Tải bản đầy đủ

TÀI LIỆU THAM KHẢO QUAN hệ GIỮA GIAI cấp CÔNG NHÂN với GIAI cấp NÔNG NHÂN và đội NGŨ TRÍ THỨC TRONG nền KINH tế THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG xã hội CHỦ NGHĨA ở VIỆT NAM

QUAN HỆ GIAI CẤP CÔNG NHÂN, GIAI CẤP NÔNG DÂN VÀ
ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY
Lý luận về liên minh giai cấp nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là một
trong những nội dung cơ bản, trọng tâm của chủ nghĩa xã hội khoa học; là vấn đề
thuộc về nguyên tắc chiến lược xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng của giai cấp
công nhân; bảo đảm cho giai cấp vô sản giành được thắng lợi cả trong giai đoạn đấu
tranh giành chính quyền cũng như trong giai đoạn cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội
mới. Mác - Ăngghen đã tổng kết thực tiễn các phong trào công nhân ở châu Âu(thế kỷ
XIX) và chỉ ra rằng nhiều cuộc đấu tranh của công nhân đã bị thất bại, tổn thất, chủ
yếu là vì đã không tổ chức liên minh với “người bạn đồng minh tự nhiên” của mình là
nông dân. Do vậy, các cuộc cách mạng vô sản đã trở thành những “bài đơn ca ai
điếu”.
Nhận thức sâu sắc vấn đề này, Lênin đã vận dụng sáng tạo và phát
triển lý luận về liên minh giai cấp của Mác - Ăngghen trong giai đoạn chủ
nghĩa tư bản đã phát triển cao thành chủ nghĩa đế quốc, tổ chức thành liên
minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác
trong Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917. Khi bàn về
chuyên chính vô sản, Lênin đã khẳng định rõ: “Chuyên chính vô sản là một
hình thức đặc biệt của liên minh giữa giai cấp vô sản, đội tiền phong của
những người lao động, với đông đảo những tầng lớp lao động không phải vô

sản”1. Đồng thời Người còn nhấn mạnh vấn đề liên minh giai cấp như một
nguyên tắc tối cao của chuyên chính vô sản: “Nguyên tắc cao nhất của
11 V.I. Lênin, Toàn tập, tập 38, Nxb. Tiến bộ, M, 1977, tr. 452.


chuyên chính vô sản là duy trì khối liên minh giữa giai cấp vô sản và nông
dân để giai cấp vô sản có thể giữ được vai trò lãnh đạo và chính quyền nhà
nước ”2.
Vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về liên
minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức vào Việt
Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đưa cách mạng Việt Nam tiến
lên giành được nhiều thắng lợi to lớn cả trong đấu tranh giành chính quyền
cũng như trong cải tạo, xây dựng đất nước. Đặc biệt là trong sự nghiệp đổi
mới hiện nay, Đảng ta luôn xác định rõ vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của
vấn đề liên minh giai cấp và coi đó là cơ sở, nguồn sức mạnh, là nhân tố
“có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc” 1.
Mặt khác, do yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và việc chuyển đổi nền
kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước vừa tạo ra những thuận lợi,
vừa gây ra nhiều khó khăn, thách thức, đe doạ đến sự bền vững của khối
liên minh giai cấp công nhân với giai nông dân và đội ngũ trí thức. Trong
đó, vấn đề mấu chốt đặt ra có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ nhất đến
khối liên minh giai cấp là vấn đề lợi ích. Đây chính là chìa khoá, là cơ sở
vững chắc để xây dựng khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức ở
nước ta trong tình hình hiện nay.

22 V.I. Lênin, Sdd, t. 44, 1978, tr. 57.
11 ĐCSVN, Nghị quyết Trung ương 7, phần 2, khoá IX, Nxb CTQG, H, 1993, tr13.


1. Vì sao giải quyết hài hoà các lợi ích là vấn đề mấu chốt để củng cố,
tăng cường khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội
ngũ trí thức ở nước ta hiện nay?
Lợi ích là quyền lợi về vật chất và tinh thần mà các giai cấp, các tầng lớp
được hưởng do chế độ xã hội mang lại, nhằm đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát
triển của mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp trong xã hội. Nó được biểu hiện trên các lĩnh
vực khác nhau của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Trong
đó, lợi ích về kinh tế luôn giữ vai trò quan trọng, quyết định và là nhu cầu
thường xuyên, trực tiếp đặt ra đối với quá trình vận động, phát triển của các giai

