Tải bản đầy đủ

skkn ỨNG DỤNG CNTT TRONG GIẢNG dạy PHÂN môn THƯỜNG THỨC mĩ THUẬT ở TIỂU học

PHÒNG GIÁO DỤC& ĐÀO TẠO HUYỆN TIÊN YÊN
TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN TIÊN YÊN

----------------***---------------

MỘT SỐ KINH NGHIỆM
ỨNG DỤNG CNTT TRONG GIẢNG DẠY
PHÂN MÔN THƯỜNG THỨC MĨ THUẬT Ở TIỂU HỌC

Giáo viên
Giảng dạy

: Lê Quang Hà
: Mĩ Thuật

Năm học 2008- 2009


MỤC LỤC
Trang


CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GV
HS
CNTT
PTDH
ĐDDH
PPDH

Giáo viên
Học sinh
Công nghệ thông tin
Phương tiện dạy học
Đồ dùng dạy học
Phương pháp dạy học

Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

2


TTMT
SGK
SGV

Thường thức mĩ thuật
Sách giáo khoa
Sách giáo viên

A: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1) Cơ sở lý luận:
Dạy học mỹ thuật trong trường tiểu học mục tiêu chung cũng đều hướng tới
cái đẹp, cái giá trị thẩm mĩ. Thông qua môn Mĩ thuật người học có thể cảm nhận
được cái đẹp và biết cách tạo ra cái đẹp. Thẩm mĩ hay cái đẹp nó ẩn chứa trong tất
cả mọi lĩnh vực của cuộc sống như: Ăn : Cần đẹp ! Mặc : Cần đẹp ! Ở : Cũng cần
đẹp và mọi thứ cần thiết cho con người từ nhỏ đến lớn cũng cần đẹp.
Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

3



Con người của thời đại mới là con người phải có đủ: Tri thức, đạo đức, sức
khỏe và thẩm mĩ, là một con người thì không thể khô khan, bàng quang trước cái đẹp
muôn màu của cuộc sống. Dạy Mĩ thuật trong trường tiểu học không phải là đào tạo
HS trở thành họa sĩ mà là giúp các em biết cách cảm nhận cái đẹp của cuộc sống,
của những tác phẩm nghệ thuật và biết cách tự tạo ra cái đẹp cho bản thân mình, cho
cuộc sống.
2) Cơ sở thực tiễn.
Việc đổi mới phương pháp dạy học, áp dụng phần mềm vào giảng dạy đã
được các tiên tiến trên thế giới đã áp dụng từ rất lâu. Xong Việt Nam cũng đã áp
dụng ở những năm gần đây, nhưng mới chỉ dừng lại ở các trường Đại học, cấp III và
một số trường cấp I- Cấp II ở thành phố và bước đầu đã đặt chân về tới nông thôn.
Lý giải về vấn đề trên, các chuyên gia của Hiệp hội Nghe nhìn Quốc tế cho
biết: Nguyên nhân chủ yếu là do cả giáo viên và học sinh không tận dụng được tối
đa hiệu quả chức năng thị giác và thính giác. Họ đã nghiên cứu tại nhiều lớp học ở
các nước Châu Âu và cho biết: nếu chỉ nghe, học sinh chỉ tiếp nhận và lưu giữ được
10 – 13% nội dung thông tin; từ 20 – 40% nếu chỉ nhìn, nhưng sẽ đạt tới 60 – 80%
nếu kết hợp cả hai chức năng trên. Ngoài ra nếu các em biết kết hợp giữa nghe, nhìn
và thảo luận, trao đổi với giáo viên thì hiệu quả học tập sẽ cao hơn rất nhiều.
Vậy làm thế nào để giúp cho học sinh có thể hiểu và tiếp thu bài giảng một
cách có hiệu quả nhất?. Giải pháp tốt nhất hiện nay là phải đưa các thiết bị máy tính,
các phần mềm ứng dụng, trình chiếu để áp dụng và hỗ trợ vào bài giảng thực tế, với
sự hỗ trợ của các thiết bị phần mềm, máy tính, giáo viên dễ dàng làm cho bài giảng
chở nên sinh động, thú vị bằng việc đưa vào đó những âm thanh, hình ảnh, màu sắc
… như ý muốn. Học sinh có thể tiếp thu bài giảng một cách hết sức trực quan, sinh
động.
I.2. Mục đích nghiên cứu:
Môn Mĩ thuật trong trường tiểu học có 5 phân môn là: Phân môn vẽ tranh,
phân môn vẽ trang trí, phân môn vẽ theo mẫu, phân môn tập nặn tạo dáng và phân
môn TTMT. Ngoài phân môn TTMT giúp HS có thể “thuởng thức”, “cảm nhận” cái
hay cái đẹp của các tác phẩm nghệ thuật thì 4 phân môn còn lại chủ yếu giúp các em
Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

4


lĩnh hội kiến thức mĩ thuật cơ bản thông qua rèn luyện kĩ năng thực hành. Chính vì
vậy mà với Phân môn TTMT có một số GV rất “ngại” khi dạy phân môn này vì
không biết phải nói gì, phân tích gì, dạy gì để hết 35 phút của tiết học. Truyền đạt
kiến thức như thế nào tới HS để vẫn đảm bảo tính vừa sức mà vẫn đạt mục tiêu đề ra
của bài học. Vì những lý do đó tôi đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu.
I.3: Thời gian - địa điểm:
I.3.1: Thời gian: Năm học 2008 – 2009
I.3.2: Địa điểm: Trường tiểu học thị trấn Tiên Yên
I.3.3: Phạm vi đề tài: phân môn “ TTMT “
I.3.1 Giới hạn đối tượng nghiên cứu:
Ứng dụng công nghệ thông tin vào phân môn “ Thường thức mĩ thuật “ tại
trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên.
I.3.3.2: Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: Học sinh trường tiểu học Thị Trấn
từ lớp 1 đến lớp 5.

