Tải bản đầy đủ

giao an soan giang du giio thi GVDG tac gia nguyen du tiet 1

GIÁO ÁN – SOẠN GIẢNG: TÁC GIẢ NGUYỄN DU
(Dùng cho tham khỏa dạy dự giờ, thi giáo viên dạy giỏi)
TÁC GIẢ NGUYỄN DU – Tiết 1
Vào bài: 2 phút

I. CUỘC ĐỜI
1. Thời đại – xã hội: 6 phút
1. Thời đại – xã
?XHPK VN cuối TK 18 đầu TK 19 có gì đặc biệt, xảy ra những biến cố hội: XHPK VN cuối

lịch sử nào trọng đại nào? Điều đó có tác động thế nào đến tư tưởng ,tình TK 18 đầu TK 19: là
cảm cũng như sáng tác của nhà thơ.
một thời đại bảo táp
của lịch sử , những
Nhà thơ sống vào giai đoạn lịch sử xã hội Việt Nam Cuối thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ cuộc chiến tranh kéo
XIX: có nhiều biến động dữ dội, nhất là khoảng 30 năm đầu của cuộc đời nhà thơ. dài triền miên giữa
Nguyễn Du đã có dịp chứng kiến những biến cố lịch sử trọng đại nhất: Sự sụp đổ các tập đoàn phong
thảm hại của tập đoàn phong kiến thống trị Lê-Trịnh, vận mệnh ngắn ngủi nhưng
kiến làm cho cuộc
rạng rỡ của phong trào Tây Sơn và triều đại Quang Trung, công cuộc trung hưng của
sống xã hội trở nên

nhà Nguyễn.
điêu đứng, số phận
ĐÃ TẬN MẮT CHỨNG KIẾN “MỘT PHEN THAY ĐỔI SƠN HÀ -MÃNH con người bị chà đạp
THÂN CHIẾC LÁ BIẾT LÀ VỀ ĐÂU Ko PHẢI 1 PHEN MA 2LA2 NHIỀU thê thảm.
 Tác động mạnh
PHEN  NỘI DUNG phản ánh
+ XHPKVN khủng hoảng trầm trong đầy bóng tối, khổ đau: loạn lạc, khởi mẽ đến nhận thức, tư
nghĩa nông dân, kiêu binh nổi loạn Nhà thơ sống vào giai đoạn lịch sử xã tưởng, tình cảm của
hội Việt Nam có nhiều biến động dữ dội, nhất là khoảng 30 năm đầu của cuộc ND. (Gần gũi đời
đời nhà thơ. Nguyễn Du đã có dịp chứng kiến những biến cố lịch sử trọng đại sống nhân dân, tư
nhất: Sự sụp đổ thảm hai của tập đoàn phong kiến thống trị Lê-Trịnh, vận liệu quí…)
mệnh ngắn ngủi nhưng rạng rỡ của phong trào Tây Sơn và triều đại Quang
Trung, công cuộc trung hưng của nhà Nguyễn.
+ Diễn ra nhiều biến cố lớn: Tây Sơn thay đổi sơn hà diệt Lê, Trịnh, diệt
Xiêm, đuổi Thanh, huy hoàng một thuở; Nhà Nguyễn lập lại chính quyền
chuyên chế và thống nhất đất nước, thiết lập chế độ cai trị hà khắc (1802).
cuộc sống xã hội trở nên điêu đứng, số phận con người bị chà đạp thê
thảm.
-Ông đã sống trong một thời đại mà truyền thống nhân văn và tinh thần
dân tộc được kết tinh một cách rực rỡ. SỰ XUẤT HIỆN CỦA TRÀO LƯU
CHỦ NGHĨA NHÂN ĐẠO -Ông đã sống trong một thời đại mà truyền thống
nhân văn và tinh thần dân tộc được kết tinh một cách rực rỡ.
-Những biến cố xã hội, truyền thống nhân văn và tinh thần dân tộc của
thời đại đã để lại những âm hưởng, những màu sắc trong nhân cách cũng như
sáng tác của nhà thơ.
? Nó tác động ntn đến ông cũng như đến sáng tác thơ văn.
 Tác động mạnh mẽ đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của ND. (Gần gũi đời
sống nhân dân, tư liệu quí…)
Phan Minh Nghĩa – THPT LAP VO 2

1


PHẦN NÀY SẼ NÓI KĨ HƠN Ở PHẦN NHỮNG NĂM THÁNG CUỘC
ĐỜI ND.

