Tải bản đầy đủ

Tiểu luận công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.Lý do chọn đề tài
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra như là một nhu cầu tất yếu cho sụ phát
triển của các quốc gia dân tộc, đặc biệt là các quốc gia dân tộc tiến hành cách mạng
giải phóng dân tộc thắng lợi và chọn con đường đi lân chủ nghĩa xã hội.
Thành công của công nghiệp hoá tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố. phải tuân thủ
những biện pháp, bước đi có tính quy luật của công nghiệp hoá; phải tiến hành phù
hợp với mục tiêu chính trị và thể chế kinh tế của các quốc gia trong từng giai đoạn
lịch sử cụ thể; phải căn cử vào điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội và cơ sở vật chất
- kỹ thuật ban đầu, đồng thời có biện pháp và lộ trình phù hợp với trình độ công
nghiệp hoá trên thế giới, với xu thế phát triển kinh tế quốc tế và mức độ hội nhập
quốc tế để tranh thủ tất nhất các yếu tố ngoại lực;... Do đó, đến nay hầu hất các
nước và vùng lãnh thổ đã và đang tiến hành công nghiệp hoá với quy mô, mức độ
khác nhau nhưng không phải tất cả đều thành công như do kiến, thậm chí có nước
phải trả giá rất đắt cho công nghiệp hoá bằng những khoản nợ tài chính, sự bất ổn
xã hội khủng hoảng chính trị, phụ thuộc và bị nước ngoài chi phối, cạn kiệt tài
nguyên thiên nhiên, tàn phá môi trường,.
Ở Việt Nam, đường lối công nghiệp hoá của Đảng ta hình thành và không
ngừng được bổ sung, điều chỉnh trong xuất tiến trình Đảng lãnh đạo xây dựng đất
nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Khi khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi
mới toàn diện đất nước, đổi mới tư duy lý luấn về công nghiệp hoá là một bộ phận
cấu thành đường lối đổi mới của Đảng.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt
Nam cũng rất chú trọng vào việc nghiên cứu và đúc rút kinh nghiệm về công
nghiệp hóa, hiện đại hóa phục vụ cho những nhiệm vụ cách mạng trong từng giai
đoạn, từng thời kỳ, đặc biệt những thập kỷ gần đây, vấn đề công nghiệp hóa, hiện
đại là một vấn đề được đặc biệt quan tâm và được nghiên cứu ở dưới nhiều góc
độ.Nhiều cuộc hội thảo khoa học được tổ chức, nhiều công trình nghiên cứu
được công bố.
3.Mục tiêu và nhiệm vụ.
3.1. Mục tiêu


Nghiờn cu mt cỏch khỏi quỏt quỏ trỡnh phỏt trin ng li cụng nghip
húa,hin i húa ca ng Cng sn Vit Nam t ú rỳt ra nhng bi hc kinh
nghim..
3.2 .Nhiệm vụ
Tính tất yếu của đờng lối cụng nghip húa,hin i húa.
Nghiên cứu quá trình phát triển đờng lối cụng nghip húa,hin i
húa của Đảng.
Chỉ ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện đờng
lối cụng nghip húa,hin i húa.
4.Phơng pháp nghiên cứu.
Dựa trên cơ sở phơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử.
áp dụng các phơng pháp nghiên cứu cụ thể nh tổng hợp hệ thống
hóa, phân tích từ đó rút ra kết luận về vấn đề nghiên cứu.


QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG
LỐI CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI.
I.HẠN CHẾ CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA TRƯỚC NĂM

1986 VÀ NHU CẦU ĐỔI MỚI TƯ DUY LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.
Nước ta quá độ lên chủ nghĩa hội từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu.
sản xuất nhỏ còn phổ biến để dần biến nước ta thành một nước công nghiệp hiện
đại, từ Hội nghị Trung ương l4 khoá I (l958), Đảng đã sớm khẳng định công nghiệp
hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Năm 1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, Đảng xác định chủ trương

công nghiệp hoá ở miền Bắc, bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một
cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nghiệp và công nghiệp nhẹ''. Để tạo điều
kiện thực hiện công nghiệp hoá, Đại hội đưa ra quan điểm: phải ra sức phát triển
nông nghiệp toàn diện trên cơ sở hợp tác hoá, động viên mọi nhân tố tích cực của
sản xuất nông nghiệp để xúc tiến xây dựng công nghiệp, phát triển công nghiệp đi
đôi với phát triển nông nghiệp; đẩy mạnh cuộc cách mạng văn hoá, tư tưởng và
cách mạng kỹ thuật;...
Quan điền lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công
nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp, công
nghiệp nhẹ được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lẩn thử 7 khoá III (6- 1961)
thể hiện cụ thể hơn: phải tạo ra những cơ sở vật chất - kỹ thuật mới, một mặt nhằm
phục vụ nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, đáp ứng nhu cầu của đời sống nhân dân,
mặt khác, nhằm tăng cường năng lục cho bản thân công nghiệp nặng có khả năng
trang bị kỹ thuật cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân; đồng thời tiên cơ sở nền nông
nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân đó mà chủ động vươn lên trong công
nghiệp hoá. Hội nghị Trung ương 7 khoá III còn chủ trương phát triển công nghiệp
Trung ương đồng thời đẩy nhanh công nghiệp địa phương, kết hợp xí nghiệp quy
mô lớn với xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ, kết hợp kỹ thuật hiện đại với kỹ thuật thô
sơ.''Lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một
cách hợp lý'' không chỉ phản ánh sự nóng vội về lộ trình công nghiệp hoá mà còn
thể hiện quan niệm công nghiệp hoá theo kiểu cổ điển: ''Chúng ta hiểu công nghiệp
chủ yếu là công nghiệp nặng. dàn đều trên các ngành cơ khí, điện, luyện kim, hoá
chất, v.v...''.


Trong quá trình thực hiện, chúng ta cũng dần phát hiện rằng trong điều kiện
vốn đầu tư hạn chế và thế mạnh kinh tế miền Bắc là nông nghiệp và công nghiệp
nhẹ mà thực hiện cùng lục vừa ''ưu tiên phát triển công nghiệp nặng'', vừa phải
''đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ'' là không phù hợp. Vì
thế, sau ngày thống nhất đất nước, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ lV của Đảng
(12-1976) xác định: ''Điều có ý nghĩa quyết định là phải thực hiện công nghiệp hoá
xã hội chủ nghĩa nhằm tạo một cơ cấu công - nông nghiệp hiện đại và con đường
cơ bản tạo ra cơ cấu ấy là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên
cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ''.
Quan điểm này cho thấy Đảng đã nhìn nhận cách thức tiến hành công nghiệp
hoá sát hợp hơn với thực tế. Song dù có điều chỉnh cách nhìn nhận vị trí của nông
nghiệp và công nghiệp nhẹ là cơ sở của công nghiệp nặng, thì rõ ràng chủ trương
công nghiệp hoá của Đảng ở Đại hội IV căn bản vẫn hướng vào ưu tiên phát triển
công nghiệp nặng. Sau này Đại hội VI của Đảng (1986) đánh giá: ''Trong năm năm
1976-1980, trên thực tế chúng ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá trong
khi chưa đủ các tiền đề cần thiết''. Đại hội Đại biểu toàn quốc lấn thứ V của Đảng
(1982 bước đầu nhận thấy hạn chế của chủ trương công nghiệp hoá trước đây và đã
điều chỉnh theo hướng: Tập trung sức phát thển nông nghiệp, coi trọng nông nghiệp
là mặt trận hàng đầu... ra sức đẩy mạnh công nghiệp hàng tiêu dùng tiếp tục xây
dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng kết hợp nông nghiệp, công nghiệp
hàng tiêu dùng công nghiệp nặng trong một cơ cấu kinh tế công nông nghiệp hợp
lý.. Phát triển nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng là tạo cơ sở cho các
ngành công nghiệp nặng hướng công nghiệp nặng chủ yếu và trước hết nhàm thúc
đẩy nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng đại hội cũng chủ trương khuyến
khích phát triển tiểu thủ công nghiệp. Trong điều kiện của nước ta, trên 70% dân số
làm nông nghiệp thì ở thời kỳ đầu tiến hành công nghiệp hoá, chủ trương của Đại
hội lần thứ V là phù hợp với thực tế.
Theo đó, từ sau Đại hội V, Đảng đã có điều chỉnh cơ cấu đà tư với việc đình
chỉ những công trình công nghiệp không trọng điểm, chỉ trừ lại những công trình
công nghiệp nặng thuộc diện ưu tiên (dầu khí, xi măng, điện. ), để tập trung vốn
đầu tư cho nông nghiệp và công nghiệp nhẹ Tuy vậy, chủ trương này chưa được
quán triệt đầy đủ trong thực tiễn, nông nghiệp chưa thực sự được đặt đúng vị trí là
mặt trận hàng đầu như khẳng định của Nghị quyết Đại hội V. Những năm 19811985, Nhà nước vẫn tiếp tục đầu tư lớn vào công nghiệp nặng, nhưng đáng tiếc là
công nghiệp nặng vẫn không phục vụ kịp thời cho nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.


