Tải bản đầy đủ

Luận văn Một số biện pháp quản lý nhằm phát triển và quản lý giáo viên tại trường thpt Bình Sơn tỉnh Vĩnh Phúc

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN
TỈNH VĨNH PHÚC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) với Cương lĩnh và Nghị quyết đã vạch ra
phương hướng đi lên CNXH và bước đầu thực hiện CNH-HĐH đất nước. Đại hội Đảng
VIII (1996) tiếp tục con đường CNH-HĐH và Đại hội Đảng IX (2001) đánh giá việc thực
hiện chiến lược do Đại hội VII vạch ra chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm đầu của
thế kỷ XXI: " Chiến lược đẩy mạnh CNH-HĐH theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây
dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp"
Phải thấy rằng: sự phát triển của một quốc gia trong thế kỷ XXI sẽ phụ thuộc lớn
vào tiềm năng tri thức của dân tộc đó. Giáo dục cùng với KH-CN là nhân tố quyết định
tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Giáo dục ngày nay được coi là nền móng của sự phát triển KH - KT và đem lại sự
thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân. Có thể khẳng định rằng: không có giáo dục thi
không có bất cứ sự phát triển nào đối với con người, đối với kinh tế, văn hoá. Ý thức được
điều đó, Đảng ta đã thực sự coi "Giáo dục là quốc sách hàng đầu" Hội nghị TW 4 khoá
VII đã khẳng định "Giáo dục - Đào tạo là chìa khoá để mở cửa tiến vào tương lai". Nghị
quyết TW 2 khoá VIII đã tiếp tục khẳng định "Muốn tiến hành CNH, HĐH thắng lợi phải
phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự

phát triển nhanh và bền vững". Đại hội đảng lần thứ X (2006) tiếp tục nhấn mạnhĐảng ta
coi con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển.
Đội ngũ giáo viên có một vai trò vô cùng quan trọng để làm cho giáo dục thực hiện
được sứ mệnh cao cả đó. Hồ Chủ tịch đã từng nói "Không có thầy thì không có giáo
dục". Rõ ràng phát triển đội ngũ giáo viên là yêu cầu cấp thiết, là yếu tố cơ bản có ý nghĩa
quyết định trong việc phát triển giáo dục.
Cùng với giáo dục của cả nước, trường THPT Binh Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc cũng đang
nỗ lực thực hiện nhiệm vụ chính trị của minh với chủ đề năm học mà Bộ GD&ĐT đưa ra “
Năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”; năm học tiếp tục thực hiện
các cuộc vận động lớn: cuộc vận động “ Hai không”, cuộc vận động “ Học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “ Xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực”, cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương sáng về đạo đức, tự học
và sáng tạo”. Nhưng hiện tại đội ngũ giáo viên của trường bên cạnh những ưu điểm đáng
quí vần còn tồn tại những non yếu về chất lượng cần khắc phục kịp thời.
Xuất phát từ những lý do khách quan và chủ quan như trên, tôi mạnh dạn chọn đề
tài "Một số biện pháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ giáo viên ở trường THPT Bình
Sơn - tỉnh Vĩnh Phúc".
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU


Đề tài của tôi nhằm lý giải những tồn tại và từ đó đề xuất một số biện pháp để "Phát
triển đội ngũ giáo viên trường THPT Bình Sơn, Vĩnh Phúc".
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Đề tài này nhằm xác định cơ sở khoa học của việc quản lý nhằm phát tiển đội ngũ
giáo viên THPT, phân tích thực trạng của việc quản lý nhằm phát triển đội ngũ giáo viên
trường THPT Binh Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc. Qua đó đề xuất những biện pháp quản lý nhằm
phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT Binh Sơn trong giai đoạn hiện nay.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Chỉ tập trung tim hiểu, nghiên cứu thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở trường
THPT Binh Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Thời gian nghiên cứu: Chỉ tim hiểu, nghiên cứu tinh hinh phát triển đội ngũ giáo
viên ở trường THPT Binh Sơn trong 3 năm học gần đây (2007-2008, 2008-2009, 20092010).
5. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
5.1.Đội ngũ giáo viên trường THPT Binh Sơn và tinh hinh phát triển đội ngũ.
5.2. Biện pháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ giáo viên của trường THPT Binh Sơn.
6. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Hiện nay, công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở trường THPT Binh Sơn
chưa thật hiệu quả, vẫn còn những hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới.
Nếu nắm được đặc điểm công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên, đề xuất và

thực thi được các giải pháp khắc phục tinh trạng trên, sẽ nâng cao được hiệu quả quản lý
phát triển đội ngũ giáo viên ở trường THPT Binh Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Nghiên cứu tài liệu.
- Các văn kiện của Đảng về phát triển đất nước, phát triển giáo dục - đào tạo trong
thời kỳ CNH, HĐH, Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 – 2010, Dự thảo chiến
lược phát triển giáo dục giai đoạn 2009-2020.
- Giáo trinh, tài liệu, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của Bộ GD&ĐT và Sở
GD& ĐT Vĩnh Phúc...
- Các tạp chí, tập san giáo dục...
7.2. Nghiên cứu thực tiễn:
Quan sát, đàm thoại, phỏng vấn cán bộ quản lý, giáo viên trường THPT Binh Sơn,
tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục của trường THPT Binh Sơn.
7.3. Phương pháp hỗ trợ.
- Điều tra
- Khảo sát


- Thống kê
- Bảng biểu
- Sơ đồ.


PHN NI DUNG
CHNG I
C S KHOA HC CA VIC QUN Lí
NHM PHT TRIN I NG GIO VIấN THPT
1.1. C S Lí LUN
Quan ly la s tac ụng liờn tuc co t chc, inh hng cua chu thờ lờn khach thờ vờ
cac mt chinh tri, vn hoa, xa hụi, kinh tờ bng hờ thụng cac lut lờ, cac chinh sach, cac
nguyờn tc, cac phng phap va biờn phap cu thờ nhm tao ra mụi trng va iờu kiờn cho
s phat triờn cua ụi tng.
Quan ly giao duc la hờ thụng nhng tac ụng co y thc, hp qui lut cua chu thờ
quan ly cac cõp ờn tõt ca cac khõu cua hờ thụng nhm bao am s vn hanh binh thng
cua cac c quan trong hờ thụng giao duc, am bao s tiờp tuc phat triờn va m rụng hờ
thụng vờ mt sụ lng cung nh chõt lng.
Quản ly nguồn nhân luc trong nha trờng là quản ly con ngời, quản ly đội ngo trong
hội đồng s phạm nhà trờng.
Trong nhiều trờng hợp, có thể sử dụng hai thuật ngữ quản lý nguồn
nhân lực và quản lý nhân sựthay thế cho nhau. Nhng nếu đi sâu vào ý
nghĩa của hai cụm từ quản lý nguồn nhân lực và quản lý nhân sự, thì có
những sự khác nhau.
Quản lý nhân sự. Đây là một khái niệm đợc sử dụng từ lâu khi các
nhà quản lý phải quản lý ngời trong tổ chức. Quản lý nhân sự trong tổ
chức đợc hiểu nhiều hơn về khía cạnh hành chính. Đó là những hoạt
động áp dụng các nguyên tắc quy định của tổ chức, cơ quan nh tiền lơng, tiền thởng, nghỉ phép, nghỉ lễ để quản lý con ngời nhằm làm cho họ
thực hiện các hoạt động của họ một cách tốt nhất.
Nh vậy, quản lý nhân sự đặt vấn đề đến từng con ngời cụ thể trong
tổ chức, muốn chỉ các khả năng tác động đến đội ngũ hiện có để họ
đáp ứng đợc đòi hỏi của tổ chức.
Trong khi đó, quản lý nguồn nhân lực mang ý nghĩa rộng hơn quản lý
nhân sự. Quản lý nguồn nhân lực mang tính chất khái quát và xem tổ
chức nh là một thực thể cần có tác động từ bên ngoài và kết hợp với bên
trong để quản lý.
Quản lý nguồn nhân lực là bớc phát triển cao hơn của quản lý nhân
sự khi nó đề cập đến cả việc quản lý các quan hệ con ngời sản xuất, lao
động, và cả quan hệ với những ngời từ bên ngoài sẽ vào làm việc cho tổ
chức (nguồn lực dự trữ hay tiềm năng của tổ chức), đề cập đến yếu tố thị
trờng lao động của tổ chức. Chính vì vậy, có ngời gọi quản lý nguồn nhân
lực là quản lý quan hệ sản xuất.
Nh vậy, nguồn nhân lực của một tổ chức không chỉ là những con ngời đang làm việc trong tổ chức mà còn nhằm chỉ những nguồn khác có
thể bổ sung cho tổ chức. Điều đó cũng có nghĩa là khi nói đến quản lý