II. NỘI DUNG:
II.1 Chương 1: Ứng dụng công nghệ thông tin vào phân môn “ Thường thức
mĩ thuật “ tại trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên.
II.1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Trong những năm gần đây về nhu cầu đòi hỏi về lượng kiến thức của HS rất
lớn, chính vì thế trong giáo dục cần có sự đổi mới về phương pháp dạy - học. Đổi
mới như thế nào, đổi mới ra làm sao? Đây mới là vấn đề mấu chốt.
Áp dụng CNTT vào giảng dạy các môn học trong bậc tiểu học nói chung, vào
môn Mĩ thuật nói riêng, đặc biệt trong phân môn " Thường thức mĩ thuật " là một
chủ đề rất mới. Suất phát từ thực tế trong giảng dạy tôi đã mạnh dạn đưa ra một số
kinh nghiệm " Ứng dụng công nghệ thông tin vào phân môn " Thường thức mĩ thuật
".
II.1.2 Cơ sở lí luận
Sự phát triển của khoa học kĩ thuật hiện đại đòi hỏi một số đổi mới cao độ về
phương pháp dạy và học, để nâng cao hơn nữa chất lượng thông tin, đồng thời xây
Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

5


dựng những con người sáng tạo làm chủ khoa học kĩ thuật, đây cũng là đòi hỏi có
tính chiến lược của xã hội trong nhiệm vụ đào tạo những con người mới, những
người vừa có phẩm chất đạo đức, vừa có năng lực chuyên môn...
Hiện nay công nghệ khoa học kĩ thuật không ngừng phát triển khiến cho giáo
dục bắt buộc phải đổi mới chính mình và còn phải tiến xa hơn nữa cho phù hợp với
sự phát triển của đất nước của nhân loại. Vì vậy giáo dục giữ vai trò đặc biệt quan
trọng trong sự phát triển, là nền tảng vững chắc cho sự đi lên của một đất nước.
II.2: Chương 2: Nội dung vấn đề nghiên cứu
II.2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Phương pháp dạy học “Truyền thống” chưa thể đáp ứng được những đòi hỏi
nặng nề và cấp bách nói trên. Với những cố gắng cao nhất của nó phương pháp
“Truyền thống” chỉ có thể làm được nhiệm vụ chủ yếu là truyền thụ kiến thức và
kiểm tra sự tiếp thu theo con đường tái hiện, học sinh hoàn toàn thụ động. Ngay cả
bài giảng chú ý kích thích trí tuệ của học sinh cũng vẫn nằm trong khuôn khổ của lối
học cũ. Giáo viên khơi gợi tư duy học sinh cũng chỉ nhằm mục đích truyền thụ được
tốt hơn khối lượng kiến thức cần truyền thụ, và việc tìm ra phương pháp dạy học
mới phù hợp với lứa tuổi, với tâm sinh lý của học sinh và áp dụng trong bài giảng
luôn được những người thầy, cô rất quan tâm.
Vậy làm sao để HS hứng thú với tiết học TTMT? Làm sao để HS không
cảm thấy tiết học này khô khan và nhàm chán? Đó chính là sự chuẩn bị, nghiên cứu
chu đáo của GV, là sự vận dụng linh hoạt các PPDH là sự sử dụng PTDH một cách
hợp lí và hiệu quả. Một trong những PTDH có thể phát huy được hiệu quả trong
giảng dạy phân môn TTMT chính là sử dụng CNTT thông qua những Bản trình diễn
điện tử hay còn gọi là “Giáo án điện tử”.
+/ Nhiệm vụ về lý luận
Môn học mĩ thuật là môn học của thị giác, HS cảm nhận cái đẹp về hình thể
và màu sắc thông qua con mắt của mình. Chính vì vậy với CNTT với các phần mềm
đa dạng có thể giúp cho người GV phóng to được những hình ảnh trong bài. Phân
tích, nhận xét được từng hình ảnh, chi tiết trong tác phẩm qua đó nêu bật được chủ
đề, ý nghĩa của tác phẩm, thu hút lôi cuốn HS vào tiết học. Ngoài ra với nhiều tính
Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

6


năng đa dạng mà người GV có thể vận dụng linh hoạt vào từng nội dung bài cụ thể
để đạt hiệu quả tốt nhất cho tiết dạy của mình.
+/ Nhiệm vụ về thực tiễn
Môn học mĩ thuật lấy giáo dục thẩm mĩ làm mục tiêu, với những bài TTMT
học sinh sẽ phải cảm nhận các tác phẩm nghệ thuật một cách dần dần và lâu dài. Vì
với trình độ hiểu biết của các em thì chưa thể cảm nhận được hết cái hay, cái đẹp của
một tác phẩm một điều mà ngay cả còn khó đối với cả người lớn. Vì vậy, giáo dục
thẩm mĩ cũng phải dần dần, HS phải cảm nhận từ cái đơn giản nhất như hình ảnh,
màu sắc đến những cái sâu sắc hơn như bố cục, chủ đề, ý tưởng...do đó gợi cảm hứng
ngay từ lúc đầu của bài học rất quan trọng nó quyết định sự thành công của cả giờ
học, vì mĩ thuật là môn học mang tính cảm xúc nhiều hơn là kĩ thuật. Do vậy dựa vào
sự hỗ trợ của CNTT mà GV có thể xây dựng những hoạt động khơi gợi cảm hứng
cho HS bằng những bức tranh, đoạn phim hay bản nhạc...
II.2.2 Các nội dung cụ thể trong đề tài
Nội dung 1: Mục tiêu của phân môn “ TTMT “
Với đặc trưng riêng biệt của từng phân môn nhưng hiệu quả chung cũng là
đều hướng tới cái đẹp. Phân môn vẽ trang trí cung cấp cho HS kiến thức về cách sắp
xếp các họa tiết, và nguyên tắc vẽ màu. Qua đó HS hiểu được vẻ đẹp của các họa
tiết, vẻ đẹp của sự cân đối, sự đa dạng của màu sắc và hiểu được ý nghĩa của trang
trí trong cuộc sống.
Phân môn vẽ theo mẫu tuy không đòi hỏi bắt buộc HS phải vẽ đúng hoàn
toàn theo mẫu về hình dáng, tỉ lệ, màu sắc nhưng qua đó cũng rèn cho HS kĩ năng
quan sát và làm việc một cách khoa học: Từ tổng thể tới chi tiết, từ đơn giản tới
phức tạp. Ngoài ra còn rèn cho HS thấy được cái đẹp của sự sắp xếp bố cục cân đối
hợp lí trong khuôn khổ giấy.
Phân môn vẽ tranh với đề tài phong phú đa dạng gây cho HS nhiều hứng thú.
Đây là phân môn giúp HS có thể diễn tả được một nội dung, chủ đề thông qua cách
sắp xếp các hình ảnh chính, phụ và cách sử dụng màu sắc làm nổi bật chủ đề của
tranh.

Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

7


Phân môn tập nặn tạo dáng rèn luyện cho HS khả năng làm việc với hình
khối, phát huy tính sáng tạo của HS về cách nghĩ cách nhìn để biến những vật dụng
đơn giản như vỏ hộp, vải thành những món đồ chơi mang tính thẩm mĩ phù hợp với
lứa tuổi của HS. Ngoài ra môn nặn còn giúp các em rèn luyện khả năng tạo hình qua
đó các em thấy được vẻ đẹp của các tác phẩm điêu khắc.
Phân môn TTMT là phân môn mang tổng hòa kiến thức của các phân môn
khác trong môn Mĩ thuật. Dựa vào những kiến thức đã được học ở các phân môn
như: Vẽ tranh, vẽ trang trí, vẽ theo mẫu, tập nặn tạo dáng mà HS có thể nhận xét sơ
lược về giá trị cũng như vẻ đẹp của một tác phẩm mĩ thuật. TTMT là phân môn duy
nhất HS không phải làm bài tập thực hành mà đây là phân môn HS được tìm hiểu,
nhận xét và thưởng thức vẻ đẹp của các tác phẩm mĩ thuật của thiếu nhi, của họa sĩ
và của dân tộc. Qua đó HS biết yêu quý, trân trọng nền mĩ thuật của dân tộc và thế
giới. Ngoài ra dựa trên những bài xem tranh, tìm hiểu nền mĩ thuật dân tộc HS có thể
học tập được những cái hay, cái đẹp, cách sắp xếp hình ảnh, cách vẽ màu... củng cố
vào kiến thức về mĩ thuật cho HS khi làm bài tập thực hành hay khi nhận xét về một
tác phẩm nghệ thuật. TTMT là thưởng thức những kiến thức mĩ thuật thông thường,
đòi hỏi HS biết nhận xét, cảm nhận cái đẹp của tác phẩm nghệ thuật thông qua
đường nét, màu sắc, hình ảnh, hình khối, phong cách thể hiện... tùy mức độ hiểu biết
của từng khối lớp mà yêu cầu đặt ra từ dễ đến khó. Với lớp 1 chủ yếu là nhận xét về
hình ảnh và màu sắc. Với lớp 5 đòi hỏi các em phải nêu được ý nghĩa của tác phẩm
và nêu được cảm nhận của mình đối với tác phẩm nghệ thuật. Chính vì vậy, đòi hỏi
GV cũng như HS phải có tổng hòa kiến thức về mĩ thuật thì mới thấy được cái hay,
cái đẹp của tác phẩm nghệ thuật.
Nội dung 2: Nghiên cứu nội dung chương trình để áp dụng công nghệ
thông tin vào giảng dạy.
Môn TTMT là bài tìm hiểu về các tác phẩm nghệ thuật nên cần phải có
những tác phẩm nghệ thuật để HS có thể quan sát. Các tác phẩm tuy đã có ở trong
SKG nhưng GV nên in ra ở khổ lớn cho cả lớp có thể quan sát được để tập trung sự
chú ý của tất cả HS. Điều này rất khó thực hiện vì tranh in khổ lớn rất ít, còn nếu đi
in phóng to thì kinh phí cũng không nhỏ. Hay khi muốn cho HS thấy được vẻ đẹp
Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

8


của những chi tiết trong tác phẩm cũng khó có thể phóng to được chi tiết đó. Mặt
khác với những tác phẩm GV muốn giới thiệu thêm cho HS thì cũng rất khó khăn vì
tranh thường rất nhỏ nên rất khó quan sát do vậy không thấy được cái đẹp của tác
phẩm.
Vì vậy để dạy một tiết TTMT thành công thì đòi hỏi người GV phải chuẩn bị
rất nhiều đồ dùng, trực quan như tài liệu sưu tầm, tranh, ảnh, đồ vật...Nếu đồ dùng
chuẩn bị không đẹp sẽ làm mất hứng thú của HS dẫn đến tiết học không hiệu quả.
Với lớp 4 và 5 các em có thêm SGK và được cung cấp lượng kiến thức nhất
định trong bài nên cũng giúp các em trả lời và tiếp thu bài tốt hơn. Còn với lớp 1,2,3
thì các em chỉ có Vở tập vẽ với một vài bức tranh, ảnh vậy sẽ rất khó khi GV tổ chức
các hoạt động hết cho hết 35 phút mà vẫn mang lại hiệu quả cho bài học. Do vậy đòi
hỏi GV phải sưu tầm thêm tranh, ảnh liên quan tới bài học để HS cùng tìm hiểu.
Ngoài ra nếu lượng kiến thức cung cấp cho HS không đủ thì HS sẽ không hiểu được
bài, không thấy được vẻ đẹp của tác phẩm, nhưng nếu GV cung cấp quá nhiều lượng
kiến thức cho HS sẽ khiến cho các em mơ hồ và đôi khi không hiểu được kiến thức
GV vừa cung cấp. Vậy thế nào là đủ và vừa đảm bảo tính vừa sức thì đỏi hỏi người
GV phải tổ chức các hoạt động hợp lí và phát huy hết hiệu quả của các phương tiện
dạy học khi dạy phân môn này.
Nội dung 3: Nâng cao giờ dạy trong phân môn” TTMT “
Như ta đã biết PPDH chính là cách thức, con đường truyền tải nội dung kiến
thức để đạt mục tiêu bài học.
Vậy PPDH có đạt hiệu quả hay không đó chính là sự vận dụng linh hoạt, phụ
thuộc vào phương tiện điều kiện và hình thức triển khai quá trình dạy học.
Trong hoạt động dạy - học khi tái hiện một đối tượng đến HS thì không phải
lúc nào đối tượng đó cũng hiện ra trực tiếp trên lớp học. Trong trường hợp đó PTDH
tạo khả năng tái hiện chúng một cách gián tiếp thông qua hình vẽ, tranh ảnh, mô
hình, sơ đồ...nhờ chúng tạo nên trong ý thức của HS những hình ảnh trực quan sinh
động của đối tượng cần tìm hiểu.
PTDH đóng vai trò như là nguồn thông tin và giải phóng giáo viên khỏi nhiều
công việc có tính chất thuần túy kĩ thuật trong tiết học, chẳng hạn như thông báo
Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