cấp, tầng lớp trong khối liên minh.
Giải quyết hài hoà các lợi ích chính là quá trình phát hiện và xử lý đúng
đắn, kịp thời những mâu thuẫn nảy sinh giữa nhu cầu, đòi hỏi của các chủ thể
trong khối liên minh giai cấp trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bởi lẽ, suy
cho cùng, vấn đề lợi ích luôn là nhân tố chi phối, là cái đích hướng tới và cũng
chính là động lực thúc đẩy mọi hoạt động của mỗi cá nhân và các giai cấp, các
tầng lớp trong xã hội.
Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa việc giai cấp công nhân liên minh với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là một tất yếu khách quan do nhu cầu tự
nhiên và đòi hỏi của cách mạng. Đây là liên minh chiến lược lâu dài được xây
dựng trên cơ sở sự thống nhất về lợi ích căn bản của các giai cấp và tầng lớp này.
Sự thống nhất về lợi ích đó, được bắt nguồn từ đặc điểm, tính chất và mục đích
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Nó bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng
của giai cấp công nhân giành được thắng lợi triệt để, phát huy được quyền làm
chủ của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Thực tiễn lịch
sử đã chứng minh, trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản, khi nào lợi


ích của các giai cấp, tầng lớp được bảo đảm, được giải quyết hài hoà, thoả đáng
thì lúc đó liên minh giai cấp được bền chặt và phát triển, cách mạng không
ngừng tiến lên; trái lại, khi lợi ích của các giai cấp, tầng lớp không được đáp ứng
thoả đáng, quyền lợi của cá nhân và các cộng đồng xã hội bị vi phạm thì khi đó
mâu thuẫn sẽ nảy sinh, sự liên minh giữa các giai cấp, tầng lớp sẽ trở nên lỏng
lẻo và đứng trước nguy cơ bị tan vỡ, cách mạng sẽ gặp khó khăn, thậm chí bị
thất bại. Bài học thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, cũng như
Cách mạng Việt Nam tháng Tám năm 1945, 1954, 1975 và công cuộc đổi mới ở
nước ta hiện nay giành được nhiều thành tựu quan trọng là minh chứng thực tiễn
sinh động về giải quyết đúng đắn, hài hoà lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp
trong khối liên minh. Văn kiện Đại hội Đảng X khẳng định, liên minh giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức “là nguồn sức mạnh, động
lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” 1 . Ngược lại, thất bại của công xã Pa Ri
(1871) và sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Liên Xô trong đó
có một nguyên nhân cơ bản là không giải quyết đúng đắn, hài hoà lợi ích của các
giai cấp, tầng lớp trong khối liên minh giai cấp.
Đối với nước ta, trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, vấn đề
lợi ích đang trở thành nhu cầu trực tiếp, nhạy cảm và mang tính bức xúc để
giải quyết mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong khối liên minh. Nếu
như, trong giai đoạn đấu tranh giành chính quyền, vấn đề chính quyền, độc lập
dân tộc, nhu cầu được giải phóng của các giai cấp, các tầng lớp khỏi chế độ áp
bức bóc lột được đặt ra trực tiếp và trở thành lợi ích trước mắt cần phải đạt
được, thì trong giai đoạn cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, vấn đề lợi ích
11. ĐCSVN Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr. 41.


kinh tế lại đóng vai trò quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đến việc
củng cố, tăng cường khối liên minh giai cấp ở nước ta hiện nay. Thành công
của công cuộc đổi mới ở nước ta là do đã quan tâm hơn đến vấn đề lợi ích
thiết thân, cụ thể của người lao động, đã tìm ra được những hình thức tổ chức
sản xuất và phân phối tác động vào lợi ích - khâu nhạy cảm nhất trong hoạt
động con người, qua đó kích thích tính sáng tạo, năng động, khuyến khích
lòng nhiệt tình trong lao động sản xuất và công tác. Đồng thời đã kết hợp hài
hoà lợi ích cá nhân với lợi ích chung, lấy mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc,
thống nhất Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh làm điểm tương đồng để gắn bó các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội,
coi lợi ích thiết thân của con người là động lực trực tiếp và mạnh mẽ nhất. Tuy
nhiên trong thời gian qua, mặc dù nền kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều cơ hội
để các giai cấp, các tầng lớp phát triển, song những cơ hội đó là không ngang
bằng nhau, thậm chí ở lĩnh vực này lĩnh vực khác, thời điểm này thời điểm
khác còn vi phạm lợi ích, triệt tiêu động lực phát triển giữa các lực lượng, làm
ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự bền chặt trong khối liên minh giai cấp. Chẳng
hạn, sự chênh lệch về lực lượng lao động, về thu nhập và mức sống của một
bộ phận giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức so với đông đảo giai cấp nông
dân còn quá lớn. Hiện nay, nước ta có khoảng 75% dân số sống ở nông thôn,
70% lực lượng lao động làm nông nghiệp nhưng chỉ chiếm tỉ trọng 20,9%
trong GDP. Điều đó, phản ánh sự mất cân đối giữa cơ cấu lao động và thu
nhập quốc dân. Đa số lực lượng lao động nông nghiệp, nông thôn thu nhập
còn thấp, đời sống còn nhiều khó khăn, vất vả…Nếu khoảng cách ấy, không
được thu hẹp, giai cấp nông dân sẽ tụt hậu ngày càng xa hơn so với giai cấp
công nhân và đội ngũ trí thức thì vấn đề thống nhất về lợi ích giữa các giai