nguồn nhân lực của tổ chức cũng nhằm chỉ khả năng tác động của tổ
chức đến lực lợng lao động tiềm năng bên ngoài tổ chức.
Quản lý nguồn nhân lực hiểu theo khái niệm vĩ mô khi đặt nguồn
nhân lực của tổ chức trong tổng thể nguồn nhân lực quốc gia. Nh vậy,
yếu tố nguồn nhân lực tổ chức phát triển phụ thuộc không chỉ yếu tố bên
trong của tổ chức mà còn chứa đựng nhiều yếu tố bên ngoài của tổ
chức.
Theo tác giả Trần Kim Dung: Quản lý nguồn nhân lực là hệ thống các
triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo, phát triển
và duy trì con ngời của một tổ chức nhằm đạt đợc kết quả tối u cho tất
cả tổ chức và nhân viên.
Nh vậy, và vấn đề quản lý nguồn nhân lực không chỉ là đơn thuần
chỉ là vấn đề quản trị hành chính nhân viên.
Trong nha trng, ụi ngu giao viờn trong tp thờ s pham. Tp thờ s pham trong
trng hoc la t chc cua tp thờ lao ụng s pham, ng õu la hiờu trng. Tp thờ s
pham liờn kờt cac giao viờn, can bụ, nhõn viờn thanh mụt cụng ụng giao duc co t chc,
co muc ich thụng nhõt, co phng thc hoat ụng nhm thc hiờn nhiờm vu giao duc cua
nha trng.
ụi ngu giao viờn la lc lng chu yờu, quan trong nhõt trong tp thờ s pham nha
trng lam nhiờm vu giang day, giao duc trong nha trng, la nhõn tụ quyờt inh chõt
lng ao tao cua nha trng. Vi vy cõn bụi dng ờ phat triờn ụi ngu giao viờn.
ụi ngu giao viờn trong tp thờ s pham cung co nhng c iờm giụng nh c
iờm cua tp thờ s pham.
c iờm vờ muc tiờu: Muc tiờu cua tp thờ s pham hoan toan thụng nhõt vi muc
tiờu giao duc cua trng THPT la "Nhm giup hoc sinh cung cụ va phat triờn nhng kờt
qua giao duc cua trung hoc c s, hoan thiờn hoc võn phụ thụng va nhng hiờu biờt thụng
thng vờ ky thuõt va hng nghiờp, co iờu kiờn phat huy nng lc ca nhõn ờ la chon
hng phat triờn, tiờp tuc hoc ai hoc, cao ng, trung hoc chuyờn nghiờp, hoc nghờ, hoc
i vao cuục sụng lao ụng" (Muc 4, iờu 27, Lut Giao duc 2005).
Trong qua trinh hoat ụng thc hiờn muc tiờu o, tp thờ s pham nha trng am
bao c s thụng nhõt gia nhu cõu li ich cua tng thanh viờn vi muc tiờu cua tp thờ
va muc tiờu xa hụi. S thụng nhõt va hai hoa ba li ich o la iờu kiờn tiờn quyờt trong s
tụn tai va phat triờn cua tp thờ. "Trong thc tiờn cua tõp thờ s pham, mụi bc ờu co s
ụi choi gia muc tiờu ca nhõn va tõp thờ va võn ờ hoa hp cac muc ich o. Nờu trong
mụt tõp thờ con cam thõy mõu thuõn gia muc ich chung va muc ich riờng thi co nghia
la tõp thờ o cha c tụ chc ung n. Chi ni nao muc ich chung va muc ich
riờng hoa hp, ni nao khụng co s lac iờu thi õy tõp thờ la tõp thờ vng
manh" (Macarencụ).
c iờm vờ t chc: tp thờ s pham a dang vờ c cõu t chc, bao gụm: Cac t
chc hanh chinh, t chc ang va cac t chc oan thờ.
T chc hanh chinh la cac t chuyờn mụn, t hanh chinh, quan tri, hụi ụng giao
duc va cac hụi ụng khac.


Giáo viên trong trường THPT được tổ chức thành tổ chuyên môn theo môn học
hoặc nhóm môn học, mỗi tổ chuyên môn có một tổ trưởng. Tổ trưởng và tổ phó chuyên
môn có vai trò quan trọng, nòng cốt trong hoạt động chuyên môn của tổ. Nhiệm vụ của họ
là xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ, hướng dẫn và quản lý kế hoạch của từng giáo viên
trong tổ theo kế hoạch dạy học, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ tổ chức kiểm
tra, đánh giá chất lượng thực hiện nhiệm vụ của giáo viên... Tổ trưởng sử dụng các buổi
sinh hoạt chuyên môn để thực hiện các nhiệm vụ quản lý của minh.
Mỗi tổ chức, tập thể trong trường THPT đều có chức năng, nhiệm vụ cụ thể và có
một sức mạnh riêng ( tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Ban nữ
công...). Người quản lý có nhiệm vụ khai thác các tiềm năng của từng tổ chức để tạo nên
sức mạnh tổng hợp của tập thể sư phạm nhà trường.
Đặc điểm về lao động sư phạm: Lao động sư phạm là loại hinh lao động đặc thù:
Đối tượng lao động sư phạm trường THPT là học sinh ở lứa tuổi từ 15 đến 19, lứa
tuổi có sự phát triển cao về tâm, sinh lý. Học sinh có nhu cầu cao về trí tuệ và tinh cảm với
người thầy. Để đáp ứng nhu cầu này, giáo viên cần có kiến thức sâu rộng và lòng nhân ái
sư phạm cao.
Phương tiện lao động sư phạm cũng rất đặc thù. Đó là nhân cách người thầy cùng
các thiết bị dạy học, trong đó nhân cách người thầy có vai trò quan trọng nhất. Thời gian
lao động sư phạm không chỉ đảm bảo đúng quy định trong chương trinh mà cần mang tính
năng động, sáng tạo cộng với niềm say mê nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm trước thế
hệ trẻ và toàn xã hội.Sản phẩm lao động sư phạm là nhân cách phát triển toàn diện, đạt
được mục tiêu giáo dục của nhà trường. Nghĩa là sản phẩm đó không được quyền có phế
phẩm.
Lao động sư phạm của người giáo viên vừa mang tính khoa học, vừa mang tính
nghệ thuật và tính nhân đạo cao cả. Nó mang tính đặc thù của nghề sư phạm đồng thời có
sự liên kết, cộng tác, phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Bởi
vi sự hinh thành và phát triển nhân cách của người học sinh cũng chịu sự chi phối của
"tổng hoà các mối quan hệ xã hội" trong tập thể sư phạm nhà trường là lực lượng giáo dục
chuyên biệt, có hệ thống, thường xuyên và cơ bản nhất.
Các yếu tố tâm lý xã hội: Tâm lý tập thể sư phạm được thể hiện ở các quá trinh,
trạng thái và thuộc tính tâm lý xã hội được diễn ra trong mỗi tập thể sư phạm nhất định.
Quá trinh tâm lý xã hội của tập thể sư phạm thường biểu hiện ở sự giao tiếp, thích
nghi, tim hiểu, đánh giá, cảm hoá, thuyết phục, bắt chước, lan truyền cảm xúc cho nhau.
Các trạng thái tâm lý xã hội của tập thể sư phạm thường thể hiện ở tâm lý và dư luận lành
mạnh của tập thể, truyền thống của tập thể, bầu không khí tâm lý - đạo đức tập thể.
Khi các thuộc tính này được khơi dậy và phát huy thi sẽ trở thành động lực và sức
mạnh tinh thần của tập thể.
Giá trị của tập thể sư phạm: Giá trị mang ý nghĩa xã hội to lớn của tập thể sư phạm
đó là nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ, những công dân tương lai của đất nước. Có thể nói tập
thể sư phạm góp phần quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong quá trinh lao động sư phạm, để
thực hiện sứ mệnh thiêng liêng cao cả của minh, tập thể sư phạm đã khẳng định những giá


