền cho con để đi

tu.
Trong cuộc cuộc xây dựng vào đổi mới đất nuớc ta hiện nay, đại đa số các
chức sắc, tín đồ Phật giáo yêu nuớc, gắn bó với dân tộc, thực hiện tốt các chủ
truơng, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nuớc, đoàn kết gắn bó với hoạt
động cùa mặt trận tổ quốc và tích cực tham gia vào việc từ thiện, xã hội giáo dục
cùng chung sức xây dựng đất nuớc giàu đẹp. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn tồn
tại như: Một số hạnh chế như một số chùa diễn ra các hoạt động mê tín, bói toán,
kinh doanh chay theo lợi ích riêng gây ảnh hưởng xâu đấn xã hội. Ngoài ra cũng
có một số các thế lực thù địch lợi dụng chiêu bài tôn giáo để tăng cuờng chống
đối cách mạng nước ta.
Chính vì vậy tôi đã tìm hiểu vai trò của Phật giáo trong tiến trình lịch sử tư
tuởng Việt Nam qua đó thấy góp phần khẳng định lại như những giá trị tốt đẹp
của Phật giáo trong quá trình phát triển của dân tộc.
1


Trong khuôn khổ bài tiểu luận này tôi chọn đề tài “Sự du nhập của Phật
giáo vào Việt Nam” nhằm đặt cơ sở, nền tảng cho việc nghiên cứu Phật giáo sau
này.
Do Phật giáo là đề tài lớn mà trình độ có hạn, nên không trong quá trình
nghiên cứu chắc chắn không thể tránh khỏi những sai lầm và thiếu sót. Cho nên,
tác giả rất mong nhận được sự phê bình, góp ý của các thầy, cô và các bạn.

2


Chuơng 1:
NIÊN ĐẠI VÀ CON ĐƯỜNG
PHẬT GIÁO DU NHẬP VÀO VIỆT NAM
1.1

Niên đại Phật giáo du nhập vào Việt Nam

Khi nghiên cứu về Phật giáo nguời ta đã tranh luận rất nhiều và đền nay đã
đưa ra ba quan điềm khác nhau về thời gian Phật giáo du nhập vào nuớc ta.
Quan điểm thứ nhất cho rằng Phật giáo truyền vào nuớc ta vào khoảng từ
cuối thế kỷ thứ VI. tr.CN đến đầu thế kỷ thứ V tr. CN. Theo huyền thoại liên quan
đến sự có mặt sớm nhật của Phật giáo ở nuớc ta là truyện “Nhất dạ trạch” trong
“Lĩnh Nam trích quái” có kể rằng: Vào thời Hùng vuơng thứ ba có một tiểu tăng
tên là Phật Quang ở trang một cái am nhỏ trên núi Quỳnh Viên có truyền đạo cho

Chử Đồng Tử. Khi Chử Đồng Tử trở về đem đạo Phật nói với vợ là Tiên Dung.
Tiên Dung giác ngộ, bèn bỏ cả quán chợ, nghề buôn để cùng Chử Đồng Tử du
phuơng tìm thầy học đạo. Căn cứ vào các ngọc phả có liên quan đến thời đại
Hùng Vuơng thì chúng ta có thể phỏng đoán rằng thời Hùng Vuơng thứ ba vào
khoảng cuối thế kỷ thứ VI tr.CN đến đầu thế kỷ thứ V tr.CN. Như vậy, theo quan
điểm này Phật giáo truyền vào nuớc ta vào khoảng từ cuối thế kỷ thứ VI. tr.CN
đến đầu thế kỷ thứ V tr. CN.
Quan điểm thứ hai cho rằng, vào năm 300 truớc CN, hoàng đế Ashoka (A
Dục) có gửi nhiều phái đoàn truyền giáo ra nuớc ngoài, trong đó có Đông Nam
Á. Dựa vào tài liệu Trung Hoa, có nhà nghiên cứu cho rằng thành Nêlê ở Giao
Châu, nơi có bảo tháp Ashoka chính là Đồ Sơn (Hải Phòng) hiện nay. Lê Mạnh
Thát trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam (từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế) cho
rằng Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thời Hùng Vuơng (III – I tr.CN) với Phật
Quang – người truyền đạo đầu tiên và Chử Đồng Tử – nguời phật tử Việt Nam
đầu tiên. Theo ông thành Nê Lê mà đoàn tuyền giáo của vua A Dục cho xây cất
rất có thể là chân núi Thạch Bàn ở Tam Đảo, còn nùi Quỳnh Viên có thể nằm ở
cửa Nam Giới (cửa Sót) thuộc Nghệ An.
Quan điểm thứ ba (đuợc nhiều nguời chấp nhận) cho rằng Phật giáo du nhập
vào nuớc ta vào khoảng thế kỷ thứ I khi nuớc ta nội thuộc nhà Hán. Theo các tài
liệu lịch sử thì Quốc gia Âu Lạc đã bị Nam Việt của Triệu Đà thôn tính vào năm
179 TCN, và lập thành quận Giao Chỉ. Năm 110 TCN, Nam Việt trở thành nội
3


thuộc của nhà Hán, Giao Châu theo đó mà cũng quy về, và được chia thành hai
quận là Giao Chỉ và Cửu Chân.
Trên lãnh thổ của nhà Hậu Hán, sau đó đã tồn tại ba trung tâm Phật giáo là
Luy Lâu, Lạc Dương và Bành Thành. Sử liệu cổ của Trung Hoa cũng không ghi
nhận được rõ ràng sự hình thành của hai trung tâm Lạc Dương và Bành Thành,
chỉ có Luy Lâu thuộc Giao Chỉ là được xác định rõ ràng và sớm nhất, và còn là
bàn đạp cho việc hình thành hai trung tâm kia.
Từ nửa sau thế kỷ thứ hai, Luy Lâu đã tồn tại như một trung tâm Phật giáo
quan trọng và phồn thịnh. Điều này cho thấy việc du nhập Phật giáo vào Giao
Châu là rất sớm khoảng thế kỷ thứ I sau Công nguyên .
1.2

