Tải bản đầy đủ

Thực tập tại tổng kho- công ty xăng dầu khu vực v- phòng hóa nghiệm của trường đại học bách khoa đà nẵng và kho gas

THỰC TẬP CÔNG NHÂN

LỜI MỞ ĐẦU
Thực tập công nhân là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với sinh viên các
ngành kĩ thuật nói riêng cũng như các ngành nghề khác nói chung. Đây là dịp để sinh
viên có thể tiếp cận thực tế, tiếp cận các thiết bị kĩ thuật, công nghệ của các quá trình, các
phương thức vận hành, các điều kiện công nghệ… Từ đó, sinh viên có những tầm nhìn
mới mẻ hơn, sâu sắc hơn về các phương tiện kĩ thuật và qua đó kiểm tra lại những kiến
thức đã được học ở trường.
Các thông tin mang lại từ các đợt thực tập thực sự bổ ích cho sinh viên sau khi ra
trường. Do vậy cần phải xác định rõ tầm quan trọng của thực tập công nhân đối với mỗi
sinh viên.
Sau thời gian 4 tuần thực tập tại Tổng Kho-Công ty xăng dầu khu vực V, Phòng hoá
nghiệm của trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng và Kho Gas được sự chỉ bảo tận tình
của giáo viên hướng dẫn cùng các anh chị tại các kho, chúng em đã được bổ sung những
kiến thức hết sức hữu ích và quan trọng cho hành trang của một kĩ sư Kĩ thuật dầu khí
trong tương lai.
Mặc dù đã cố gắng nhưng chúng em cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót trong
quá trình thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô và các anh chị tại các kho đã tạo điều kiện cho
em hoàn thành tốt đợt thực tập này.

Đà Nẵng, ngày 7 tháng 5 năm 2016.

Page 1


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

CHƯƠNG 1 : PHÒNG THÍ NGHIỆM
I .THIẾT BỊ QUANG PHỔ TỬ NGOẠI KHẢ KIẾN (UV-Vis) CARY 60
1.Giới thiệu
Phổ tử ngoại và khả kiến, viết tắt là UV-VIS (ultraviolet-Visible) là phương pháp
phân tích được sử dụng rộng rãi từ lâu. Vùng sóng: tử ngoại (UV) 200 – 400 nm Khả
kiến (VIS) 400 – 800 nm Phổ tử ngoại và khả kiến của các chất hữu cơ gắn liền với bước
chuyển electron giữa mức năng lượng electron trong phân tử khi các electron chuyển từ
các obitan liên kết hoặc không liên kết lên các obitan phản liên kết có mức năng lượng
cao hơn, đòi hỏi phải hấp thụ năng lượng từ bên ngoài. Các electron nằm ở obitan liên kết
σ nhảy lên obitan phản liên kết σ * có mức năng lượng cao nhất, ứng với bước sóng 120
– 150 nm, nằm ở vùng tử ngoại xa. Các electron π và các electron p (cặp electron tự do)
nhảy lên obitan phản liên kết π * có mức năng lượng lớn hơn, ứng với bước sóng nằm
trong vùng tử ngoại 200 – 400 nm hay vùng khả kiến 400 – 800 nm tùy theo mạch liên
hợp của phân tử. Phổ tử ngoại và khả kiến liên quan chặt chẽ đến cấu tạo, nối đôi liên
hợp và vòng thơm.
2 .Phạm vi ứng dụng
Máy quang phổ tử ngoại khả kiến (Ultra Violet - Visibility Spectrum hay UV - VIS)
được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp hóa học, sinh học, công nghệ thực phẩm,
đồ uống cũng như môi trường.
Máy quang phổ UV - VIS vận hành trên cơ sở đo độ hấp thụ ánh sáng đặc trưng cũng
như độ truyền quang ở các bước sóng khác nhau, nhờ đó kết quả thu được nhanh và
chính xác, đặc biệt là việc ứng dụng thiết bị trong ngành đồ uống để xác định thành phần
vi lượng cũng như các chỉ tiêu vệ sinh an toàn thực phẩm.
Trong lĩnh vực công nghệ sản xuất bia, máy quang phổ UV - VIS được ứng dụng để
xác định độ màu của nguyên liệu cũng như bia thành phẩm, thành phần đạm amin, đường
khử, hàm lượng glucan, polyphenol, hàm lượng chất đắng và diacetyl... Ngoài ra, người
ta còn sử dụng phương pháp so màu trong phân tích các kim loại nặng như Cr, As, Zn,
Al, Hg,...
3 .Cấu tạo của phổ kế tử ngoại khả kiến
Phổ tử ngoại và khả kiến được thiết kế đo cả vùng phổ từ 200 – 1000 nm. Nó gồm hai
loại: loại 1 chùm tia đo điểm và loại hai chùm tia quét cả vùng phổ. Cả hai loại này đều
gồm các bộ phận sau:


Page 2


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

• Nguồn sáng: dùng đèn Tungsten halogen (đo vùng 350-1000nm) và đèn đơteri
hay đèn hiđro (đo vùng 200-350 nm).
• Bộ chọn sóng: dùng kính lọc hoặc bộ đơn sắc. Bộ đơn sắc dùng lăng kính chế
tạo bằng thạch anh hoặc cách tử (vạch từ 2000 – 3600 vạch/mm).
• Detectơ: phổ biến dùng tế bào nhân quang, có độ nhay và độ bền cao. Một số
máy hiện nay dùng detectơ là dàn diot gồm 1024 diot cho cả vùng tử ngoại và
khả kiến.
• Bộ phận đọc tín hiệu: loại máy đo điểm thường có bộ phận đọc tín hiệu là đồng
hồ đo điện thế hoặc bộ phận hiện số. Máy hai chùm tia dùng bộ phận tự ghi
hoặc ghép nối với máy vi tính và máy in.
4.Tiến hành
*Lựa chọn Cuvette (Absorption Cell) phù hợp: có 2 loại:
-Thạch anh (Quartz): từ 190 nm (cả vùng tử ngoại và khả kiến)
-Thủy tinh: chỉ từ 400 ÷ 1100 nm (chỉ vùng khả kiến và cận hồng ngoại)
*Chuẩn bị mẫu thí nghiệm:
-Từ dung dịch chuẩn ban đầu có nồng độ 15 mg/L ta tiến hành pha loãng dung
dịch này với những lượng nước cất tương ứng để thu được các dung dịch có nồng
độ tương ứng là 12 mg/L, 10 mg/L, 8 mg/L, 6 mg/L, 4 mg/L.
Ta sử dụng công thức sau để xác định lượng nước cất cần dùng để pha các
dung dịch có nồng độ như trên:
Trong đó: C1 = 15 mg/L là nồng độ của dung dịch chuẩn.
V1 là thể tích của dung dịch chuẩn có nồng độ 15 mg/L.
C2 là nồng độ của dung dịch cần pha mg/L.
VH 2O là lượng nước cất cần sử dụng để pha loãng dung dịch.
C1 = 15(mg / L) Ta lấy lượng dung dịch chuẩn pha loãng là: V1 = 4.0 (mg/L)
C2 (mg/L)

12.0

10.0

8.0

6.0

4.0

VH 2O (ml)

1.0

2.0

3.5

6.0

11.0

*Các chế độ vận hành máy:
1. Chế độ Scan (Scan Application): nhằm xác định bước sóng mà tại
đó mẫu có độ hấp thu mạnh nhất.
Page 3


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

-Click Start → Programs → Agilent, Cary WinUV → Scan
-Lựa chọn dãi bước sóng (có thể tham khảo) trong mục 'Start'/'Stop'
-Ở mục 'Y Mode', chọn đại lượng muốn hiển thị trên trục tung, ví dụ %T
(Transmittance) hoặc A (Absorbance). Lưu ý: A = log(1/T)
-Kiểm tra mục 'Cycle Mode' không được chọn
-Cài đặt chế độ chùm tia 'Beam Mode' phải là Dual Beam.
-Lựa chọn tốc độ quét trong mục 'Scan Rate'
-Thiết lập hiệu chỉnh đường nền (Baseline correction): Click mục Baseline
→ chọn Zero/Baseline Correction
-Start the Scan run → Cài đặt tên file và tên mẫu
2. Chế độ Simple Read: nhằm xác định độ hấp thu của mẫu ở một
bước sóng nhất định (có thể là bước sóng được xác định ở chế độ Scan
hoặc là bước sóng tham khảo được).
-Click Start → Programs → Agilent, Cary WinUV → Scan
-Lựa chọn bước sóng Zero mẫu trắng, tốc độ quét, kiểu hiển thị
-Đọc giá trị ABS %T, ghi kết quả hoặc lưu vào file hoặc in ra kết quả của
một đợt đo
-Muốn làm đợt mới → Clear Report.
3. Chế độ định lượng (Concentration): mục đích xác định nồng độ
của một mẫu bất kỳ sau khi đã thiết lập được đường hồi qui.
-Click Start → Programs → Agilent, Cary WinUV → Concentration
-Định lượng với các khai báo bước sóng, số lượng chất chuẩn, nồng độ chất
chuẩn, số lượng mẫu.
-Cách đánh giá đường chuẩn, hiển thị nồng độ
-Lựa chọn các loại đường hồi qui.
-Đo độ hấp thu của mẫu thử ở bước sóng trên, dựa vào đường chuẩn, suy ra
nồng độ của mẫu.
5.Tính toán
Đường chuẩn xây dựng bằng excel (Chế độ Scan (Scan Application):