tri cua tp thờ minh va chinh ban thõn mụi giao viờn cung co iờu kiờn ờ thoa man nhng
nhu cõu li ich cua minh ờ khụng ngng hoan thiờn nhõn cach. Trong tp thờ s pham
phai bao am tụt nhõt mụi quan hờ hai hoa gia ca nhõn - tp thờ - xa hụi.
Phat triờn ụi ngu la tng thờ cac hoat ụng hoc tp co t chc c tiờn hanh trong
nhng khoang thi gian nhõt inh ờ nhm tao ra s thay i hanh vi nghờ nghiờp cua
ngi lao ụng. Cac hoat ụng o co thờ c cung cõp trong vai gi, vai ngay hoc thm
chi ti vai nm, tuy vao muc tiờu hoc tp; va nhm tao ra s thay i hanh vi nghờ nghiờp
cho ngi lao ụng theo hng i lờn, tc la nhm nõng cao kha nng va trinh ụ nghờ
nghiờp cua ho. Nh vy, xột vờ mt nụi dung, phat triờn ụi ngu bao gụm bụn loai hoat
ụng la: giao duc, ao tao, bụi dng va phat triờn.
Giao duc: c hiờu la cac hoat ụng hoc tp ờ chuõn bi cho con ngi bc vao
mụt nghờ nghiờp hoc chuyờn sang mụt nghờ mi, thich hp hn trong tng lai.
ao tao: c hiờu la acc hoat ụng hoc tp nhm giỳp cho ngi lao ụng co thờ
thc hiờn co hiờu qua hn chc nng, nhiờm vu cua minh. o chinh la qua trinh hoc tp
lam cho ngi lao ụng nm vng hn vờ cụng viờc cua minh, la nhng hoat ụng hoc tp
ờ nõng cao trinh ụ, k nng cua ngi lao ụng ờ thc hiờn nhiờm vu lao ụng co hiờu
qua hn.
Bồi ding: là hoạt động nhằm bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng chuyên môn
cho cán bộ, công chức trong một tổ chức hành chính nhà nic khi mà những kiến thức, kỹ
năng đợc đào tạo tric đây đã lạc hậu, không đủ để thuc hiện ca hiệu quả hoạt động
chuyên môn, nghiệp vụ trong tổ chức đa. Su thay đổi trong đời sống kinh tế - xã hội
diễn ra thờng xuyên dii tác động của tiến bộ khoa học - công nghệ và phát triển của khoa
học quản ly làm cho những kiến thức và kỹ năng hoạt động chuyên môn của cán bộ, công
chức trong mỗi cơ quan luôn bị lạc hậu đòi hai phải đợc bồi ding thờng xuyên. Đa cong là
một trong những ly do cơ bản của triết ly học tập liên tục, suốt đời trong cuộc sống hiện
đại của tất cả các tổ chức nhà nic cong nh ngoài nhà nic.
Phat triờn: la cac hoat ụng hoc tp vt ra khoi pham vi cụng viờc trc mt cua
ngi lao ụng, nhm m ra cho ho nhng cụng viờc mi da trờn c s nhng inh
hng tng lai cua t chc.
Đối vii cá nhân, su phát triển con đờng chức nghiệp trong cơ quan hành chính
ngày càng phụ thuộc vào năng luc và trình độ chuyên môn cong nh su thành thạo trong
kỹ năng hoạt động. Điều đa xuất phát to đòi hai của su phát triển nhanh chang của khoa
học, công nghệ và quản ly cong nh những biến đổi nhang chang trong môi trờng hiện
đại. Và do vậy, việc tham gia tích cuc vào môi trờng đào tạo, bồi ding ngày càng
quyết định đến su thăng tiến con đờng chức nghiệp của công chức trong nền hành
chính.
Muc tiờu va vai tro cua phat triờn ụi ngu la nhm s dung tụi a nguụn nhõn lc
hiờn co va nõng cao tinh hiờu qua cua t chc thụng qua viờc giỳp cho ngi lao ụng hiờu
ro hn vờ cụng viờc, nm vng hn vờ nghờ nghiờp cua minh va thc hiờn chc nng,
nhiờm vu cua minh mụt cach t giac hn, vi thai ụ tụt hn, cung nh nõng cao kha nng
thich ng cua ho vi cac cụng viờc trong tng lai.


Những cơ sở tâm lý học và xã hội học về phát triển đội ngũ tập thể sư phạm nêu
trên sẽ giúp nhà quản lý đưa ra những nội dung và biện pháp xây dựng tập thể sư phạm,
phát triển đội ngũ giáo viên có hiệu quả.
1.2. CƠ SỞ PHÁP LÝ
Để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động giảng dạy và giáo dục của nhà trường và
ngành giáo dục, Nhà nước đã ban hành luật giáo dục sửa đổi và bổ sung năm 2005, Bộ
Giáo dục - Đào tạo đã ban hành điều lệ trường THPT kèm theo Quyết định số
07/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 02/4/2007 của Bộtrưởng Bộ GD-ĐT , đó chính là cơ sở pháp
lý của đề tài.
- Luật giáo dục.
+ Điều 15 chương I nói rõ "Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất
lượng giáo dục. Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho người
học. Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, có chính sách bảo đảm các điều kiện
cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện nhiệm vụ của minh…".
+ Về nhiệm vụ nhà giáo, luật giáo dục yêu cầu nhà giáo phải có nhiều tiêu chuẩn,
trong đó có các tiêu chuẩn "Có phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt. Đạt trinh độ chuẩn được
đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ" ( Điều 70).
+ Mục 3 - Chương IV nói về chính sách đối với nhà giáo "Nhà nước có chính sách
bồi dưỡng nhà giáo về chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao trình độ và chuẩn hoá nhà
giáo".
+ Điều 72 - Chương IV nêu nhiệm vụ của nhà giáo: "Rèn luyện đạo đức, học tập
văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ
để nâng cao chất lượng và hiệu qủa giảng dạy và giáo dục".
- Điều lệ trường THPT:
+ Điều 33 nói về trinh độ chuẩn được đào tạo của giáo viên: Trinh độ chuẩn của
giáo viên THPT là tốt nghiệp ĐHSP. Giáo viên chưa đạt trinh độ chuẩn quy định này được
nhà trường, cơ quan quản lý giáo dục tạo điều kiện để đạt trinh độ chuẩn.
+ Điều 3 Chương I nói về nhiệm vụ, quyền hạn của trường THPT là "Quản lý giáo
viên nhân viên và học sinh"; "tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác
theo chương trinh giáo dục trung học do Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ban hành".
- Trong giải pháp thứ hai của Dự thảo chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam
2009-2020 của Bộ GD&ĐT nêu "Tổ chức các chương trình đào tạo đa dạng nhằm nâng
cao chuẩn trình độ đào tạo cho đội nguc nhà giáo. Đến năm 2020 có 80% số giáo viên
mầm non và 100% số giáo viên tiểu học đạt trình độ từ cao đẳng trở lên; 100% số giáo
viên THCS và THPT đạt trình độ đại học trở lên; 20% số giáo viên các trường trung cấp
nghề và 35% số giáo viên các trường cao đẳng nghề đạt trình độ thạc sỹ trở lên; 80%
giảng viên cao đẳng đạt trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó có 15% là tiến sỹ; 100% giảng
viên đại học có trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó có 30% là tiến sỹ".
" Tăng cường trật tự, kỷ cương; xây dựng, củng cố môi trường sư phạm; phấn đấu
để mọi hoạt động của nhà trường đều có tác dụng giáo dục thiết thực và sâu sắc đối với
học sinh. Các tập thể sư phạm phải đảm bảo nêu cao tính gương mẫu; không chỉ giáo dục


học sinh bằng việc lên lớp, giảng bài mà trước hết phải bằng thái độ tận tuỵ với nghề,
thương yêu học sinh về mọi mặt..." (864/SGD-GDTrH- Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ
năm học 2009-2010 của Sở giáo dục và đào tạo Vĩnh Phúc).


CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC QUẢN LÝ NHẰM PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO
VIÊN TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN, TỈNH VĨNH PHÚC
2.1. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG
2.1.1 Đặc điểm tình hình địa phương.
- Huyện Sông Lô là một huyện miền núi, huyện nghèo của tỉnh Vĩnh Phúc. Số hộ
đói nghèo còn nhiều. Nhiều xã có đồng bào dân tộc thiểu số, trinh độ dân trí thấp. Hạ tầng
cơ sở của huyện ( đặc biệt là hệ thống giao thông) còn rất yếu kém.
- Tuy nhiên, Sông Lô là một miền quê có truyền thống hiếu học. Tỉ lệ học sinh đến
trường ( ở các độ tuổi) đều rất cao. Hàng năm có nhiều học sinh đỗ vào các trường đại học,
cao đẳng và THCN.
- Xã Nhân Đạo - nơi trường đóng cũng là một xã nghèo, đồi gò xen lẫn những cánh
đồng nhỏ, hẹp. Diện tích canh tác ít. Nắng thi dễ hạn hán. Mưa thi dễ úng lụt. Học sinh
của trường gồm nhiều xã ven sông Lô và một số xã giáp chân núi Sáng Sơn ( Nhân Đạo,
Phương Khoan, Đôn Nhân, Bạch Lưu, Hải Lựu, Lãng Công, Đồng Quế, Quang Yên...). Hệ
thống giao thông xuống cấp, việc tới trường học tập của học sinh các xã vùng xa gặp rất
nhiều khó khăn.
2.1.2 Vài đặc điểm của trường THPT Bình Sơn.
Trường THPT Binh Sơn được thành lập từ ngày 25 tháng 8 năm 2003. Lúc đầu
thành lập trường là trường bán công và được đặt gần cây tháp Binh Sơn. Nhưng do điều
kiện kinh tế của nhân dân gặp nhiều khó khăn cho việc đóng học phí nên ngày 04 tháng 12
năm 2003, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ra quyết định trường THPT Binh Sơn là trường công
lập và xây dựng địa điểm ở xã Nhân Đạo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Trường ở cuối huyện, cuối tỉnh, chất lượng đầu vào của học sinh rất thấp so với các
trường THPT trong huyện ( điểm tuyển sinh khoảng 12-13,5 điểm/5 môn). Cơ sở vật chất
của nhà trường còn rất thiếu thốn; sân chơi, bãi tập, cây xanh... còn đang trong giai đoạn
phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện.
Tuy nhiên, trường đã được các cấp lãnh đạo, chính quyền quan tâm, đặc biệt là
chính quyền các xã có học sinh học ở trường. Đội ngũ giáo viên đã yên tâm bám trường,
bám lớp. Năm học 2009-2010, có 32 lớp với 1471 học sinh, có 2 lãnh đạo, 64 thầy cô giáo
và 2 cán bộ hành chính.
Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng qua 6 năm xây dựng và trưởng thành, nhà
trường đã đạt được những thành tích đáng tự hào, nhất là việc xây dựng phát triển đội ngũ
giáo viên. Nhà trường đã xây dựng được một tập thể sư phạm đoàn kết, tương trợ lẫn
nhau, phát huy được sức mạnh của mỗi cá nhân và cộng đồng. Không những phát triển về
số lượng mà điều quan trọng là đã nâng cao được chất lượng đội ngũ giáo viên trên các
mặt: năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm. Một vài năm học gần đây, số giáo viên giỏi
(cấp tỉnh) ngày một tăng lên. Số giáo viên được xếp loại chuyên môn khá ngày một nhiều.
Nhà trường không có giáo viên bị xếp loại chuyên môn yếu, kém. Thành tích đó được thể


hiện ở kết quả thanh tra chuyên môn của Sở GD - ĐT Vĩnh Phúc ( mỗi năm thanh tra một
lần), thể hiện ở kết quả thi học sinh giỏi ( cấp tỉnh) hàng năm.
Dưới đây là bảng thống kê xếp loại chuyên môn giáo viên năm học 2008-2009
(Nguồn nhà trường)

Xếp loại
Môn

SL

Ghi chu
G

K

TB

Y

Văn

9

2

4

3

0

Sử

4

1

1

2

0

Địa

4

1

2

1

0

Anh văn

5

0

2

3

0

GDCD

2

1

1

0

0

Toán

11

2

6

3

0

Lý

8

0

2

6

0

Hoá

3

1

1

1

0

Sinh

6

1

2

3

0

TD

3

1

1

1

0

Tin

2

1

1

0

0

Kỹ CN

2

0

1

1

0

Kỹ NN

2

0

1

1

0

- Tổ chức phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm và làm đồ dùng dạy học. Năm học
2008 - 2009 có một số sáng kiến kinh nghiệm được Hội đồng khoa học nhà trường đánh
giá cao.
- Động viện, phát động phong trào tự học: Giáo viên có ý thức tự học, tự bồi dưõng
qua dự giờ, sưu tầm và đọc thêm tài liệu.
- Động viên, khuyến khích giáo viên đi học nâng cao trinh độ. Trường có 6 thạc sỹ
và 3 giáo viên đang theo học thạc sỹ. Không có giáo viên nào chưa đạt chuẩn.


- Tổ chức một số hội thảo về chuyên đề dạy tốt, học tốt.
- Làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục, xây dựng quỹ khuyến học, quỹ tài năng trẻ.
Kết hợp với chính quyền đoàn thể địa phương giáo dục học sinh.
Chất lượng giáo dục toàn diện ngày càng tăng với tỷ lệ học sinh lên lớp và đậu tốt
nghiệp hàng năm đều đạt cao. Học sinh lớp 12 vào Đại học, Cao đẳng hệ A đạt 71¸14%.
Dưới đây là bảng thống kê số học sinh đỗ đại học, cao đẳng các năm ( Nguồn nhà trường)

lớpSố
sinh

Số HS thiSố HS thiSố HS thi đỗTổng số
đỗ vào ĐH đỗ vàovào THCN
học

và DN

Năm học

Số
12

2005 – 2006

9

459

2006 – 2007

9

464

68

50

118

2007 - 2008

11

532

260

60

320

2008 - 2009

11

484

264

33

297

Chất lượng mũi nhọn là học sinh giỏi cấp tỉnh hàng năm đều được nhà trường chú trọng đã
không ngừng tăng lên về cả số lượng và chất lượng. Đây là bảng thống kê số học sinh giỏi
của nhà trường ( Nguồn nhà trường).

Năm học

Số họcSố học
sinh dựsinh đạt
Giải nhất Giải nhi Giải ba
thi
giải

Giải KK

2005 – 2006

112

67

0

0

7

60

2006 – 2007

119

83

1

2

9

71

2007 – 2008

258

119

4

9

19

87

2008 - 2009

201

97

2

5

24

66

2.2. MỘT SỐ TỒN TẠI TRONG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN GIÁO VIÊN Ở
TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN, TỈNH VĨNH PHÚC
2.2.1. Những tồn tại chung về chất lượng đội ngũ giáo viên THPT. Một bộ phận giáo
viên trinh độ chuyên môn yếu, phẩm chất nhân cách kém. Đa số giáo viên sử dụng phương
pháp dạy học và giáo dục lạc hậu, nặng về truyền thụ kiến thức, ít coi trọng rèn luyện cho
học sinh phương pháp tư duy độc lập sáng tạo và thái độ đúng đắn trong học tập, trong
cuộc sống.


2.2.2. Những tồn tại riêng của trường THPT Bình Sơn.
a. Về tư tưởng chính trị, đạo đức và lý tưởng nghề nghiệp: Đa số giáo viên có tư tưởng
lập trường tư tưởng chính trị vững vàng , đạo đức trong sáng, yêu nghề. Nhưng chưa có sự
nhạy bén, mẫn cảm và chưa có khả năng thích ứng về mặt xã hội trong công cuộc đổi mới
của đất nước hiện nay. Bên cạnh đó có một vài thành viên chữa mẫu mực trong phẩm chất,
đạo đức, như tư tưởng cá nhân vẫn còn lấn át tư tưởng tập thể, hay đòi hỏi quyền lợi,
thường gắn nhiệm vụ với hưởng thụ, trả công.
Đội ngũ quản lý chưa có biện pháp giáo dục đối với bộ phận này, nhiều lúc tỏ ra chưa kiên
quyết trong phê binh, đấu tranh.
b. Về lòng nhân ái sư phạm.
Bên cạnh đại bộ phận giáo viên rất yêu thương học sinh, gần gũi thương yêu, hết lòng vi
học sinh, thi có một số giáo viên chưa hết lòng với học sinh. Điều đó có thể nhận ra trong
tinh thần trách nhiệm, của giáo viên đối với công việc của minh. Có nhiều lúc giáo viên
chưa thật sự tôn trọng và yêu cầu cao, khoan dung, vị tha đối với học sinh mà còn tỏ ra thờ
ơ, vô tinh. Bộ phận quản lý chưa có biện pháp bồi dưỡng.
c. Về năng lực chuyên môn và năng lực sư phạm.
Đây là một tồn tại nhức nhối, là bài toán nan giải mà mấy năm vừa qua, nhà trường đã tập
trung để giải quyết. Tuy có gặt hái được một số thành tựu nhưng rõ ràng nó chưa đáp ứng
được yêu cầu của đất nước trong giai đoạn hiện tại và tương lai.
c.1) Về năng lực chuyên môn.
Cùng với sự phát triển về số lượng học sinh, đội ngũ giáo viên có sự phát triển nhanh về số
lượng. Về trinh độ đào tạo, 100% đạt chuẩn. Càng về sau số giáo viên (sinh viên mới ra
trường) năng lực chuyên môn càng yếu.
Nhưng điều đáng nói là tỉ lệ số giáo viên dạy giỏi tỉnh và xếp loại chuyên môn loại khá,
giỏi tỉ lệ thấp (11/64). Trong số 11 giáo viên xếp loại giỏi chỉ có 2 giáo viên có thâm niên
2 năm công tác, còn lại là giáo viên công tác từ 5 năm trở lên. Tuy không có xếp loại yếu
nhưng số giáo viên xếp loại trung binh khá cao (> 40%). Qua dự giờ thường kỳ, qua các
đợt thao giảng, sinh hoạt chuyên môn trường nhận thấy: Rất nhiều giáo viên nhất là số
giáo viên mới vào nghề chất lượng giảng dạy quá thấp, như: lúng túng về phương pháp
giảng dạy và giáo dục, kỹ năng thiết kế giờ dạy yếu, thậm chí có giáo viên kiến thức chưa
vững vàng. Về phương pháp giảng dạy còn nặng về truyền thụ, chưa đổi mới phương pháp
nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh. Những tồn tại trên một phần cũng do
đội ngũ quản lý chưa có biện pháp để tạo nên một môi trường, phương pháp để giáo viên
nâng cao trinh độ.
c.2) Về năng lực sư phạm.
Năng lực sư phạm là yếu tố quan trọng vi năng lực sư phạm quyết định sự thành bại của
công tác giảng dạy và giáo dục của giáo viên. Vậy mà đa số giáo viên ở trường THPT
Binh Sơn năng lực sư phạm còn ở mức độ thấp. Có nhiều giáo viên kiến thức khoa học
tương đối vững nhưng thiếu năng lực sư phạm, như việc thiết kế giáo án môn học, tổ chức
giờ học thiếu khoa học, nghệ thuật truyền thụ , khả năng giao tiếp với học sinh, ứng xử các
tinh huống trong giảng dạy và giáo dục còn hạn chế. Có nhiều giáo viên thiếu kinh nghiệm