cấp, tầng lớp chỉ là hình thức. Lúc đó, người nông dân sẽ cảm thấy đơn độc
hình như đang bị bỏ rơi, bị vòng xoáy của kinh tế thị trường gạt ra ngoài sự
phát triển. Thậm chí họ cho rằng mình đang bị phản bội về quyền lợi và lợi
ích, làm cho liên minh giai cấp trở thành liên minh của những người giàu, của
những tầng lớp bên trên đối lập với tầng lớp đông đảo nhất trong xã hội là
nông dân- tầng lớp nghèo khổ luôn bị chèn ép, thua thiệt, lam lũ chất phát
quanh năm nhưng vẫn không thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu. Thực trạng đó,
đang đặt ra nguy cơ làm rạn nứt mối quan hệ bền chặt trong khối liên minh
giai cấp, cần phải được khắc phục. Chính vì vậy, trong nền kinh tế thị trường
ở nước ta hiện nay, khi vấn đề lợi ích đang là nhu cầu bức xúc nổi lên hàng
đầu, khi mà thu nhập, mức sống, sự hưởng thụ giữa các giai cấp, tầng lớp còn
chênh lệch lớn thì việc nhận thức đúng đắn và giải quyết hài hoà các lợi ích,
nhất là lợi ích kinh tế - vấn đề mấu chốt để củng cố, tăng cường khối liên
minh giai cấp tạo thành động lực to lớn nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhận thức đúng điều đó, Đảng ta đã
chỉ rõ: “Chúng ta cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện các chính sách cụ thể đối
với các giai cấp, các tầng lớp…”1. Trong đó, giai cấp công nhân cần phải được
quan tâm giải quyết việc làm, giảm tối đa số công nhân thiếu việc làm và thất
nghiệp. Thực hiện tốt chính sách và pháp luật về lao động, tiền lương, bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hộ lao động, chăm sóc,
phục hồi sức khoẻ và chính sách ưu đãi nhà ở đối với công nhân bậc cao.
Thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, bảo vệ quyền lợi chính
đáng, hợp pháp của những công nhân làm việc ở các khu công nghiệp và đô
thị lớn…Đối vối với giai cấp nông dân, thực hiện tốt chính sách về ruộng đất;
11. ĐCSVN, Sdd, 2006, tr. 42.


tạo điều kiện thuận lợi để giúp họ chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ;
khuyến khích họ hợp tác với các doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ trang trại để
phát triển sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống. Còn đội ngũ trí thức, bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ xứng đáng những cống hiến của họ cho công cuộc
đổi mới, phát triển đất nước.
2. Tác động của kinh tế thị trường đến vấn đề lợi ích của các giai cấp,
tầng lớp trong khối liên minh giai cấp ở nước ta hiện nay.
Kể từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến nay, với đường lối đổi mới toàn diện
trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chúng ta đang từng bước xây dựng và
hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị
trường đã và đang tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực, tạo ra sự biến đổi to
lớn trong đời sống kinh tế, xã hội, ảnh hưởng sâu sắc tới tâm tư, nguyện vọng,
lối sống, lý tưởng và lợi ích của nhân dân nói chung, cũng như các giai cấp, tầng
lớp trong khối liên minh giai cấp ở nước ta nói riêng. Nền kinh tế thị trường vừa
tạo ra những điều kiện thuận lợi, vừa gây ra những khó khăn, thách thức cho việc
đáp ứng và giải quyết vấn đề lợi ích của các giai cấp, tầng lớp trong khối liên
minh giai cấp.
Về mặt thuận lợi, chúng ta có thể nhận thấy rằng, trong thời gian vừa qua nền
kinh tế đã có bước tăng trưởng quan trọng, năm sau cao hơn năm trước, bình
quân trong 5 năm 2001 - 2005 là 7,51%, đạt mức kế hoạch đề ra, làm cho bộ mặt
đời sống kinh tế - xã hội của đất nước có sự biến đổi và phát triển từng ngày.
Cuộc sống của nhân dân, trong đó có các giai cấp, tầng lớp của khối liên minh
giai cấp không ngừng được cải thiện; vấn đề lợi ích cùng các nhu cầu phát triển
khác từng bước được đáp ứng tốt hơn, tạo ra sự đồng thuận, gắn kết giữa các lực
lượng trong xã hội, làm cho các giai cấp, các tầng lớp xích lại gần nhau, dựa vào