Con đuờng Phật giáo du nhập vào Việt Nam

Qua các kết quả nghiên cứu có thể khẳng định rằng Phật giáo du nhập và Việt
nam qua hai con đuờng: Đuờng thủy từ Ấn độ và đuờng bộ từ Trung Quốc.
Sự du nhập từ Ấn độ: Vào đầu công nguyên, Ấn Độ đã có được sự giao
thương mạnh mẽ với Trung Đông, và gián tiếp với vùng Địa Trung Hải, do đó họ
cần có một nguồn cung cấp nguyên vật liệu, vật phẩm cho sự giao thương này.
Họ giong buồm, theo gió mùa Tây nam mà đi về Đông. Họ đến Giao Chỉ, rồi có
thể từ Giao Chỉ mà lại theo tiếp đường biển hay đường bộ vào trong nội địa
Trung Hoa. Trong khi đợi gió mùa Đông Bắc để quay về Ấn, sự lưu trú của số
thương gia này đã lan truyền dần những nét văn hóa Ấn Độ, trong đó có việc thờ
cúng Phật, tụng kinh… Những tăng sĩ mà các thương nhân đem theo trên thuyền
buôn nhằm làm công việc cầu khấn sự phù trợ của đức Phật, là những người đã
trực tiếp truyền bá Phật học và lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu.
Vào thời đó, dù từ Trung Hoa đã có con đường bộ đi đến Ấn gần hơn đường
biển, nhưng con đường xuyên qua Trung Á lại chứa đựng nhiều hiểm nguy, và
đường biển lại là con đường an ninh hơn, không có núi non, sa mạc, hay cướp
bóc, giết chóc. Bằng chứng là vào đầu thế kỷ thứ tư, con đường bộ đã dễ đi hơn,
nhưng đến cuối thế kỷ này, Pháp Hiển mới từ Trung Hoa sang Ấn, và đến tận thế
kỷ thứ bảy, Huyền Trang đã phải trải qua không biết bao nhiêu gian nan mới đi
trọn vẹn con đường.
Sự du nhập từ Phật giáo phương Bắc: Từ thế kỷ thứ ba, Phật giáo tại Giao
Châu vẫn tiếp tục tự phát triển mạnh mẽ, với sự xuất hiện của Khương Tăng Hội
(? - 280) và tư tưởng thiền của ông. Ông không những là sáng tổ của Thiền học
4


Việt Nam, mà còn là người đầu tiên đem thiền học phát huy ở Trung Hoa (Tăng
Hội đã ở trên đất Ngô từ năm 255 đến 280).
Sự thâm nhập của Phật giáo phương Bắc sau đó còn được thể hiện ở việc các
thiền sư lớn, những người sáng lập ra những thiền phái có vị trí lớn trong lịch sử
Phật giáo Việt Nam, đều ít nhiều có liên hệ và tiếp thu Phật giáo Trung Hoa.
Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi (?-594), người sáng lập ra thiền phái mang tên ông,
truyền đến 19 đời, đến đầu thế kỷ 13, là một người gốc Nam Thiên Trúc, vân du
về phía đông bắc (562), tiếp xúc với Phật giáo Trung Hoa và hành đạo tại đây,
đến năm 580 thì vào nước ta. Năm 820, thiền sư Vô Ngôn Thông từ nội địa
Trung Hoa xuống Giao Châu và sáng lập thiền phái này. Sau này, vào thế kỷ 11,
Thảo Đường vốn cũng là một thiền sư Trung Hoa đang hành đạo tại Chiêm
Thành, bị quân chinh phạt của vua Lý Thái Tông bắt đem về Thăng Long. Sự
uyên thâm Phật pháp của người này sau đó được nhận ra, được nhà vua đưa về
trụ trì tại chùa Khai Quốc, và lập ra một thiền phái lớn của Phật giáo Việt Nam,
thiền phái Thảo Đường.
Tuy nhiên, ở đây, khi nói về sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam, ta có thể
xem việc này đã cơ bản hoàn tất trước thế kỷ thứ 10, khi mà một mặt có sự du
nhập trực tiếp từ Ấn Độ cộng với sự ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa từ phương
Bắc sau đó, mặt khác là sự sản sinh, hình thành nền thiền học Việt Nam với
những thiền phái đầu tiên nhưng lại rất lớn mạnh. Từ đây đã tạo một tiền đề vững
vàng cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam về sau, mà đỉnh điểm là giai đoạn
thế kỷ 10 - 14.
1.3

Những trung tâm phật giáo và những nhà phật giáo
-

Những trung tâm phật giáo

Theo Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang thì vào thời Hậu Hán (thế
kỷ thứ II và thứ III) ở Trung Hoa có hai trung tâm Phật giáo là Lạc Dương và
Bành Thành, còn ở Việt Nam một trung tâm là Luy Lâu (ngày nay thuộc tỉnh Bắc
Ninh).
Trung tâm Phật giáo Luy Lâu đuợc hình thành do sự viếng tham của các tăng
sĩ Ấn độ. Các tăng sĩ này tới Việt Nam bằng đuờng biển theo các thuyền buôn
nguời Ấn độ. Khi tới Giao Chỉ họ mang theo cả những sinh hoạt Phật giáo tới
nước ta. Trong thời gian lưu lại nuớc ta họ sống với nguời dân bản xứ và lối sống
văn minh của họ đã ảnh hưởng tới nguời dân bản xứ. Người Giao Chỉ đã học
được ở họ những kỹ thuật canh tác, y học và ngày càng có thiện cảm với những
5