trong phương pháp giáo dục học sinh, chưa gắn việc giáo dục học sinh vào trong nội dung
môn học, bài dạy. Thậm chí có giáo viên còn thờ ơ trong việc giáo dục đạo đức học sinh,
xem đó là nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm, của BGH, của đoàn thanh niên.
Trong công tác chủ nhiệm, có một số giáo viên chưa có năng lực tổ chức sinh hoạt tập thể,
thuyết phục, cảm hóa học sinh, ứng xử các tinh huống sư phạm.
d) Năng lực làm công tác xã hội hoá giáo dục.
Đa số giáo viên chưa nắm vững nội dung công tác này, họ chỉ thực hiện công tác này một
cách thụ động. Họ xem đó là việc của Nhà nước, của các cấp lãnh đạo. Trong các buổi
sinh hoạt lớp, họp phụ huynh, giáo viên diễn giải, thuyết trinh vu vơ, hời hợt, chiếu lệ. Về
phía quản lý, ban giám hiệu cũng chưa có kế hoạch, chỉ đạo sát sao, chưa triển khai cụ thể
đầy đủ.
e. Năng lực về tin học.
Hầu hết giáo viên có hiểu biết gi về tin học, về máy tính, có thể thiết kế giảng dạy bằng
giáo án điện tử. Nhưng đa sô giáo viên đều ngại thiết kế và giảng dạy bằng giáo án điện tử
vi phải bỏ ra nhiều thời gian để soạn bài và việc bố trí phòng học còn gặp nhiều khó khăn.
g) Năng lực ngoại ngữ.
Ngoài giáo viên ngoại ngữ, số giáo viên còn lại tuy đã được học trong trường đại học
nhưng khi ra trường đều không sử dụng do đó khả năng về ngoại ngữ rất kém. Đặc biệt số
giáo viên công tác lâu năm không có hiểu biết về tiếng Anh.
Nguyên nhân của hiện tượng này là do nội dung, qui trinh đào tạo. Trong lúc đó nhà
trường chưa có biện pháp, chủ trương học và nâng cao trinh độ ngoại ngữ cho giáo viên.
Bản thân giáo viên chưa có tinh thần và điều kiện tự học.
h) Về học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ, tạo cơ hội phát triển
Do điều kiện trường nằm ở vùng núi, cuối tỉnh, cuối huyện nên không thu hút được đội
ngũ giáo viên, nhiều giáo viên được phân về trường đã không đến nhận công tác, hàng
năm giáo viên xin chuyển trường rất nhiều dẫn đến tinh trạng trường thiếu giáo viên trầm
trọng kéo dài triền miên trong những năm vừa qua ( năm 2008-2009 thiếu 16 giáo viên ).
Từ chỗ thiếu giáo viên như vậy nên giáo viên của trường phải giảng dạy nhiều, giáo viên
phải dạy đến hơn 40 tiết/tuần không có thời gian để học tập bồi dưỡng, đặc biệt là cử đi
đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ. Trường vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu nào để thu hút, giữ
chân, tạo cơ hội phát triển và thăng tiến cho đội ngũ giáo viên.
Theo kết quả khảo sát 64 giáo viên trường THPT Binh Sơn ( mẫu phụ lục 1): số
ngưòi có tổng điểm 55 điểm trở lên ( hoàn toàn hài lòng với công việc) là 22 người =
34,3%, số người có tổng điểm từ 35-55 điểm ( có vấn đề cần quan tâm) là 34 người =
53,1%, số người có tổng điểm dưới 45 điểm ( có vấn đề nghiêm trọng) là 8 người = 12,5%
càng khẳng định rõ ràng những tồn tại trên.
2.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC QUẢN LÝ NHẰM PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN, TỈNH VĨNH PHÚC.
Ở trên là những tồn tại cơ bản trong việc quản lý nhằm phát triển đội ngũ giáo viên, và
cũng là những tồn tại trong chất lượng đội ngũ giáo viên trường THPT Binh Sơn trong giai


đoạn hiện nay. Những tồn tại đó là lực cản trên con đường trường THPT Binh Sơn thực
hiện nhiệm vụ chính trị của minh, thực hiện mục tiêu, chiến lược phát triển giáo dục của
Đảng trong thời kỳ CNH và HĐH. Trên cơ sở xác định cơ sở lý luận, pháp lý, phân tích
thực trạng trong việc quản lý nhằm phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT Binh Sơn,
tôi nhận thấy có những vấn đề đặt ra là:
Cần bồi dưỡng năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm, năng lực xã hội hoá giáo dục,
năng lực ngoại ngữ, tin học, lòng nhân ái sư phạm, tạo điều kiện để giáo viên có cơ hội
học tập bồi dưỡng để phát triển cho đội ngũ giáo viên trường THPT Binh Sơn. Những vấn
đề này tôi sẽ giải quyết bằng những hệ thống biện pháp ở chương 3.


CHƯƠNG III
NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN, TỈNH VĨNH PHÚC
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1. NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN.
Trong công tác phát triển giáo viên, hiệu trưởng cần quán triệt các nguyên tắc sau:
3.1.1. Đảm bảo tính hệ thống và chủ trương phát triển của Bộ GD-ĐT và Sở GD-ĐT cho
giáo viên THPT. Trên cơ sở đó, nhà trường vận dụng phát triển vào thực tiễn của trường
THPT.
3.1.2. Đảm bảo tính tích cực, chủ động của giáo viên trong việc bồi dưỡng và phát triển.
Từng giáo viên, phải tự giác, tích cực chủ động trong việc tiếp nhận nội dung bồi dưỡng
của cấp trên, đồng thời nêu cao tinh thần tự học, tự bồi dưỡng. Mỗi giáo viên, khi nhận
thức rõ sự cần thiết phải bồi dưỡng và tự bồi dưỡng họ sẽ có động cơ, thái độ đúng đắn, có
quyết tâm cao, và từ đó nâng cao chất lượng công tác.
3.1.3. Đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa yêu cầu trước mắt và lâu dài. Trước mắt cần đảm
bảo cho giáo viên được cập nhật những kiến thức cần được điều chỉnh và đổi mới trong
chương trinh môn học, đổi mới phương pháp dạy học, giáo dục. Về lâu dài, giáo viên cần
được bồi dưỡng nâng chuẩn lên trinh độ thạc sĩ, tiến sĩ để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ
của người giáo viên của trường THPT trong thời kỳ mới.
3.1.4. Đảm bảo vai trò quản lý và ý thức trách nhiệm của người quản lý trong công tác bồi
dưỡng là một nguyên tắc cơ bản. Hiệu trưởng giữ vai trò quyết định trong việc tổ chức các
hoạt động bồi dưỡng. Hiệu trưởng cần giáo dục để giáo viên nhận thức sâu sắc sự cần thiết
phải nâng cao và tự nâng cao trinh độ, năng lực. Hiệu trưởng cần thống nhất được yêu cầu
xây dựng và phát triển đội ngũ của toàn trường với mục tiêu phấn đấu của mỗi giáo viên,
thu hút mọi giáo viên vào các hinh thức học tập phù hợp.
Có rất nhiều biện pháp để phát triển đội ngũ giáo viên. Với đặc điểm tinh hinh riêng của
trường THPT Binh Sơn và vận dụng các nguyên tắc bồi dưỡng phát triển, tôi đề xuất một
số biện pháp sau:
3.2. TĂNG CƯỜNG NÂNG CAO NHẬN THỨC CHO CÁN BỘ QUẢN LÝ VÀ
GIÁO VIÊN VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ.
3.2.1. Nội dung tăng cường.
Những nội dung cần bồi dưỡng về nhận thức như sau:
Bồi dưỡng nhận thức về vai trò của giáo dục đối với sự phát triển. Phải làm cho mọi người
thấu triệt giáo dục có vai trò to lớn trong việc phát triển cá nhân và xã hội. Giáo dục được
coi là đồng nghĩa với sự phát triển. Giáo dục ngày nay được coi là nền móng của sự phát
triển khoa học kỹ thuật và đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân. Nền giáo dục
phát triển nhân cách mỗi cá thể và bản sắc dân tộc góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Bồi dưỡng nhận thức về quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục, nhiệm vụ giáo dục trong
thời kỳ CNH, HĐH.