nhau để cùng tồn tại và phát triển. Thực tế phát triển của các giai cấp, các tầng
lớp trong những năm qua cho thấy rõ, bất cứ một giai cấp, tầng lớp nào muốn tồn
tại và phát triển bền vững đều phải liên minh, gắn kết, dựa vào các giai cấp, tầng
lớp khác trong xã hội. Vì vậy, giai cấp công nhân muốn phát triển nhanh và bền
vững thì một mặt phải không ngừng áp dụng những thành tựu khoa học - công
nghệ tiên tiến vào quá trình sản xuất, nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân;
mặt khác, phải hướng tới lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nơi cung cấp nguồn
nhiên vật liệu và thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp. Giai cấp nông dân
muốn phát triển nhanh, khắc phục được tình trạng đói nghèo, kém phát triển,
chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, tìm được nơi chế biến và tiêu thụ nông sản thì
phải dựa vào giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức. Trên thực tế, người nông
dân sẽ gặp nhiều khó khăn, rủi ro, thậm chí bị thất bại trong sản xuất nếu họ
thiếu hiểu biết, tri thức, kinh nghiệm, vốn và kĩ thuật, cùng các phương tiện,
trang bị, máy móc cần thiết; nếu họ không liên minh với giai cấp công nhân và
trí thức. Còn đội ngũ trí thức, cũng khó mà phát triển được nếu không coi lĩnh
vực công nghiệp, nông nghiệp và người lao động làm địa chỉ để đưa tri thức,
phát minh khoa học, kĩ thuật áp dụng vào quá trình sản xuất. Như vậy, nền kinh
tế thị trường có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, sự cạnh tranh gay gắt
để vươn lên, mục đích lợi nhuận, hiệu quả kinh tế luôn đặt ra thì sự gắn bó, ràng
buộc lẫn nhau giữa các giai cấp, tầng lớp trong khối liên minh vừa là yêu cầu,
vừa là nhu cầu tự thân bảo đảm lợi ích của mỗi bộ phận. Cũng xuất phát từ vấn
đề lợi ích mà ở nước ta trong những năm gần đây, đã hình thành một xu hướng
liên doanh, liên kết, hợp tác, đầu tư giữa các thành phần kinh tế, các hợp tác xã
với các doanh nghiệp và các nhà khoa học. Đó là mối quan hệ bền chặt giữa ba
nhà: nhà nông, nhà doanh nghiệp và nhà khoa học. Trên thực tế, có nhiều liên


doanh, hợp tác kinh tế làm ăn rất có hiệu quả như sự liên kết giữa công ty Mía
Đường Lam Sơn (Thanh Hoá) với các hợp tác xã và hộ nông dân về việc thực
hiện các hợp đồng cung ứng vốn, giống mía, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân
quanh vùng của Nhà máy từ nhiều năm qua; sự liên kết giữa Công ty Bông Việt
Nam với các hợp tác xã nông nghiệp ở Đắc Lắc; sự hợp tác giữa Viện Giống cây
trồng Việt Nam với các hợp tác xã cùng chuyên canh trồng lúa xuất khẩu, chất
lượng cao ở Hà Nam; sự phối hợp, liên kết giữa các nhà khoa học ở Trường Đại
học Thuỷ sản Nha Trang với các hộ nuôi tôm trên cát ở Quãng Ngãi, Ninh
Thuận…Có thể nói rằng, do đòi hỏi của kinh tế thị trường và nhu cầu lợi ích thôi
thúc, các giai cấp, tầng lớp trong khối liên minh đã và đang tìm đến với nhau, tạo
được tiếng nói chung cùng nhau hợp tác vì lợi ích và sự phát triển của mỗi giai
tầng. Chính sự liên kết, gắn bó đó đã làm cho vấn đề lợi ích của các giai cấp,
tầng lớp được bảo đảm và ngày càng tăng lên, từng bước thu hẹp dần khoảng
cách về thu nhập, mức sống giữa các lực lượng lao động trong xã hội, làm cho
họ tin cậy lẫn nhau và trở thành người bạn đồng minh chiến lược lâu dài. Với
giai cấp nông dân- giai cấp còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nhất trong khối liên
minh, thông qua những chính sách phát triển của Nhà nước, và các hình thức hợp
tác, liên kết trên đã không ngừng phát triển. Nhiều mô hình trang trại, những
cánh đồng 50 triệu đồng/ ha đang làm ăn rất có hiệu quả mang lại thu nhập cao
cho người nông dân, làm cho bộ mặt nông thôn “thay da đổi thịt”, đời sống nhân
dân được cải thiện, nhiều hộ nông dân đã thoát nghèo trở thành gia đình triệu
phú.
Rõ ràng, trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, đã tạo ra nhiều
yếu tố, điều kiện thuận lợi để giải quyết hài hoà về lợi ích giữa các giai cấp, tầng
lớp, là cơ sở làm cho họ ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau tạo thành khối liên