2. Quê hương, gia đình: 10 phút

2. Quê hương, gia
? Quê cha, quê mẹ, nơi sinh ra và lớn lên của Nguyễn Du có tác động đến đình:

ông ntn. Và nó có ảnh hưởng ntn đến việc hình thành nhân cách, tài năng
của thi nhân.
Nguyễn Du (1765–1820) tên tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên , biệt hiệu
Hồng Sơn Liệp Hộ (người đi săn ở núi Hồng) , là một nhà thơ nổi tiếng thời
Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam . Nguyễn Du được xem như là một nhà thơ lớn
của Việt Nam, được người Việt kính trọng gọi ông là "Đại thi hào dân tộc".
ND sinh năm ẤT Dậu (1765) , sinh và lớn lên ở kinh thành Thăng Long ngàn
năm văn hiến.. Quê cha ở làng Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh - , nơi có
sông Lam, núi Hồng, sơn thủy hữu tình, vùng đất đại linh nhân kiệt. Quê
mẹ: xứ Kinh Bắc hào hoa, cái nôi của dân ca quan họ. Nguyễn Du có điều kiện
tiếp nhận, tích lũy truyền thống văn hóa quý báu của gia đình và của nhiều
vùng quê khác nhau. Đó là tiền đề cho sự phát triển tài năng nghệ thuật của
ông sau này.
ND sinh ra và lớn lên trong gia đình, dòng họ có truyền thống văn hóa
văn học, và khoa bảng, đại quí tộc giàu có bật nhất kinh thành Thăng Long lúc
bấy giờ. Gia đình, dòng họ có rất nhiều người và nhiều đời làm quan to đồng
thời còn là nhà văn, nhà thơ, có nhiều người viết sách, làm văn, làm thơ…
Nguyễn Quỳnh, ông nội của Nguyễn Du l một nhà triết học chuyên nghiên cứu
Kinh Dịch. Đến thân phụ ông (cha) là Nguyễn Nghiễm 1708-1775), đậu Nhị
giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng), tước Xuân Quận Công
dưới triều Lê... Ngoài là một đại thần, ông Nghiễm còn là một nhà thơ, một
nhà nghiên cứu sử học.. Người con trưởng là Nguyễn Khản (1734-1786) (anh
cùng cha khác mẹ với ND) đỗ Tam giáp tiến sĩ, làm quan tới chức Tham Tụng,
tước Toản Quận Công (con bà chính, rất mê hát xướng, nổi tiếng phong lưu
một thời, thân với chúa Trịnh Sâm), tương truyền có dịch Chinh phụ ngâm;
người con thứ hai là Nguyễn Điều đỗ Hương cống, từng làm trấn thủ Sơn Tây.
Nguyễn Đề, anh cùng mẹ với Nguyễn Du, Nguyễn Thiện, cháu gọi Nguyễn Du
bằng chú ruột, Nguyễn Hành em ruột Nguyễn Thiện đều là nhà thơ, nhà văn
nổi tiếng cả…) Nếu kể theo thứ tự này, thì Nguyễn Du đứng hàng thứ bảy, nên
còn được gọi là Chiêu Bảy.