+ Đảng ta thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu.
+ Mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục là: "Tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện, đổi mới
nội dung phương pháp dạy và học... phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ, sáng tạo của học
sinh... thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước thành một xã hội học tập".
Tăng cường nhận thức về thực trạng giáo dục của đất nước, đặc biệt thấy rõ những yếu
kém của nền giáo dục, như: chất lượng giáo dục - đào tạo đại trà còn thấp, đội ngũ giáo
viên thiếu về số lượng, cơ cấu không đồng bộ, chất lượng thấp, phương pháp giảng dạy,
giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện tại và tương lai.
Tăng cường nhận thức về vai trò của người thầy giáo trong việc thực hiện mục tiêu, chiến
lược phát triển giáo dục. Phải làm cho mọi người thấy được vai trò của chất lượng đội ngũ
giáo viên là yếu tố quyết định chất lượng nền giáo dục của đất nước. Mục tiêu của nền
giáo dục chúng ta là đào tạo những con người phát triển toàn diện, phải tạo ra chất lượng
mới cho nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước. Muốn làm tròn sứ mệnh
cao cả đó, giáo dục phải có sự thay đổi đồng bộ trên các mặt, trong đó yếu tố có ý nghĩa
quyết định là phải nâng cao chất lượng toàn diện của đội ngũ giáo viên.
3.2.2. Hình thức tăng cường
Có thể vận dụng nhiều hinh thức, như:
- Đẩy mạnh công tác chính trị - tư tưởng
- Mời cán bộ tuyên huấn nói chuyện thời sự, chính trị
- Mời các giáo sư, tiến sỹ bồi dưỡng đổi mới phương pháp giảng dạy
- Tổ chức học tập chính trị cho cán bộ, giáo viên
- Phổ biến các văn kiện của Đảng, Nhà nước
- Mua các tài liệu
- Giáo viên tăng cường đọc sách, báo, tài liệu
- Giáo viên viết thu hoạch
- Bồi dưỡng qua các sinh hoạt tập thể
- Các tổ có kế hoạch hoạt động, đăng ký nội dung nâng cao
3..3. ĐA DẠNG HOÁ CÁC NỘI DUNG, HÌNH THỨC BỒI DƯỠNG PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN.
3.3.1. Đa dạng hoá nội dung bồi dưỡng
a) Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và lòng nhân ái sư phạm
Trong quá trinh bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ, phẩm chất đạo đức của người
thầy phải được coi trọng. Trong bất cứ hoàn cảnh nào người thầy cũng phải xứng đáng là
tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Người hiệu trưởng khi xây dựng phong cách người
thầy phải chú ý tới hai mặt. Đó là thái độ đối với công việc và cách ứng xử trước những
vấn đề, tinh huống trong quan hệ với cấp trên, với đồng nghiệp, với học sinh hoặc tinh
huống của thế thái nhân tinh. Người thầy muốn làm tốt công tác giáo dục phải có tác
phong mẫu mực, tôn trọng và công bằng trong đối xử với học sinh, phải xây dựng uy tín


trước học sinh, nhân dân và xã hội. Dù trong hoàn cảnh nào cũng không được làm hoen ố
danh dự người thầy. Phải xây dựng thói quen làm việc có kỷ cương, nề nếp, lương tâm,
trách nhiệm. Thông qua bồi dưỡng tư tưởng chính trị cho thầy cô giáo thêm tự hào, gắn bó
với nghề, trường để tạo động lực phát triển nhà trường.
Bồi dưỡng lòng nhân ái sư phạm đội ngũ giáo viên là nội dung quan trọng trong công tác
bồi dưỡng chất lượng giáo viên. Lòng nhân ái - tinh yêu thương con người là cái gốc của
đạo lý làm người. Với giáo viên thi tinh yêu thương ấy là cốt lõi, là cội nguồn sâu xa của
lý tưởng nhân văn, là đặc trưng của giáo dục. Tinh thương yêu học sinh là điểm xuất phát
của mọi sự sáng tạo sư phạm và làm cho giáo viên có trách nhiệm cao với công việc. Tinh
yêu thương học sinh thể hiện trong các hoạt động dạy học và giáo dục, đó cũng là điểm
xuất phát của tinh yêu nghề nghiệp. ý thức, thái độ và tinh yêu nghề nghiệp thể hiện ở việc
không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức để trở thành tấm gương sáng, gây niềm tin đạo
đức trước học sinh và nhân dân. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt yêu cầu về đạo
đức của người thầy lên hàng đầu "Dĩ nhân như giáo, dĩ ngôn như giáo". Phải làm cho mọi
giáo viên thấm nhuần khẩu hiệu "Tất cả vi học sinh thân yêu".
b) Bồi dưỡng năng lực sư phạm
Đây là một yêu cầu cơ bản, quan trọng trong công tác bồi dưỡng giáo viên. Năng lực sư
phạm bao gồm: năng lực tổ chức quá trinh dạy học và tổ chức quá trinh giáo dục. Tri thức
khoa học sâu rộng là nền tảng của năng lực sư phạm. Người giáo viên phải có tri thức
khoa học sâu rộng, vững chắc để từ đó phát triển năng lực sư phạm. Do vậy cần tập trung
bồi dưỡng những nội dung cơ bản sau:
Thường xuyên cung cấp cho giáo viên những điều chỉnh, hoặc đổi mới trong nội dung
hoặc phương pháp giáo dục và dạy học của từng mặt giáo dục, của từng môn học trong
chương trinh. (Ví dụ: Thực hiện tích hợp, lồng ghép giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành
niên, giáo dục môi trường, giáo dục pháp luật…). Hoặc đổi mới phương pháp giảng dạy và
giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
Bồi dưỡng cho giáo viên năng lực thiết kế giáo án môn học, năng lực ra đề thi, chấm thi,
trả bài.
Bồi dưỡng cho giáo viên năng lực ứng xử các tinh huống trong giảng dạy và giáo dục.
Đối với giáo viên chủ nhiệm cần bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt động tập thể, năng
lực thuyết phục, cảm hoá học sinh.
Giáo viên chủ nhiệm là người thay mặt hiệu trưởng quản lý toàn diện các hoạt động giáo
dục trong lớp. Giáo viên chủ nhiệm là người cố vấn trong tập thể học sinh, là người trực
tiếp giáo dục học sinh, trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá công bằng, khách quan quá
trinh rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng của học sinh trong lớp. Do đó giáo viên chủ nhiệm cần
rèn luyện kỹ năng vận dụng các tri thức khoa học giáo dục vào thực tiễn sinh động và đa
dạng trong quá trinh giáo dục học sinh của minh.
c) Bồi dưỡng năng lực chuyên môn
Năng lực chuyên môn là nền tảng, là đòn bẩy của năng lực sư phạm. Muốn có năng lực sư
phạm tốt phải có năng lực chuyên môn vững vàng. Bởi "Có bột mới gột nên hồ".
Năng lực chuyên môn hay trinh độ chuyên môn bao gồm nhiều yếu tố như:


- Kiến thức khoa học về bộ môn và các kiến thức liên quan
- Phương pháp giảng dạy bộ môn với từng bài, kiểu bài
- Sự sáng tạo, khả năng đúc rút và phổ biến kinh nghiệm
- Khả năng tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về chuyên môn cho minh và đồng nghiệp.
- Chất lượng bài dạy, giờ dạy
- Chất lượng học tập của học sinh
Do đó, bồi dưỡng năng lực chuyên môn là bồi dưỡng những nội dung sau:
+ Thường xuyên cung cấp những tư liệu, tài liệu, thiết bị cần thiết liên quan đến nội dung
kiến thức và phương pháp giảng dạy bộ môn.
+ Phát huy, ủng hộ sự sáng tạo của giáo viên trong giảng dạy. Đặc biệt là hiện đại hoá
phương pháp giảng dạy.
+ Tạo điều kiện để giáo viên đúc rút kinh nghiệm giảng dạy.
+ Bồi dưỡng khả năng nắm bắt mục đích yêu cầu từng bài, kiểu bài; có đủ và vững vàng
kiến thức để dạy tất cả các khối lớp.
+ Đánh giá đúng chất lượng giảng dạy của giáo viên, kết quả học tập của học sinh.
d) Bồi dưỡng năng lực công tác xã hội hoá giáo dục
Đây là một trong bảy nhóm giải pháp để phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước trong
thời kỳ CNH, HĐH, thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Chính
nhờ chủ trương này mà nguồn lực đầu tư cho giáo dục tăng lên và làm cho bộ mặt giáo
dục nước nhà khởi sắc, tạo ra một phong trào học tập rầm rộ và cả xã hội làm giáo dục.
Đối với trường THPT Binh Sơn, bước đầu nhờ công tác này mà bộ mặt nhà trường có thay
đổi, nên phải tiếp tục bồi dưỡng cho giáo viên năng lực làm công tác xã hội hoá giáo dục.
Phải làm cho giáo viên nắm được nội dung, yêu cầu của xã hội hoá giáo dục là "khuyến
khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục. Tạo cơ hội
cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trinh độ được học thường xuyên học suốt đời; tiến tới
một xã hội học tập".
Phải lập chương trinh kế hoạch và tổ chức, chỉ đạo công tác này một cách nghiêm túc,
khoa học để giáo viên có cơ sở thực hiện. Giáo viên cũng phải tự minh học tập, tự minh
tạo mối liên hệ nhà trường - gia đinh - xã hội trong giáo dục học sinh. Phải phát huy vai
trò người thầy trong việc phát triển giáo dục.
e) Bồi dưỡng kiến thức khoa học bổ trợ
Trong xu thế toàn cầu hoá, các nước đang mở rộng hợp tác và hội nhập, đặc biệt bước vào
thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, nhất là khoa học công nghệ thông tin đang
phát triển như vũ bão, Ngoại ngữ và tin học đang trở thành thứ vũ khí không thể thiếu
được đối với sự hợp tác và phát triển. ở nước ta phong trào học ngoại ngữ và tin học đang
dấy lên rầm rộ. Cũng như trong nhiều nhà trường, đội ngũ giáo viên trường THPT Binh
Sơn đang gặp khó khăn về trinh độ ngoại ngữ và tin học. Vốn ngoại ngữ và tin học nghèo
nàn đã cản trở rất lớn trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy, giáo dục và nhiều hoạt


độngkhác. Do đó phải tổ chức bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ và tin học cho giáo viên.
Phải tổ chức cho giáo viên học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh để giáo viên biết đọc, biết
viết tiếng Anh, biết sử dụng ở mức độ cần thiết. Phải bồi dưỡng cho giáo viên hiểu được
tin học, biết sử dụng máy vi tính để sử dụng hỗ trợ cho giảng dạy và các công tác khác.
Sơ đồ:
Đa dạng hoá nội dung
bồi dưỡng

Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức + lòng nhân ái sư phạm

Bồi dưỡng
năng lực chuyên môn

Bồi dưỡng
năng lực
sư phạm

Bồi dưỡng
năng lực
xã hội hoá GD

Bồi dưỡng
năng lực
kiến thức bổ trợ
3.2. Đa dạng hoá các hình thức bồi dưỡng chất lượng đội ngũ giáo viên
Để thực hiện được những nội dung bồi dưỡng trên, tôi đề xuất các hinh thức bồi dưỡng
như sau:
a) Bồi dưỡng tại trường
Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng tại trường mang lại hiệu quả cao phù hợp với điều kiện
và hoàn cảnh của đa số giáo viên. Tổ trưởng chuyên môn, giáo viên dạy giỏi các cấp là
những cốt cán trong công tác bồi dưỡng. Họ vừa là người gương mẫu đi đầu trong việc bồi


dưỡng, vừa có trách nhiệm giúp đỡ những thành viên trong tổ. Cải tiến nội dung và hinh
thức sinh hoạt tổ chuyên môn cũng mang lại hiệu quả bồi dưỡng tốt.
Tổ chức hội giảng (như hội giảng chào mừng theo chủ điểm, hội thi chọn giáo viên giỏi
trường) tổ chức các cuộc thi nghiệp vụ sư phạm để khích lệ giáo viên có tinh yêu nghề
nghiệp và say sưa bồi dưỡng tay nghề.
Tổ chức học tập, hội thảo theo chuyên đề: Có thể mời chuyên gia, chuyên viên Sở để cung
cấp những kiến thức cập nhật và giải quyết những băn khoăn, thắc mắc của giáo viên khi
dạy những bài khó, chương khó. Hoặc nhà trường tự tổ chức, giao cho tổ trưởng chuyên
môn, những người có năng lực cao chuẩn bị nội dung theo chủ đề hội thảo. Khi đã thống
nhất thi phải quyết tâm biến nó thành hiện thực sâu rộng.
Đầu tư xây dựng thư viện và tổ chức hoạt động thư viện góp phần không nhỏ trong công
tác bồi dưỡng. Thư viện phải có đầy đủ sách giáo khoa, sách hướng dẫn, nhiều sách tham
khảo, các loại báo và tạp chí đặc biệt là báo và tập san chuyên ngành. Xây dựng phòng đọc
đáp ứng nhu cầu giáo viên và học sinh. Nhân viên thư viện phải được đào tạo. Tổ chức
giới thiệu sách mới, thảo luận những vấn đề mà báo chí đặt ra, thiết thực phục vụ giảng
dạy và giáo dục, khuyến khích giáo viên mượn đọc, học tập.
Cần dành nhiều thời gian cho sinh hoạt chuyên môn và ưu tiên cho việc bồi dưỡng nâng
cao tay nghề. Các công việc hành chính có thể thông báo trên bảng, không biến buổi sinh
hoạt chuyên môn thành buổi thông báo hành chính sự vụ.
Tổ chức cho giáo viên nghiên cứu và ứng dụng khoa học. Khuyến khích động viên phong
trào viết sáng kiến kinh nghiệm làm đồ dùng dạy học. Cần tổ chức nghiệm thu sáng kiến
kinh nghiệm một cách nghiêm túc, có sự đánh giá khách quan và những sáng kiến kinh
nghiệm cần được áp dụng phổ biến cho giáo viên toàn trường.
Tổ chức các lớp học ngoại ngữ và tin học cho giáo viên. Có thể động viên giáo viên theo
học ở các trung tâm, nhưng cách làm tốt nhất là tự tổ chức tại trường bằng cách vận động,
khuyến khích giáo viên bộ môn giảng dạy, giáo viên học góp kinh phí ở mức độ vừa phải
và nhà trường dùng một ít tiền trong quỹ khuyến học để hỗ trợ.
b) Bồi dưỡng ngắn hạn: Cử giáo viên tham dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ
ngắn hạn do Sở hoặc Bộ tổ chức theo chuyên đề. Sau khi tham dự phải tổ chức phổ biến,
áp dụng.
c) Học các lớp đào tạo bồi dưỡng từ xa.
Bố trí, tạo điều kiện để giáo viên tham gia các lớp học từ xa để nâng cao trinh độ trên
chuẩn.
d) Học các lớp tập trung
Vận động và cử giáo viên tham gia dự thi các lớp đào tạo thạc sĩ. Nhất là những giáo viên
trẻ, giáo viên có năng lực, có thành tích cao. Năm học 2007 – 2008, 2008-2009, 20092010 có 9 giáo viên dự thi lớp thạc sĩ đã đậu và đang theo học tại ĐH Sư phạm Hà Nội I
và ĐHQG Hà Nội.
e) Học theo cụm trường.