minh giai cấp vững chắc thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Tuy nhiên, bên cạnh những nhân tố thuận lợi đó, kinh tế thị trường cũng
đem đến vô vàn khó khăn, thách thức cho việc giải quyết vấn đề lợi ích giữa các
giai cấp, các tầng lớp trong xã hội. Trước hết, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng,
bên cạnh những mặt thuận lợi, kinh tế thị trường đã làm cho tình trạng phân hoá
giàu nghèo ngày càng gia tăng, tạo ra một khoảng cách chênh lệch lớn về thu
nhập, mức sống giữa các bộ phận dân cư, trong đó có khối liên minh giai cấp.
Hiện tại, mức sống và thu nhập của nông nghiệp, nông thôn nước ta còn thấp
hơn so với lực lượng lao động công nghiệp và đội ngũ trí thức. Nếu tính theo
chuẩn nghèo mới cho giai đoạn 2001 - 2005 thì cả nước hiện nay tỷ lệ hộ nghèo
còn 7%, “ số hộ nghèo và tái nghèo ở một số vùng còn lớn, tỷ lệ hộ nghèo theo
chuẩn mới còn cao. Đời sống nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng thường bị thiên
tai còn nhiều khó khăn; nhiều vùng dân tộc thiểu số có tỷ lệ nghèo cao hơn so
với bình quân cả nước. Một số chính sách trợ giúp người nghèo, hộ nghèo chưa
được tổ chức thực hiện tốt”1.
Bên cạnh sự phân hoá giàu nghèo nói trên, do tác động từ mặt trái của
kinh tế thị trường cũng đã làm cho quan hệ giữa các lực lượng trong khối liên
minh giai cấp có những lúc những nơi, ở lĩnh vực này lĩnh vực khác có sự đối lập
về lợi ích, bị lợi ích cục bộ trước mắt chi phối. Các hình thức liên doanh, liên
kết, hợp tác giữa nhà doanh nghiệp, nhà nông và nhà khoa học mặc dù đang là
xu hướng tích cực, có nhiều hiệu quả, nhưng ở những đơn vị cụ thể, nhiều khi
chưa đáp ứng được nhu cầu, nguyện vong lợi ích của các bên, thậm chí gây ra
những bất đồng, thua thiệt về lợi ích kinh tế của nhau. Chẳng hạn, ở Công ty Mía
Đường Quảng Ngãi, Thừa Thiên Huế mặc dù đã ký hợp đồng cung ứng vốn,
11. ĐCSVN, Sdd, 2006, tr. 173.