Nhưng gia đình
Nguyễn Du không
phải chỉ có nhiều
người làm quan, mà
còn có nhiều người
viết sách, làm văn,
nghĩa là một gia
đình

truyền
thống về văn học.
Nguyễn Quỳnh ông
nội Nguyễn Du là
một nhà triết học
chuyên nghiên cứu
Kinh Dịch. Nguyễn
Nghiễm một sử gia,
đồng thời là một nhà
thơ. Nguyễn Khản
anh cả Nguyễn Du
giỏi thơ Nôm, hay
làm thơ đối đáp với
Trịnh Sâm. Tương
truyền
Nguyễn
Khản là một trong
những người có dịch
Chinh phụ ngâm
của Đặng Trần Côn
ra tiếng Việt. Rồi
Nguyễn Đề anh cùng
mẹ với Nguyễn Du,
-Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình phong kiến đại quý tộc, trí thức,
Nguyễn Thiện cháu
tài hoa và có danh vọng vào bậc nhất đương thời. Không những thế, gia đình này
còn có một truyền thống về văn học. Hoàn cảnh gia đình đã có những tác động rõ rệt gọi Nguyễn Du bằng
chú ruột, Nguyễn
đối với sự hình thành thiên tài văn học ở Nguyễn Du.
Hành
em
ruột
-Gia đình Nguyễn Du có nhiều người đậu đạt cao và làm quan to tại triều
Nguyễn Thiện đều là
đình:
+Thân sinh của Nguyễn Du đậu tiến sĩ, từng làm tể tướng.
nhà thơ, nhà văn nổi
+Nguyễn Khản, anh cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du đậu tiến sĩ giữ
tiếng.
chức lớn dưới cả hai thời Trịnh Sâm và Trịnh Tông .
+Nguyễn Huệ, bác ruột Nguyễn Du, đậu tiến sĩ.

Họ Nguyễn Tiên
Trong phủ Nguyễn Nghiễm, ngựa xe quan lại đi lại tấp nập, kẻ nô bộc cúng
Điền lại thông gia
được mặc gấm, ăn thịt. Nguyễn Khản (người anh cùng cha khác mẹ với
với họ Nguyễn Huy
Nguyễn Du) làm quan to trong phủ chúa Trịnh. Ông là người say mê âm
ở Trường Lưu, cũng
nhạc, trong phủ ko lúc nào ngừng tiếng tơ tiếng trúc.
Phan Minh Nghĩa – THPT LAP VO 2

2


Mặt khác, họ Nguyễn Tiên Điền lại thông gia với họ Nguyễn Huy là một họ lớn và nổi
Trường Lưu, cũng là một họ lớn và nổi tiếng về văn học ở vùng Nghệ -Tĩnh.
tiếng về văn học ở
Theo Phạm Ðình Hổ thì dòng họ này có 12 tiến sĩ và 5 quận công.
vùng Nghệ - Tĩnh.
Người địa phương có câu cao dao nói về dòng họ này:
Sống trong một môi
Bao giờ ngàn Hống hết cây,
trường như thế,
Sông Rum hết nứơc, họ này hết quan.
năng khiếu văn học
Mẹ Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần (1740-1778), con gái một người thuộc của Nguyễn Du có
hạ làm chức câu kế , người x Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, nay điều kiện nảy nở và
thuộc tỉnh Bắc Ninh. Bà Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, trẻ hơn chồng phát triển từ sớm.
32 tuổi. Bà sinh được năm con, bốn trai và một gái. Thuở nhỏ Nguyễn Du
sống trong nhung lụa, có điều kiện dùi mài kinh sử, tích lũy vốn văn hóa
NÓI RÕ CHA LÀ
văn học (ảnh hưởng sáng tác sau này).
 Tiếp thu truyền thống gia đình, có đk học tập, trau dồi tài năng, và nảy AI, MẸ LÀ AI,
NGUYỄN KHẢN….
nở năng khiếu VH.

