Tải bản đầy đủ

tiểu luận PPNCKHCN (autosaved) (1)

MỤC LỤC
Contents

1


MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Trải qua hàng ngàn năm văn hiến, dân tộc Việt Nam đã xây đắp nên truyền
thống hiếu học. Tục ngữ có câu: “Nửa bụng chữ bằng một hũ vàng” là biểu hiện
ham muốn có học thức của dân tộc ta. Bài văn bia đầu tiên ở Văn Miếu Quốc Tử
Giám dưới thời vua Lê Thánh Tông có câu: “ Hiền tài là nguyên khí quốc gia,
nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao; nguyên khí suy thì thế nước yếu
rồi xuống thấp ”
Kế thừa truyền thống ấy, Hồ Chí Minh từ Việt Nam đi ra thế giới, hòa nhập
vào đại dương trí tuệ của thời đại, đã chắt lọc tinh hoa của nhân loại, vận dụng
sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta,
từng bước xây dựng nền giáo dục mới Việt Nam. Sự cống hiến của Người về giáo
dục cả mặt lý luận và chỉ đạo thực tiễn là vô giá, đem lại thành tựu và niềm vinh
quang cho nền giáo dục mới Việt Nam, tạo nền tảng đưa dân tộc ta sánh vai cùng
các cường quốc năm châu trong giai đoạn hiện nay.

Từ đó ta thấy, giáo dục là một lĩnh vực hết sức quan trọng cần được quan tâm
hàng đầu đối với sự nghiệp phát triển của mỗi cá nhân, tập thể, cộng đồng dân tộc
và cả nhân loại ở trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào. Hiện nay, giáo dục đã và đang
được coi là vấn đề sôi động, cấp bách và được coi là nhân tố quyết định đến tương
lai đất nước. Nhận thức rõ vấn đề hiện nay, Đại hội VIII của Đảng chỉ rõ, cùng
với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, nhằm nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Trong thời gian qua, với nhiều sự cố gắng, nỗ lực của Đảng, Nhà nước và nhân
dân ta đã đánh dấu một mốc son mới trong công cuộc chấn hưng nền giáo dục
nước nhà. Vì vậy, đến nay chúng ta đã xây dựng được một nền giáo dục tiên tiến,
bắt nhịp với nền giáo dục thế giới. Đồng thời, chất lượng đào tạo đại học hiện nay
2


ở nước ta đã được củng cố và có những thành tựu hết sức to lớn. Sự linh hoạt và
lĩnh hội kiến thức của sinh viên ngày càng nhạy bén. Tỷ lệ sinh viên ra trường với
bằng giỏi, khá tăng lên và nhận được việc làm ngay sau khi ra trường. Song bên
cạnh đó, nền giáo dục nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập mà ngay một lúc
không thể giải quyết được. Như số lượng sinh viên ra trường phải làm trái ngành,
không xin được việc vẫn còn tồn tại nhiều. Ngoài ra, chất lượng và đào tạo chuyên
môn chưa thực sự được nhuần nhuyễn và có hiệu quả…
Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “ Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về
giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học hiện nay ”
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng giáo
dục Hồ Chí Minh. Đó là:
• Nhóm công trình là sách
- Những lời Bác Hồ dạy thanh thiếu niên và học sinh (1993), NXB Thanh
Niên, Hà Nội
- Nguyễn Khánh Bật (1998), Những bài giảng về môn tư tưởng Hồ Chí
Minh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Văn Tùng (1999), Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên,
NXB Thanh Niên, Hà Nội.
- Đoàn Văn Đàn (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, Nxb Chính tị
quốc gia, Hà Nội.
Như vậy, những công trình trên đã đề cập đến nội dung, phương pháp và
mục tiêu của giáo dục trong tình hình hiện nay và đưa ra những giải pháp để vận
dụng vào tình hình thực tế của nền giáo dục.

3



• Nhóm công trình là các bài báo đăng trên Tạp chí
- Nguyễn Khánh Bật (2001), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – đào
tạo”, Tạp chí giáo dục.
- Bùi Đình Phong (2004), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng
Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản.
- Phạm Hồng Phi (2013), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục
đào tạo và vấn đề đổi mới phương pháp dạy học hiện nay”, Bản tin khoa học và
giáo dục.
Như vậy, những công trình này đã đề cập nhiều khía cạnh khác nhau với
nội dung khá đa dạng về tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, chưa đi sâu vào chất lượng đào tạo đại học hiện nay. Do đó, tôi
đã nghiên cứu đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích
Mục đích của đề tài là nghiên cứu những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ
Chí Minh về giáo dục, nắm được tầm quan trọng của giáo dục và đưa ra những
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Một là, tìm hiểu nguồn gốc hình thành và quá trình phát triển tư tưởng Hồ
Chí Minh về giáo dục.
Hai là, hệ thống hóa những nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về
giáo dục.
Ba là, chỉ ra thực trạng chất lượng giáo dục đại học và góp phần đưa ra một
số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học hiện nay theo tư tưởng Hồ
Chí Minh về giáo dục.
4


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Đề tài tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và sự vận
dụng tư tưởng đó nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học nước ta hiện nay.
4.2. Phạm vi
Đề tài vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo đại học hiện hiện nay giai đoạn 2010 đến năm 2015.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Vận dụng tư tưởng của Hồ Chí minh làm cơ sở lý luận.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Quán triệt phương pháp duy vật lịch sử và phương pháp duy vật biện
chứng. Đồng thời kết hợp với một số phương pháp khác như: phương pháp hệ
thống, phương pháp phân tích – tổng hợp; phương pháp phân loại và phương pháp
logic – lịch sử để làm rõ nội dung đặt ra của đề tài.
6. Đóng góp của đề tài
Đề tài đã tìm hiểu thực trạng giáo dục và chất lượng đào tạo đại học ở Việt
Nam hiện nay. Tìm ra những nguyên nhân dẫn tới thực trạng đó và đồng thời đề
xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo đại học
hiện nay.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, bài nghiên
cứu khoa học có 2 chương và 5 tiết.