nguời thuơng nhân và những tăng sĩ người Ấn này. Do vậy nguời bản xứ cũng tỏ
ra mến chuộng tôn giáo của ho. Trong các chuyến đi biển dài ngày, các thuơng
nhân người Ấn luôn cầu đức Phật và các vị Bồ tát phù hộ, độ trì cho thuận buồm,
xuôi gió. Và vì mục đích cầu nguyện họ thỉnh theo những vị tăng sĩ. Chính những
vị tăng sĩ này sẽ lập nên trung tâm phật giáo Luy Lâu tại Giao Chỉ.
Như vậy, trung tâm Phật giáo ở Luy Lâu đuợc thành lập là do các tăng sĩ
người Ấn độ theo các thuyền buôn truyền trực tiếp vào nước ta, không phải là từ
Trung Hoa truyền xuống. Đây là điều được tất cả các học giả đồng ý.
Trung tâm Phật giáo Lạc Duơng: Vào thế kỷ thứ I, thứ II thì Lạc Duơng là
kinh đô nhà Hán và là một trong những trung tâm Phật giáo quan trọng. Trong lá
sớ của Tuơng Giai dâng vua Hoàn đế chép rằng vua Hoàn đế (132-167) đã thờ
Phật trong cung cùng Lão tử. Như vậy có nghĩa là thời gian này ảnh huởng của
Phật giáo là rất mạnh. “Thời đó, tại Lạc Duơng có các vị tăng sĩ ngoại quốc cùng
với người Hán Phiên dịch kinh sách từ Phạn Ngữ sang Hán tự. An Thế Cao một
vị tăng sĩ nguời An Tức cùng một vị khác người động huơng tên là An Huyền
cùng dịch kinh với một nguời Hán tên là Nghiêm Phú Điều. Hai ngôi chùa nổi
tiếng của thời đó là chùa Bạch Mã và chùa Hứa Xương” [1,28] .
Trung tâm Phật giáo Bành Thành: Căn cứ câu chuyện Sở Vuơng Anh và Câu
chuyện Sạ Dung có thể nói thời kỳ này Bành Thành cũng là một trung tâm Phật
giáo phát triển, hơn nữa còn là nguồn gốc của trung tâm Lạc Dưong. Hậu Hán
Thư chép cấu chuyện Sở Vuơng Anh như sau: Năm 65, vua Minh Đế xuống
chiếu cho phép những người nào bị tội nặng được dâng vóc, lụa để chuộc tội. Sở
Vuơng Anh có mặc cảm mình có tội nên dâng lên vua Minh Đế ba mươi tấm lụa.
Vua Minh Đế xuống chiếu nói Sở Vuơng Anh không có tội gia, trái lại Vương
còn có công đức “biết sùng thượng giáo lý cao siêu của Hoàng Lão và đức nhân
từ bao la của Phật”. Vuơng bèn làm lễ sám hối, ăn chay ba tháng và tổ chức thịnh
soạn cúng đuờng tăng và cư sĩ. Câu chuyện Sạ Dung theo sách Ngô Chí như sau:
Sạ Dung làm cách mạng giữ lấy luơng thực, quyền bình một phương. Ông cho
nấu thức ăn bày ra đường dài tới mười dặm để cho người đói tới ăn. Sau đó ông
ta cất một ngôi chùa lớn, trong đó có thờ tượng Phật thiết vàng; lại xây một cái
lầu có thể chứa tới 3.000 người. Ông ta tổ chức tụng kinh, thuyết pháp, làm lễ
tắm Phật. Sạ Dung mất năm Hưng Bình thứ hai đời Hán Hiến Đế (195). Sách
Thủy Kinh Chú cũng cho biết trước khi Sạ Dung làm chùa vài năm, có một gia
đình theo đạo gần đó đã xây một cây tháp đã xây một cái tháp cao để thờ một
người trong gia đình vừa mới mất.
6


Các câu chuyện trên đây đã chứng minh rằng Bành Thành vào nửa cuới thế kỷ
thứ II đã là một trung tâm Phật giáo quan trọng.
-

Những nhà phật giáo

Một số nhà Phật giáo có ảnh hưởng đến Phật giáo nuớc ta trong giai đoạn sơ
khai khi Phật giáo du nhập vào nuớc ta đó là:
Mâu tử sinh khoảng năm 160, là nguời thông minh, ham đọc sách khoảng
năm 178 – 180 ông đưa mẹ sang Giao Chỉ lánh nạn. Khoảng năm 181 – 183 trở
thành phật tức ở nuớc ta. Khoảng năm 185 – 187 về Thuơng Ngô cuớng vợ.
Khoảg năm 193 – 194 Khoảng năm 195 tang mẹ. Năm 198 cư tang xong viết “Lý
hoặc luận”.
Khuơng Tăng Hội sinh vào khoảng năm 200 tổ tiên người Khương Cư
(Sogdiane) (tức Udobêkixtan ngày nay), mấy đời ở thiên Trúc, theo cha buôn bán
đến đất Giao Chỉ. Năm lên 10 tuổi cha, mẹ đều mất, chịu tang song Hội xuất gia,
đuợc “ba vị thầy” dạy dỗ cẩn thận cả về ba kinh tạng Phật giáo, siêng năng hết
mực, là nguời rộng rãi nhã nhặn, có tấm hiểu biết, dốc chí hiếu học, thông hiểu
tam tạng, xem khắp lục kinh, thiên văn, đồ vĩ đều hiểu biết, giỏi việc ăn nói, rành
việc viết văn. Bấy giờ Tôn Quyền xưng đế ở Giang Tả mà Phật giáo chưa lưu
hành, liền chống gậy Đông Du và năm Xích ô thứ 10 (247), đến kiến nghiệp xây
cất nhà tranh,dựng tuợng hành đạo. Theo Nguyễn Lang Khuơng Tăng Hội là
“khởi đầu, “sáng tổ của thiền học Việt Nam”. Cũng theo Nguyễn Lang, Phật giáo
Việt Nam đầu thế kỷ thứ 3 hoàn toàn là phật giáo Đại thừa, có khuynh huớng
thần bí và thiền học; bằng tác phẩm “Lục độ tập kinh”, Tăng Hội đã Đại thừa hoá
Thiền học.
Ngoài ra ta còn thấy một số nhà phật giáo khác có mặt tại Giao Chỉ trong giai
đoạn đầu Phật giáo truyền vào nước ta đuợc Lê Mạnh Thát nhắc tới trong Lịch sử
Phật giáo Việt Nam (từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế) đó là các vị: Bát Nàn
phu nhân, Phật Quang sau là Khâu Đà La, Ma Ha Kỳ Vực và Man Nương
Tuy nhiên chúng ta chỉ biết được tên còn về niên đại và tiểu sử của các vị chúng
ta không biết chính xác, tất cả chỉ là phỏng đoán mà thôi.