3. Những năm tháng cuộc đời: 14 phút

3. BẢN THÂN

? ND đã trải qua những năm tháng trong cuộc đời ntn ( thời thơ ấu, niên
thiếu; thời thanh niên và thời trung niên, cuối đời, đến khi qua đời)?
Những năm tháng đó có ảnh hương thế nào đến nội dung phản ánh trong
thơ văn của ND cũng như việc hình thành thiên tài văn học.
*Nguyễn Du sinh ra và lớn lên ở đất Thăng Long. Thời thơ ấu, Nguyễn Du
sống trong nhung lụa. Lên 10 tuổi mồ côi cha, 13t mồ côi mẹ, cuộc đời
Mẹ Nguyễn Du, Trần Thị Tần. Năm 1775 người con đầu của bà là Nguyễn Trụ mất
mới mười tám tuổi, năm sau chồng mất. Hai cái tang kế tiếp nhau trong hai năm liền
làm cho bà đau buồn, lâm bệnh, và hai năm sau khi chồng mất, bà cũng qua đời ngày
06 tháng 7 năm Mậu tuất, tức ngày 17 tháng 8 năm 1778, mới ba mưoi chín tuổi.

Nguyễn Du bắt đầu gặp những só)ng gió trong cơn quốc biến ba đào: Sống
nhờ Nguyễn Khản (anh cùng cha khác mẹ làm Thừa tướng phủ chúa
Trịnh) thì Nguyễn Khản bị giam, bị Kiêu binh phá nhà phải chạy trốn.
* Năm 19 tuổi, Nguyễn Du thi đỗ tam trường rồi làm một chức quan võ
tận Thái Nguyên.
Những biến cố lịch sử đã làm gia đình li tán,. ND phải sống chật vật,
nghèo túng, khĩ khăn, cô đơn và không khác gì người dân bình thường,
trải qua một thời gian 10 năm gió bụi, phiêu bạt: (1786- 1796) ở đất Bắc
và 6 năm về ở ẩn tại Hà Tĩnh (1796 – 1802)( hết từ Thái Bình quê vợ đến
Hà Tĩnh quê cha)
Chẳng bao lâu nhà Lê sụp đổ (1789) Nguyễn Du lánh về quê vợ ở Thái
Bình rồi vợ mất, ông lại về quê cha, có lúc giạt lên Bắc Ninh quê mẹ, nhiều
nhất là thời gian ông sống ở kinh thành Thăng Long.
Hơn mười năm chìm nổi long đong ngoài đất Bắc, Nguyễn Du sống gần
gũi nhân dân và thấm thía biết bao nỗi ấm lạnh kiếp người, đặc biệt là
người dân lao động, phụ nữ, trẻ em, cầm ca, ăn mày ... những con
người “dưới đáy”. Chính nỗi bất hạnh lớn trong cuộc đời đã hun đúc nên
thiên tài Nguyễn Du- nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. Chỉ với 56 năm tại thế,
Nguyễn Du tận mắt chứng kiến không chỉ “một phen”, mà là “mấy phen” “thay đổi
sơn hà”.