Nhìn chung, những quan điểm, chủ trương công nghiệp hoá của Đảng trước
l986 gắn liền và chịu sự tác động của nhận thức lý luận và quan niệm cũ về công
nghiệp hoá; của cơ chế tập trung, bao cấp, không thừa nhận các quy luật của thị
trường; của yêu cầu cách mạng giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc,
hạn chế đó được thể hiện trên những điểm chính sau đây:
- Phạm vi của công nghiệp hoá tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp, nhất
là công nghiệp nặng, nhằm mục tiêu thay thế sức lao động thủ công bằng máy móc.
- Nóng vội đầu tư chủ yếu cho công nghiệp nặng mà không tính toán đầy đủ
các tiền đề kinh tế - xã hội, không dựa trên sự phát triển của nông nghiệp và công
nghiệp nhẹ, không khai thác tất các tiềm năng của nông nghiệp và công nghiệp nhẹ
theo hướng công nghiệp hoá. Cơ cấu đầu tư tập trung quá nhiều cho công nghiệp
nặng, nên vốn vay nước ngoài phần lớn bị chôn chân ở đây, cộng thêm những hạn
chế của cơ chế bao cấp, nguồn lực của nước ngoài bị sử dung lãng phí, làm gia tăng
tình trạng nợ nần của nền kinh tế Công nghiệp hoá được xem là công việc của Nhà
nước của các thành phần kinh tế nhà nước và tập thể, nên không phát huy được
tiềm năng, ai thò của các thành phần kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài.
Công nghiệp hoá theo hướng thay thế nhập khẩu nên không gắn được với thị
trường thế giới và quá trình phân công ở động quốc tế, qua đó mà phân bố lại
nguồn lực trong nước.
Công nghiệp hoá trong nền kinh tế hiện vật, phi thị trường, nên hạn chế
trong việc tình kiếm và phát huy động lực từ khoa học và công nghệ, ít có khả năng
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; và hợp tác chỉ giới hạ lì trong hệ
thống các nước xã hội chủ nghĩa theo kiểu bao cấp. nên không gắn được công
nghiệp hoá với hiện đai hoá không hình thành được các quan hệ hợp tác theo kiểu
đốl tác cùng phát triển.
Từ những hạn chế nêu trên hàng loạt vấn đề đặt ra đối với Đảng trong hoạch
định đường lối công nghiệp hoá, hiện đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, đó là:
(l) Nhận thức lạc bước đi, cách thức công nghiệp hoá cho phù hợp với điều
kiện nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trước mắt là đưa đất nước
thoát khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội.
(2). Nhận thức đúng đắn, đầu đủ hơn mối quan hệ giữa phát triển lực lương
sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất trong điều kiện một nước chưa qua chủ
nghĩa tư bản, trình độ kinh tế lạc hậu.


(3). Nhận thức đúng đắn về công nghiệp hoá trong qua trình gỡ bỏ cơ chế kế
hoạch hoá, tập trung, bao cấp, thiết lập nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa mới sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, công nghiệp hoá phù hợp
với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế
(4). Nhận thức đúng và có cơ chế, biện pháp phù hợp nhằm khai thác, phát
huy ở mức cao nhất những nguồn lực phục vụ công nghiệp hoá trong bối cảnh mới.
Xử lý đúng đắn nlốl quan hệ giữa nội lực và ngoại lực, trước bố cảnh nền kinh tế và
khoa học công nghệ trên thế giới phát triển như vũ bão, phân công lao động quốc tế
sâu sắc .
Từ thập nên 50 của thế kỷ XX, thế giới bước vào cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai. Khác với cuộc cách mạng công nghiệp (còn gọi là cuộc cách
mạng kỹ thuật lần thứ nhất) mà nội dung chủ yếu là cơ khí hoá, cuộc cách mạng
khoa học - kỹ thuật lần này có nội dung chủ yếu là tự động hoá cao độ, hiện đại hoạ
kỹ thuật và sản xuất trên cơ sở những phát minh khoa học mới nhất, sử dụng những
năng lượng mới, vật liệu mới, công cụ sản xuất mới, mở lộng phạm vi nghiên cứu,
từ đi sâu vào vũ trụ bao la đến thám hiểm thế giới vi mô của hạt nhân nguyên tử.
Cuộc cách mạng này đã tạo nên những tác động to lớn làm biến đổi sâu sắc mọi
mặt của đời sống xã hội:
So với các nước khác, Việt Nam đi sau trong quá trình công nghiệp hoá, lại
có điển xuất phát thấp, đòi hỏi phải hoạch định chủ trương, đường lối công nghiệp
hoá phù hơn, vừa tuân thủ những quy luật, bước đi cần thiết của công nghiệp hoá từ
một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, lại phải tính toán đến đặc dlểm mới của cuộc
cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai và tranh thủ những thành tựu mới nhất của
nó để rút ngắn thời gian, thu hẹp khoảng cách với các nước.
II. HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG

XHCN ĐỂ ĐẨY MẠNH CNH,HĐH GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI
THỨC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
1. Quá trình hình thành và phát triển tư duy lý luận của Đảng về Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.
Chủ trương công nghiệp hoá của Đảng thực sự được đổi mới từ Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ VI và là một bộ phận quan trọng của đường lối đổi mới. Từ
nhận thức sát hơn về đặc điểm của đất nước trong chặng đường đầu thời kỳ quá độ,
''là bước quá độ nhỏ trong bước quá độ lớn'', Đai hội VI chủ trương: ''Tiếp tục xây
dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa


trong chặng đường tiếp theo'', ''trước mắt là trong kế hoạch 5 năm 1986-1990 phải
thật sự tập trung sức người, sức cả vào việc thực hiện cho được ba chương trình
mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dựng và hàng khẩu 'không bố trí xây
đựng công nghiệp nặng vượt quá điều kiện và khả năng thực tế, ngay cả để phục vụ
nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.
Nhìn chung, những đổi mới trong nhận thức của Đảng về công nghiệp hoá,
hiện đại hoá được đề cập tại Đại hội VI và Đại hội VII tập trung vào bước đi là điều
kiện tiền đề củu công nghiệp hoá. Về bước đi, Đảng nhận thức rõ hạn chế nóng vội
của công nghiệp hoá theo hướng tập trung vào là công nghiệp nặng những năm
trước, từ đó chủ trương phải là có một giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ chuẩn bỉ
tiền đề cho công nghiệp hoá. Giai đoạn này có nhiệm vụ đưa nền kinh tế - xã hội
vượt qua khủng hoảng, bước đầu điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho công nghiệp, thực
hiện các chính sách chuyển đổi cơ chế quản lý nhằm khai thông sự phát triển của
nền kinh tế nói chung và của công nghiệp nói riêng các điều kiện tiền đề được nhận
thức toàn diện và cụ thể hơn: ổn định chính trị, thực hiện thành công ba chương
trình kinh tế lớn để đưa đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội, phát triển
mạnh nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu đùng làm cơ sở đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Đồng thời các chính sách, biện pháp đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế cũng tạo ra môi trường, điều kiện thuận lợi cho công nghiệp hoá, đó là việc thiết
lập nền kinh tế nhiều thành phần và cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
bước đầu mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế,... Từ những quan điểm đổi mới nêu
trên, công nghiệp tăng trưởng khá, bình quân 7,7%/năm trong giai đoạn l986-l990
và 13,7%/năm trong giai đoạn 199l-1995, trong đó công nghiệp hàng tiêu dùng vừa
tăng nhanh về số lượng vừa nâng cao về chất lượng. Cơ cấu ngành, cơ cấu thành
phần cũng đã có những chuyển biến tích cực, đáng chú ý là công nghiệp khu vực
FDI đã chiếm 23,6% tổng giá trị sản phẩm toàn ngành.
Từ những thành công của quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện
ba chương trình kinh tế lớn, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tại
Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1-1994), Đảng khẳng định:
''Những thành tựu quan trọng đạt được đã và đang tạo ra những tiền đề đưa đất
nước chuyển dần sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy tới một bước công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Yêu cầu đặt ra là Đảng phải đưa ra nhận thức mới về
nội dung, phạm vi của công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đưa ra lộ trình và các biện
pháp tiến hành phù hợp với những điều kiện tiền đề đã có, với nền kinh tế nhiều
thành phần và cơ chế thị trường đang được thiết lập và với những chuyển biến của


nền kinh tế, khoa học kỹ thuật thế giới. Hội nghị nhận định về cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật, xu thế hoà bình hợp tác phát tnển trên thế giới là thuận lợi quan
trọng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đồng thời chỉ rõ nguy cơ tụt hậu xa hơn về
kinh tế, là một thách thức đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
Triển khai Nghị quyết Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa hiện kỳ khoá VII,
tháng 7-1994, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ 7 ra Nghị quyết
''Về phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mớl''. Những
quan điểm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Hội nghị tiếp tục được phát triển
trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lẩn thứ VIII của Đảng, đánh dấu bước
chuyển biến căn bản và toàn điện của Đảng về công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thể
hiện rõ ở những nội dung:
Quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 7 khoá VII chính thức đưa ra định nghĩa: ''là hoạt động sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ và quản lý xã hội từ cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ tiên
tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công
nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”: Định nghĩa này đã phản ánh được
phạm vi rộng lớn của công nghiệp hoá, hiện đại hoá; gắn công nghiệp hoá với hiện
đại hoá; xác định được vai trò của khoa học - công nghệ trong quá trình này; chỉ la
cái cốt lõi của công nghiệp hoá là cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao
động sử dụng kỹ thuật uên tiến, hiện đại để đạt năng suất lao động cao. Mục tiêu
lâu dài của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời kỳ mới là xây dựng nước ta
thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, có cấu kinh tế
hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất; nhân dân có đời sống vật chất và tinh thần cao; quốc phòng và an ninh vững
chắc.
Như vậy, mục đích cao nhất, cuối cùng của đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước không chỉ đơn giản là ra sức phát triển công nghiệp, không chỉ
nhằm tăng tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế quốc đần mà phải xây dựng được
cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, tạo ra cơ sở vững chắc để xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội với mục tiêu dân giàu, nước mạnh. xã hội công bằng,
văn minh.


Sự khác nhau căn bản lề chất của quá trình công nghiệp hoá ở nước ta với
công nghiệp hoá ở các nước tư bản chính là ở mục đích cuối cùng này. Còn hình
thức nước đi biện pháp tiến hành, đương nhiên chúng ta có thể thần khảo kinh
nghiệm cua cây nước đi trước và để quá trình công nghiệp hoá ở nước ta không vấp
phải những sai lầm mà các nước đi nước đã phạm phải.
Mục tiêu cụ thể của công nghiệp hoá, hiện đai hoá là: Lực lương sản xuất
dần đạt trình độ tương đối hiện đại, phần lớn lao động thủ công được thay thế bằng
lao động ngáy móc. Cơ cấu kinh tế thay đổi theo hướng công nghiệp và dịch vụ
chiếm tỷ trọng lớn, dẫn tới biến đổi về cơ cấu xã hội với sự gia tăng đần lao động
trong khu vực công nghiệp và địch vụ, giảm đần lao động trong nông nghiệp. Khoa
học và công nghệ có khả năng vận đụng được nhiều thành tựu mới nhất của cách
mạng khoa học và công nghệ. Khoa học xã hội vĩ nhân văn có khả năng làm cơ sở
cho việc xây dựng hình thái ý thức xã hội mới.
Về quan hệ sản xuất: chế độ sở hữu, cơ chế quản lý chế độ phân phốl gắn kết
với nhau tạo ra điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các yếu tố của lực lượng
sản xuất và là động lực mạnh mẽ để thực hiện công bằng xã hội, các thành phần
kình tế phát triển mạnh mẽ, bình đắng tham gia và đóng góp vào quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. nhân tố nhà nước cùng với kinh tập thể trở thành nền tảng
trong nền kinh tế.Các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa VII và Nghị quyết
Đại hội VIII của Đảng quán triệt những quan điểm chỉ đạo công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá:
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Giữ
vững độc lập tự chủ đi đối với mở rộng hợp tác quốc tế đa phương hoá, đa dạng
hoá quan hệ đối ngoại. dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh thủ
tối đa nguồn lực bên ngoài.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành
phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước và chủ đạo, được vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước.
Lấy việc phát huy yếu tố con người lám yếu tố căn bản cho sự phát triển
nhanh và bền vững. Xác lập địa vị làm chủ của người lao động trong nền sản xuất
xã hội, thực hiện công bằng xã hội ngày một tất hơn.
- Khoa học và công nghệ là động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá Kết
hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại; tranh thủ đi nhanh vào hiện
đại ở những khâu quyết định.


- Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án
phát triển.
- Kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh.
Trên cơ sở đối mới quan niệm, nhận thức về công nghiệp hoá, Đảng ta đã có
những điều chỉnh phù hợp về nội dung và bước đi của công nghiệp hoá, hiện đại
hoá. Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa hiện kỳ và Nghị quyết Hội nghị Trung ương
lẩn thứ 7 khoá VII của Đảng đều nhấn mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa phải
được tiến hành từng bước với những nội dung cụ thể được thực việc hoàn thành
mục tiêu bước trước phải tạo tiền đề cho việc thực hiện tốt các bước tiếp theo xác
định mục tiêu phấn đấu trong hoảng 2 năng đưa nước ta trở thành nuột nước công
nghiệp thì nội dung công nghiệp hoá của những năng còn lai của thập kỷ 90 là rất
quan trọng:
Thứ nhất, công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Nghị quyết Đại hội VIII nhấn mạnh: ''Đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn
với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản'' phát triển nông nghiệp và kinh tế
nông thôn là một nội dung quan trọng hàng đầu để giảm dần chênh lệch giàu
nghèo, tạo công bằng xã hội, đảm bao cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế,
đồng thời tiếp tục tạo ra các điều kiện tiền đề về vật chất và nguồn nhân lực cho
công nghiệp hoá, hiện đại hoá Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn sẽ khai thác tốt lợi thế so sánh của nền kinh tế - xã hội đất nước, phát huy tiềm
năng của các thành phần kinh tế nông thôn với trên so% dân số cả nước. Mặt khác,
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn sẽ khai thông thị trường cho các ưng vực
công nghlệp~ dịch vụ, khoa học - công nghệ. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá hướng
vào nông nghiệp sẽ tạo điều kiện cho việc thay đổi nhanh chóng đời sống kinh tế ~
xã hội ở nông thôn, xóa dần sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, củng cốl1ên
minh công - nông - trí, là cơ sở xã hội đảm bảo sự ổn định chính trị và nền tảng
chính trị của chủ nghĩa xã hội.
Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn là
chủ trương phù hợp với điều kiện của một nước nông nghiệp và có thế mạnh về
nông nghiệp như nước ta. Nhưng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn không phải là phát triển nhanh công nghiệp ở khu vực này, mà phải tập trung
chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, tạo ra các vùng sản xuất có tính
chất hàng hoá, đồng thời tập trung làm tất thuỷ lợi hoá, cơ khí hoá nông nghiệp,


phát triển công nghiệp chế biến với công nghệ hiện đại để sản phẩm có sức cạnh
tranh ở trong nước và thế giới. Công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn phảl phù
hợp với quá trình chuyển địch cơ cấu kinh truông thôn, phù hợp với sự phát triển
dân trí, với sự chuyển biến về cơ cấu và chất lượng lao động.
Dựa trên nền tảng nông nghiệp, tích luỹ từ kinh tế nông nghiệp, nông thôn
để tiến hành công nghiệp hoá là một quy luật khá phố biến trên thế giới Nhưng ở
hầu hết các nước tư bản trước đây thì đó là việc khai thác tiệt để tiềm năng nông
nghiệp, nông thôn. nông dân vì lợi nhuận, bất chấp những hậu quả xã hội Chủ
trương đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn của Đảng
ta không chỉ có ý nghĩa tạo tiền đề cho quá trình dẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá các lĩnh vực đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao, khai thác tất lợi thế so sánh
của một nước nông nghiệp nhiệt đới có nhiều tiềm năng như nước ta, mà còn là một
bài toán phát triển có ý nghĩa xã hội động lớn và sâu sắc Chủ trương này thể hiện
sáng rõ định hướng xã hội chủ nghĩa trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hóa
ở nước ta.
Thứ hai, phát triển mạnh hàng tiêu dùng.
Quan điểm xem nông nghiệp là mặt trận hàng đầu và ưu tiên phát triển công
nghiệp hàng tiêu đùng là sự đổi mới rất sâu sắc trong nhận thức của Đảng về Công
nghiệp hóa,hiện đại hoá. Thực tế cho thấy không một nước nào muốn phát triển mà
giai đoạn tiền công nghiệp lai không tập trung phát triền công nghiệp hàng tiêu
dùng để giải quyết những nhu cầu thiết yếu, đa dạng của dân cư. Công nghiệp hoá,
hiện đại hoá trong cơ chế thị trường phải xuất phát từ nhu cầu của xã hội, sản
xuất.phải gắn với thị trường, Phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng sẽ thúc đẩy
phát triển các ngành kinh tế khác, nhất là nông lâm ngư nghiệp. Phát triển công
nghiệp hàng tiêu dùng sẽ góp phần tích lũy vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng có khả năng tạo ta nguồn tích lũy vốn nhanh
do đầu tư ít và thu hồi nhanh, lợi nhuận lớn, đặc biệt là các ngành có thặng dư lớn
như thuốc lá, rượu, bia, chất dẻo, hàng may mặc, điện tử Phát triển công nghiệp
hàng tiêu dùng thúc đấy các ngành sản xuất phát triển, hình thành mạng lưới gia
công, chế biến rộng rãi ở cả thành thị và nông thôn, góp phần đất tích cực vào
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ.
Số lao động nông nghiệp sẽ chuyển sang làm công nghiệp tại chỗ mà không
cần phải chuyển về thành phố.


Như vậy, ở giai đoạn đầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ
trưong ưu tiên phát triển công nghiệp hàng tiêu đùng là phù hợp mới hoàn cảnh
nước ta Nhung điều đó không có nghĩa là không chú ý đến phát triến công nghiệp
nặng. Hội nghị Đại biểu giữa nhiệm kỳ và Hội nghị Trung ương khoá VII của Đảng
xác định: Để giữ được độc lập, tự chủ, nước ta phải tiến tới là một nước công
nghiệp, trong đó công nghiệp nặng sẽ từng bước được ưu tiên phát triển đáp ứng
yêu cầu tự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong những năm trước
mắt, cần phát triển chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng (năng lượng – nhiên
liệu vật lbệu xây đựng, cơ khí chế tạo, đóng và sửa tàu thuỷ, luyện kim, hoá chất)
tăng thêm năng lực sản xuất tương ứng với yêu cầu tăng trưởng kinh tế, nâng cao
khả năng độc lập tự chủ về kinh tế và quốc phòng,
Thứ ba, công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng ra xuất khẩu.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá hướng rẻ xuất khẩu sẽ tận dụng được những
lợi thế của một nước có điều kiện lao động rẻ, nguyên liệu dồi dào, vị trí địa lý
thuận lợi cho giao lưu quốc tế... Đẩy mạnh xuất khẩu là biện pháp hữu hiệu để cải
thiện cán cân xuất nhập khẩu của nền kinh tế theo hướng hạn chế chênh lệch lớn
giữa xuất và nhập khẩu. Đây cũng là biện pháp rất quan trọng để có vốn đầu tư,
công nghệ, ngáy móc, thiết bị phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại
Thứ tư tăng tốc độ phát triển một số ngành công nghiệp, dịch vụ mũi nhọn,
tạo điều kiện về cơ sở hạ tầng dịch vụ kỹ thuật, đồng thời kéo những ngành hhác
phát triển theo.
Những ngành như: điện tử, viễn thông, tin học hàng không, dầu khí... tiến
hành đi trước, đón đầu về khoa học - công nghệ, bỏ qua công nghệ trung gian, đi
thẳng vào hiện đại, vươn lên trình độ khu vực và thếglới Bên cạnh đó, một số
ngành. như công nghiệp đóng tàu, lắp ráp cơ khí,. tiến hành đón nhận. tiếp thu luồn
dịch chuyển về công nghệ từ các nước đi trước chuyển giao. Một số ngành có yêu
cầu về kỹ thuật chưa cao, giá trị gia tăng thấp như dệt may, giày dép.. cũng được
khuyến khích phát triển nhằm thu hút lao động, góp phần ổn định xã hội. Nội dung
này có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ thể hiện sự thay đôi quan điểm về cấu trúc
công nghiệp, từ cấu trúc công nghiệp truyền thống chủ yếu là công nghiệp nạng,
phát triển công nghiệp dựa vào tài nguyên và lao động sang cấu trúc mới, phát triển
công nghiệp, dịch vụ đưa chủ yếu vào tri thức, thông tin,,.. mà còn thể hiện bước
đầu quan điểm của Đảng về rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, tiếp tục được phát
triển tại các Hội nghị, Đại hội sau.


Chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà Đại hội VIII nêu ra
không chỉ xuất phát từ thực tiễn đất nước, hướng tới các mục tiêu của cách mạng
nước ta mà còn xuất phát từ những điều kiện khách quan của thế giới và khu vực.
Kinh nghiệp của các nước trong khu vực cho thấy, trong quá trình công nghiệp hoá,
đế hạn chế những khuyết tật của một xã hội công nghiệp theo kiểu phương Tây họ
đã sử dụng nhà nước làm công cụ can thiệp mạnh mẽ vào các mặt kinh tế - xã hội
Trong điều kiện của nước ta, vai trò quản lý của Nhà nước càng giữ vị thí quan
trọng để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thực hiện quản lý đất nước bằng pháp luật, theo đó Nhà nước là
Đại diện cho sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất chủ yếu, nắm quyền quản lý và
khai thác có kế hoạch toàn bộ tài nguyên của đất nước. Vì vậy mọi đường lối chủ
trương của Đảng phải được pháp chế hoá, tạo cơ sở pháp lý cho sự quản lý của Nhà
nước đồng thời, Nhà nước cụ thể hoá đuờng lối cua Đảng thành các chính sách để
đưa vào thực tiễn cuộc sống. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá tiến hành trong cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường sẽ góp phần quan trọng
huy động các nguồn lực phát triển, khai thông những vướng mắc về cơ chế vận
động của quá trình công nghiệp hoá; đồng thời trong diều kiện đó thì vai trò quản
lý của Nhà nước rất quan trọng để đảm bảo cho thắng lợi của những mục tiêu kinh
tế- xã hội mà đường lối của Đảng đã xác định Làm tất vấn đề trên thì định hướng
xã hội chủ nghĩa của Đảng sẽ không dừng lại ở các nguyên tắc mà quan trọng hơn
là được biến thành hành động trong thực tiễn. Nhà nước quản lý kinh tế ở tầm vĩ
mô thông qua việc ban hành những chính sách để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá và hạn chế những tiêu cực nảy sinh trong quá trình công nghiệp hoá.
Nhà nước nắm trong tay các công cụ quản lý vĩ mô và cổ phần chi phối ở
những lĩnh vực thiết yếu, có khả năng chi phối nền kinh tế, tạo ra nuôi trường thuận
lợi để lọi thành phần kinh tế phát triển, đồng thời kiên quyết trấn áp những kẻ lợi
dụng chính sách mở cửa thông thoáng để chống lại chủ nghĩa xă hội.
Xu hướng vận động khách quan của thời Đại tạo ra những thuận lợi cho quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta. Nhưng công nghiệp hoá trong thời
kỳ phát triển mới của đất nước không lặp lại mô hình công nghiệp hoá tập trung,
bao cấp trước đây, mà là quá trình vận động trong cơ chế thị trường có nhiều thành
phần kinh tế tham ra nên tinh chất tự phát tư bản chủ nghĩa cũng luôn xuất hiện. Vì
vậy, nhân tố chu quan là sự lãnh đạo của Đảng về kinh tế, chính thị, văn hoá xã hội
thông qua việc hoạch định cuơng lĩnh, mục tiêu của quá trình công nghiệp hoá là
nhân tố có tính quyết định cho thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở nước ta.


Giũ vững sự lãnh đạo của Đảng, làm tốt chức năng quản lý của thà nước xã
hội chủ nghĩa, khơi nguồn sức mạnh của toàn dân, là những nhân tố quyết định cho
sự thành công của mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa
Bước vào thế kỷ XXI, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (42001) tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã được
định hình những nét cơ bản tại Hội nghị Trung ương 7 khoá VII và Đại hội VIII.
Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn
thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt. Phát huy những lợi
thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc
biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng
nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và
công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức. Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức
mạnh tinh thần của người Việt Nam; coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học
và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối, chính sách, đồng thời có
tiềm lực kinh tế đủ mạnh: có mức tích luỹ ngày càng cao từ nội bộ nền kinh tế; có
cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức cạnh tranh; kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại và có
một số ngành công nghiệp nặng then chốt; có năng lực nội sinh về khoa học và công
nghệ; giữ vững ổn định kinh tế - tài chính vĩ mô; bảo đảm an ninh lương thực, an
toàn năng lượng, tài chính, môi trường... Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi
với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực
tổng hợp để phát triển đất nước.
Phát triển kinh tế nhanh, có hiệu quả và bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mọi hoạt động
kinh tế được đánh giá bằng hiệu quả tổng hợp về kinh tế, tài chính, xã hội, môi
trường, quốc phòng và an ninh. Trước mắt, tập trung nâng cao hiệu quả sản xuất,
kinh doanh của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước, hiệu quả đầu
tư, hiệu quả sử dụng vốn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư dựa trên cơ
sở phát huy các thế mạnh và các lợi thế so sánh của đất nước, tăng sức cạnh
tranh, gắn với nhu cầu thị trường trong nước và ngoài nước, nhu cầu đời sống


nhân dân và quốc phòng, an ninh. Tạo thêm sức mua của thị trường trong nước và
mở rộng thị trường ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu.
Tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Tiếp tục phát triển và
đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến
bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học; đẩy mạnh thuỷ lợi hoá, cơ
giới hoá, điện khí hoá; quy hoạch sử dụng đất hợp lý; đổi mới cơ cấu cây trồng, vật
nuôi, tăng giá trị thu được trên đơn vị diện tích; giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ nông
sản hàng hoá. Đầu tư nhiều hơn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội ở
nông thôn. Phát triển công nghiệp, dịch vụ, các ngành nghề đa dạng, chú trọng
công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các làng nghề, chuyển một bộ
phận quan trọng lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo
nhiều việc làm mới; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống nông
dân và dân cư ở nông thôn.
Công nghiệp vừa phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động, vừa đi
nhanh vào một số ngành, lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao. Phát
triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ sản, may mặc, da - giầy, một số
sản phẩm cơ khí, điện tử, công nghiệp phần mềm... Xây dựng có chọn lọc một số
cơ sở công nghiệp nặng quan trọng sản xuất tư liệu sản xuất cần thiết để trang bị
cho các ngành kinh tế và quốc phòng. Khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên
dầu khí, khoáng sản, vật liệu xây dựng. Chú trọng phát triển các doanh nghiệp
vừa và nhỏ; xây dựng một số tập đoàn doanh nghiệp lớn đi đầu trong cạnh tranh
và hiện đại hoá.
Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ: thương mại, kể
cả thương mại điện tử, các loại hình vận tải, bưu chính - viễn thông, du lịch, tài
chính, ngân hàng, kiểm toán, bảo hiểm, chuyển giao công nghệ, tư vấn pháp lý,
thông tin thị trường... Sớm phổ cập sử dụng tin học và Mạng thông tin quốc tế
(Internet) trong nền kinh tế và đời sống xã hội.
Xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng: giao
thông, điện lực, thông tin, thuỷ lợi, cấp nước, thoát nước...
Phát triển mạng lưới đô thị phân bố hợp lý trên các vùng. Hiện đại hoá dần
các thành phố lớn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá nông thôn. Không tập trung quá nhiều
cơ sở công nghiệp và dân cư vào các đô thị lớn. Khắc phục tình trạng ùn tắc giao