7


Chuơng 2:
NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM
CỦA QUÁ TRÌNH PHẬT GIÁO DU NHẬP VÀO VIỆT NAM
2.1

Nội dung của quá trình Phật giáo du nhập vào Việt Nam
-

Quan niệm căn bản về giáo lý

Theo Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang, ta có thể phác thảo sơ
luợc những quan niệm cơ bản về giáo lý giai đoạn này như sau:
Quan niệm về Phật: Đối với người xuất gia, Phật là người giác ngộ và người
dạy đạo giác ngộ. Nhưng đối với người trí thức theo đạo Khổng hay đạo Lão thì
Phật được trình bày như nguyên tố của đạo và đức. Quan niệm về tín ngưỡng
bình dân về Phật phối hợp với quan niệm về Phật của phật tử trí thức trình bày
trong một ngôn ngữ có thể đối thoại được với người theo đạo Khổng vả đạo Lão
đựoc thể hiện qua đoạn trích sau: “Phật là nguyên tố của Đạo và Đức, nguồn gốc
của thần minh. Phật nghĩa là Thức Tỉnh (Giác). Ngài có thể biến hóa không cùng,
phân thân, tán thể, khi có đó, khi không đó, khi lớn, khi nhỏ, khi vuông, khi tròn,
khi giả, khi trẻ, khi ẩn, khi hiện, lửa không dối đựơc̣ , đao không đâm được, trong
bùn không nhiễm, giữa họa mà không bị tai uơng, khi đi có thể bay, khi ngồi hào
quang sáng chói. Đó gọi là Phật” (Lý hoặc luận, Mâu tử).
Quan niệm về Pháp: Trong thế kỷ này chữ Đạo đuợc dùng để dịch chữ Pháp
(sau này trở thành đạo pháp). Mâu tử nói về đạo như sau: “Đạo là dẫn dắt (lãnh
đạo). Đạo dẫn dắt người tới vô vi (vô vi ở dây nghĩa là niết bàn nirvana). Đạo
không thể kéo mà tới, đẩy mà lui, nâng mà lên cao, đè mà xuống thấp: nhìn nó thí
nó vô hình, nghe nó thí nó vô thanh, bốn bên không có giới hạn, tràn ra ngoài tứ
phía, nhỏ như hào lý nhưng trong nó không gian mênh mông”. Đối với quần
chúng phật tử, Đạo vẫn là phép Phật, là phép Tam Quy, Ngũ Giới, Bố Thí và
Cúng Đường. Đối với tăng đồ, Đạo là lời Phật dạy về vô thường, vô ngã, giới
luật, cách giữ tâm, gìn giữ và tu chứng niết bàn (vô vi).
Quan niệm về Tăng: Quan niệm về Tăng rất rõ ràng: 250 giới luật, cạo đầu,
mặc áo vàng, xả bỏ tài sản, đi khất thực và hóa đạo, nhắm tới sự chứng nhập vô
vi: đó là hình ảnh người xuất gia.
Quan niệm về Niết bàn: Niết Bàn (nirvana) được dịch là vô vi, mục đích của
người xuất gia. Nhưng tuy sử dụng danh từ vô vi của Phật khác danh từ vô vi của
Lão. Điều này thể hiện rất rõ quan câu nói của Mâu tử: “Nếu ta chỉ gọi chung các
thứ cỏ là cỏ, thì ta đâu thấy các loại cỏ khác nhau. Nếu ta chỉ gọi chung kim loại
8


là kim loại, thỉ đâu thấy các kim loại khác nhau. Sự vật có thể đồng loại nhưng dị
tính”.
Quan niệm về luân hồi, nghiệp báo: Luân hồi và nghiệp báo là những tín
ngưỡng đã đuợc chấp nhận trong dân gian từ thế kỷ trước. Dân chúng Giao Chỉ
sau Khi Hai Bà Trưng chết, vào giữa thế kỷ thứ nhất đã làm đền thờ Hai Bà.
Quan niệm về linh hồn tồn tại sau khi chết và thác sinh vào một hình thái khác
tùy theo nghiệp báo đã ăn sâu vào tín nguỡng bình dân. Nhưng đối với giới Nho
gia, những nguời thường lấy câu “vị năng sự sinh yên năng sự tử (chưa biết đối
phó với vấn đề sông làm sao đối phó với vấn đề chết)” và sự hoài nghi về sự tái
sinh tiếp tục của con người để đả kích đạo Phật, Mâu Tử đã trả lời: “Hồn của con
nguời không bị tiêu diệt khi chết, chỉ có xác là mục nát thôi. Thân xác cũng ví
như rễ và lá của loài ngũ cốc. Rễ và lá có sinh tất nhiên có tử, nhưng không phải
vì rễ, lá hoại mà hạt ngũ cốc cũng không còn” (Lý hoạc luận).
Quan niệm về vô ngã: Kinh Tứ thập nhị chương nói về vô ngã như sau: “Phật
nói: nên suy ngẫm đến tứ đại trong thân thể (tứ đại là địa, thủy, hỏa, phong). Mỗi
đại đều có tên gọi nhưng trong [hợp thể] ấy không tìm ra ngã (đó vì vô ngô). Ngã
là một quan niệm sinh ra dựa trên bốn đại, không trường cửu; nó như là huyễn”.
Như vậy, vô ngã tức là không có cái ta, không có bản thể vĩnh hằng bất biến. Tuy
nhiên, quan niệm vô ngã đã được nói đến trong Tứ thập nhị chương, nhưng chưa
phổ biến lắm trong trong dân gian.
Về quan niệm về từ bi, về công đức bố thí và tĩnh dục của Phật giáo: Theo
Phật giáo làm công đức cho kiếp sau được tốt đẹp là dâng thức ăn cho tăng môn,
bố thí cho người nghèo khó. Quan niệm tiết dục cũng là ở chỗ bỏ bớt những
hưởng thụ cho riêng mình, để cho người khốn khó.
Tinh thần hòa đồng tôn giáo: Hòa đồng tôn giáo là một đặc điểm nổi bật
của phật giáo Việt nam trong thời kỳ này. Đạo Phật thâm nhập vào tín nguỡng
dân gian ở Giao Chỉ một cách tự nhiên “như nuớc thấm vào lòng đất” [74,1]. Vì
những tư tưởng từ bi, bác ái, nhân đức của Phật giáo rất phù hợp với tín ngưỡng
dân gian lúc bấy giờ. Tuy nhiên đối với những tầng lớp trí thức chịu ảnh hưởng
sâu sắc của văn hóa Trung Quốc (ảnh hưởng của Nho giáo, Lão giáo) thì đạo Phật
phải cố gắng nhiều hơn. Phuơng pháp của đạo Phật là không chống đối, phản
kháng, mà bằng sự hòa đồng. Điều này xuất phát từ tinh thần cởi mở của Phật
học, và Phật tử thì sẵn sàng học hỏi, đối thoại với những tư tưởng khác. Kết quả
của tinh thần này là không những đã sử dụng được từ ngữ Nho, Lão để truyền bá
9