Phan Minh Nghĩa – THPT LAP VO 2

3


**Nguyễn Ánh lên ngôi triệu Nguyễn Du ra làm quan. Năm 1813 được thăng
chức Học sỹ điện Cần Chánh và cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc. Năm 1820,
ông lại được cử đi lần thứ hai nhưng chưa kịp đi thì mất đột ngột ngày 10
tháng 8 năm Canh Thìn (18.9.1820). Suốt thời gian làm quan cho nhà Nguyễn,
Nguyễn Du sống trầm lặng, ít nói, có nhiều tâm sự không biết tỏ cùng ai.
Tư tưởng Nguyễn Du khá phức tạp và có những mâu thuẫn: Trung thành với
nhà Lê, không hợp tác với nhà Tây Sơn, bất đắc dĩ làm quan cho nhà Nguyễn.
Là một người có có hoài bão nhưng cuộc đời hết gió bụi lại buồn chán,
Nguyến Du coi mọi chuyện (tu Phật, tu tiên, đi câu, đi săn, hành lạc ....) đều là
chuyện hão nhưng lại rơi lệ đoạn trường trước những cuộc bể dâu. Nguyễn Du
đã đứng giữa giông tố cuộc đời trong một giai đoạn lịch sử đầy bi kịch. Đó là
bi kịch của đời ông nhưng chính điều đó lại khiến tác phẩm của ông chứa đựng
chiều sâu chưa từng có trong thơ văn Việt Nam.
Tuy có phần miễn cưỡng làm quan dưới triều Nguyễn (1802 – 1820) nhưng
con đường hoạn lộ (làm quan) của ông khá thuận lợi, được thăng thưởng
ưu ái qua nhiều chức, cấp bậc. Năm 1802, ông nhậm chức Tri huyện tại
huyện Phù Dung. Tháng 11 cùng năm, đổi làm Tri phủ Thường Tín (Hà
Tây, nay thuộc Hà Nội). Năm 1803: đến cửa Nam Quan tiếp sứ thần nhà
Thanh,
Trung
Quốc.
Năm 1805: thăng hàm Đông Các điện học sĩ..Năm 1807: làm Giám khảo
trường thi Hương ở Hải Dương.Năm 1809: làm Cai bạ dinh Quảng Bình.
Năm 1813: thăng Cần Chánh điện học sĩ và giữ chức Chánh sứ đi Trung
Quốc khi đi sứ về vào năm 1814, ông được thăng Hữu tham tri Bộ Lễ.(lần
1)
Năm 1820, Gia Long mất, Minh Mạng (1791-1840) lên ngôi, Nguyễn Du lại
được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc (lần 2), nhưng chưa kịp lên đường thì
mất đột ngột (trong một trận dịch khủng khiếp làm chết hàng vạn người lúc
bấy giờ) ở kinh đô Huế vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn tức 18 thng 9 năm
1820 .

gần hai mươi năm làm quan, được thăng chức khá nhanh và có
lúc giữ những chức vụ tương đối quan trọng. Chính sách phân
biệt đối xử nghiêm khắc của Triều đình nhà Nguyễn không áp
dụng cho Nguyễn Du như đối với người miền Bắc, đối với các di
thần nhà Lê
Tương truyền, trước khi mất Nguyễn Du yêu cầu người nhà xem chân tay
ông đã lạnh chưa. Khi người nhà trả lời đã lạnh cả rồi. Nguyễn Du chỉ nói
“được” rồi mất, ko trối lại một điều gì.
Lúc đầu (1820), Nguyễn Du được táng ở x An Ninh, huyện Quảng
Điền, tỉnh Thừa Thiên. Bốn năm sau mới cải táng về Tiên Điền. Khi ND
mất được rất nhiều quan lại ở Kinh đến làm câu đối phúng viếng, hết lời
ca ngợi tài hoa hết mực của nhà thơ:
Nhất viện cầm tôn nhân kí khứ,
Đại gia văn tự thế thanh truyền
(Rượu đàn đầy viện người đi vắng,
Văn tự hơn đời tiếng dội vang)
Và: Nhất đại tài hoa, vi sứ, vi khanh, sinh bất thiểm,
Phan Minh Nghĩa – THPT LAP VO 2