5


NỘI DUNG
Chương 1: TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC
1.1.Nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về
giáo dục
1.1.1. Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
1.1.1.1. Truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của dân tộc
Việt Nam là một quốc gia có nền văn hiến, có nền giáo dục lâu đời với
những ngôi sao rực sáng trên “Bầu trời văn hóa giáo dục” như: Chu Văn An,
Nguyễn Bỉnh Khiêm... nhân dân ta lại có truyền thống hiếu học, cần cù, tôn sư
trọng đạo. Trong văn học dân gian, có nhiều câu tục ngữ, ca dao, dân ca và truyện
kể nói về truyền thống này:
Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy
Người Việt chúng ta luôn đề cao vai trò của người thầy, vai trò của giáo
dục. Thầy sẽ dạy cho trò đạo lý làm người, bởi “Tiên học lễ - Hậu học văn”. Học
là để làm người, rồi sau đó giúp đời, giúp người, giúp nước.
Đối với mỗi cá nhân, học thức sẽ giúp con người hình thành và phát triển
nhân cách theo đúng chữ “con người”. Còn đối với mỗi quốc gia, dân tộc thì học
thức được coi là tài sản vô giá. Bia Văn Miếu (Hà Nội) có ghi: Hiền tài là nguyên
khí của quốc gia, nguyên khí mạnh thì nước thịnh và lên cao, nguyên khí yếu thì
thế nước vong và yếu.
Bên cạnh truyền thống dân tộc, thì truyền thống quan hệ gia đình cũng góp
phần quan trọng vào việc hình thành tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh. Hồ Chí
Minh đã được sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, yêu
nước. Ông ngoại Hồ Chí Minh – Hoàng Xuân Đường là một nhà giáo có uy tín,
6


giàu tình yêu thương, biết cưu mang học trò nghèo học tập. Cha đẻ của Người –
cụ Nguyễn Sinh Sắc cũng là một người có ý chí học tập. Từ cụ Hoàng Xuân
Đường đến ông Nguyễn Sinh Sắc và chị gái Nguyễn Thị Thanh đều làm nghề dạy
học. Đây là nền tảng vô cùng quan trọng góp phần hình thành nên tư tưởng giáo
dục của Người.
1.1.1.2. Tư tưởng giáo dục nhân loại
⸭ Phương Đông
Trong quá trình hình thành và phát triển giáo dục của mình, Hồ Chí Minh
cũng chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng giáo dục nhân loại, tiêu biểu đó là tư
tưởng của Khổng Tử. Khổng Tử cho rằng, bản tính con người là lương thiện, lúc
mới sinh ra mọi người đều như nhau, song qua giáo dục và tự rèn luyện sẽ dẫn tới
những thân phận khác nhau. Chính vì vậy, ông rất coi trọng giáo dục và chính
Khổng Tử đã đưa ra câu nói nổi tiếng: “Học không biết chán, dạy không biết
mỏi”, bản thân ông cũng là tấm gương tự học đáng để người đời sau học tập. Sau
này, Hồ Chí Minh cũng có một bài thơ viết rất rõ về vai trò của giáo dục và phần
nào cũng thể hiện được tử tưởng giáo dục của Khổng Tử:
Khi ngủ ai cũng như lương thiện
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền
Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên.
Đánh giá vị trí học thuyết của Khổng Tử, năm 1927 trong bài báo Khổng
Tử, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện

7


mình về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử và về mặt cách
mạng thì đọc các tác phẩm của Lê-nin”.1
Khi tiếp thu các tư tưởng nhân ái bao la của các bậc tiền bối, Hồ Chí Minh
không chỉ gắn tình yêu của mình vào con người, vào đồng loại, rộng lượng đối với
kẻ thù, chấp nhận độc thoại giữa các chính kiến, mà còn quan tâm sâu sắc hơn đến
việc thực hiện, việc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và
con người. Yêu con người, Hồ Chí Minh đã tìm mọi phương thức mang lại tự do
cho con người. Triết lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Người chính là
hệ quả của cách tiếp thu lòng nhân ái bao la của các bậc đại trí, đại nhân tiền bối.
⸭ Phương Tây
Trên hành trình đến với văn hóa nhân loại, Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng
của văn hóa phương Tây trước tiên và có lẽ nó cũng để lại những dấu ấn sâu đậm
trong tư tưởng và phong cách văn hóa của Người.
Trong ba mươi năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Hồ Chí Minh sống
chủ yếu ở châu Âu nên cũng chịu ảnh hưởng rất sâu rộng của nền văn hóa dân chủ
và cách mạng của phương Tây. Khi tiếp thu các nền văn hóa, Người bao giờ cũng
phân tích các yếu tố giá trị toàn nhân loại và vĩnh cửu. Người đã làm giàu trí tuệ
của mình bằng tinh thần văn hóa nhân loại. Người là tượng trưng cho sự kết hợp
hài hòa giữa các nền văn hóa và tỏa ra một nền văn hóa của tương lai.
Hồ Chí Minh đã sớm bị hấp dẫn bởi lý tưởng “Tự do, bình đẳng, bác ái”
của đại cách mạng Pháp và muốn đi sang Pháp để tìm hiểu xem những gì ẩn đằng
sau ba từ ấy. Và Người đã nhận ra rằng nền Cộng hòa Pháp chủ yếu được xây
dựng trên quan điểm giá trị về con người cá nhân, nhất là về quyền tự do, bình
đẳng của cá nhân theo tinh thần cách mạng tư sản Pháp.