Phật giáo, mà còn làm cho những người theo Khổng, Lão thấy được chiều sâu
của Phật học.
-

Các tác phẩm chủ yếu

Lý hoặc luận của Mâu Tử: “Lý hoặc luận có nghĩa là “những luận lý để làm
tiêu tan các mối nghi hoặc về Phật giáo”. Tác phẩm này xuất hiện vào đầu thế kỷ
thứ sáu trong bộ Hoằng Minh Tập do Tăng Hựu sưu tập và ấn hành. Các sách
Tùy Chí và Đuờng Chí đều có nói đến sách này. Tác phẩm này đã cung cấp cho
nhiều dữ kiện quý báu. Nhờ đó mà ta biết được khá rõ rệt về tư tưởng, tín nguỡng
và tình trạng Phật giáo Giao Châu trong thế kỷ thứ II.
Nội dung tác phẩm bao gồm những câu hỏi và trả lời. Tất cả có 37 điều, có thể
chia thành ba nhóm chính: Nhóm 1 từ điều 1 đến điều 3 trình bày vài nét tổng
quan về Phật giáo; nhóm thứ 2 từ điều 4 đến điều 28, tập trung bàn về quan hệ
giữa Phật giáo và Nho giáo. Nhóm này có thể chia làm ba phần: Phần 1 từ điều 4
đến điều 8 giải tỏa thắc mắc về tư tưởng chính yếu của Phật giáo và các kinh điển
ghi chép nó; phần 2 từ điều 9 đến 19 xử lý nhiều thắc mắc lối sống của Phật giáo
trong liên hệ các tiêu chuẩn lễ nghĩa của Trung Quốc; phần 3 từ điều 20 đến 28
nêu vấn đề về Phật kinh hay, đẹp; nhóm 3 từ điều 29 đến 37, tập trung phê phán
Đạo giáo.
Kết cấu tác phẩm cho ta thấy mục đích chủ yếu của Mâu Tử là phê phán Đạo
giáo và Nho giáo. Ông chỉ ra những giới hạn của những điển huấn Nho giáo,
những mâu thuẫn và thiếu sót của chung, cần tăng cuờng bổ sung và điều chỉnh.
Để thực hiện công tác ấy, Mâu Tử đã sử dung một số thúc pháp như: Thủ pháp
thứ nhất vạch ra một số sự việc, mà ai cũng biết, nhưng trong kinh điển Nho giáo
không thấy ghi; thủ pháp thứ hai là nêu lên những giới hạn của các quy định điển
huấn; thủ pháp thức ba là khai thác tính mâu thuẫn vốn có của các điển huấn; thủ
pháp thức tư là nhấn mạnh tính bổ sung, điều chỉnh của kinh điển Phật giáo cho
những thiếu sót, giới hạn và mâu thuẫn vừa nêu của hệ thống điển huấn Trung
Quốc.
Bốn thủ pháp đuợc Mâu tử sử dụng lập đi, lập lại, xen kẽ lẫn nhau để từng
buớc đánh vỡ từng mảng cảm xúc của tự tôn dân tộc của nguời Trung Quốc nói
chung, và cảm thức tự tôn hệ tư tưởng Nho giáo nói riêng. Điều này không chỉ
chứng tỏ Mâu Tử là nguời phương Nam mà còn đánh dấu một trình độ nhận thức
chính trị của người Việt vào thời Mâu tử đã đạt tới mức độ cao để vuợc lên và
định ra vị trí của mình và kẻ thù của mình trong quan hệ tương tác của chúng. Nó
10


thể hiện sự nổ lực kiên trì xây dựng một nền văn hóa mới, kết hợp nền văn hóa
dân tộc với văn hóa Phật giáo để phát triển.
Qua tác phẩm Lý hoạc luận có thể nhận định một số tư tưởng của Mâu Tử như
sau:
Thứ nhất Mâu tử là nguời rất thông hiểu đạo Phật. Cụ thể là Mâu Tử đã tổ
chức Lý hoặc luận thành 37 điều vì trong Phật giáo có “tam thập thất kinh chi
yếu”, tức 37 điểm trọng yếu của đạo Phật. Quan điểm rằng toàn bộ kinh điển của
Phật giáo tập trung trong 37 điều là quan điểm hết sức cơ bản của văn học Atỳ
đàm. Lẽ dĩ nhiên Phật giáo có rất nhiều lý thuyết, nhưng giáo lý cơ bản vẫn là 37
điều kể trên. Điểm thứ hai là sau khi xác định toàn bộ cốt lõi của tư tưởng Phật
giáo là gì thì Mâu Tử xác định ngay lý tưởhg mà Phật giáo phải đạt đến, đó là sự
giác ngộ, tức là Phật. Bởi vì Phật là gì? Mâu Tử định nghĩa , theo điều 2: “Phật là
nguyên tố của đạo đức, đầu mối của thần minh. Nói Phật nghĩa là Giác, biến hóa
nhanh chóng, phân phán thân thể hoặc còn, hoặc mất, có thể lớn, có thể nhỏ, ẩn
được, hiện được, đạp lửa không bỏng, đi dao không đau”. Đây là đức Phật của
mọi quyền năng, không phải là đức Phật của lịch sử Thích Ca Mau Ni. Điểm thứ
ba trong Mâu Tử là bình đẳng, “tất cả mọi hàm thuyết đều thuộcvề Phật cả, đều
có Phật tính cả” (điều 14). Dân tộc ta không sợ bất cứ một nền văn hóa muốn áp
đặt lên đất nước chúng ta, cũng không đi đến chỗ cực đoan là tự kỳ thị những dân
tộc khác, chính là vì quan niệm ai cũng có Phật tính, mọi người đều thuộc Phật
này. Bên cạnh đó Mâu Tử cũng khẳng định tính bình đẳng của con người. Và
người Việt đã biết cải biên lại lý thuyết của Phật giáo cho phù hợp với thế giới
quan của người việt, làm cho Phật giáo mang khuôn mặt quen thuộc với nguời
bản xứ. Từ sự cải biên này, một thệ thống đạo lý và điển huấn Việt Nam đã được
kết hợp với tư tưởng Phật giáo, tạo thành một hệ thống điển huấn Việt Nam mới,
làm cơ sở cho việc xây dựng một nhà nước Việt Nam sau thời Hai Bà Trưng và
đồng hành cùng với lịch sử văn hóa dân tộc cho tới ngày hôm nay.
Lục độ tập kinh: Lục độ tập kinh là văn bản đầu tiên và xưa nhất ngoài bài
Việt ca, tập thành những tư tưởng lớn của dân tộc như: nhân nghĩa, trung hiếu,
đất nuớc, mất nước, v.v.. là xương sống cho chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam và
truyền thống văn hóa Việt Nam. Lục độ tập kinh được Khương Tăng Hội dịch
vào thời Tam Quốc, từ nguyên bản Lục độ tập kinh tiếng Việt gồm cả thẩy có 91
truyện. Theo Lê Mạnh Thát thì đây là tác phẩm của nguời Việt Nam ta, để đến
năm 251, Khương Tăng Hội mới dịch ra tiếng Trung Quốc. Và cũng chính dựa và
bản Lục độ tập kinh tiếng Việt mà bản dịch ra tiếng Trung Quốc của Khương
11