Page 4


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

Mẫu
12.0
10.0
8.0
6.0
4.0
Absorbanc
e max
2.583
2.120
1.803
1.435
1.308
Nhận xét: Các điểm trên đường chuẩn bị lệnh dẫn đến kết quả không đúng vì các
nguyên nhân sau:
-Thao tác pha loãng dung dịch chưa chính xác
-Nước dùng để pha loãng dung dịch còn lẫn nhiều tạp chất vì trong thí nghiệm này
không dùng nước cất để pha loãng dung dịch.
Page 5


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

-Sai số do người tiến hành thí nghiệm
-Sai số do thiết bị

II.PHƯƠNG PHÁP HẤP PHỤ ĐA LỚP BET (BRUNAUER, EMMETT VÀ
TELLER)
1.Khái niệm về hấp phụ:
Hấp phụ là quá trình tụ tập các phân tử khí, hơi hoặc các phân tử, ion của chất tan lên
bề mặt phân chia pha. Bề mặt phân chia pha có thể là lỏng – rắn hoặc khí – rắn.
Có hai dạng hấp phụ là hấp phụ vật lý và hấp phụ hóa học.
- Hấp phụ vật lý là quá trình các phân tử bị hấp phụ liên kết với những tiểu
phân (nguyên tử, phân tử, các ion,..) ở bề mặt phân chia pha bởi các liên kết
Vander Walls yếu hoặc liên kết hydro. Sự hấp phụ vật lý luôn luôn thuận nghịch
và nhiệt hấp phụ không lớn.
- Hấp phụ hóa học là quá trình hình thành liên kết hóa học giữa các phân tử
bị hấp phụ và hấp phụ ngay trên bề mặt phân chia pha. Hấp phụ hóa học thường
xảy ra bất thuận nghịch và nhiệt hấp phụ rất lớn.
Đối với xúc tác phân chia thành 3 dạng:
- xúc tác mao quản lớn macropores (> 50 nm),
- xúc tác mao quản trung bình mesopores (2 – 50 nm)
- xúc tác vi mao quản micropores (< 2 nm)
2.Phương pháp hấp phụ đa lớp BET
2.1.Cơ sở của phương pháp
Mô hình hấp phụ được sử dụng cho quá trình hấp phụ đa lớp được giới thiệu bởi
Brunauer, Emmett và Teller và được biết như là phương trình BET, dựa trên những giả
thiết sau:
- Nhiệt hấp phụ (λ, q Kcal/mol) không đổi trong suốt quá trình hấp phụ.
- Các phân tử bị hấp phụ lên bề mặt xúc tác không cạnh tranh lẫn nhau, độc
lập với nhau.
- Mỗi một trung tâm hấp phụ chỉ hấp phụ một phân tử.
- Số trung tâm hấp phụ của chất hấp phụ không đổi.
- Các phân tử bị hấp phụ đầu tiên có tương tác với nhau tạo ra lực, lực này
tạo điều kiện cho lớp hấp phụ thứ 2, 3, …n.
- Tốc độ hấp phụ (ra) trên lớp hấp phụ thứ (i) bằng với tốc độ nhả hấp phụ (ra)
của lớp (i+1)

Page 6


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

- Nhiệt hấp phụ ở lớp đầu tiên là rất lớn so với nhiệt hấp phụ của những lớp
tiếp theo. Nhiệt hấp phụ từ lớp thứ hai trở lên đến lớp ngưng tụ là bằng nhau và
bằng nhiệt ngưng tụ.
ΔHd2 = ΔHd3 = … = ΔHdn
Phương trình cơ bản của BET là:

Trong đó:
v - thể tích khí (ở điều kiện tiêu chuẩn) được hấp phụ
vm - thể tích khí (ở điều kiện tiêu chuẩn) được hấp phụ trong một lớp.
c = exp(Q-L)/RT
trong đó: Q - nhiệt của quá trình hấp phụ lớp chất bị hấp phụ đầu tiên
L - ẩn nhiệt ngưng tụ của khí, bằng với nhiệt của quá trình hấp phụ ở
những lớp tiếp theo.
P/Po - Áp suất tương đối của khí
Trong phương pháp BET áp dụng cho thực tế, thể tích của khí được hấp phụ được đo
ở nhiệt độ không đổi, khi đó nó là hàm của áp suất và đồ thị được xây dựng là P/V(Po-P)
theo P/Po.
Xây dựng biểu đồ mà P/V(Po-P) phụ thuộc vào P/Po sẽ nhận được một đoạn thẳng
trong khoảng giá trị của áp suất tương đối từ 0,05 đến 0,3.
Độ nghiêng (tgα) và tung độ của điểm cắt cho phép xác định thể tích của lớp phủ đơn
lớp ( lớp đơn phân tử) Vm và hằng số C.
Diện tích bề mặt riêng xác định theo phương pháp BET là tích số của số phân tử bị
hấp phụ nhân với tiết diện ngang của một phân tử chiếm chỗ trên bề mặt vật rắn:
SBET = nmAmN (m2/g)
Trong đó:
S : diện tích bề mặt (m2/g).
nm: dung lượng hấp phụ (mol/g).
Am : diện tích bị chiếm bởi một phân tử (m2/phân tử).
N : số Avogadro (số phân tử/mol)
Hay gặp nhất là hấp phụ vật lý của N 2 ở 77K có tiết diện ngang của N 2 bằng 0,162
2
nm
Nếu Vm được biểu diễn qua đơn vị cm3/g và SBET là m2/g thì ta có biểu thức:
SBET = 4,35Vm
Việc xác định tiết diện ngang của phân tử N 2 được thực hiện với các chất rắn khác
nhau không có cấu trúc mao quản và có độ hạt khá đồng đều. Bằng phương pháp kính
Page 7


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

hiển vi điện tử người ta xác định được diện tích bề mặt, biết Vm thì suy ra tiết diện
ngang.
Đối với các chất bị hấp phụ khác, người ta đã xác định sẵn và lập bảng.
Các giá trị tiết diện ngang không phải là đại lượng tuyệt đối. chúng có thể phụ thuộc
vào nhiệt độ hấp phụ và các tính chất vật lý của bề mặt.
Chẳng hạn như, trạng thái hấp phụ của Krypton ở 77K, tức là dưới điểm tới hạn của
nó, luôn là vấn đề tranh cãi. Hoặc như, sự hấp phụ các phân tử N 2 có thể được thực hiện
theo hướng vuông góc hoặc song song với bề mặt vật rắn mà Rouquerol và các cộng sự
đã xác định theo phương pháp microcalorimet (phương pháp vi nhiệt lượng kế). Cần hết
sức thận trọng đối với những trường hợp chất hấp phụ tương tác với bề mặt. Chính vì lý
do đó người ta thường lựa chọn các khí trơ và nhiệt độ thấp để xác định bề mặt riêng.
N2 là chất khí được sử dụng nhiều nhất trong phép đo bề mặt BET. Trong một số
trường hợp cần có sự khuếch tán tốt trong các vi mao quản người ta phải chọn các phân
tử hay nguyên tử bé hơn N 2. Ar là ứng cử viên số một, sau đó là He và H 2. Tuy nhiên,
H2có thể hấp phụ hóa học, còn He thì khó thao tác thực nghiệm, do đó, việc ứng dụng
chúng bị hạn chế.
2.2 .Cấu tạo và nguyên tắc hoạt động
Mẫu được đặt trong cell đo, sau đó dùng bơm chân không cao để hút chân không đến
áp suất 10-9 mmHg nhằm loại bỏ các khí có trong mao quản của mẫu. Cho mẫu hấp phụ
các chất bị hấp phụ (ở đây dùng N2 lỏng ở 77K). Đo áp suất trước và sau khi hấp phụ, từ
đó suy ra lượng hấp phụ, ta có một điểm trên đường hấp phụ. Tiến hành cho đến khi
P/Po =1 thì ngừng hấp phụ, rồi tiến hành nhả hấp phụ, với mỗi giá trị P/Po ta lại có một
điểm trên đường nhả hấp phụ

Page 8


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

 Hướng dẫn sử dụng ASAP 2020
Bước 1: Tạo file cho mẫu cần đo
• Khởi động hệ thống
• Vào File → Open → Sample Information
Đặt tên cho mẫu cần đo trong hộp File name → Click OK → Click Yes để tạo
file
• Trong mục Sample Information:
Nhập khối lượng của mẫu (công đoạn này sẽ thực hiện sau quá trình Desgas)
• Trong mục Sample Tube:
a. Đặt tên cho Sample Tube (mục này không bắt buộc)
b.Double Click để chọn (ѵ): Use isothermal jacket; Use filler rod; Seal
Frit.
• Trong mục Degas Conditions: Chọn điều kiện Degas cho mẫu cần đo.
Page 9