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.3, tr.454.

8


Như vậy, con đường Hồ Chí Minh tiếp biến các giá trị văn hóa nhân loại là
lựa chọn, tích hợp những nhân tố tiến bộ, hợp lý, cải biến nó cho phù hợp với
truyền thống văn hóa dân tộc và nhu cầu đất nước để tạo ra cách làm riêng, không
vay mượn nguyên xi một mô hình ngoại lai nào, tức là tiếp thu trên cơ sở phê
phán, tiếp nhận gắn liền với đổi mới, theo các tiêu chí: “Dân tộc, Dân chủ và Nhân
văn”.
1.1.1.3. Tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin về giáo dục
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Mác – Ăngghen đã đưa ra
quan điểm “phát triển con người toàn diện”. Một trong những yêu cầu để thực
hiện điều đó là phải chú trọng, quan tâm đến giáo dục con người.
Kế thừa tư tưởng giáo dục của Mác – Ăngghen, sau này, Lênin đã đưa ra
một khẩu hiệu nổi tiếng: “Học, học nữa, học mãi”. Hồ Chí Minh đã tiếp thu và
thấy rằng, khẩu hiệu đó chính là một lời khuyên, một quan niệm đúng đắn. Điều
quan trọng mà việc học mang lại chính là tri thức, một tri thức lớn lao, tri thức quý
giá của nhân loại. Nó là điểm đến có giới hạn đối với sức khỏe của mỗi người mà
họ đã tự đặt mục tiêu cho mình, để có sự cố gắng học thật nhiều hơn nữa. Khẩu
hiệu này đến nay đã được đưa vào rộng rãi trong các trường học ở nước ta.
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục ảnh hưởng từ rất nhiều yếu tố
quê hương, gia đình, dân tộc. Nhưng quan trọng nhất là chủ nghĩa Mác – Lênin.
Chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định vai trò to lớn của giáo dục và đào tạo đối
với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và sự tác động trở lại của phát triển kinh tế
xã hội đối với giáo dục và đào tạo, chỉ rõ ý nghĩa lớn lao và vai trò quyết định của
giáo dục và đào tạo đối với việc phát triển con người, nguồn lực con người nói
chung và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của mỗi quốc gia nói riêng.
Điều này, đặc biệt có ý nghĩa thiết dụng đối với những nước thực hiện sự nghiệp

9


công nghiệp hóa, hiện đại hóa đát nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa như
Việt nam hiện nay.
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo
dục
1.1.2.1. Giai đoạn 1890 – 1910: Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của môi trường
gia đình và nhà trường
Lúc còn ở quê nhà, Người trực tiếp học thân phụ của mình. Sau này, khi
vào trường Pháp – Việt, đặc biệt là trường tiểu học Đông Ba và trường Quốc học
ở Huế 99/1906-5/1908) Hồ Chí Minh được tiếp xúc với nền giáo dục Pháp – một
nền giáo dục “nhồi sọ”, “biến học sinh thành con vẹt” và “đần độn hóa” học trò
với tất cả tính thực dụng và đặc lợi của nó.
Tháng 5 năm 1908 do tham gia phong trào chống thuế ở miền Trung,
Nguyễn Tất Thành bị buộc thôi học. Từ đây, Người bắt đầu một thời kỳ mới, vừa
kêt hợp chặt chẽ công việc cách mạng vừa kết hợp với dạy học, bắt đầu từ “thầy
giáo Nguyễn Tất Thành” ở trường Dục Thanh (Phan Thiết).
Rời trường Dục Thanh, thầy giáo Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn rồi đi ra
nước ngoài. Từ thầy giáo Nguyễn Tất Thành (ở Phan Thiết) đến nhà cách mạng
Nguyễn Ái Quốc (ở Pháp), đồng chí Vương, Lý Thụy (ở Trung Quốc), Thào Chín
(ở Thái Lan), rồi Già Thu ở (Pắc Bó). Ở bất cứ đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào,
lãnh tụ Hồ Chí Minh đều kết hợp chặt chẽ những công việc cách mạng với giáo
dục. Với người, cách mạng là giáo dục, giáo dục là để phục vụ cách mạng.
1.1.2.2. Giai đoạn 1911 – 1930: Hồ Chí Minh đến với tư tưởng giáo dục chủ
nghĩa Mác Lênin
Trong quá trình tìm đường cứu nước (1911 – 1920), Hồ Chí Minh đã gắn
cuộc chiến tranh giành độc lập với cuộc chiến tranh chống chế độ giáo dục nô lệ,
đòi một nền giáo dục dân tộc tiến bộ.
10


Bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi tới hội nghị Vecsai (1919) có
điều khoản đòi: “Tự do học tập thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở
tất cả các tỉnh cho người bản xứ”. 2 Hồ Chí Minh đã lên án, tố cáo tội ác mọi mặt
của bọn thực dân ở các nước thuộc địa, buộc tội đanh thép chính sách ngu dân của
chúng: “Nhân dương Đông Dương khẩn khoản đòi mở trường học vì trường học
thiếu một cách trầm trọng. Mỗi năm, vào kì khai giảng mỗi phụ huynh phải đi gõ
cửa, chạy chọt mọi nơi than thế, có khi chịu trả gấp đôi tiền nội trú nhưng vẫn
không tìm được chỗ cho con học. Và hàng ngàn trẻ em phải chịu ngu dốt vì nạn
thiếu trường học…Làm cho dân ngu để trị, đó là chính sách mà các nhà cầm
quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dụng nhất”3
Như vậy, thời kỳ 1911 – 1930, Hồ Chí Minh từ nhận thức thực tiễn đã tiếp
thu quan điểm giáo dục Mác – Lênin làm cơ sở quan trọng để xây dựng quan điểm
của Đảng trong việc xây dựng một nền giáo dục cho toàn dân, theo đường lối của
giai cấp công nhân, phục vụ quyền lợi chủ yếu cho nhân dân. Từ đây tư tưởng
giáo dục của Hồ Chí Minh đã trở thành đường lối giáo dục của Đảng Cộng sản
Việt Nam và chủ đạo trong suổ quá trình cách mạng Việt Nam.
1.1.2.3. Giai đoạn 1930 – 1945: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục tiếp tục
phát triển, phục vụ đắc lợi cho cuộc chiến tranh giành chính quyền
Chương trình hành động của Đảng năm 1932 đã nêu cụ thể những yêu sách
về giáo dục như sau: “Hết thảy con cái các nhà lao động được học cho tới 16
tuổi, bằng tiếng mẹ đẻ…, các trường học nghề, bách nghề giáo dục cho bọn nhà
nước và bọn chủ chịu phí tổn”
Năm 1934, sau khi thoát khỏi nhà tù Hồng Kông của thực dân Anh mà
Người bị giam cầm bất hợp pháp trong gần 2 năm (6/1931 – 1/1933) Hồ Chí Minh
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.2, tr.435.
3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.3, tr.98

11


đến Liên Xô. Phần lớn trong thời gian sống ở đất nước Xô Viết, Hồ Chí Minh
được bố trí học tập, nghiên cứu.
Trong cuộc đấu tranh chống sự thống trị của bọn thực dân, đế quốc cho xây
một xã hội độc lập, tự do, văn minh, tiến bộ, Hồ Chí Minh giành cho giáo dục một
vị trí quan trọng. Chương trình Việt Minh (1941) mà người chủ trì soạn thảo ghi
rõ:
… “C – Văn hóa giáo dục:
1. Hủy bỏ nền giáo dục nô lệ. Gây dựng nền quốc dân giáo dục, cưỡng bức
giáo dục từ bậc sơ học. Mỗi dân tộc có quyền dung tiếng mẹ đẻ trong nền giáo
dục dân tộc mình.
2. Lập các trường chuyên môn huấn luyện chính trị, quân sự, kĩ thuật để
đào tạo các lớp người khác.
3. Khuyến khích và giúp đỡ các hạng trí thức được phát triển tài năng của
họ
4. Khuyến khích và giúp đỡ nền giáo dục quốc dân, làm cho nòi giống càng
thêm vững mạnh.
D – Đối với các tầng lớp nhân dân
…4. Học sinh. Bỏ học phí, bỏ khai sinh hạn tuổi, mở thêm trường học, giúp
đỡ học trò nghèo.
E – Xã hội
…Lập ấu trì viên để chăm nom trẻ con”4

4 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.4, tr.584

12


1.1.2.4. Giai đoạn 1945 – 1969: Hình thành một triết lý Hồ Chí Minh về giáo
dục
Ngày 8/9/1945, Người ký ba sắc lệnh quan trọng về giáo dục:
1.
2.
3.

Sắc lệnh 17/SL, thành lập Nha bình dân học vụ.
Sắc lệnh 19/SL, quy định mọi làng phải có lớp học bình dân.
Sắc lệnh 20/SL, cưỡng bách học chữ quốc ngữ không mất tiền.

Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn sau khi nước dành được độc lập, Người
đã nhanh chóng chỉ đạo xây dựng một nền giáo dục mới với một hệ thống các
quan điểm về tổ chức và quản lý giáo dục đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Những
quan điểm đó là:
- Dân chủ hóa về mục tiêu phát triển
- Dân tộc và đại chúng hóa về tổ chức đào tạo
- Nhân văn hóa về nội dung đào tạo
- Khoa học hóa về phương pháp đào tạo
Năm 1950, trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, giáo dục cần có sự chuyển
hướng mạnh mẽ. Vì vậy, Đảng và chính phủ đã quyết định tiến hành cuộc cải cách
giáo dục lần thứ nhất để xây dựng nền giáo dục mới – giáo dục dân chủ nhân dân.
Năm 1954, sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng và tiến hành xây dựng
chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước lại tiến hành cuộc cải cách giáo dục lần thứ
hai (1956) để phát triển giáo dục dân chủ nhân dân tiến lên xây dựng nền giáo dục
xã hội chủ nghĩa.
Thời kỳ 1945 – 1969 cũng là thời kỳ Hồ Chí Minh tiếp tục hoàn thiện tư
tưởng giáo dục của mình trên mảnh đất hiện thực của công cuộc kháng chiến –
kiến quốc của cả dân tộc.
1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
1.2.1. Hồ Chí Minh phê phán giáo dục thực dân phong kiến
13