Tăng Hội mới mang tiếng “văn từ điển nhã” như Thang Dụng Đồng nhận định
trong Hán Ngụy lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật giáo sử . Lục độ tập kinh cho ta
biết một số khác biệt giữa quan niệm của nguời Việt và người Hán thời kỳ đó như
sau:
Quan niệm về chữ hiếu: Hiếu đạo của người Trung Quốc theo câu mở đầu của
Hiếu kinh là “Thân thể, tóc da nhận từ cha mẹ, không dám làm tổn thương là
khởi đầu của hiếu. Lập thân, hành đạo, dương danh với hậu thế , đó là kết cục của
hiếu” và “bất hiếu có ba, không có người nối dõi là lớn nhất” (Mạnh Tử). Thế
nhưng thời kỳ đó nguời Việt lại có tục cắt tóc xăm hình phổ biến thì rõ ràng là
không phù hợp với quan niệm về đạo hiếu của nguời Trung Quốc. Vậy quan niệm
về đạo hiếu của người Việt như thế nào. Theo Lục độ tập kinh 2, ĐTK 152 thì đó
là “Giúp nghèo cứu thiếu, thuơng nuôi quần sinh, là đứng đầu của hạnh” và phê
phán quan niệm của Mạnh Tử như sau: “người đạo cao thì đức rộng. Ta muốn cái
đạo vô dục, đạo đó mới quý. Đem đạo truyền cho thần, đem đức trao cho thánh,
thần thành truyền cho nhau cái sự giáo hóa vĩ đại không hư nát, đó mới gọi là sự
nối dõi tốt lành. Nay nguời muốn lấp nguồn đạo, chặt gốc đức thì không đáng là
kẻ vô hậu ư”. Như vậy theo Lục độ tập kinh không nhất thiết phải có sự thừa tự
về mặt sinh học thư Mạnh Tử quan niệm mới gọi là đạo hiếu mà còn có một lối
thừa tự khác, sự nối dõi khác. Đó là nối dõi về chân lý, nối dõi về học thuật, nối
dõi về đạo đức.
Quan niệm về chữ nhân: về quan niệm trị dân, giúp nước cũng hoàn toàn khác
với quan niệm nhân nghĩa của nguời Trung Quốc. Tư tưởng nhân nghĩa trong lục
độ tập kinh đề cấp đến lòng thương nhưng lòng thuơng này “không chỉ giới hạn
trong lòng thuơng người mà còn bao trùm hết cả sinh vật cho đến cả cỏ cây. Đây
là một tư tưởng hết sức rộng lớn không có trong Nho giáo. Đối với Nho giáo
nhân nghĩa có một nôi dung hết sức hạn chế. Thiên Tận tâm chương cú thượng
trong Mạnh tử nói rất rõ: “Lòng nhân của Nghiêu Thuấn không yêu khắp mọi
người, mà truớc hết là yêu bà con và nguời tài giỏi”. Như vậy quan niệm nhân
nghĩa của hai bên rất khác biệt nhau.
Theo Lê Mạnh Thát có một điểm lý thú nữa là khi nghiên cứu đến vấn đề thời
gian được đề cập ở một số truyện trong Lục độ tập kinh có thể nhận định rằng hệ
thống lịch trong lục độ tập kinh chia năm ra làm 360 ngày, rồi phân bổ thành bốn
mùa, mỗi tháng có 30 ngày và một tuần có 7 ngày.
Lục độ tập kinh cũng giúp chúng ta hiểu được phương pháp giác ngộ cơ bản
mà Phật giáo truyền vào Việt Nam vào thời đó. Về lý thuyết đó là quan điểm về
12