Tổ chức học chuyên đề cùng với các trường trong huyện, cụm có mời các chuyên viên
hoặc những đồng chí có năng lực, uy tín, được tham dự các chuyên đề báo cáo. Cũng có
thể liên kết với vài trường trong vùng gần nhau tự tổ chức chuyên đề để trao đổi kinh
nghiệm. Trong hai năm học 2007-2008, 2008-2009 cùng với trường THPT Ngô Gia Tự tổ
chức hai chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp bồi dưỡng học sinh
giỏi.
g) Bồi dưỡng qua tự học, tự rèn.
Xây dựng nội dụng này thành một phong trào thi đua. Giáo viên đăng ký vấn đề tự học
theo định kỳ. Sau đó viết thu hoạch trinh bày để giáo viên toàn trường hoặc tổ thảo luận,
đánh giá, góp ý. Đối với giáo viên phải xây dựng thành ý thức thường xuyên.
Đa dạng hoá học tập bồi dưỡng
Bồi dưỡng tại trường
Bồi dưỡng ngắn hạn
Bồi dưỡng từ xa
Bồi dưỡng tập trung
Bồi dưỡng theo cụm
Bồi dưỡng qua tự học
3.4. ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC THI ĐUA KHEN THƯỞNG.
3.4.1. Nội dung thi đua
Công tác thi đua, khen thưởng có một tác dụng lớn trong việc đẩy mạnh, nâng cao chất
lượng các hoạt động trong nhà trường. Phải làm cho mọi người nhận thức được mục đích
của công tác thi đua là để đánh giá công lao, cống hiến của mỗi cá nhân, tập thể, thi đua
khen thưởng là để động viên, khuyến khích mọi thành viên, tập thể làm tốt hơn nhiệm vụ
của minh. Thực hiện phương châm ai làm tốt sẽ được khen thưởng, sẽ được cử đi học cao
học, được đề nghị để bổ nhiệm, ai vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật tuỳ theo mức độ. Công tác
thi đua phải được duy tri đều đặn, liên tục và phải xây dựng được tiêu chí thi đua để mọi
người phấn đấu. Đầu năm học, qua đại hội CNVC, nhà trường cho các giáo viên, tổ đăng
ký danh hiệu thi đua, như giáo viên giỏi cấp trường, cấp tỉnh, tổ tiên tiến, tổ xuất sắc, danh
hiệu lao đông giỏi. Trong năm học có nhiều ngày lễ lớn, tổ chức thi đua hưởng ứng chào
mừng những ngày lễ lớn đó.
3.4.2. Các hình thức thi đua, khen thưởng.
- Thi đua của cá nhân và tổ để đạt các danh hiệu phải dựa vào tiêu chuẩn được nhà nước
quy định và phải có tổ chức thao giảng, khảo sát.
- Thi đua trong từng tổ, giữa các cá nhân
- Khen thưởng công bằng, có khuyến khích bằng vật chất hợp lý.


3.5. CÁC CHÍNH SÁCH THU HÚT GIÁO VIÊN
Tim các nguồn vốn hợp pháp để tạo quỹ thu hút giáo viên về công tác tại trường từ
các cơ quan, tổ chức, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, phụ huynh học sinh cho những
giáo viên khá giỏi, giáo viên là thạc sỹ về nhận công tác ở trường.
Tham mưu với UBND huyện, UBND xã tạo điều kiện cấp đất cho giáo viên xây nhà
để an cư, gắn bó lâu dài với trường.
Những giáo viên dạy giỏi được tạo điều kiện cử đi học cao học, được bồi dưỡng
nâng cao trinh độ và được xem xét bổ nhiệm, đề bạt.
3.6.CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHẰM PHÁT TRIỂN ĐỘI
NGŨ
a) Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá
Dựa vào tinh hinh trong và ngoài nhà trường, dựa vào tinh hinh đội ngũ, hiệu trưởng phải
xây dựng được kế hoạch cho từng nội dung bồi dưỡng. Phải có kế hoạch dài hạn (5 - 10
năm), kế hoạch ngắn hạn (từng năm, từng tháng, tuần). Trong từng năm, từng tháng phải
định hướng một số nội dung bồi dưỡng cần thực hiện. Tiếp đó phải tổ chức chặt chẽ, phải
nêu rõ mục đích, yêu cầu, phương pháp thực hiện, phân công người phụ trách, thực hiện,
điều tiết thời gian, kinh phí cho tập thể bàn bạc, thảo luận đi đến thống nhất. Triển khai,
chỉ đạo chặt chẽ, thường xuyên. Luôn đôn đốc, kiểm tra, điều chỉnh. Để tạo điều kiện cho
phong trào phát triển phải có sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm kịp thời.
b) Người quản lý phải nắm được đặc điểm cơ bản của tập thể sư phạm, đội ngũ giáo viên.
Đó là các đặc điểm về mục tiêu, đặc điểm về lao động sư phạm, đặc điểm các yếu tố tâm
lý, giá trị của tập thể sư phạm.
c) Đảm bảo chế độ chính sách cho đội ngũ giáo viên, xây dựng khối đại đoàn kết thống
nhất trong tập thể sư phạm, trong đội ngũ giáo viên.
d) Xây dựng bầu không khí tâm lý thuận lợi trong tập thể đội ngũ giáo viên. Hiệu trưởng
cần phối hợp với các tổ chức chính trị, xã hội thường xuyên tổ chức những sinh hoạt tập
thể, những chuyến tham quan, nghỉ mát, hội thảo, quan tâm đến những sinh hoạt tập thể,
quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của từng giáo viên. Hiệu trưởng cần hoàn
thiện phong cách quản lý của minh vi phong cách quản lý của hiệu trưởng có ảnh hưởng
tới bầu không khí tâm lý của tập thể sư phạm qua tiếp xúc của hiệu trưởng với các giáo
viên và điều tiết các quan hệ giữa các thành viên trong tập thể.
e) Tăng cường pháp chế XHCN, cải cách hành chính trong nhà trường nhằm xây dựng kỷ
cương, nền nếp dạy và học, nhằm phát huy chức năng bộ máy nhà trường, phát huy sức
mạnh của mỗi cá nhân và cộng đồng.


PHẦN KẾT LUẬN
1. MỘT SỐ KẾT LUẬN
Xuất phát từ việc xác định cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, từ việc phân tích thực trạng phát
triển đội ngũ giáo viên trường THPT Binh Sơn, tôi đã lý giải và đề xuất những biện pháp
quản lý nhằm phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT Binh Sơn. Những biện pháp trên
có những điều tôi đã làm và gặt hái được một số thành tựu tuy nhỏ bé nhưng đáng tự hào,
cũng có những biện pháp tôi đề xuất dựa trên cơ sở khoa học.
Qua việc triển khai công tác quản lý ở trường THPT Binh Sơn trong những năm qua, qua
nghiên cứu lý luận và thực tiễn tôi đề xuất các biện pháp là:
- Nâng cao nhận thức cho giáo viên về việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên THPT.
- Đa dạng hoá các nội dung và hinh thức bồi dưỡng.
- Đẩy mạnh công tác thi đua, khen thưởng.
- Có các chính sách thu hút giáo viên.
Mặc dù đã được nghiên cứu hết sức cẩn trọng, dồn bao tâm huyết với đề tài để đề xuất các
biện pháp nêu trên, còn nhiều biện pháp khác chưa có điều kiện đề cập đến. Đó chính là
hướng nghiên cứu tiếp tục của đề tài. Dù cố gắng đến đâu cũng không khỏi có những thiếu
sót, mong các đồng nghiệp góp ý thêm.
2. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ
Để thực hiện được mục đích quan trọng là phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT tôi
mạo muội có những khuyến nghị như sau:
- Với Bộ giáo dục, vụ GDTrH của Bộ sớm ban hành nội dung, chương trinh bồi dưỡng
thường xuyên cho giáo viên THPT để các nhà trường có điều kiện thực hiện thuận lợi.
- Đối với Sở Giáo dục - Đào tạo Vĩnh Phúc: Đề nghị Sở GD-ĐT kịp thời triển khai các nội
dung bồi dưỡng giáo viên, thường xuyên cung cấp thông tin cập nhật, tổ chức nhiều hơn
nữa các chuyên đề bồi dưỡng bằng nhiều hinh thức để giáo viên có điều kiện nâng cao
trinh độ. Nhất là chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học. Cho phép các trường được
tự tuyển giáo viên và nhân viên.
- Đối với UBND huyện Sông Lô: Tạo điều kiện cấp đất làm nhà ở cho giáo viên để giáo
viên yên tâm công tác lâu dài.
- Đối với nhà trường THPT Binh Sơn: Cần tăng cường công tác bồi dưỡng giáo viên và
phải thực hiện thường xuyên công tác này. Cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí,
có kế hoạch đồng bộ về việc bồi dưỡng phát triển giáo viên.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×