9


thông tin, vẽ hình, kẻ bảng... để GV có nhiều thời gian hơn cho công tác sáng tạo
trong hoạt động với học sinh. PTDH tạo khả năng vạch ra một cách sâu sắc hơn,
trình bày rõ ràng, dễ hiểu, đơn giản hơn tài liệu học tập, gây hứng thú về học tập cho
HS, tạo điều kiện hình thành cho HS động cơ học tập đúng đắn.
Qua đó ta nhận thấy ngoài vai trò chủ đạo của người GV thì PTDH đóng một
vai trò không nhỏ trong quá trình dạy học. Nó là phương tiện hỗ trợ truyền tải kiến
thức tới người học một cách nhanh nhất, sinh động nhất và hiệu quả nhất.
PTDH hết sức đa dạng, nó phụ thuộc vào trình độ phát triển khoa học. Trong
nhà trường trước đây thường trang bị những phương tiện ít có tính kĩ thuật nên gọi là
đồ dùng dạy học rõ hơn nữa là đồ dùng dạy học trực quan. Thực ra những phương
tiện kĩ thuật hiện đại cũng có tính trực quan, cũng là đồ dùng dạy học. Vì vậy cách
phân loại cũng chỉ có tính quy ước mà thôi. Dù là PTDH hiện đại hay đơn giản thì
cũng phải tùy thuộc vào nội dung kiến thức, đặc trưng của phân môn và cách thức tổ
chức các hoạt động dạy và học. Tuy nhiên trong các PTDH thì phưong tiện kĩ thuật
nghe - nhìn hiện đại luôn tỏ ra chiếm ưu thế hơn cả. Vì đây là những phương tiện kĩ
thuật hiện đại nó có khả năng mô phỏng cụ thể và linh hoạt của những hiện tượng, sự
vật, nó có thể hình tượng hóa những kiến thức mà GV muốn truyền tải đến học sinh
một cách sinh động và dễ hiểu nhất. PTDH này vừa giúp HS có thể quan sát và vừa
nghe được trực tiếp thông tin cần truyền đạt tạo được hiệu quả cao trong giờ học.
II.3.1 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu
Nhận thấy được những ứng dụng to lớn của CNTT là có thể hỗ trợ truyền tải
hình ảnh, thông tin của sự vật một cách toàn diện nhất, hay cùng với những phần
mềm, chương trình dạy học đã góp một phần không nhỏ giúp người GV có thể truyền
đạt kiến thức tới HS nhanh hơn, chính xác và hệ thống hơn, tạo điều kiện cho HS vừa
tiếp thu kiến thức vừa tiếp cận với công nghệ kĩ thuật hiện đại. Ngành Giáo dục đã
khuyến kích GV ứng dụng CNTT vào giảng dạy như một PTDH tối tân giúp truyền
tải kiến thức đến HS một cách toàn diện và giảm bớt sự vất vả của giáo viên khi trình
bày những kiến thức mang tính hình tượng cao.
Trong rất nhiều phần mềm hỗ trợ dạy học thì phần mềm được sử dụng thông
dụng nhất trong dạy học là phần mềm trình chiếu PowerPoint của Microsoft.
Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

10


Một là, phần mềm này được tích hợp sẵn trong Microsoft Office thường cài
sẵn trong các máy vi tính nên không đòi hỏi phải cài đặt phức tạp.
Hai là, để sử dụng phần mềm này chỉ cần đòi hỏi người GV có kiến thức tin
học cơ bản. Các hiệu ứng đã có sẵn người giáo viên chỉ phải tích hợp các hiệu ứng đó
vào bài giảng của mình chứ không cần người GV phải có ngôn ngữ lập trình phức
tạp. Do vậy phần mềm này rất dễ sử dụng và phù hợp với giảng dạy trong nhà
trường.
Tuy là một PTDH kĩ thuật hiện đại xong không phải với tiết học nào ứng
dụng cũng thành công. Nhiều tiết học sử dụng công cụ trình chiếu PowerPoint rất
hấp dẫn, nhưng hiệu quả sư phạm không cao, học sinh chỉ theo dõi các hình ảnh
chiếu trên màn hình, chưa kết hợp ghi chép vở hay không tập trung vào tiếp thu bài,
và tất nhiên không có các hoạt động học tập cá nhân.
Trong toàn bộ chương trình, không phải bất cứ bài học nào cũng phải ứng
dụng CNTT. Trong trường hợp bài học chỉ cần tới các thiết bị truyền thống thì dứt
khoát không sử dụng CNTT. Việc sử dụng CNTT sẽ không chỉ tốn kém mà có khả
năng làm giảm chất lượng tiết dạy học. Tiết học được lựa chọn phải có tình huống
dạy học ứng dụng CNTT hiệu quả. Sử dụng CNTT để thực hiện việc trình diễn bài
dạy trong cả tiết học mà thôi. Tuy vậy, dựa vào thiết kế trình diễn này, GV có thể tổ
chức các hoạt động dạy học được thiết kế từng bước hợp lý trong một cấu trúc chặt
chẽ, trong đó sử dụng các công cụ đa phương tiện (multimedia) bao gồm văn bản,
hình ảnh, âm thanh, phim minh họa để chuyển tải tri thức và điều khiển người học.
Khi lên lớp với “giáo án điện tử”, GV sẽ thực hiện một bài giảng điện tử với toàn bộ
hoạt động giảng dạy đã được chương trình hóa một cách uyển chuyển, sinh động nhờ
sự hỗ trợ của các công cụ đa phương tiện đã được thiết kế trong “giáo án điện tử”.
Như vậy, giáo án điện tử là được coi là phần quan trọng thể hiện kịch bản của tiết
học. Giáo án điện tử hay bài giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau của một hoạt
động cụ thể, đó là: thực hiện dạy - học với sự hỗ trợ của máy tính ở mức độ dạy học
đồng loạt.

Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

11


Bài giảng điện tử: là bài giảng có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin mà
trong đó toàn bộ hoạt động dạy học được chương trình hóa thông qua môi trường
multimedia.
Ở mức độ thấp, giáo viên thực hiện giảng bài dưới sự hỗ trợ của bản trình diễn
để tổ chức các hoạt động dạy học nhằm đáp ứng được mục tiêu của bài học.
Ở mức cao nhất của bài giảng điện tử là toàn bộ kịch bản dạy học của người
thầy được số hóa, tạo nên một phần mềm dạy học hoàn chỉnh có tương tác và khả
năng quản lý. Đặc biệt là nó có thể thay thế vai trò của người thầy ở một số thời điểm
nhất định.
Trong môi trường multimedia, thông tin được truyền dưới các dạng: văn bản
(text), đồ hoạ (graphics), hoạt ảnh (animation), ảnh chụp (image), âm thanh (audio) và
phim video (video clip).
Giáo án điện tử: là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của
giáo viên khi thực hiện một bài giảng điện tử. Toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được
multimedia hoá một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu
trúc của bài học.
Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy trước khi bài
dạy học được tiến hành.
Giáo án điện tử chính là bản thiết kế của bài giảng điện tử, chính vì vậy xây
dựng giáo án điện tử hay thiết kế bài giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau cho một
hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử.
*/ Yêu cầu của một bài giảng điện tử:

Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

12


*/ Thiết kế bài giảng điện tử:
*/ Bước 1: Xác định mục tiêu bài học
- Học xong bài thì học sinh sẽ đạt được gì về?
- Kiến thức
- Kỹ năng
- Thái độ
*/ Bước 2: Xác định trọng tâm và kiến thức cơ bản
- Cần bám sát vào chương trình dạy học và sách giáo khoa bộ môn
- Cần phải đọc thêm tài liệu, sách báo tham khảo để mở rộng hiểu biết về vấn
đề cần giảng dạy và tạo khả năng chọn đúng kiến thức cơ bản
- Việc chọn lọc kiến thức cơ bản của bài dạy học có thể gắn với việc sắp xếp lại
cấu trúc của bài để làm nổi bật các mối liên hệ giữa các hợp phần kiến thức của bài, từ
đó rõ thêm các trọng tâm, trọng điểm của bài.
*/ Bước 3: Xây dựng kịch bản dạy học (chương trình hóa tiến trình dạy học)
- Xác định cấu trúc của kịch bản
- Chi tiết hóa cấu trúc của kịch bản
- Xác định các bước của quá trình dạy học
- Xác định quá trình tương tác giữa thầy, trò và các đối tượng khác(phim, ảnh,
text) – hoạt động của thầy, trò và công cụ hỗ trợ.
- Xác định các câu hỏi, phản hồi trong các hoạt động
- Hình dung(lắp ghép) thành tiến trình dạy học.
*/ Bước 4: Xác định tư liệu cho các hoạt động
- Phim (video), ảnh (image), hoạt cảnh (animation)...
- Tìm kiếm tư liệu
- Xử lý tư liệu
- Phân phối tư liệu co mỗi hoạt động.
*/ Bước 5: Lựa chọn phần mềm công cụ và số hóa kịch bản dạy học
Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

13


- Lựa chọn phần mềm công cụ thích hợp
- Cài đặt(số hóa) nội dung
- Tạo hiệu ứng trong các tương tác
- ...
*/Bước 6: Chạy thử, chỉnh sửa và hoàn thiện
- Trình diễn thử
- Soát lỗi
- Kiểm tra tính logic, hợp lý của các thành phần
- Chỉnh sửa
- Hoàn thiện
- Đóng gói
Với bài giảng điện tử, GV được giảm nhẹ việc thuyết giảng, có điều kiện tăng
cường đối thoại, thảo luận với HS, qua đó kiểm soát được HS; HS được thu hút, kích
thích khám phá tri thức, có điều kiện quan sát vấn đề, chủ động nêu câu hỏi và nhờ
vậy quá trình học tập trở nên hứng thú, sâu sắc hơn.
II.3.2.1: Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Qua quá trình giảng dạy ở trường Tiểu học Thị Trấn tôi thấy các em rất yêu
thích học môn Mĩ thuật và đặc biệt là đối với phân môn TTMT. Và tôi có đặt một số
câu hỏi với các em: Tại sao em thích học Mĩ thuật?. Đặc biệt yêu thích phân môn
TTMT; Tôi nhân được câu trả lời từ các em: “ Nhìn vào các bức tranh làm cho đầu
óc bớt căng thẳng, và chúng em được bay bổng với trí tưởng tượng của mình về
cuộc sống xung quanh, về cách nghĩ, cách nhìn của các bạn thiếu nhi, các cô, các
bác họa sĩ nổi tiếng thông qua các tác phẩm được xem”. Tôi tiếp tục đặt ra một số
câu hỏi cho các em như sau: Em còn chưa hài lòng và thoả đáng ở phần nào đối với
phân môn TTMT? Tôi nhận được câu trả lời rất chân tình của các em: “ Các bức
tranh của chúng em quan sát còn quá nhỏ, có nhiều những bức tranh chúng em chỉ
được nghe qua sự giới thiệu của thầy mà không được quan sát trực tiếp cho nên
chúng em chưa phát huy được hết khả năng quan sát để bình luận cho bức tranh."...
II.3.2.2: Thực trạng và đánh giá thực trạng
- Nguyên nhân của thực trạng
a/ Về phía học sinh:
Tôi đưa ra một câu hỏi đến với các em: Môn Mĩ thuật có tác dụng như thế nào
trong cuộc sống của các em? Các em trả lời: “Nó đem lại cho chúng em về cách
Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