thông và ô nhiễm môi trường. Tăng cường công tác quy hoạch và quản lý đô thị, nâng
cao thẩm mỹ kiến trúc.
Về chiến lược phát triển các vùng, phát huy vai trò của các vùng kinh tế
trọng điểm có mức tăng trưởng cao, tích luỹ lớn; đồng thời tạo điều kiện phát triển
các vùng khác trên cơ sở phát huy thế mạnh của từng vùng, liên kết với vùng trọng
điểm tạo mức tăng trưởng khá. Quan tâm phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng
cường quốc phòng - an ninh ở các vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
biên giới, hải đảo, chú trọng các vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam. Có chính
sách hỗ trợ nhiều hơn cho các vùng khó khăn để phát triển kết cấu hạ tầng, nguồn
nhân lực, nâng cao dân trí, xoá đói giảm nghèo, đưa các vùng này vượt qua tình
trạng kém phát triển. Có chiến lược phát triển các vùng biên giới.
Phát triển mạnh và phát huy vai trò chiến lược của kinh tế biển kết hợp với
bảo vệ vùng biển: mở rộng nuôi trồng và đánh bắt, chế biến hải sản, tiến ra biển xa;
khai thác và chế biến dầu khí; phát triển công nghiệp đóng tàu và vận tải biển, du
lịch, dịch vụ; phát triển các vùng dân cư trên biển, giữ vững an ninh vùng biển.
Từng bước hiện đại hoá công tác nghiên cứu, dự báo khí tượng - thủy văn
và vật lý địa cầu; có kế hoạch và biện pháp tích cực chủ động phòng chống thiên
tai, tìm kiếm, cứu nạn.
Sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ và cải thiện môi trường tự
nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, coi đây là một nội dung quan trọng của chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội. Tăng
cường công tác quản lý ở tất cả các lĩnh vực, các vùng; thực hiện nghiêm Luật bảo
vệ môi trường.
Từ quan điểm của Đại hội IX và trên cơ sở kết quả đã đạt được trong những
năm đầu thế kỷ XXI, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá được chỉ đạo phát
triển với những hướng mới: chuẩn bị xây dựng và xây dựng có chọn lọc một số cơ
sở quan trọng về công nghiệp cơ bản như: năng lượng, vật liệu cơ khí; kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội được đẩy mạnh đầu tư xây dựng. Luật Doanh nghiệp ban hành
năm 2000 phát huy tác dụng tích cực. Đến cuối 2004 đã có 17.000 doanh nghiệp
công nghiệp và 800.000 hộ sản xuất cá thể.
Tốc độ tăng trưởng giây tư sản xuất công nghiệp bình quân năm (20012005) đạt trên 16%/năm. Đóng góp của ngành công nghiệp đối với nền kinh tế đất


nước nâng lên rõ rệt (năm 2005 chiếm 41% GDP). Bên cạnh đó, công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn được tiếp tục đẩy mạnh hơn với mục tiêu tổng
quát xây dựng nuột nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, hiệu quả và bền vững,
có năng suất, chất lương và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu
khoa học, công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; xây dựng
nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế
hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội phát triển ngày
càng hiện đại''.
Tiếp đó, Hội nghị Trung ương 9 khoá IX đưa ra những biện pháp chỉ đạo
mạnh mẽ hơn: điều chỉnh mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư và cơ cấu lao động
trong từng ngành, từng vùng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển
các ngành công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp phụ thợ cần thiết; phát triển dịch vụ
chất lượng cao:...
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X (4-2006) đã tổng kết 20 năm đổi mới,
trong đó có 10 năm chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Thành tựu những năng đầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá được Đại hội
nhấn mạnh là tăng trưởng kinh tế liên tục đạt mức cao, cơ cấu kinh tế tiếp tục dịch
chuyển theo huớng tích cực gắn với dịch chuyển cơ cấu lao động trong dần cư. Tuy
vậy. Đại hội cũng kiểm điểm: cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, chưa tương xứng
với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; kết cấu hạ tầng kinh tế,
xã hội và khoa học công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá.
Sau 20 năm đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH)
ở nước ta đã bước và giai đoạn phát triển mới - đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát
triển kinh tế tri thức. Đây là sự tiếp nối đường lối và chiến lược CNH, HĐH đã
được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
CNXH, năm 1991 của Đảng. Song, do sự thay đổi nhanh chóng các điều kiện phát
triển, cả ở trong nước và trên thế giới đòi hỏi phải có những tư duy mới về nội dung
và phương thức thực hiện CNH, HĐH.
Đại hội lần thứ X của Đảng đã xác định mục tiêu và phương hướng tổng
quát của 5 năm 2006-2010 là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới huy
động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
phát triển văn hoá; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, tăng cường quốc phòng
và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc


tế, giữ vững ổn định chính trị xã hội, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát
triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại.
Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền vững
hơn, gắn với phát triển con người. Đến năm 2010, tổng sản phẩm trong nước
(GDP) tăng gấp hơn 2,1 lần so với năm 2000. Trong những năm 2006-2010, mức
tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5 – 8%/năm, phấn đấu đạt trên 8%/năm”.
Để thực hiện được mục tiêu nói trên, nền kinh tế ở nước ta phải có lực lượng
sản xuất đạt trình độ phát triển cao và có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại - đại
công nghiệp cơ khí phát triển trên cơ sở khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại.
Muốn vậy phải đẩy mạnh CNH, HĐH.
Ngày nay, trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang phát
triển như vũ bão, nhiều công nghệ mới ra đời, trong đó công nghệ thông tin phát
triển rất nhanh, nó đã và sẽ tiếp tục giữ vai trò tổng hợp trong sự tác động của con
người đối với quá trình sản xuất và các hoạt động khác, đồng thời nó cũng đóng vai
trò chuyển đổi một thời đại phát triển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế
dựa vào tri thức. Và nền kinh tế dựa vào tri thức đến lượt nó lại mở đường cho các
nền kinh tế đang phát triển tiếp nhận công nghệ mới, nhất là công nghệ thông tin để
cơ cấu lại nền kinh tế coi phát triển công nghệ thông tin là hướng ưu tiên hàng đầu
để hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện chiến lược phát triển rút ngắn thông qua các
hoạt động tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật, công nghệ, vốn và tri thức kinh doanh,
kinh nghiệm quản lý tiên tiến.
Xu thế toàn cầu hóa kinh tế đang mở ra nhiều cơ hội đối với các quốc gia
dân tộc trong những thập niên đầu thế kỷ XXI. Có thể kể ra các cơ hội sau đây:
- Toàn cầu hóa kinh tế thúc đẩy nhanh sự phát triển lực lượng sản xuất, đưa
lại sự tăng trưởng cao của nền kinh tế thế giới, theo đó nó góp phần chuyển dịch cơ
cấu kinh tế thế giới. Đây là một cơ hội rất quan trọng cho sự phát triển của các
nước.
- Toàn cầu hóa kinh tế truyền bá và chuyển giao những thành quả mới về
khoa học, công nghệ, về tổ chức và quản lý, về sản xuất và kinh doanh đưa kiến
thức và kinh nghiệm đến với nhiều quốc gia dân tộc và đặc biệt là tạo tiền đề và
điều kiện cho các quốc gia đi sau rút ngắn lộ trình CNH.