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

(có thể tham khảo chi tiết tại file HDSD ASAP 2020 đặt trên Desktop của máy
này).
• Trong mục Analysis Conditions: Chọn điều kiện đo tuỳ thuộc theo mục đích.
(có thể tham khảo chi tiết tại file HDSD ASAP 2020 đặt trên Desktop của máy
này).
• Trong mục Adsortive Properties:
a. Trong cửa sổ Dosing Method: Click để chọn Normal;
b.Click để chọn mục Ideal gas law with non Ideality correction.
• Trong mục Report Options:
a. Trong cửa sổ Description: ghi chú về mẫu
b.Trong cửa sổ Show report title: đặt tên để nhận kết quả đo
c. Trong cửa sổ Selected reports: Double clic để chọn kết quả cần xuất ra
(thông thường chọn: Summary, Isotherm, BET Surface Area, t-Plot, BJH
Adsorption, BJH Desorption)
Bước 2: Thực hiện giai đoạn đuổi khí mẫu (Degas)
• Vào Unit1 → Start Degas;
• Chọn mẫu Degas trên cổng tương ứng;
• Trong trường hợp chỉ thực hiện Degas 01 mẫu thì trên cổng còn lại
phải chọn Clear để đảm bảo cổng còn lại chưa làm việc.
Bước 3: Thực hiện giai đoạn phân tích mẫu (Sample Analysis)

Vào Unit1 → Sample Analysis → chọn mẫu cần phân tích

Trong của sổ Mass: nhập khối lượng của mẫu (giá trị thu được sau
Degas)

Kiểm tra lại các thông tin của mẫu (ex: Analysis Conditions …);

Click Start để bắt đầu phân tích.
Ghi chú: đặt tên cho mẫu không được quá 08 ký tự.
4 .Kết quả
Kết quả đo của nhóm 2-4
Loại vật liệu: TNT
Bề mặt riêng BET : 91 m2/gam

Page 10


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

Đường hấp phụ và nhả hấp phụ đẳng nhiệt của N2 lỏng
Nhận xét: Dựa vào hình dạng của vòng trễ người ta có thể xác định được hình
dạng của loại mao quản trong vật liệu. TNT thuộc loại vật liệu mao quản trung bình.

Sự phân bố thể tích N2 hấp phụ theo đường kính mao quản

Page 11


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

III.MÁY ĐO HÀM LƯỢNG LƯU HUỲNH
Model: Asoma Phoenix II
Sản xuất: AMETEK Xuất xứ: Mỹ
1.Cơ sở lí thuyết :
Tia X hay X quang hay tia Röntgen là một dạng của sóng điện từ. Nó có bước
sóng trong khoảng từ 0,01 đến 10 nanômét tương ứng với dãy tần số từ 30 Petahertz đến
30 Exahertz và năng lượng từ 120 eV đến 120 keV. Bước sóng của nó ngắn hơn tia tử
ngoại nhưng dài hơn tia gamma.
Tia X có khả năng xuyên qua nhiều vật chất nên thường được dùng trong chụp ảnh y
tế, nghiên cứu tinh thể, kiểm tra hành lý hành khách trong an ninh hàng không hoặc cửa
khẩu. Tia X cũng được phát ra bởi các thiên thể trong vũ trụ, do đó nhiều kính viễn
vọng thiên văn học cũng hoạt động trong vùng phổ tia X.
Tuy nhiên tia X có khả năng gây ion hóa hoặc các phản ứng có thể nguy hiểm cho sức
khỏe con người, do đó bước sóng, cường độ và thời gian chụp ảnh y tế luôn được điều
chỉnh cẩn thận để tránh tác hại cho sức khỏe.
Bảng phân chia các bức xạ sóng điện từ/ánh sáng[1]

Tên

Bước sóng

Tia gamma

Tia X

≤ 0,01 nm
0,01 nm - 10
nm

Tia tử ngoại

10 nm - 380 nm

Ánh sáng nhìn
thấy

380 nm-700 nm

Tần số (Hz)

Năng
lượng photon (eV)