giống, vật tư và bao tiêu sản phẩm mía với các hộ trồng mía trong vùng, nhưng
khi đến mùa thu hoạch giá mía trên thị trường cao hơn giá hợp đồng thì bà con
nông dân lại tự ý bán sản phẩm cho tư thương, làm cho nhà máy thiếu nguyên
liệu, thiệt hại về lợi ích kinh tế, gây khó dễ về công ăn việc làm và thu nhập cho
công nhân. Ngược lại, khi giá mía trên thị trường thấp, nhà máy lại mua ở nơi
khác, không mua hết sản phẩm mía của các hộ trong vùng kết quả là mía ứ đọng,
người trồng mía lại bị tư thương ép giá gây thiệt hại nhiều tỷ đồng cho nông dân
trồng mía. Ngoài ra, có thể nêu thêm những ví dụ khác như hợp đồng giữa Nhà
máy Chế biến Hoa Quả ở Bắc Giang với các hộ trồng dứa, trồng vải ở huyện Lục
Nam, Lục Ngạn, Sơn Động(Bắc Giang); hợp đồng giữa Nhà máy Dứa ở Như
Thanh - Thanh Hoá với các gia đình trồng hơn 1.500 ha dứa, khi dứa đến vụ thu
hoạch( 8/ 2006 ) Nhà máy đã không bao tiêu sản phẩm làm cho nông dân trồng
dứa bị thua lỗ gần 40 tỷ đồng, trong đó có nhiều hộ thiệt hại hơn 100 triệu đồng;
hay hiện tượng ngô không hạt ở Đắc Lắc, lúa không trỗ bông ở Hà Tĩnh ; hoặc
hiệu quả thấp từ các dự án “xoá đói giảm nghèo”, các chương trình 135, 327 của
Nhà nước. Đặc biệt, trong những năm gần đây

do nhu cầu đẩy mạnh công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã hình thành nhiều khu công nghiệp lớn trong
cả nước, việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp của nông dân để xây dựng các
khu công nghiệp đã và đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến lợi ích của người
nông dân như giá cả đền bù đất đai, giải quyết công ăn việc làm cho người dân…
còn nhiều bất cập, thiếu minh bạch và công bằng.
Thực trạng trên, đã phần nào làm cho quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp
trong khối liên minh bị ảnh hưởng tiêu cực, chỉ vì lợi ích cục bộ mà gây thiệt hại
cho lợi ích chung, làm cho sự gắn bó, đoàn kết bị lỏng lẻo, thiếu sự thống nhất,
đồng bộ. Rõ ràng, do tác động của kinh tế thị trường, bất cứ một giai cấp, tầng


lớp nào muốn tồn tại và phát triển đều phải đấu tranh vượt lên chính mình, phải
biết nắm bắt mọi cơ hội có thể để vươn lên; khắc phục tình trạng trông chờ, ỷ lại,
thiếu năng động, sáng tạo trong cách nghĩ và phương thức làm ăn thời kinh tế thị
trường. Tuy nhiên, nếu giai cấp, tầng lớp nào cũng chỉ biết đến lợi ích của cộng
đồng mình bằng mọi giá, mà lãng quên đi lợi ích của bộ phận khác, thậm chí chà
đạp lên lợi ích của đối tác…thì đó là biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh, tổn
hại lớn cho sự cố kết, bền vững của khối liên minh đặc biệt này.
Ngoài những vấn đề trên, trong quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, các tầng
lớp ở nước ta hiện nay, cũng còn nhiều vấn đề cần phải tập trung giải quyết như
tình trạng nhà ở cho người có thu nhập thấp; việc giải toả, đền bù cho các hộ dân
thuộc khu vực các dự án, công trình quốc gia, khu công nghiệp; về công ăn việc
làm cho người đến tuổi lao động, tình trạng thất nghiệp; quan tâm giải quyết thoả
đáng về lợi ích, tiền lương cho người lao động, thu hẹp khoảng cách về thu nhập
giữa lực lượng lao động trong các doanh nghiệp nhà nước với các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp tư nhân trong nước. Đặc biệt, cần phải có
chính sách đúng đắn, phù hợp để thu hút nhân tài phục vụ cho lợi ích quốc gia, trả
lương xứng đáng với công lao động cho các nhà khoa học, đội ngũ trí thức; tăng
đầu tư ngân sách cho giáo dục - đào tạo, nâng cấp các viện nghiên cứu cho ngang
tầm với tiêu chuẩn quốc gia, khu vực và quốc tế…
Tất cả những vấn đề đó, đều liên quan trực tiếp đến lợi ích của các giai cấp,
các tầng lớp trong xã hội, nếu được giải quyết thoả đáng sẽ làm cho họ khắc phục
được tình trạng chênh lệch, tin cậy lẫn nhau, hợp tác chặt chẽ, cùng nhau vượt qua
khó khăn, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thế nhưng,
muốn làm được việc đó, cần phải có một hệ thống giải pháp đồng bộ, tiến hành kiên
quyết và triệt để trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.