14


nghĩ, cách nhìn, sự vật xung quanh và đặc biệt chúng em luôn được sống trong một
thế giới hoà bình, trong vòng tay yêu thương của cha mẹ, thầy cô giáo”.
Tất cả những điều này đều được các thầy cô giáo truyền đạt đến từng HS bằng
phương pháp truyền thống. Phương pháp này không thể đáp ứng được hết những yêu
cầu đòi hỏi của HS trong môn học hay nói cách khác GV chưa thực sự chú trọng đến
các hoạt động dạy và học của HS.
CNTT là một phương tiện rất mới đối với các em bởi vì các chưa được làm
quen với các bài giảng trên màn chiếu. Chính vì những lý do trên tôi đã nghiên cứu
chương trình PowerPoint và dạy thử nghiệm vào phân môn TTMT.
b/ Về phía giáo viên:
Đối với phương pháp này đòi hỏi người giáo viên phải biết về tin học ở trình
độ nhất định, bỏ ra nhiều thời gian nghiên cứu bài trước khi giảng để áp dung phần
khởi động và phần củng cố sao cho hợp lý.
Cơ sở vật chất còn hạn chế, nhà trường mới chỉ có máy tính và máy chiếu hắt
nên việc trình chiếu còn hạn chế. Nếu in ra giấy rồi cho học sinh quan sát thì hiệu
ứng sinh động và âm thanh không còn, và dùng máy tính trực tiếp thì hơi nhỏ so với
một lớp học.
c/ Về phía phụ huynh học sinh
Mặc dù phần lớn phụ huynh học sinh còn bỡ ngỡ về sự bùng nổ CNTT trong
giảng dạy nhưng bố mẹ các em cũng rất hưởng ứng với phương pháp đó và nói rằng:
“Phương pháp này sẽ giúp cho con em mình yêu thích môn học, làm quen với công
nghệ mới và tập chung chú ý với bài giảng của thầy cô, chúng tôi tin bài giảng đó
nhất định sẽ thành công”.
Như vậy là tôi hoàn toàn yên tâm với hướng nghiên cứu của mình về phương
pháp tôi đã chọn. Một phương pháp phù hợp với điều kiện của trường và phù hợp
với điều kiện bản thân.
II.3.2.3: Đề xuất những biện pháp khắc phục những tồn tại
Biện pháp 1: Tìm hiểu nguyên nhân: tại sao GV + HS không hứng thú
trong phân môn TTMT
Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

15


Để dạy tốt nhất cho phân môn này chính là sự sử dụng linh hoạt các phương
pháp: phương pháp phân tích, phương pháp gợi mở, phương pháp trực quan...Có thể
nói một số GV rất “vất vả” khi dạy phân môn này vì không biết phải nói gì, phân
tích gì, dạy gì cho hết thời gian 35 phút và làm như thế nào để lôi cuốn được HS
hứng thú với bài học và khi kết thúc bài trong HS phải tiếp nhận được một lượng
kiến thức cơ bản nhất định trong bài.
Ngoài ra với một số bài khi nói về chất liệu hay cách làm thì người GV phải
chuẩn bị rất nhiều đồ dùng, dụng cụ mà khi nói về cách làm một tác phẩm nghệ
thuật cũng khiến cho HS rất mơ hồ vì không được quan sát trực tiếp cách làm nên
cũng rất khó hình dung.
Biện pháp 2: Nâng cao tiết dạy TTMT bằng cách áp dụng công nghệ thông
tin và giảng dạy.
Với đặc trưng của bộ môn Mĩ thuật là môn học thị giác, và sản phẩm của HS
là sự thể hiện tính sáng tạo “cái riêng” , “cái tôi” thông qua cảm xúc của HS. Chính
vì vậy mà ĐDDH đóng một vai trò rất to lớn trong bộ môn này. ĐDDH đẹp chính là
sự khơi dậy nguồn cảm xúc của HS, hứng thú của HS đối với bài học. Ngoài ra nó
còn là phương tiện truyền tải kiến thức tới HS một cách hệ thống và toàn diện nhất.
Là môn học của đường nét, hình mảng và màu sắc nên khi sử dụng đồ dùng
trực quan thì trong nó đã mang một lượng kiến thức nhất định. Có thể nói môn Mĩ
thuật trong trường tiểu học là môn học duy nhất nếu không có đồ dùng trực quan,
hình ảnh cụ thể thì không thể truyền tải kiến thức tới HS một cách toàn vẹn được vì
phải thông qua những hình ảnh, đối tượng cụ thể thì HS mới có cảm xúc về đối
tượng, mới có thể thể hiện được bài vẽ của mình. Là môn học về thẩm mĩ chính vì
vậy mà ĐDDH cũng phải mang tính thẩm mĩ nếu không sẽ phản tác dụng trong giáo
dục thẩm mĩ cho HS.
“Với HS tiểu học thì khả năng tư duy của các em là tư duy cụ thể mang tính
hình thức dựa vào đặc điểm bên ngoài. Tưởng tượng còn tản mạn, hình ảnh tưởng
tượng đơn giản, hay thay đổi. Trí nhớ trực quan phát triển hơn trí nhớ logic. Đối
tượng gây cảm xúc cho HS tiểu học thường là sự vật hiện tượng cụ thể nên xúc cảm,
tình cảm của các em gắn liền với đặc điểm trực quan, hình ảnh cụ thể.”
Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