Thứ nhất, Người phê phán nền giáo dục phong kiến là nền giáo dục kinh
viện xa rời thực tiễn, coi kinh sách của thánh hiền là đỉnh cao của tri thức. Giáo
dục phong kiến hướng tới kẻ sỹ, người quân tử, bậc trượng phu, phụ nữ bị tước
quyền học hành. Trong nền giáo dục thực dân, không mở mang trí tuệ, thực hiện
ngu dân. Đó là nền văn hóa đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát.
Thứ hai, Người phê phán nền giáo dục thực dân không mở mang trí tuệ, mà
thực hiện ngu dân để dễ bề cai trị. Đó là nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy
hiểm hơn cả sự dốt nát. Hồ Chí Minh tố cáo, phê phán mạnh mẽ chính sách ngu
dân của Pháp: “Khi xưa, Pháp cai trị nước ta, chúng thi hành chính sách ngu dân.
Chúng hạn chế mở trường học, chúng không muốn cho dân ta biết chữ để dễ lừa
dối dân ta và bóc lột dân ta”.5
Thứ ba, nói về nền giáo dục này, Hồ Chí Minh mỉa mai về nội dung, “chỉ
được phổ cập một cách quá bủn xỉn và nhỏ giọt”, về trường sở và người dạy:
Trường học rõ ràng là thiếu nhiều giáo viên chưa đủ tư cách để dạy”. Người đã
chỉ bản chất nền giáo dục thuộc địa ở Việt Nam: trường học lập ra không phải để
giáo dục cho thanh niên An Nam một nền học vấn tốt đẹp và chân thực, mở mang
trí tuệ và phát triển tư tưởng cho họ mà trái lại càng làm cho họ đần độn thêm…
Nền giáo dục ấy dạy cho thanh niên khinh rẻ nguồn gốc dòng giống mình. Nó làm
cho thanh thiếu niên trở nên ngu ngốc… Vấn đề nào có liên quan đến chính trị, xã
hội và có thể làm cho người ta tỉnh ngộ đều bị bóp méo và xuyên tạc đi… Nói tóm
lại, trường học thật là tương xứng với chế độ đã khai sinh ra nó.
1.2.2. Mục đích và nhiệm vụ của giáo dục
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn ấp ủ một hoài bão lớn lao: “Tôi chỉ
có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn tự
do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.6
5 Báo Cứu quốc, số 58, ngày 4-10-1945
6 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.5, tr.161

14


Trong những năm bôn ba ở nước ngoài, Người đã nhiều lần tố cáo tội ác
của thực dân Pháp ở Đông Dương trước nhân dân thế giới, nơi mà được chúng
“khai hóa văn minh” đã dẫn đến thảm trạng “nhà tù nhiều hơn trường học” nơi
mà chúng thực hiện chính sách dã man “làm cho dân ngu để trị”.7
Còn đối với Người, con người là vốn quý nhất. Thắng lợi của một sự
nghiệp hay sự hưng thịnh, tồn vong của một quốc gia, suy cho cùng phụ thuộc vào
con người, vào sự nghiệp “trồng người” trong đó giáo dục giữ vai trò chủ yếu.
Người cho rằng, giáo dục góp phần vào việc rèn luyện con người, hình thành nhân
cách con người, song đấy chỉ là “phần nhiều” mà thôi:
Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên
Trong bối cảnh đất nước được giải phóng, chính quyền đã về tay nhân dân,
công tác giáo dục đã được Hồ Chí Minh đặt lên như một nhiệm vụ chiến lược, cấp
bách. Bởi, chỉ thông qua giáo dục – đào tạo thì trình độ dân trí mới được nâng cao,
khả năng giác ngộ cách mạng cũng tốt hơn và đặc biệt, trong quá trình xây dựng
đất nước Việt Nam mới, chúng ta mới có thể đẩy nhanh tiến độ để sánh vai cùng
các nước trên thế giới.
Nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong Thư gửi các học sinh nhân ngày khai
trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “ Non sông Việt
Nam có trở nên tươi đẹp được hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh
quang sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một
phần lớn ở công học tập của các em”. 8 Và như vậy có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã đặt giáo dục ở vị trí cao nhất trong công cuộc xây dựng đất nước.

7 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.12, tr.99
8 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.5, tr.32

15


Người cho rằng, mục đích của việc học tập là để cứu dân, cứu nước là làm
việc. Người luôn căn dặn: Học không phải chỉ để đấy, học để rồi phải biết học để
làm gì.
Tháng 9/1949 khi đến thăm trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương, Người đã
ghi vào trang đầu tiên cuốn sổ vàng của trường: “Học để làm việc, làm người, làm
cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. 9
Trong bức thư cuối cùng gửi cho ngành giáo dục nhân dịp khai giảng năm học
1968 – 1969, Hồ Chí Minh cũng xác định rõ mục tiêu: Giáo dục là nhằm đào tạo
những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân.
1.2.3. Nội dung giáo dục – giáo dục toàn diện
Để hoàn thiện con người, Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng một nền giáo
dục toàn diện bao gồm cả đức dục, thể dujcc, trí dục và kĩ thuật tổng hợp. Tháng
8/1960 trong Thư gửi cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường, các lớp bổ
túc văn hóa, Người chỉ rõ: “Trong việc giáo dục học tập, phải chú trọng các mặt:
Đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động, sản
xuất”. Đây là một trong những nội dung giáo dục hết sức căn bản, gắn bó chặt chẽ
với nhau, làm nền tảng cho sự phát triển con người Việt Nam.
1.2.3.1. Giáo dục chính trị tư tưởng
Đây là một nội dung căn bản trong tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh, việc
giáo dục chính trị - tư tưởng phải được cụ thể hóa, phù hợp với từng cấp học,
ngành học, phù hợp với chương trình và mục tiêu đào tạo.
Tại Hội nghị toàn quốc lần I về công tác huấn luyện và học tập, ngày
6/5/1950, Người nói: “Học sửa chữa tư tưởng… học để tin tưởng, tin tưởng vào