3. Một số giải pháp cơ bản giải quyết hài hoà vấn đề lợi ích nhằm củng
cố, tăng cường khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội
ngũ trí thức trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
Một là, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, nhất là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Đối với đặc điểm nước ta, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một
nước nông nghiệp lạc hậu thì công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường duy nhất
để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, khắc phục tình trạng nước nghèo kém phát
triển, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, văn minh. Công nghiệp
hoá, hiện đại hoá còn là biện pháp quan trọng hàng đầu bảo đảm cho sự phát triển
của các giai cấp, tầng lớp trong khối liên minh; là cơ sở để đáp ứng và giải quyết
vấn đề lợi ích giữa các lực lượng lao động trong xã hội.
Hơn nữa, nước ta là một nước nông nghiệp thuần nông, đa số lực lượng
lao động làm nông nghiệp, nông thôn, đời sống của họ còn nhiều khó
khăn, thiếu thốn. Vì thế, muốn cho kinh tế đất nước phát triển hài hoà,
cân đối, vững chắc giữa công nghiệp và nông nghiệp, nhằm đáp ứng nhu
cầu phát triển của các lực lượng, nhất là giai cấp nông dân thì cần phải
khắc phục sự chênh lệch lớn về thu nhập, mức sống giữa các bộ phận dân
cư và giữa các giai cấp, tầng lớp trong khối liên minh. Cho nên, nhất
thiết chúng ta phải đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng
hoá lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng
và khả năng cạnh tranh cao; tạo điều kiện từng bước hình thành nền nông
nghiệp sạch.
Gắn phát triển kinh tế với xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt
hơn mối quan hệ giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng miền. Thúc


đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông
thôn sang sản xuất các loại sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế
cao. Xây dựng các vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung gắn với
việc chuyển giao công nghệ sản xuất, chế biến và bảo quản. Đẩy mạnh
phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, nhất là những ngành nghề
sử dụng nhiều lao động, coi đây là hướng chính để tạo ra nhiều việc làm
mới, góp phần tăng nhanh thu nhập cho nông dân.
Mặt khác, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
cũng làm cho giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức phải tìm đến với
nông dân, coi lĩnh vực nông nghiệp là mặt trận hàng đầu trong sản xuất,
kinh doanh và áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất nông
nghiệp.
Hai là, đa dạng hoá các hình thức liên doanh, liên kết và hợp tác giữa
các thành phần kinh tế, bảo đảm lợi ích của các giai cấp, tầng lớp trong khối
liên minh.
Trong điều kinh tế thị trường hiện nay, các hình thức liên kết, hợp tác,
làm ăn kinh tế giữa các giai cấp, các tầng lớp ngày càng gia tăng, đem lại hiệu
quả thiết thực cho nền kinh tế của đất nước, tạo ra cơ hội thuận lợi thúc đẩy sản
xuất, kinh doanh phát triển của mỗi bên. Nhiều hình thức liên doanh mới mang
tính sáng tạo như mô hình liên kết bốn nhà( Nhà nước, nhà nông, nhà doanh
nghiệp và nhà khoa học); mô hình hợp tác song phương giữa các doanh nghiệp
với các hợp tác xã nông nghiệp; hoặc nông dân tham gia đóng góp quyền sử
dụng đất và lao động của mình với các doanh nghiệp, hợp tác xã, các chủ trang
trại để phát triển sản xuất hàng hoá…đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế thiết
thực, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế công, nông nghiệp và dịch vụ, hình thành


các vùng chuyên canh, khu trang trại, khu công nghiệp, góp phần đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đáp ứng nhu cầu, lợi ích thiết thực cho
mỗi giai cấp, tầng lớp của khối liên minh. Các hình thức hợp tác trên, đã làm
cho các giai cấp, tầng lớp ngày càng gắn bó chặt chẽ vì lợi ích chung và lợi ích
riêng của mỗi bên, tạo ra nhu cầu cần thiết để hợp tác và cùng nhau phát triển
trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, do những hoàn cảnh khác nhau và lợi
ích cục bộ chi phối nên đôi khi quá trình liên kết, hợp tác, làm ăn giữa các bên
còn thiếu chặt chẽ , hiệu quả thấp, gây tổn hại đến mối quan hệ bền vững giữa
các bên. Vì vậy, Nhà nước cần có sự định hướng, điều chỉnh, khuyến khích và
làm trung gian để mở rộng các loại hình liên kết, phối hợp chặt chẽ giữa các
giai cấp, tầng lớp; đề ra những chính sách cụ thể để đảm bảo lợi ích hài hoà làm
cơ sở gắn bó bền vững giữa các lực lượng trong quá trình phát triển.
Ba là, gắn chặt quá trình tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hôi.
Đây là một chủ trương, chính sách lớn và nhất quán của Đảng và Nhà
nước ta, đồng thời nó cũng là giải pháp điều hoà lợi ích, thu nhập, khắc phục
tình trạng phân hoá giàu nghèo, khoảng cách ngày càng lớn giữa các lực
lượng trong xã hội hiện nay. Văn kiện Đại hội IX đã chỉ rõ : “Tăng trưởng
kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng
bước phát triển” 1.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, phát triển kinh tế nâng cao đời
sống nhân dân là vấn đề trọng tâm, là mục đích trước mắt của công nghiệp
hoá, hiện đại hoá . Song tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công
bằng xã hội để bảo đảm cho xã hội phát triển bền vững, làm cho các giai cấp,
11. ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H, 2001, tr. 88.