- Toàn cầu hóa kinh tế mang lại những nguồn lực rất quan trọng và cần thiết
cho các nước đang phát triển, tạo khả năng cho các nước này có thể phát triển rút
ngắn, nhưng đồng thời nó cũng yêu cầu các nước đang phát triển phải xây dựng
được chiến lược phát triển quốc gia theo hướng có khả năng “bắt nhịp” và “thích
nghi” được với xu hướng phát triển hiện đại, nếu không muốn tụt hậu ngày càng xa
hơn.
Rõ ràng là xu thế toàn cầu hóa kinh tế và sự phát triển kinh tế tri thức đang
làm thay đổi mạnh mẽ nội dung và bước đi của quá trình CNH, HĐH và nó đòi hỏi
CNH, HĐH ở những nước đi sau (như Việt Nam) phải đồng thời thực hiện hai quá
trình: (1) Xây dựng nền công nghiệp theo hướng hiện đại. (2) Phát triển kinh tế tri
thức trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là hai nội dung của một quá trình
diễn ra đồng thời và phải được thực hiện đồng thời. Đảng ta đã xác định: CNH,
HĐH ở nước ta phải dựa vào tri thức, theo con đường đi tắt, rút ngắn. CNH, HĐH
phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang
kinh tế công nghiệp và từ một nền kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức.
Từ một trình độ thấp về kinh tế và kỹ thuật, muốn đi lên nhanh, và phát triển
theo hướng hiện đại cần kết hợp phát triển tuần tự với phát triển nhảy vọt. Nền kinh
tế nước ta phải phát triển theo mô hình “lồng ghép”, một mặt, phải phát triển nông
nghiệp và các ngành công nghiệp cơ bản, mặt khác, đồng thời phát triển những
ngành kinh tế dựa vào tri thức và công nghệ cao.
Trên thế giới ngày nay, công nghiệp hóa không chỉ gắn với các mục tiêu,
giải pháp có “tính chất truyền thống”, mà phải đạt tới mục tiêu hiện đại và dựa trên
các công cụ, giải pháp hiện đại. Theo nghĩa đó, công nghiệp hóa phải là quá trình
hiện đại hóa. Vì thế, CNH, HĐH được hiểu là quá trình công nghiệp hóa với các
mục tiêu và giải pháp phù hợp với điều kiện và xu hướng phát triển hiện đại. Nắm
bắt được xu hướng phát triển hiện đại và trên cơ sở tổng kết thực tiễn công cuộc đổi
mới ở nước ta, Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở
thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây
dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng XHCN”, “phát triển kinh tế, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm. Con đường công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự,
vừa có bước nhảy vọt”.


Đại hội lần thứ X của Đảng đã khẳng định: “Tranh thủ cơ hội thuận lợi do
bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát
triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và
công
nghiệp
hóa,
hiện
đại
hóa”.
Như vậy, có thể hiểu rằng, đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức
là một phương thức CNH mới trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ, của xu hướng toàn cầu hóa kinh tế đang gia tăng mạnh mẽ.
Chỉ có đẩy nhanh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức mới có thể
sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triến; tạo nền tảng để đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Mục tiêu trực tiếp của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong 5 năm (20062010) là phấn đấu thoát khỏi tình trạng một nước chậm phát triển, nâng cao sức
cạnh tranh của nền kinh tế, tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đại hội
khẳng định: tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi
thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức
là yếu tố quan trọng của nền kinh tế công nghiệp hoá, hiện đại hoá''. Nội dung của
quá trình này là: 1) Phát triển mạnh các ngành và các sản phẩm kinh tế có giá trị gia
tăng cao dựa nhiều vào tri thức; kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con
người Việt Nam với trí thức mới nhất của nhân loại 2) Coi trọng cả số lượng và
chất lương tăng trưởng kinh tế trong lỗi bước phát triến của đất nước, ở từng vùng,
từng địa phương, trong từng dự án kinh tế - xã hội. 3) Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện
đại và hợp lý theo ngành, theo anh vực và lãnh thổ, 4) Giảm chi phí trung gian,
nâng cao năng suất lao động của tất cả các ngành, lĩnh vực, nhất là các ngành, lĩnh
cực có sức cạnh tranh cao.
Định hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh
tế tri thức ở nước ta thời gian tới là:
Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải
quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp. Phát triển nhanh hơn công nghiệp, xây
dựng và dịch vụ, trong đó đặc biệt coi trọng các ngành công nghệ cao và Phát triển
kinh tế vùng thông qua các chính sách, cơ chế hợp lý tạo điều kiện cho cả nước
cùng phát triển, đồng thời thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của vùng kinh tế động


lực đủ lan toả, tác động đến các ngành khác. Phát triển kinh tế biển trên cơ sở xây
dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng
điểm, sớm đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh.
Chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải.
Khái quát lại, tư duy lý luận của Đảng về công nghiệp hoá trong thời kỳ đổi
mới nhất quán với đường lối công nghiệp hoá được nêu ra trước đó trên lột số vấn
đề có tính nguyên tắc: (i) quan niệm công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm của cả
thời kỳ quá độ lân chủ nghĩa xã hội, (ii) mục tiêu công nghiệp hoá nhằm chuyển đổi
một cách căn bản nền sản xuất xã hội từ lao động thủ công là chủ yếu sang lao
động bằng máy móc, phương tiện kỹ thuật, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; (iii) trên cơ sở sự phát triển của lực
lượng sản xuất, từng bước hình thành quan hệ sản xuất mới tiến bộ theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Bên cạnh những điểm thống nhất đó, tư duy của Đảng về công nghiệp hoá,
hiện đại hoá trong thời kỳ đổi mới có sự phát triển so với trước đây, trong đó đáng
chú ý là: Từ công nghiệp hoá thiên về phát triển công nghiệp nặng sang công
nghiệp hoá được đặt trong tổng thể một nền kinh tế thống nhất mà cơ cấu ngành
được dịch chuyển dần phù hợp trình độ, xuất phát điểm của đất nước và gắn liền
với công nghiệp hoá là hiện đại hoá và từng bước phát triển kinh tế tri thức; nội
dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá được bổ sung, bao quát nhiều mặt, từ sản xuất,
kinh doanh đến dịch vụ, quản lý văn hoá, xã hội. Từ công nghiệp hoá trong cơ chế
kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp sang công nghiệp hoá, hiện đại hoá được tiến hành
theo cơ chế thị lượng định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ chỗ xác định chủ lực thực
hiện công nghiệp hoá là Nhà nước và kinh tế quốc doanh sang quan điểm khẳng
định công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân với sự tham gia của
tất cả các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Từ chỗ
xác định nguồn lực chủ yếu của công nghiệp hoá là lao động, tài nguyên và nguồn
ngoại viện của các nước xã hội chủ nghĩa sang quan điểm ngày càng đề cao nguồn
lực trí tuệ, văn hoá và tranh thủ nguồn lực đa dạng từ bên ngoài, nhất là những
thành tựu khoa học công nghệ của thế giới.
Từ quan điểm công nghiệp hoá theo kiểu khép kín, hướng nội sang quan
điểm thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong hoàn cảnh mở cửa, hội nhập,
nhờ vậy khai thác hiệu quả nguồrnực trong nước, nhất là nguồn lực con người,


đồng thời tiếp cận nhanh, đa dạng nguồn lực từ bên ngoài, hướng tới xuất khẩu. Từ
nóng vội đầu tư cho công nghiệp nặng sang thực hiện công nghiệp hoá với một lộ
trình phù hợp trên cơ sở chuẩn bị kỹ về các điều kiện tiền đề; vừa tuần tự, vừa
nhảy vọt ở một số thời điểm, lĩnh vực để rút ngắn thời gian.
2. Một số định hướng chủ yếu thực hiện CNH, HĐH gắn với phát triển
kinh tế tri thức
Thứ nhất, đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, với những vấn
đề cơ bản sau đây.
- Hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái nhiệt đới đa dạng sản
phẩm hàng hóa, tỷ suất hàng hóa, chất lượng, năng suất và khả năng cạnh tranh
cao, phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng địa phương.
- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Chuyển
dịch cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trọng lao động làm
nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ.
- Chuyển giao nhanh và ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất nông
nghiệp, phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao, các vùng chuyên hóa tập
trung. Ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn. Thúc
đẩy quá trình đô thị hóa nông thôn phù hợp với điều kiện của từng vùng.
- Xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với sự phát triển của lực lượng
sản xuất và đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh. Xây dựng nông
thôn mới theo hướng dân chủ, công bằng, nông dân có cuộc sống no đủ, có đời
sống văn hóa lành mạnh, có môi trường sạch.
Thứ hai, phát triển kinh tế vùng
- Đẩy mạnh CNH, HĐH đòi hỏi tập trung phát triển trước hết một số vùng
có khả năng tăng trưởng mạnh nhất, tạo động lực lan tỏa đến các vùng khác trong
nước.
- Quy hoạch phát triển các vùng trọng điểm phải đặt trong quy hoạch phát
triển tổng thể của cả nước và tạo các mối liên kết kinh tế cơ bản giữa các vùng và
trong nội bộ từng vùng trên cơ sở phân công lao động, đưa vào lợi thế phát triển
của mỗi vùng.
- Cần đặc biệt quan tâm phát triển những vùng có thế mạnh tiềm năng tự
nhiên cho phép tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập... Đồng thời, có cơ chế chính sách