≥ 30 Ehz

124 keV - 300+ GeV

30 EHz - 30 PHz

124 eV - 124 keV

30 PHz - 790 THz

3.3 eV - 124 eV

790 THz - 430
THz

1.7 eV - 3.3 eV

Page 12


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

Tia hồng ngoại

700 nm - 1 mm

430 THz - 300
GHz

1.24 meV - 1.7 eV

Vi ba

1 mm - 1 met

300 GHz - 300
MHz

1.7 eV - 1.24 meV

Radio

1 mm-100000 km

300 GHz - 3 Hz

12.4 feV - 1.24 meV

2.Công dụng:
Theo tiêu chuẩn ASTM D 4294-2008 dùng xác định lưu huỳnh trong xăng dầu, dầu
thô, dầu FO, dầu nhờn, dung môi…
3. Hướng dẫn sử dụng:
• Khởi động máy và phần mềm ASOMA PHOENIX II
Chờ đến khi đèn X-Ray bật sáng
• Chuẩn bị mẫu
Lắp màn phim vào cốc đựng mẫu
Rót mẫu vào cốc đến vạch định mức
Mở nắp khay đựng mẫu và đặt mẫu vào đúng vị trí
Đóng nắp khay đựng mẫu
• Chọn đường chuẩn
Tùy thuộc hàm lượng S dự kiến trong mẫu sẽ chọn đường chuẩn phù hợp
Nếu lập đường chuẩn mới thì chọn “Make a new one”
• Nhấn nút “ANALYZE”
• Trả và nhận kết quả đo
Máy phân tích sẽ hiển thị và in kết quả ra giấy
• Tắt phần mềm
• Tắt máy (Start/Turn off computer)

Page 13


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

Page 14


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

4.Kết quả :

Page 15


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

CHƯƠNG 2: KHO XĂNG KHUÊ MỸ
I. GIỚI THIỆU CHUNG :
Kho xăng Nước Mặn là một trong những kho xăng lớn nhất của miền Trung hiện nay,
là một địa điểm tiếp nhận và phân phối các loại sản phẩm của công ty xăng dầu khu vực 5

Cảng Mỹ Khê

Kho Khuê Mỹ

Phân phối
trên thị trường

Kho xăng dầu Khuê Mỹ tồn chứa và phân phối chủ yếu 2 sản phẩm chính là Xăng
(A92, A95, E5) và DO(DO 0,05S). Các sản phẩm này chủ yếu được nhập từ nhà máy lọc
dầu Dung Quất và nước ngoài thông qua đường biển, được vận chuyển bằng tàu thủy,
đến cảng biển Mỹ Khê, được bơm hút vào thông qua các hệ thống ống mềm màu đen, và
sau đó được đưa vào kho Khuê Mỹ bằng hệ thống đường ống ngầm dưới lòng đất. Hiện
nay, hệ thống này gồm 4 ống, có kích thước ống là 12inches.Trong đó có 2 ống nhập vào
bể và 2 ống xuất bể.
Hệ thống làm việc của kho Xăng Dầu Khuê Mỹ gồm có:
 Khu vực phân phối sản phẩm
 Hệ thống tồn chứa (hệ 6 bể và hệ 4 bể)
 Hệ thống bơm
 Hệ thống chữa cháy
 Phòng điều khiển trung tâm
Kho xăng dầu Khuê Mỹ gồm có tổng cộng là 10 bể chứa xăng và dầu DO 0,05S.
Trong đó:
KHU 6 BỂ: B1, B2, B3, B4, B5, B6

KHU 4 BỂ : B7, B8, B9, B10
Page 16


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

KHU 4 BỂ:
Các bể 6, 7, 8, 9, 10 được lắp đặt hệ thống tự động hóa trong việc đo nhiệt độ và chiều
cao mực chất lỏng của sản phẩm có trong bể.
Toàn cảnh sơ đồ dâu chuyền đường đi xuất và nhập hàng

Page 17


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

II. QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ VÀ CÁC THÔNG SỐ KĨ THUẬT
Kho xăng dầu Khuê Mỹ gồm 10 bể chứa với tổng thể tích là 76000 (m 3) gồm có 4 bể
thể tích 12500 (m3), 1 bể thể tích 10000 (m3), 2 bể thể tích 5000 (m3), 3 bể thể tích 2000
(m3), đánh số thứ tự B1, B2, B3, B4, B5, B6, B7, B8, B9, B10. Ngoài ra có 2 bể chứa
nước. Việc chứa loại sản phẩm nào là phụ thuộc vào việc xuất nhập đơn hàng, có thể là
xăng cũng có thể là dầu. Khi đó người ta phải làm sạch bể bằng cách đẩy nước vào hệ
thống ống dẫn liên quan vào bể chứa. Sau khi thu phần cặn nhiên liệu, nước thải được
chuyển qua khu xử lí nước thải để làm sạch nước, phần cặn được loại bỏ, phần nước
trong được thu hồi để làm nước chữa cháy. Sau khi làm sạch bể thì nhiên liệu cần chứa sẽ
được bơm trực tiếp từ khu nhận hàng.