4


Bách niên sự nghiệp, tại gia, tại quốc, tử do vinh.
( Một kiếp tài hoa, àlm sứ, làm khanh, sinh chẳngt hẹn,
Trăm năm sự nghiệp, ở nhà, ở nứơc, chết còn vinh)
Có thể nói, thiên tài lỗi lạc của Nguyễn Du, những gì là của hồn
thơ bất diệt ấy đã được ấp ủ và nảy nở chủ yếu trong những năm
tháng buồn vui lẫn lộn này.
ông rơi vào cuộc sống vô cùng khó khăn, thiếu thốn, cực khổ, bệnh tật,
 Đem lại cho ông những hiểu biết và niềm cảm thông sâu sắc với cuộc
sống cực khổ của nhân dân lao động, giúp ông suy ngẫm về xã hội, về thân
phận con người trong sự biến động dữ dội của lịch sử, những thân phận
con người dưới đáy xã hội, học hỏi, tích lũy vốn sống thực tế phong phú,
gần gũi thân phận nhỏ bé ,nắm vững ngôn ngữ dân gian, có dịp suy ngẫm
nhiều về xã hội đế cất tiếng nói, phản ánh NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY:
“Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng và là
tiền đề quan trọng để hình thành tài năng, bản lĩnh sáng tạo văn chương và
phong cách ngôn ngữ
Hơn nửa bản thân ND là một người có tấm lòng nhân đạo bao la, giàu
lòng yêu thương con người, luôn trân trọng, cất tiếng nói bên vực họ,..
Những năm tháng lăn lộn cùng nhân dân, ông còn có dịp học hỏi, thu nhặt
được nhiều vốn ngôn ngữ dân gian, đây là tri thức quý báu để tạo nên
phong cách ngôn ngữ Truyện Kiều.
=> Đó chính là những yếu tố ảnh hưởng hun đúc nên một thiên tài của
dân tộc, một danh nhân văn hoá thế giới . Nguyễn Du là nhà thơ lớn của dân
tộc, là tập đại thành của văn học phong kiến, là người kế thừa một cách sáng tạo
truyền thống tốt đẹp của văn học dân tộc và nâng truyền thống ấy lên một đỉnh cao
chói lọi.

?Trong 3 yếu tố đó, yêu tố nào là quan trọng nhất (bản thân từng trải)?

1. Các sáng tác chính: 8 phút

II. SỰ NGHIỆP
? Em có nhận xét ntn về sự nghiệp thơ van của ND.
THƠ VĂN:
?Dựa vào sgk cũng như phần chuẩn bị ờ nhà, em hãy kể tên các sáng tác 1. Các sáng tác
bằng chữ Hán của Nguyễn Du? Nêu những nội dung chính của tập Bắc chính:
hành tạp lục.
Gv: Thơ chữ Hán Nguyễn Du chủ yếu là những vần thơ tâm tình, khắc họa
hình tượng chủ thể trữ tình Nguyễn Du, một tâm trạng rất động trước mọi biến
cố của cuộc đời. Đọc thơ ông, người đọc cảm nhận được một cõi lòng đau
thwng, tê tái, sâu kín, như ông từng nói: “Ta có một tấc lòng ko biết ngỏ cùng
ai”. Bên trong tâm sự đau thương ấy là những suy ngẫm của nhà thơ về con
người, xã hội, những chiêm nghiệm sâu sắc đầy trắc ẩn về những biến động
của cuộc sống đang diễn ra trước mắt. Làm thơ là cách ông đặt vấn đề trực
tiếp về số phận con người trong tương giao với vận mệnh của thời đại, nhất là
thời đại ông đang sống.

a. Chữ Hán:
- Thanh Hiên thi tập:
gồm 78 bài viết trong
thời gian lưu lạc,
nghèo túng
- Nam trung tạp
ngâm: gồm 40 bài
viết trong thời gian
làm quan với nhà
Nguyễn.
- Bắc hành tạp lục:
Về sự nghiệp trước tác của ND thật đồ sộ. Ông đ để lại và cống hiến vào gồm 131 bài được
kho tàng văn học nứơc nhà thật lớn và có giá trị đặc biệt quan trọng. Cả chữ viết trong thời kì đi
Phan Minh Nghĩa – THPT LAP VO 2