16


(Đổi mới PPDH ở Tiểu học_Trang 15)
Chính vì vậy mà PTDH hay đồ dùng trực quan đối với HS tiểu học rất quan
trọng nó quyết định khả năng tư duy và cảm xúc của HS. Phải thông qua trực quan
sinh động HS mới có thể tư duy trừu tượng đối với tác phẩm nghệ thuật. Mĩ thuật là
môn học có tính chất đồng tâm nên lượng kiến thức sẽ tăng dần lên theo từng khối
lớp. Vì vậy với mức độ của từng khối lớp mà GV có thể vận dụng linh hoạt lượng
kiến thức sẽ truyền tải cho HS. Vẫn là phân môn TTMT nhưng mức độ thưởng thức
sẽ sâu hơn ở các lớp trên HS sẽ không chỉ tìm hiểu về bên ngoài của tác phẩm mà
còn đi vào cách thể hiện, ý nghĩ của tác phẩm cũng như cảm nghĩ riêng của mình về
tác phẩm nghệ thuật.
Có thể nói trong năm phân môn của môn Mĩ thuật thì phân môn TTMT sử
dụng PTDH là CNTT sẽ đạt hiệu quả tối ưu và toàn diện nhất. Đây là phân môn mà
HS phải tìm thấy cái hay cái đẹp của một tác phẩm nghệ thuật trong tất cả các yếu tố
đường nét, hình ảnh, màu sắc... và nhận xét tác phẩm nghệ thuật thông qua cảm xúc
của mình. Đây là phân môn mà HS không phải thực hành mà sẽ tìm hiểu các tác
phẩm nghệ thuật trong suốt quá trình 35 phút của tiết học, vì vậy sử dụng CNTT là
hợp lí và mang lại nhiều hứng thú cho HS. Ngoài ra với những hiệu ứng đẹp mắt,
với nội dung kiến thức được hiển thị cụ thể sẽ khiến học sinh thích thú và chủ động
tiếp nhận kiến thức.
Dạy phân môn TTMT bằng CNTT sẽ giúp người GV đỡ vất vả với đống tranh
ảnh trực quan lỉnh kỉnh mà đôi khi còn không mang lại hiệu quả như: Tranh quá
nhỏ, tranh khó sưu tầm...
Hiện nay Internet rất thông dụng, gần như mọi thông tin đều có thể lấy về từ
Internet. Để phục vụ cho bài dạy của mình GV có thể download về từ trên mạng
thông tin cần thiết rồi đưa vào bài giảng điện tử của mình cho thêm sinh động. Hay
chỉ cần một máy ảnh kĩ thuật số hoặc máy scan giáo viên có đưa được những bức
tranh, ảnh trong SGK hay sưu tầm được cho vào máy vi tính để tích hợp vào bài
giảng rất nhanh chóng. Qua đó, bài giảng có được những bức tranh phóng lớn và đẹp
mắt tạo hiệu quả cao cho bài học.
Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

17


Mĩ thuật là một môn học chính trong chương trình nhưng học mĩ thuật trong
trường tiểu học giống như một hoạt động ngoại khóa đó là : Học kết hợp với chơi sẽ
giúp học sinh tiếp nhận kiến thức một cách nhanh hơn, và khơi gợi được cảm xúc về
thảmm mĩ cho HS. Vì vậy với CNTT có thể tạo được nhiều trò chơi kiến thức sinh
động hợp với HS
CNTT với những phần mềm như Photoshop, Flash, ViOlet... GV có thể phóng
to từng chi tiết của tác phẩm, hay thể hiện đặc trưng của màu sắc trong tác phẩm.
Hoặc GV có thể đưa những đoạn Video vào bài giảng vừa gây hứng thú cho HS lại
vừa thể hiện nội dung của bài, hay có thể tạo những trò chơi ô chữ, trắc nghiệm để
củng cố kiến thức cho HS. Có thể nói sự kết hợp giữa CNTT và phân môn TTMT là
sự kết hợp hoàn hảo mang lại hiệu quả cao trong giờ học Mĩ thuật. Qua đó học sinh
hứng thú và yêu thích các tác phẩm nghệ thuật của chính các em, của các họa sĩ và
của dân tộc.
Biện pháp 3:
Trường tiểu học Thị Trấn đã có lớp học 2 buổi / ngày và 8 buổi / tuần cho nên
rất có lợi cho việc tăng tiết TTMT trong các buổi học hai.
II.3.2.4: Một số kinh nghiệm về “ ứng dụng CNTT và giảng dạy trong
phân môn “ TTMT”
Để chuẩn bị tốt cho một tiết dạy bằng “ Giáo án điện tử” hay ĐDDH ứng
dung CNTT đòi hỏi người GV phải tiến hành qua các bước như sau:
- Lập kế hoạch cho từng hoạt động bám sát vào mục tiêu của bài học.
- Sưu tầm tranh, ảnh, tư liệu... phục vụ cho bài giảng.
- Tìm tư tưởng, chủ đề của các tác phẩm và những nội dung liên quan.
- Lựa chọn những đoạn phim, bài hát, câu chuyện...có nội dung phù hợp với
tác phẩm.
- Tìm những tư liệu ở địa phương phù hợp với tác phẩm.
- Có thể tạo thêm trò chơi cho cả lớp thêm hứng khởi.
Thiết kế bài giảng hoặc đồ dùng hỗ trợ cho bài giảng:
Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

18


- Sưu tầm tài liệu, tranh ảnh liên quan đến bài dạy.
- Lên kế hoạch, tiến trình của bài dạy.
- Sắp xếp các nội dung, hoạt động một cách khoa học.
- Lựa chọn hình thức giới thiệu bài để gây hứng thú cho HS về bài học. Như 1
đoạn phim, bài hát hay câu chuyện liên quan trong bài.
- Tư liệu liên quan đến tác giả, tác phẩm.
- Đưa tranh, ảnh liên quan đến bài khai thác vẻ đẹp của tác phẩm: Chủ đề,
hình ảnh, cách sắp xếp (bố cục), màu sắc...
- Giới thiệu thêm một số tác phẩm liên quan để HS khai thác.
- Xây dựng trò chơi để củng cố kiến thức trong bài. Ví dụ trò chơi ô chữ.
*/ Chú ý:
+ Khi xây dựng bài giảng điện tử tránh sử dụng nhiều màu hay các hình ảnh
trang trí khác làm phân tán sự chú ý của HS.
+ Các hiệu ứng nên đơn giản phù hợp với bài giảng.
+ Không sử dụng những hình ảnh quá nhỏ, hình mờ hay bị vỡ hình.
VD: Bài 30: Xem tranh thiếu nhi vẽ về đề tài sinh hoạt
1. Kiến thức:
- Làm quen tiếp xúc với tranh vẽ của thiếu nhi.
I.
Mục 2. Kỹ năng:
tiêu của
- Tập quan sát, mô tả hình ảnh và màu sắc trên tranh.
bài dạy
3 Thái độ:
- Nhận ra vẻ đẹp của tranh thiếu nhi.
II.
Yêu
cầu của 1/ Về kiến thức của học sinh:
bài dạy
a/ Kiến thức về công nghệ thông tin
- Học sinh bước đầu được làm quen về cách thầy giáo giảng bài bằng
CNTT.
b/ Kiến thức chung về môn học
- Làm quen tiếp xúc với tranh vẽ của thiếu nhi
- Tập quan sát, mô tả hình ảnh và màu sắc trên tranh
- Nhận ra vẻ đẹp của tranh thiếu nhi
III.
Chuẩn bị 1/ Chuẩn bị của giáo viên.
Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