Page 18


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

1. Cấu tạo các bồn chứa:
- Thân bể:
Hình trụ, 1 lớp, được chế tạo do nhiều miếng thép tấm (dày khoảng 2 phân) hàn lại,
kết cấu chiều dày thành bể tăng dần từ trên xuống dưới do chịu lực thủy tĩnh tăng dần
theo chiều sâu của xăng dầu (phía gần đáy bể có thể 12mm và trên nóc bể có thể khoảng
4÷5mm). Ở vành đai trên thành bể có 1 vòng ống màu xanh bao quanh, đó là ống chữa
cháy bằng nước khi có sự cố cháy bất ngờ, ngoài ra nó còn có chức năng phun nước làm
mát vành đai bể (do nhiệt độ bên trong cũng như bên ngoài của vành đai bên trên cao hơn
so vơi ở các vị trí khác). Ngoài ra còn có 2 ống nhỏ có nhiệm vụ dẫn nước hoặc bột đi
chữa cháy khi có sự cố (ống màu xanh là dẫn nước, ống màu đỏ là bột chữa cháy). Ở phía
dưới thân bể có một lỗ gọi là lỗ người chui có tác dụng để người công nhân vào kiểm tra,
sửa chữa, bảo dưỡng, làm vệ sinh…
- Mái bể:
Hình nón, từ bên trong nhìn lên như hình mái dù, đối với hệ thống bể cũ của kho thì
thanh trụ chống ở giữa không thể rút đi, còn hệ thống bể mới thì thanh trụ đó có thể rút đi
khiến không gian bể chứa được cải thiện hơn. Tác dụng của bể chứa là đảm bảo sự ổn
định tương đối của sản phẩm trong quá trình xuất nhập xăng dầu, trên mái bể có các thiết
bị chính :
• Xupáp thở: 2 cái, được lắp trên mái bể, hoạt động như mọi xupap khác và
có tác dụng điều chỉnh áp suất trong phạm vi cho phép mà bể có thể chịu
được trong quá trình xuất nhập, tồn chứa. Cụ thể là vào mùa mưa thì xăng
hoặc dầu bị co lại nên xupap có nhiệm vụ hút không khí vào để tránh hiện
tượng méo bồn, còn thời điểm khác nó lại thở ra. Dưới bộ phận khống chế
áp suất trong xupap, tiếp giáp với mái bể thường lắp lưới ngăn cháy ngăn
không cho hút tia lửa cháy từ ngoài vào.
• Lỗ đo: tại đây có thể lấy mẫu xăng dầu hoặc đo nhiệt độ hay đo mức chất
lỏng trong bể chứa bằng tay .

Page 19


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

• Lỗ chiếu sáng: có tác dụng chiếu sáng khi kiểm tra, bảo dưỡng, hay làm vệ
sinh.
• Hệ thống đo chiều cao tự động: dùng để đo mức trong bể 1 cách chính xác
khi cần đối chiếu, so sánh khi kiểm định.
• Thanh chống sét: có 4 hoặc 6 cây, dùng để tránh hiện tượng sét đánh gây
cháy nổ vào mùa mưa dông.
• Cầu thang bể: lắp bên ngoài bể, bám theo thân bể, dẫn từ đáy bể lên mái bể,
nó phục vụ cho việc đi lại cho các thao tác trong kho.
Thiết kế của supat thở



Đáy bể:

Page 20


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

Có hình nón ngửa, được đặt trên phần nền móng được gia cố để tránh sụt lún, bên
ngoài đáy bể (vành đai dưới của thân bể) có 4 đường ống xuất nhập (2 nhập, 2 xuất) được
đánh số, trên các đường ống về phía thành bể có 4 van tay tương ứng để xuất nhập xăng
dầu, ngoài ra có van nhỏ (van xả nước) có nhiệm vụ sau khi xăng dầu vào bể, ổn định
xong thì mở van để lượng nước trong dầu được xả ra. Trong đáy bể có các phần chính
sau :
• Rốn bể: là nơi hút vét xả nước cặn, thường đặt ở giữa đáy bể, nó được nối với
một ống rà sát với vị trí thấp nhất của đáy bể thông ra bên ngoài có đường ống
để hút vét, tiêu cặn của kho.
• Tấm lác: điểm đo dầu, làm điểm đo mốc chiều cao bể, nó thường được hàn vào
đáy bể và gần với thành bể nằm phía dưới theo phương thẳng đứng với lỗ đo
dầu.
- Để xác định mức xăng dầu người ta sử dụng dụng cụ đo là một thước đo (15-20m)
có bôi chất chỉ thị. Chất này bám vào thước khi gặp dầu sẽ đổi màu. Dựa vào độ dài theo
phần đổi màu, và kích thước của bể ta có thể xác định được lượng sản phẩm trong bể.
- Để đo nhiệt độ xăng dầu trong bể ta có thể dùng thước đo bằng tay, hoặc bằng cặp
nhiệt kế.