vô thường, khổ, không, vô ngã. Về thực tiễn, thì các phuơng pháp để đạt đuợc lý
tưởng đã được diễn đạt cụ thể và khúc triết. Con đương mà phật tử Việt Nam thực
hành là quy y tam bảo, giữa năm điều răn, thực hành mười điều lành và tu tập các
con đuờng đưa về giác ngộ.
Ngoài ra một số truyện trong Lục độ tập kinh còn nói đến việc trị nước và
nguyên nhân mất nước. Các truyện này mô tả việc đi cướp nước cuối cùng dẫn
đến thất bại, kẻ cướp cuối cùng phải trả lại nước cho nguời bị mất và hoàn toàn bị
chinh phục bởi nguời bị cướp. Đây là một nguyên lý có tính quy luật khách quan,
đó là việc cướp nước bao giờ củng đi đến sự thất bại hoàn toàn “Phi nghĩa không
bao giờ thắng đuợc chính nghĩa” cho nên phải lấy lòng nhân để trị nước.
Cựu tạp thí dụ kinh và Tạp chí dụ kinh
Ngoài Lục độ tập kinh còn có hai bản kinh khác cũng đuợc hình thành vào
giai đoạn này, đó là Cựu tạp thí dụ kinh và Tạp chí dụ kinh. Cựu tạp chí dụ kinh
do Khương Tăng Hội dịch, còn Tạp chí dụ kinh do một tác giả vô danh dịch
Cựu tạp chí dụ kinh ngày nay đựoc chia ra làm 2 quyển; thượng và hạ. Quyển
thượng gồm truyện từ truyện 1 đến 34. Quyển hạ từ 35 đến 61. Như vậy nó có cả
thảy 61 truyện. Về mặt nội dung Cựu tạp chí dụ kinh tuy mang danh là một bản
kinh nhưng thực tế là một tác phẩm văn học chứa nhiều yếu tố Phật giáo. Tuy
hiên với tư cách là một bản kinh, Cựu tạp chí dụ kinh tự bản thân có những lời
giáo huấn đặc biệt của Phật giáo, đề cao vai trò của giới luật. Bên cạnh đó nó
cũng phản ánh nỗ lực vận dụng lý thuyết và tư tưởng Phật giáo vào thực tiễn
chính trị ở nước ta. Tuy vậy cựu tạp chí dụ kinh cũng thể hiện mối quan tâm đến
giáo lý Phật giáo với các chủ đề như tham dục, bố thí, nghiệp quả và giác ngộ.
Quan điểm Phật giáo của Cựu tạp chí dụ kinh là dứng về hệ tư tưởng đại thừa,
tiếp thu và quảng bá cho hệ tư tưởng này.
Ngoài những truyện mang tính giáo lý Phật giáo, Cựu tạp chí dụ kinh còn
chứa đựng một số truyện mà thông điệp gửi gắm không nhất thiết phải có tính
Phật giáo hay duy nhất có tính Phật giáo. Chẳng hạn như các truyện từ số 17 đến
số 23 và 25, 26 , 39. Các truyện này, có truyện dùng để minh họa cho giáo lý
tham dục của Phật giáo, nhưng cũng có thể coi như một truyện cảnh giác mưu
mẹo đàn bà hay đàn ông Thậm chí có những truyện ý nghi rất mơ hồ kém hấp
dẫn. Tuy vậy việc nghiên cứu tác phẩm này giúp chúng ta có một số ý niệm về tư
tưởng Việt Nam thời kỳ đó
Tạp chí dụ kinh theo sự phân tích của Lê Mạnh Thát thì đó là một bản “thất
dịch nhân danh” có từ đời Hán. Về kết cấu Tạp chí dụ kinh tạp chí dụ kinh gồm
hai quyển thượng và hạ, quyển thượng gồm có 14 truyện, từ 1 đến 14. Quyển hạ
13


gồm 18 truyện còn lại từ 19 đến 32. Nét nổi bật của các tác phẩm này là việc
nhấn mạnh đến “oai thần” của đức Phật, “thần thông” của các nhà sư. Đây là một
đặc trưng của nền Phật giáo quyền năng truyền vào nuớc ta từ thế kỷ đầu. Nét nổi
bật thức hai là sự kiện nhấn mạnh đến việc cúng đuờng và lợi ích của nó. Ngoài
ra với chức năng là một bản kinh Táp chí dụ kinh cũng đã truyển đạt mộ hệ thống
giáo lý, tuy đơn giản nhưng cũng khá hoàn chỉnh với các giáo lý: “bốn sự thật,
khổ, không, phi thân” (truyện 4); “năm giới, muời lành, bốn đẳng, sáu độ”
(truyện 8); “bốn đẳng, sáu độ, 37 phẩm trợ đạo” (truyện 18); “ngu không biết gì
là gốc của 12 nhân duyên” (truyện 22), “năm ấn không có gì” (truyện 27); “năm
ấm, bốn đại, khổ, không” (truyện 29).
Như vậy, ngay từ những thế kỷ đẩu của Phật giáo ở nước ta, không chí những
giáo lý căn bản chung cho các hệ phái như bốn sự thật, mười hai nhân duyên,
khổ, không, vô, ngã, bốn đẳng, sáu độ, 37 phẩm trợ đạo, năm giới, muời lành
đuợc thuyết giảng, mà một số tư tưởng đặc biệt là đại thừa đã được truyền bá và
phổ biến rộng rãi.
2.2

Đặc điểm của quá trình Phật giáo du nhập vào Việt Nam

Như vậy Phật giáo truyền vào nuớc ta khoảng thế kỷ thứ I sau Công nguyên.
Đặc điểm thời kỳ là nước ta chịu ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương
Bắc. Các triều đại phong kiến Trung Quốc đã dùng mọi thủ đoạn để xóa bỏ văn
hóa Việt Nam, muốn đồng hóa dân tộc Việt Nam, biến đất nước ta trở thanh một
phần lãnh thổ của họ. Tuy nhiên với một sức mạnh văn hóa vốn có của mình
nhân dân ta đã làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn của người phương Bắc mặc
dù phải chịu ách đô hộ của hộ hơn một nghìn năm. Qua việc nghiên cứu sự du
nhập của Phật giáo vào nước ta trong giai đoạn này chúng ta thấy nổi lên một số
đặc điểm đáng lưu ý sau:
Thứ nhất: Giai đoạn đầu Phật giáo du nhập vào nuớc ta từ Ấn độ chứ không
phải từ Trung Quốc, thông qua các thương nhân và các tăng sĩ Ấn độ theo đuờng
biển, sau đó mới có sự giao lưu Phật giáo giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Thứ hai: Trung tâm Phật giáo Việt Nam là Luy Lâu đã có hình thành và phát
triển trước các trung tâm phật giáo của Trung Quốc. Điều này được lý giải như
sau: Phật giáo truyền vào Trung Quốc qua hai con đường đuờng bộ và đường
thủy nhưng những vị tăng sĩ đầu tiên đến Trung Hoa hầu hết do đường biển mà
tới vì đường biển có thể dài hơn nhưng an ninh và dề dàng hơn đuờng bộ rất
nhiều. Con đuờng bộ trở nên dễ dàng hơn vào thế kỷ thức tư. Tuy vậy Pháp Hiền
(cuối thế kỷ thứ tư) và Huyền Trang (cuối thế kỷ thứ bảy) còn phải trải qua bao
14