5


Hán lẫn chữ Nôm đều có đóng góp tích cực cả về mặt nội dung và nghệ thuật.
Sự thăng tiến trên đường làm quan của Nguyễn Du khá thành đạt. Nhưng ông
không màng để tâm đến công danh. Trái tim ông đau xót, buồn thương, phẫn
nộ trước “những điều trông thấy” khi sống lưu lạc, gần gũi với tầng lớp dân
đen và ngay cả khi sống giữa quan trường. Ông dốc cả máu xương mình vo
văn chương, thi ca. Thơ ông là tiếng nói trong trái tim mình. Đấy là tình cảm
sâu sắc của ông đối với một kiếp người lầm lũi cơ hàn, là thái độ bất bình rõ
ràng của ông đối với các số phận con người. Xuất thân trong gia đình quý tộc,
sống trong khơng khí văn chương bác học, nhưng ông có cách nói riêng, bình
dân, giản dị, dễ hiểu, thấm đượm chất dân ca xứ Nghệ. Được xem là cây đại
thụ - nhà thơ lớn về chủ nghĩa nhân đạo của thế kỉ văn học phong kiến gần đến
thời kì mạc vận cuối TKXVIII – đầu TK XIX. Thế kỉ của trào lưu chủ nghĩa
nhân đạo. Với trái tim, tấm lòng nhân đạo và với con mắt trông thấu sáu cõi…
Với vai trò của một người thư kí trung thành của thời đại mình, ND đã phản
ánh những điều trông thấy – những nỗi đau thân phận con người, xã hội phong
kiến suy tàn …vào thơ ông một cách sinh động và đầy đủ. Trước hết phải kể
đến những sáng tác bằng chữ Hán của ông.
Ba tập thơ chữ Hán thì “Thanh Hiên thi tập” gồm 78 bài, viết lúc ở
Quỳnh Côi và những năm mới về Tiên Điền, là lời trăn trở chốn long đong, là
tâm sự, là thái độ của nhà thơ trước cảnh đời loạn lạc. Sau 1809, những sáng
tác thơ của ông tập hợp trong tập “Nam Trung Tạp Ngâm” gồm 40 bài đầy
cảm hứng, của tâm sự, nỗi niềm u uất.. Bắc hành tạp lục: gồm 131 bài được
viết trong thời kì đi sứ Trung Quốc.

sứ Trung Quốc
- thể hiện trực tiếp tư
tưởng, tình cảm và
nhân cách Nguyễn
Du.
+ Ca ngơi, đồng cảm
với các nhân cách cao
thượng và phê phán
những nhân vật phản
diện. VD: Phản chiêu
hồn.
+ Phê phán XHPK
chà đạp quyền sống
của con người.
+ Cảm thông với
những thân phận nhỏ
bé dưới đáy xã hội, bị
đày đọa hắt hủi.
VD: Độc Tiểu Thanh
kí, Sở kiến hành

Nguyễn Du gọi mình là người “đa bệnh đa sầu” và có lần không giấu được nỗi
sầu, ông thanh minh: “Các bạn thân trách ta sao hay buồn và hay mơ mộng”.
Rồi ông lại cười lặng lẽ tự trả lời: “ Nhưng thiên hạ ai là người không ở trong
mộng”? (Ngẫu đề) VÀ ĐÃ TẬN MẮT CHỨNG KIẾN “MỘT PHEN THAY ĐỔI SƠN
HÀ -MÃNH THÂN CHIẾC LÁ BIẾT LÀ VỀ ĐÂU  Ko PHẢI 1 PHEN MÀ LÀ
NHIỀU PHEN  NỘI DUNG phản ánh

-Một khía cạnh thuộc về thiên tài của Nguyễn Du đã được bộc lộ trong tập thơ
này.
-Tập thơ được coi như một tập nhật ký bằng thơ của tác giả. Tập thơ có nhiều
bài mang tính chất tự thuật về cuộc đời, con người của nhà thơ. Tập thơ đã cho
chúng ta biết thêm nhiều điều về cuộc đời, con người, tâm hồn nhà thơ.
-Nhà thơ phải trải qua những năm tháng bất hạnh. Ðó là một điều có thật.
Những năm tháng này rơi vào thời kỳ tuổi trẻ. Nhưng nhà thơ bất hạnh như thế nào
thì không có tài liệu nào ghi chép cụ thể cả. Thơ chữ Hán giúp ta hình dung đôi điều
về những bất hạnh đó.

CỦNG CỐ: 2 phút

Cho xem đoạn video TM về tác giả: 3 phút

Phan Minh Nghĩa – THPT LAP VO 2

6



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×