để tạo điều kiện cho các vùng còn nhiều khó khăn phát huy được tiềm năng của
mình để phát triển nhanh, đặc biệt là vùng biên giới, hải đảo, các vùng Tây Nguyên
Tây Nam và Tây Bắc.
Thứ ba, phát triển nhanh hơn công nghiệp xây dựng và dịch vụ
- Khuyến khích phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghệ chế tác,
công nghiệp phần mềm, công nghiệp bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản
phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động. Phát triển một số khu kinh tế mở và đặc
khu kinh tế, nâng cao hiệu quả các khu công nghiệp, khu chế xuất.
- Khuyến khích và tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia phát
triển mạnh các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; sản
xuất tư liệu sản xuất quan trọng theo hướng hiện đại; ưu tiên thu hút đầu tư của các
tập đoàn kinh tế và các công ty xuyên quốc gia.
- Trên cơ sở bổ sung và hoàn chỉnh quy hoạch, huy động các nguồn lực
trong và ngoài nước để xây dựng các kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Phát triển
công nghiệp năng lượng đi đôi với công nghệ tiết kiệm năng lượng. Hoàn chỉnh
một bước cơ bản mạng lưới giao thông, thủy lợi, cấp thoát nước... Tăng nhanh năng
lực và hiện đại hóa bưu chính - viễn thông.
- Phát triển vượt bậc các ngành dịch vụ.
Phát triển nhanh khu vực dịch vụ đáp ứng được yêu cầu và phù hợp với tiềm
năng còn rất lớn của nước ta và xu hướng phát triển chung của thế giới; tận dụng
tốt thời cơ hội nhập kinh tế để tạo bước phát triển vượt bậc của khu vực dịch vụ,
đưa tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ cao hơn tốc độ tăng GDP.
Ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng lớn và sức cạnh tranh cao.
Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ truyền thống, mở mang
các dịch vụ mới, nhất là những dịch vụ cao cấp, dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao,
các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh. Hiện đại hóa và mở rộng các dịch vụ ngân hàng theo
kịp yêu cầu phát triển của thị trường tài chính, tiền tệ và hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhà nước kiểm soát chặt chẽ độc quyền và tạo môi trường thuận lợi cho các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia và cạnh tranh bình đẳng trên
thị trường dịch vụ.
Thứ tư, chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ đáp ứng yêu cầu
phát triển


- Phát triển nguồn nhân lực là khâu quyết định triển vọng của quá trình
CNH, HĐH rút ngắn. Điều này thể hiện như sau:
+ Khắc phục những yếu kém về chất lượng nguồn nhân lực nước ta để đạt
mục tiêu nâng cao sức cạnh tranh, hội nhập kinh tế quốc tế thành công và củng cố
các cơ sở tăng trưởng bền vững.
+ Đây là cách thức đúng đắn để đạt mục tiêu phát triển con người.
+ Phát triển nguồn nhân lực chính là tạo lập cơ sở quan trọng để tiếp cận và
phát triển kinh tế tri thức.
Bởi vậy, chiến lược phát triển nguồn nhân lực phải được xác định là một nội
dung trung tâm của phát triển bền vững và của quá trình hiện đại hóa.
Phát triển nguồn nhân lực cần được thực hiện theo hai hướng: Phát triển con
người và hiện đại hóa khâu giáo dục, đào tạo. Ở đây, phát triển con người là nền
tảng, hiện đại hóa giáo dục, đào tạo là trung tâm. Ở nước ta hiện nay, giáo dục, đào
tạo còn lạc hậu và chưa thích ứng với việc hình thành nguồn nhân lực của quá trình
hiện đại hóa. Do đó, hiện đại hóa giáo dục, đào tạo chứ không chỉ dừng ở cải cách
là một vấn đề trọng tâm, mang tính tiên quyết của quá trình hiện đại hóa. Gắn với
quá trình hiện đại hóa giáo dục, đào tạo, việc đầu tư cho giáo dục đào tạo trong mối
quan hệ với hiện đại hóa nguồn nhân lực, được xem là đầu tư cho sản xuất, thuộc
“ngành công nghiệp nặng” và là đầu tư mang tính hiệu quả nhất.
- Phát triển khoa học và công nghệ phù hợp xu thế phát triển nhảy vọt của
cách mạng khoa học và công nghệ. Chú ý đi ngay từ đầu vào công nghệ hiện đại
đối với các lĩnh vực then chốt và từng bước mở rộng ra toàn bộ nền kinh tế. Đồng
thời, chú trọng đúng mức việc phát triển công nghệ sử dụng nhiều lao động để giải
quyết việc làm.
Trong vấn đề này, có ba điểm nhấn quan trọng.
a. Phát triển khoa học tự nhiên và công nghệ. Phát huy những năng lực nội
sinh đi đôi với tiếp thu, làm chủ, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ thế
giới. Phát triển các công nghệ cao, công nghệ thông tin, viễn thông, sinh học, vật
liệu mới, tự động hóa và sản xuất các dạng năng lượng mới. Phát triển hệ thống
thông tin quốc gia về nhân lực và công nghệ.
b. Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ theo hướng Nhà nước đầu
tư vào các chương trình nghiên cứu quốc gia đạt trình độ khu vực và thế giới, xây
dựng tiềm lực khoa học và công nghệ của một số lĩnh vực trọng điểm; xóa bỏ cơ


chế hành chính bao cấp, thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ
chức khoa học và công nghệ công lập. Huy động các thành phần kinh tế, đa dạng
hóa các nguồn lực đầu tư cho khoa học và công nghệ. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế
trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Nâng cao chất lượng và khả năng thương
mại của các sản phẩm khoa học và công nghệ; đẩy mạnh việc đổi mới công nghệ
trong các doanh nghiệp.
c. Xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, các nhà
khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và
công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. Có chính sách thu hút, trọng dụng các nhà
khoa học, công nghệ tài giỏi ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước
ngoài.
3. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN để đẩy
mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay
Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng có ghi “Trong 5 năm tới, chúng ta chủ
trương tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và đẩy
mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức”.
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN và đẩy
mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là hai nội dung có quan hệ
thống nhất, hữu cơ của quá trình phát triển rút ngắn để đến năm 2020 nước ta cơ
bản trở thành một nước công nghiệp theo hưởng hiện đại.
Có thể khẳng định rằng: “Công cuộc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ toàn diện và
đồng bộ hơn trong những năm tới phải lấy việc hoàn thiện thế chế KTTT định
hướng XHCN để phát huy tối đa nội lực, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế
quốc tế, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước là nội dung cơ bản.
Việc hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN, để thúc đẩy nhanh CNH,
HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, phải đảm bảo:
Một là, thực hiện mục tiêu chiến lược của sự phát triển KTTT là “quá trình
thực hiện dân giàu, nước mạnh tiến lên hiện đại trong một xã hội do nhân dân làm
chủ, nhân ái, có văn hóa, có kỷ cương, xóa bỏ áp bức và bất công, tạo điều kiện cho
mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc”; “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh”.
Muốn vậy, phải có tăng trưởng và phát triển kinh tế trên cơ sở đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước và quản lý có hiệu quả nền KTTT.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×