9 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.6, tr.287

16


đoàn thể, tin tưởng vào nhân dân, tin tưởng vào tương lai của dân tộc, tin tưởng
vào tương lai của cách mạng”.10
Người nhắc nhở phải coi trọng việc học tập lý luận, coi lý luận là kim chỉ
nam để thực hiện tiến hành công việc thực tế, Người nhắc: “Không có lý luận thì
lung túng như nhắm mắt mà đi… vì kém lý luận cho nên gặp mọi việc không biết
xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử lý cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện
hoàn cảnh khách quan, ý mình thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất”.11
Hồ Chí Minh coi lý luận không phải là kết quả của sự tự biện, là một mớ
giáo điều máy móc, dập khuân, mà: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong
kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét kỹ lưỡng rõ rang làm thành kết
luận, rồi lại đem nó chứng minh vào thực tế. Đó là lý luận chân chính, lý luận
như kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế”.12
Người khuyên không được say mê kinh nghiệm mà tách rời lý luận, đồng
thời khi đã thu hoạch được lý luận thì phải áp dụng lý luận vào thực tế. Người
viết: “Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sang, một mắt
mờ… Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng
vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng vạn quyển lý luận nếu không biết
đem ra thực hành thì khác nào một cái hòm đựng sách”.13
Theo Người giáo dục chính trị - tư tưởng là phải làm cho mọi người thấm
nhuần về cái học đích thực, cái học hữu dụng, và khái niệm về tri thức hoàn toàn.
Người viết: “Một người học xong Đại học có thể gọi là có tri thức. Song y không
biết làm ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết nhiều việc
10 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.7, tr.50
11 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.6, tr.234
12 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.6, tr.233
13 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.6, tr.234

17


khác. Nói tóm lại: công việc thực tế y không biết gì cả. Thế là y chỉ có tri thức một
nửa. Tri thức của y là tri thức học sách, chưa phải tri thức hoàn toàn. Y muốn trở
thành người tri thức hoàn toàn phải đem tri thức đó áp dụng vào thực tế”.14
1.2.3.2. Giáo dục đạo đức cách mạng
Cũng như giáo dục chính trị - tư tưởng, giáo dục đạo đức là nền tảng trong
giáo dục, không loại trừ bất cứ trường hợp nào, kể cả thầy cô giáo và học trò,
người huấn luyện cũng như người được huấn luyện. Người chỉ rõ: “Đạo đức cách
mạng là ở bất cứ cương vị nào, bất cứ cương vị gì đều không sợ khó, không sợ
khổ, đều một long, một dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, đều
nhằm mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội”.15
Đối với thanh niên, học sinh, Người đã xác định rèn luyện nhân cách theo
mục tiêu:
“- Yêu Tổ quốc: Cái gì trái với quyền lợi của Tổ quốc chúng ta kiên quyết
chống lại.
- Yêu nhân dân: Việc gì hay người nào phạm đến lợi ích chung của nhân
dân, chúng ta kiên quyết chống lại.
- Yêu lao động: Ai khinh rẻ lao động, chúng ta kiên quyết chống lại…
- Yêu khoa học: Cái gì trái với khoa học, chúng ta kiên quyết chống lại.
- Yêu đại đức: Chúng ta phải thực hiện đức tính trong sạch, chất phác,
hăng hái, cần kiệm, xóa bỏ hết những vết tích nô lệ trong tư tưởng và hành
động”.16
14 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.6, tr.235
15 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.9, tr.216
16 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.8, tr.398-399

18


1.2.3.3. Giáo dục văn hóa, trình độ chuyên môn
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, mặc dù bận trăm công nghìn
việc, nhưng vấn đề giáo dục vẫn luôn được Người đặc biệt quan tâm. Ngay tại
phiên học đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Người chỉ rõ: “Nạn dốt là một trong
những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dạy đẻ cai trị chúng ta, hơn chín
mươi phần tram đồng bào chúng ta mù chữ. Nhưng chỉ cần ba tháng là đủ để học
đọc, học viết tiếng nước ta theo vần chữ quốc ngữ. Một dân tộc dốt là một dân tộc
yếu. Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”.17
Ngày 8/9/1945, không đầy một tuần sau ngày độc lập, Người ký ba sắc lệnh
quan trọng về giáo dục, trong đó có sắc lệnh 20/SL, “Cưỡng bách học chữ quốc
ngữ không mất tiền”.
Tha thiết với sự nghiệp khai sang dân tộc, nâng cao dân trí, trong Lời kêu
gọi toàn quốc chống nạn thất học, Hồ Chí Minh đã khởi động cho toàn dân sự
hiếu học theo phương châm mới: “Mọi người Việt Nam phải biết quyền lợi của
mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới… Trước hết phải biết đọc, biết
viết… Người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi. Vợ chưa biết thì
chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn,
người làm không biết thì chủ nhà bảo”.18
Người khởi động cho toàn dân thấm nhuần ý tưởng “Dân mạnh nước
giàu”19, “Dân cường thì quốc thịnh”20. Người kêu gọi: “Phải làm cho dân tộc
Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái”.21
17 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.9, tr.8
18 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.5, tr.37
19 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.5, tr.36
20 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.5, tr.212
21 Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục, NXB Giáo dục. (1990), tr.36