Page 21


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

Page 22


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

Bể trụ đứng có máu phao
Page 23


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

2.Hệ thống ống dẫn và van:
• Hệ thống ống dẫn trong khu vực kho bao gồm :
• Ống dẫn từ cảng vào
• Ống dẫn vào bể
• Ống liên hệ giữa các bể
• Ống dẫn đến trạm bơm và từ trạm bơm cấp cho các ôto stec
Nguồn hàng cấp cho kho chủ yếu được dẫn từ cảng vào và được bơm vào kho bằng
4 ống từ cầu tàu vào kho.
Quá trình nhập kho:
Hệ thống ống nhập hàng từ cảng biển về kho được đặt ngầm dưới đất, lúc mới thi
công phải làm sạch sau đó dùng nhựa đường quét lên 1 lớp, rồi dùng 1 dây thuỷ tinh
(chịu nhiệt, cách điện, không cháy) quấn vào trong đó, tiếp tục dùng nhựa đường quét lên
cho đến khi được 3,4 lớp thì mới đem sử dụng. Việc làm đó có mục đích bảo vệ cho
đường ống ngầm giảm tối đa bị hư hại do yếu tố bên ngoài tác động khi làm việc trong
môi trường dưới đất. Các loại ống dẫn trong kho (4,6,8,10,12,14 inch)
Quá trình xuất kho:

Page 24


THỰC TẬP CÔNG NHÂN

Kho dùng 2 máy bơm lớn để xuất chủ yếu cho tàu nhỏ, kho khác và 12 bơm nhỏ
xuất cho ôto stec. 14 bơm này đều là bơm li tâm hút sản phẩm từ bể để xuất ra. Trong hệ
thống các bể mới đều trang bị hệ thống tự động nối với trạm cấp phát (acoload :12 cái) và
phòng điều khiển trung tâm. Máy bơm cấp cho ôto stec: 12 ống xuất 4 inch. Trên các
máy bơm đều có các van áp suất và van 1 chiều, trong kho có 4 loại van (van áp suất, van
tay, van nhanh và van 1chiều, trong đó van tay là đặt trên các đường ống cố định.) Tuỳ
theo điều kiện hiện tại, yêu cầu xuất nhập kho, nhu cầu thị trường mà việc xuất nhập thay
đổi. Quy trình tồn chứa trong bể cũng theo đó mà thay đổi, một bể không nhất thiết phải
chứa một loại sản phẩm, khi đang chứa xăng mà muốn chuyển sang chứa dầu thì phải qua
công đoạn làm sạch bể.
Khi cấp cho ôto thì người ta phải lấy bình mẫu (2 bình) lưu, được niêm lại, một bình
giao cho khách hàng còn một bình lưu lại kho để đối chứng chất lượng, nhằm khắc phục
trường hợp xảy ra sự cố trong quá trình sử dụng.
• Các loại van trong kho :
Trong kho có tất cả 4 loại van:
• Van áp suất
• Van một chiều
• Van điều khiển nhanh
• Van tay: thường thấy trên các đường ống nhập xuất trong bể.
Van áp suất:
Cơ chế hoạt động và chức năng: chống lại nguy hiểm do áp suất tăng cao bằng cách
tự động mở ở một áp suất định trước và do đó làm giảm áp suất được bố trí trên từng
đoạn ống giữa các van. Khi áp suất trong đường ống tăng thì nó mở van xả hơi. Van áp
suất thấy trong kho ở 2 dạng : trên bồn bể nó đóng vai trò là xupáp thở, trên đường ống
bơm nó nằm trên van một chiều.
Van một chiều:
Có kết cấu bảo đảm chỉ cho chất lỏng trong ống chảy theo một chiều và tự động
đóng lại khi chất lỏng chảy theo chiều ngược lại.
Page 25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×