nhiêu gian khổ mới đi trong con đuờng ấy. Lý do thứ hai là ở phương Nam nuớc
ta có các nuớc Chăm Pa, Chân Lạp Thủy, Phù Nam là những nước ảnh mạnh mẽ
văn hóa Ấn độ. Vì vậy nhiều vị tăng sĩ Ấn độ đã truyền bá Phật giáo sang các
nuớc đó sau đó đến Việt Nam và dùng Việt Nam làm bàn đạp để truyền bá Phật
giáo vào Trung Quốc.
Thứ ba: Nhân dân ta tiếp thu các giáo lý Phật giáo một cách tự nhiên và hòa
bình. Nói theo cách nói của Nguyễn Lang “Đạo phật thâm nhập vào đời sống dân
gian ở Giao Chỉ tự nhiên như nước thấm vào lòng đất”. Những quan niệm, những
giáo lý của nhà Phật như công đức, tam bảo, cúng đường, luân hồi và nghiệp
báo… không có quan niệm nào chống đối với tín ngưỡng tại Giao Châu hồi ấy.
Chính vì vậy Phật giáo dễ dàng được nhân dân tiếp thu. Hơn thế nữa nhân dân ta
còn phát triển Phật giáo cho phù hợp với lối sống văn hóa của dân tộc mình.
Trái lại Nho giáo du nhập vào nước ta dưới áp lực của chính quyền Trung
Quốc và đến nuớc ta chủ yếu từ các tầng lớp quan lại đô hộ và trước khi truyền
đến lại bị cắt xén với ý đồ lợi dụng một cách thô bạo cho nên Nho giáo chỉ được
nhân dân ta tiếp thu một cách dè dặt. Chính vì vậy trải hơn một ngàn năm, Nho
giáo cũng chỉ bước đầu xác lập được một vị trí hế sức khiêm tốn trong đời sống
tư tưởng xã hội ta mà thôi.
Thứ tư: Phật giáo Việt Nam khi giao lưu với các luồng tư tuởng tôn giáo khác
thỉ thể hiện tình thần hòa đồng, cởi mở, sẵn sàng học hỏi, đối thoại với những tư
tưởng khác. Vì vậy những nhà Phật giáo đã sử dụng được từ ngữ Nho, Lão để
truyền bá Phật giáo cho làm cho những người theo Khổng, Lão hiểu được chiều
sâu của Phật học.

15


KẾT LUẬN
Như vậy sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam ở thế kỷ thứ nhất và thứ hai
sau công nguyên, trực tiếp từ nguồn gốc Ấn Độ, điều này đã cho phép sự phát
triển Phật giáo rất sớm ở Việt Nam, vào những thế kỷ sau, Phật giáo Việt Nam đã
có sự giao tiếp với Phật giáo Trung Hoa, tiếp nhận những thâm nhập mới. Trong
quá trình du nhập, Phật giáo đã kết hợp với văn hóa, tín ngưỡng Việt Nam hình
thành nên tư tưởng Phật giáo mang đặc trưng riêng của Việt Nam độc lập với tư
tưởng và văn hóa Trung Quốc.
Trong bối cảnh của một dân tộc bị đô hộ, Phật giáo đã đồng hành và trở thành
một thành tố của văn hóa bản địa làm đối trọng với văn hóa phương Bắc, trở
thành chỗ dực tinh thần của dân tộc ta về một nền độc lập. Cho nên dù đã bị đô
hộ 1.000 năm mà nhân dân ta vẫn có thể đấu tranh xây dựng đất nước hoàn toàn
độc lập. Trải qua thăng trầm của lịch sử vai trò của Phật giáo đã ngày càng phát
triển, đạt đến độ cực thịnh vào thời kỳ Lý - Trần, và chỉ suy thoái từ nửa sau thế
kỷ 14.
Nghiên cứu sự phát triển của Phật giáo Việt Nam giúp chúng ta hiểu rõ hơn về
lịch sử văn hóa dân tộc, thêm tự hào và biết trân trọng những giá trị tư tưởng mà
ông cha ta đã dày công xây dựng và phát triển, qua đó xóa bỏ mặc cảm tự ti với
văn hóa Trung Quốc.
Nghiên cứu sự phát triển của Phật giáo Việt Nam cũng giúp chúng ta lý giải
đuợc sự phát triển mạnh mẽ của tư tưởng Phật giáo thời kỳ Lý – Trần, giai đoạn
Phật giáo trở thành quốc giáo ảnh hưởng sâu sắc công cuộc đấu tranh chống xâm
lược, xây dựng và bảo vệ tổ quốc thân yêu
Nhiệm vụ của chúng ta ngày nay là phải biết kế thừa những giá trị truyền
thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc (trong đó có những giá trị của tư tưởng Phật
giáo), vận dụng vào công cuộc đổi mới, xây dựng một nền văn hóa mới – nền văn
hóa Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

16


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Lang (1992), Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1, Nxb. Văn học,
Hà Nội.
2. Nguyễn Hùng Hậu (2002), Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam,
tập 1, Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội.
3. Lê Mạnh Thát (2006), Lịch sử Phật giáo Việt Nam (từ khởi nguyên đến thời
Lý Nam Đế), tập 1, Nxb. Tổng hợp, Tp Hồ Chí Minh.
4. Lê Mạnh Thát (1982), Nghiên cứu về Mâu Tử, Tu từ Đại học Vạn Hạnh.
5. Lê Mạnh Thát (1975), Khương Tăng Hội, Toàn tập, tập 1, Tu từ Đại học
Vạn Hạnh.

17


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU..........................................................................................................................1
Chuơng 1:
NIÊN ĐẠI VÀ CON ĐƯỜNG
PHẬT GIÁO DU NHẬP VÀO VIỆT NAM.................................................................................3
1.1 Niên đại Phật giáo du nhập vào Việt Nam..........................................................................3
1.2 Con đuờng Phật giáo du nhập vào Việt Nam......................................................................4
1.3 Những trung tâm phật giáo và những nhà phật giáo...........................................................5
Chuơng 2:
NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM
CỦA QUÁ TRÌNH PHẬT GIÁO DU NHẬP VÀO VIỆT NAM................................................8
2.1 Nội dung của quá trình Phật giáo du nhập vào Việt Nam...................................................8
2.2 Đặc điểm của quá trình Phật giáo du nhập vào Việt Nam................................................14
KẾT LUẬN...............................................................................................................................16
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................17

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×