19


1.2.3.4. Giáo dục thể chất và sức khỏe
Hồ Chí Minh coi giáo dục sức khỏe như một quyền sống cao nhất. Sức
khỏe là hạnh phúc của mỗi người, mỗi dân tộc. Dân cường nước mới thịnh. Trong
bài Tết trung thu với nền độc lập, Người khuyên các cháu: “Phải siêng học tập
thể thao cho mình nở nang”.22
Trong bài Sức khỏe và thể dục, Người chỉ rõ: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng
nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công.
Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân khỏe mạnh,
tức là cả nước khỏe mạnh”.23
Theo Người việc rèn luyện học tập nói chung và rèn luyện thể thao nói
riêng, trước hết phải bắt đầu từ nhận thức về trách nhiệm và nghĩa vụ, phải tự
nguyện, tự giác. Người viết: “Luyệ tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của
mỗi một người yêu nước. Việc đó không tốn kém, không khó khăn gì. Gái, trai,
già, trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được. Mỗi ngày lúc ngủ dậy, tập một ít
thể dục. Ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu thong, tinh thần đầy đủ, như vậy là
sức khỏe”.24 Vì vấn đề sức khỏe quan trọng như vậy nên ngay từ năm 1946 Người
đã chỉ rõ: “Bộ giáo dục có Nhà giáo dục, mục đích là khuyên và dạy cho đồng
bào thể dục, đặng giữ gìn và bồi đắp sức khỏe”.25
1.2.3.5. Giáo dục thẩm mỹ
Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận quan trọng của mỹ học có nhiệm vụ quan
trọng trong việc xây dựng nền văn hóa mới, con người mới ở nước ta, mà mục
tiêu là đào tạo nên những chủ thể thẩm mĩ mới. Cùng với giáo dục chính trị, giáo
22 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.5, tr.16
23 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.5, tr.212
24 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.5, tr.212
25 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.5, tr.212

20


dục tri thức khoa học, giáo dục lao động, giáo dục thể chất…, giáo dục thẩm mỹ
đã xây dựng những nhân cách cao đẹp, có lối sống lành mạnh.
Ngoài ra, trong vấn đề phát triển thể lực của con người, Hồ Chí Minh còn
chú trọng đến vấn đề phát triển con người Việt Nam về mặt thẩm mỹ. Con người
sinh ra không chỉ có nhu cầu tồn tại mà còn có nhu cầu phát triển, vươn tới những
cái mới, cái đẹp. Nhu cầu đó tỷ lệ thuận với sự phát triển đi lên của xã hội loài
người. Trình độ thẩm mỹ, khả năng sang tạo, làm đẹp cho bản thân và cộng đồng,
khả năng cảm nhận những giá trị sáng tạo của con người và loài người là một
trong những biểu hiện mang tính nhân văn cao của con người.
Quá trình vươn tới những cái đẹp cũng đồng nghĩa với quá trình con người
loại bỏ dần những cái xấu, cái chưa tốt đẹp để trở nên hoàn thiện hơn.
Trong vấn đề phát triển năng lực thẩm mỹ của con người, Hồ Chí Minh chủ
trương việc bồi dưỡng và nâng cao sự hiểu biết của con người trong đó trước hết
phải chú trọng đến việc bồi dưỡng và giáo dục những giá trị truyền thống văn hóa
tốt đẹp của dân tộc. Có thể nói, phát triển năng lực và nâng cao trình độ thẩm mỹ
của con người Việt Nam là một nội dung quan trọng trong nội dung về xây dựng
và phát triển con người toàn diện.
Như vậy, giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo
dục, là một quá trình hướng con người tới các giá trị Chân – Thiện – Mỹ thông
qua việc hình thành các quan hệ thẩm mỹ đúng đắn với hiện thực, đánh giá và
sáng tạo thẩm mỹ.
1.2.4. Nguyên tắc, phương pháp giáo dục
1.2.4.1. Học đi đôi với hành
Là một nhà giáo dục, Hồ Chí Minh thấy rõ ý nghĩa to lớn của học kết hợp
với hành. Bởi theo Người, nó không chỉ là sự củng cố mà còn mở r những triển