19


cho bài - Giáo án điện tử
giảng
- Máy tính, máy chiếu, loa
2/ Chuẩn bị của học sinh
- VTV
I/ Tổ chức lớp học - kiểm tra bài cũ: 2 phút
II/ Hoạt động dạy và học ( 30 phút )

IV. Nội
dung và
3/ Nội dung bài mới:
tiến trình
*/ Giới thiệu tranh
bài giảng
Hoạt động của thầy
Hoạt động của trò
- Giáo viên giới thiệu một số tranh để học sinh - Quan sát trên màn chiếu
nhận ra:
- Cảnh sinh hoạt trong gia đình (bữa cơm, học
bài, xem ti vi...)
- Cảnh sinhh hoạt ở phố phường, làng xóm
(dọn vệ sinh, làm đường ...)
- Cảnh sinh hoạt trong ngày lễ hội (đấu vật, đua
thuyền, chọi gà, chọi trâu ...)
- Cảnh sinh hoạt ở sân trường trong giờ ra chơi
(kéo co, nhảy dây, chơi bi ...)

Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

20


*/ Hướng dẫn xem tranh:
Hoạt động của thầy
Hoạt động của trò
- Giới thiệu tranh và gợi ý để học sinh nhận - Học sinh trả lời câu hỏi
ra:
+ Đề tài của tranh (học sinh tự đặt tên cho
bức tranh)
+ Các hình ảnh trong tranh.
+ Sắp xếp các hình vẽ (bố cục)
+ Màu sắc trong tranh.
- Tiếp tục gợi ý để học sinh tìm hiểu kỹ hơn
về bức tranh:
+ Hình dáng động tác của các hình vẽ?
+ Hình ảnh chính (thể hiện rõ nội dung của
bức tranh) và các hình ảnh phụ (hỗ trợ làm rõ
Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

21


nội dung tranh).
+ Em có thể cho biết hoạt động trên tranh
đang diễn ra ở đâu? (địa điểm).
+ Những màu chính được vẽ trong tranh?
+ Em thích nhất màu nào trên bức tranh của
bạn?
- Bổ sung ý kiến của HS.
- Slide 5: Cảnh sinh hoạt ở nhà trường.

- Slide 6: Cảnh sinh hoạt ở gia đình

- Slide 7:Cảnh sinh hoạt ở trong ngày lễ hội
Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

22


- Slide 8: Cảnh sinh hoạt ở phố phường, làng xóm

- Slide 9: Liên hệ đến học sinh về ý thức bảo vệ môi trường.

- Slide 10: Cho học sinh chơi trò chơi để liên hệ thực tế về ý thức bảo vệ
Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

23


môi trường.

- Slide 11: Cho HS xem tiếp bức tranh " Bảo vệ môi trường của Nguyễn
Thị Hoài - Trường tiểu học Vệ An - Tỉnh Bắc Ninh.

- Slide 12: Cho HS xem một đoạn video về buổi ngoại khóa của trường
Đoàn Thị Điểm.

IV/ Nhận xét đánh giá: ( 3 phút )
Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

24


Hoạt động của thầy
- Nhận xét chung tiết học
- Động viên, khuyến khích những
học sinh có ý kiến nhận xét tranh
*/ Dặn dò:
- Về nhà tập quan sát và nhận xét
tranh

Hoạt động của trò
- Lắng nghe

KẾT LUẬN CHUNG
Qua quá trình nghiên cứu đề tài này tôi đã áp dụng thực tế trong giảng dạy, tôi
thấy đây là một phương pháp rất tốt giúp học sinh hào hứng chờ đón tiết học của
thầy, chăm chú tới bài giảng, học sinh có tinh thần hỗ trợ nhau trong học tập và thảo
luận nhóm. Trong quá trình giảng dạy giáo viên có thể chia học sinh theo nhóm rồi
thảo luận sau khi học sinh đưa ra câu trả lời, để kiểm tra câu trả lời của học sinh có
đúng và đầy đủ hay không giáo viên chỉ cần một lần nhấn chuột hoặc để xem hoặc
chuyển một cảnh, tranh, giáo viên chỉ cần nhấn Enter. Vì vậy đã tiết kiệm được rất
nhiều thời gian cho giáo viền ở thao tác treo tranh cũng như phần củng cố bài học.
Được kết hợp mầu sắc, âm thanh và hình ảnh sống động sẽ giúp cho học sinh chú ý
đến bài giảng của thầy và học sinh tiếp thu bài một cách có hiệu quả nhưng nó cũng
có những mặt ưu điểm và mặt hạn chế:
*/ Ưu điểm của việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy Phân môn Thường
thức mĩ thuật:
- Có thể phóng lớn được tác phẩm nghệ thuật để cả lớp cùng quan sát.
- Hình ảnh đẹp gây cảm xúc thẩm mĩ cho HS.
- Có thể chia nhỏ hay phóng lớn các yếu tố trong tác phẩm để HS tập trung
nhận xét.
- Lượng thông tin và tranh, ảnh sưu tầm phong phú .
- Giảm bớt sự chuẩn bị cho GV khi phải làm những đồ dùng trực quan mang
tính kĩ thuật thủ công.
- GV có thời gian tập trung vào các hoạt động của HS.

Lê Quang Hà - Giáo viên trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên - Quảng Ninh

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×