tầng lớp không có sự cách biệt lớn về mức sống, không trở thành những giai
cấp, tầng lớp đối lập nhau, không phải là những bộ phận ở hai đầu cực của sự
phân hoá giàu nghèo. Sự khác biệt về kinh tế, mức sống sẽ dẫn tới sự khác
biệt về lối sống, tư tưởng, quan điểm và thái độ chính trị của mỗi giai cấp,
tầng lớp đối với mục tiêu, lý tưởng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta. Do vậy, để giải quyết hài hoà vấn đề lợi ích cơ bản giữa các giai cấp, tầng
lớp và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, Nhà nước phải có những chính
sách để điều chỉnh thu nhập, cụ thể hoá bằng luật thuế “thu nhập đặc biệt ”
với từng ngành nghề, khu vực và hộ sản xuất kinh doanh; tăng cường các phúc
lợi xã hội; đẩy mạnh các dự án, chương trình xoá đói giảm nghèo, giải quyết
thoả đáng những vấn đề bức xúc như đất đai, nhà ở, thất nghiệp… cho những
người nghèo, hộ nghèo ở khu vực thành thị và nông thôn. Đối với một nước
đang phát triển ở giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội như
nước ta, thì vấn đề công bằng, bình đẳng chỉ có ý nghĩa tương đối, do bị chi
phối bởi những điều kiện khách quan mà chủ thể cũng chưa cưỡng lại được.
Nhưng chúng ta bằng những chính sách, việc làm cụ thể để điều chỉnh, hạn
chế thấp nhất sự bất bình đẳng trên các lĩnh vực. Trước hết là trên lĩnh vực
kinh tế, làm cho tình trạng phân hoá, bất bình đẳng chỉ ở những giới hạn nhất
định, không trở thành vấn đề xã hội bức xúc, thành nguy cơ làm rạn nứt khối
liên minh công nhân - nông dân - trí thức, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc ta
từ bên trong.
Tóm lại, trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá xây dựng đất nước hiện nay, Đảng ta đã xác định rõ: “Động lực chủ yếu để
phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa giai cấp
công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo”. Vì vậy, vấn đề liên minh


giai cấp không chỉ là vấn đề thuộc về nguyên tắc chiến lược trong suốt quá trình
cách mạng xã hội chủ nghĩa mà trong giai đoạn hiện nay, nó còn là động lực,
nguồn sức mạnh to lớn để chúng ta xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm nền tảng
vững chắc cho chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, đang tạo ra những thuận lợi
cho việc củng cố, tăng cường khối liên minh giai cấp, nhưng cũng đang đối mặt
với những nhân tố gây suy yếu, làm giảm sự cấu kết giữa các giai tầng. Vì vậy,
quan tâm xây dựng khối liên minh vững chắc, chúng ta phải tiến hành hàng loạt
những giải pháp cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ; cả từ phía Nhà nước
cũng như từ nội bộ các giai cấp, tầng lớp trong khối liên minh. Trong đó, theo
suy nghĩ của tác giả, vấn đề nhạy cảm và mang tính mấu chốt nhất để củng cố,
tăng cường khối liên minh giai cấp ở nước ta hiện nay là phải quan tâm, giải
quyết thoả đáng, đúng đắn, hài hoà lợi ích giữa các lực lượng. Đây không phải là
việc làm dễ dàng, trong một thời gian ngắn chúng ta có thể giải quyết dứt điểm
được ngay, mà cần phải có thời gian, gắn liền với công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước. Nền kinh tế thị trường luôn biến động đặt ra những mâu thuẫn mới cần
phải giải quyết, trình độ và điều kiện phát triển của mỗi giai cấp, tầng lớp lại
không giống nhau, nhưng với đường lối chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà
nước, chúng ta tin tưởng rằng vấn đề lợi ích cùng các mâu thuẫn khác sẽ được
giải quyết, khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ
trí thức ngày càng gắn bó là động lực, nguồn sức mạnh để xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×