21


vọng mới trong việc nhận thức thực tiễn và cải tạo thực tiễn, hình thành nhân cách
con người mới.
Ngay từ năm 1947 trong Sửa đổi lối làm việc Người đã nói: “Một người
học xong Đại học có thể gọi là tri thức. Song y không biết làm ruộng, không biết
làm công, không biết đánh giặc, không biết nhiều việc khác. Nói tóm lại: Công
việc thực tế y không biết gì cả. Thế là y chỉ có tri thức một nửa. Tri thức của y là
tri thức học sách, chưa phải tri thức hoàn toàn. Y muốn thành người tri thức hoàn
toàn phải đem tri thức đó áp dụng vào thực tế”. 26 Người thường xuyên nhắc nhở:
Học phải đi đôi với hành. Người khuyên học sinh không nên học vẹt, học gạo.
Theo Người, nếu kết hợp được phương pháp này thì người học sẽ đạt được hiệu
quả cao. Vì cùng một lúc sẽ hình thành cả tri thức lẫn kỹ năng thực hành.
1.2.4.2. Lý luận gắn liền với thực tiễn
Trong quá trình giáo dục và chỉ đạo giáo dục, Hồ Chí Minh thường nhắc
nhở mọi người phải tránh căn bệnh lý luận, Người nói: “Thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn là nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không
có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với
thực tiễn là lý luận suông”.27 Người chỉ rõ, nếu kém lý luận hoặc coi khinh lý
luận, không gắn lý luận với thực tiễn thì chúng ta rất dễ mắc phải căn bệnh chủ
quan, duy ý chí. Với Hồ Chí Minh việc gắn liền lý luận với thực tiễn chính là quy
luật hình thành nhân cách con người.
1.2.4.3. Học tập kết hợp với lao động sản xuất
Nếu như nhà trường của chế độ cũ chỉ đào tạo ra những con người mọt
sách, coi khinh lao động, tách rời lao động chân tay. Thì ngược lại, nhà trường
XHCN phải đào tạo ra lớp người mới, vừa biết kết hợp lao động trí óc với lao
26 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.6, tr.235
27 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.9, tr.496

22


động chân tay, Người dạy: “Lao động chân tay cũng phải có văn hóa, mà người
lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay và lao động chân tay không
có trí óc thì đó là người bán thân bất toại”28 và “Nhà trường của chúng ta là nhà
trường xã hội chủ nghĩa, đó là nhà trường học đi đôi với lao động”.29
1.2.4.4. Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
Đây là một định hướng lớn trong phương pháp giáo dục. Con người sinh ra
và lớn lên trong môi trường gia đình, nhà trường và xã hội. Ở mỗi môi trường
nhưu vậy đều diễn ra quá trình giáo dục, giáo dưỡng con người. Mặc dù ở mỗi
môi trường đều có những phương pháp giáo dục đặc thù, song tất cả đều góp vào
hình thành nhân cách con người toàn diện.
Năm 1950, trong bài Nói về công tác chuẩn bị huấn luyện và học tập, trả lời
câu hỏi “Học ở đâu”, Người nói: “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và
học nhân dân. Không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”.30
Trong hoạt động giáo dục, giáo dục nhà trường là quan trọng nhất, nhưng
theo Người, để con người phát triển toàn diện nhất thì cần phải kết hợp cả ba môi
trường giáo dục: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo
dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường
được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy, nhưng thiếu giáo dục trong
gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”.31
1.2.4.5. Gắn giáo dục với tự giáo dục
Trong tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh, Người để lại những ý kiến rất
quý báu về vấn đề tự học, tự đào tạo.
28 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.10, tr.173
29 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.10, tr.295
30 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.8, tr.98
31 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.9, tr.394

23


Bản thân cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương lớn về quá trình
tự học, tự đào tạo. Người đến với chủ nghĩa cộng sản bằng một quá trình tự học.
Tới dự Đại hội VII Quốc tế cộng sản (1935) với bí danh là Lin, khi khai thác lý
lịch trả lời câu hỏi: trình độ học vấn (tiểu học, trung học, đại học), Người ghi: Tự
học. Tiếp theo câu hỏi: Đồng chí biết ngoại ngữ nào? Người ghi: Anh, Pháp,
Trung Quốc, Ý, Đức, Nga. Năm 1959 nói chuyện với sinh viên Đại học Bắc Dung
(Inđônêxia) về tự học, Người kể: tôi sẽ nói vài lời với các bạn. Khi còn trẻ không
có dịp đến trường học. Tôi đã đi du lịch và để làm việc, đó là trường Đại học của
tôi. Trường đại học ấy đã dạy cho tôi khoa học xã hội… khoa học quân sự… lịch
sử… chính trị…
Sau này, khi về nươc và trở thành Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam, vào năm 1947 trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh
chỉ rõ: “Cách học tập: Tổ chức từng ban cao cấp hoặc trung cấp. Lấy tự học làm
cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”. Và muốn làm được như vậy thì phải “Sắp
xếp thời gian và bài học cho từng lớp đó, phải cho khéo, phải có mạch lạc với
nhau, mà không cung đột với nhau”.
Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở mọi người là phải thường xuyên tự học
tập: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời… Không ai có thể tự cho mình đã
biết đủ rồi, đã biết hết rồi. Thế giới ngày càng đổi mới, nhân dân ta ngày càng
tiến bộ cho nên chúng ta tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”32

Tiểu kết chương 1
Trên đây là những cơ sở lý luận trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục.
Những tư tưởng đó như đã trình bày là ngọn đèn pha soi sáng con đường đổi mới
sự nghiệp giáo dục của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Chương này đã tìm hiểu
32 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia(2000), t.9, tr.215

24


nguồn gốc hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục. Để chúng
ta thấy nền giáo dục theo tư tưởng Hồ Chí Minh được bắt nguồn từ các truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, từ sự tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại và tư
tưởng này của Người đã được tích lũy qua cuộc hành trình lâu dài của từng giai
đoạn lịch sử.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×