Tải bản đầy đủ

Thẩm quyền của tòa án theo yêu cầu của nguyên đơn, người yêu cầu theo Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Đề tài: Thẩm quyền của tòa án theo sự
lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu
***

TP HCM - 2016


Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân các cấp là một trong những chế định quan
trọng trong việc xác định Tòa án nào có quyền thụ lý và giải quyết các vụ việc dân sự. Để
xác định thẩm quyền của Tòa án thì trước hết phải xem xét loại việc , sau đó căn cứ vào
luật hiện hành để xác định cấp Tòa án và cuối cùng là Tòa ở lãnh thổ nào sẽ có quyền giải
quyết. Tuy nhiên nếu như có nhiều Tòa án có thẩm quyền xét xử trong cùng một vụ việc
thì các nguyên đơn, người yêu cầu có quyền lựa chọ Tòa án theo quy định của pháp luật.
Trước đây, tại Bộ luật tố tụng dân sự 2004 và tại nghị quyết 03/2012 của Hội đồng
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao- về Hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần
thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung
theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.
cũng đã qui định rõ về vấn đề thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên
đơn, người yêu cầu. Theo Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì vấn đề này cũng đã được
qui định rõ đồng thời cũng được điều chỉnh bởi nghị quyết 02/2016.
Do đặc trưng của các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương

mại, lao động, nên trong một số trường hợp, để tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan tiến
hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ việc dân sự cũng như tạo
điều kiện thuận lợi cho đương sự trong việc yêu cầu, khởi kiện vụ việc dân sự ra Tòa án,
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định cho nguyên đơn, người yêu cầu có quyền
lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp.
I. Khái niệm:
1. Quyền lựa chọn Tòa án:
Quyền lựa chọn tòa án là việc nguyên đơn, người yêu cầu dân sự trong một số
trường hợp có yêu cầu của Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, lao
động, kinh doanh, thương mại, lao động.
Về quyền lựa chọn Tòa án của nguyên đơn, người yêu cầu có thể hiểu là khả năng
mà pháp luật trao cho đương sư trong việc lựa chọn một Tòa án giải quyết một vụ việc
nhân sự nhất định khi mà có nhiều Tòa án cùng có thẩm quyền giải quyết.
2. Nguyên đơn, người yêu cầu:


Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác do BLTTDS quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi
cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu được qui
định tại Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 như sau:
“Điều 40. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu
1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:
a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu
cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản
giải quyết;
b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có
thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;
c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh
chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có
trụ sở giải quyết;
d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu
cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải
quyết;
đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động,
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quyền và lợi ích liên quan đến việc
làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì
nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải
quyết;

e) Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc
người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi người sử dụng lao
động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò
trung gian cư trú, làm việc giải quyết;


g) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa
án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;
h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn
có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;
i) Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau
thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.
2. Người yêu cầu có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết yêu cầu về dân sự, hôn nhân
và gia đình trong các trường hợp sau đây:
a) Đối với các yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10
Điều 27 của Bộ luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm
việc, có trụ sở hoặc nơi có tài sản của người bị yêu cầu giải quyết;
b) Đối với yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 29 của
Bộ luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi cư trú của một trong các bên
đăng ký kết hôn trái pháp luật giải quyết;
c) Đối với yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc
quyền thăm nom con sau khi ly hôn thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi người
con cư trú giải quyết.”
Đối với các tranh chấp yêu cầu về dân sự, hôn nhân gia đình. Lao động. kinh doanh
thương mại:
Tranh chấp về dân sự được qui định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tuy
nhiên các tranh chấp phổ biến bao gồm các tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc
tịch: Quyền sở hữu tài sản, hợp đồng dân sự, quyền sở hữu trí tuệ; chuyển giao công
nghệ; thừa kế di sản; bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất; yêu cầu tuyên bố chết hoặc mất tích;..
Tranh chấp về hôn nhân gia đình được qui định tại Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
2015, nhưng các tranh chấp phổ biến bao gồm: Ly hôn, tranh chấp về quyền nuôi con,
chia tài sản sau khi ly hôn; chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; xác định cha mẹ
cho con hoặc xác định con cho cha mẹ; cấp dưỡng;…


Tranh chấp về lao động qui định tại Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Tranh
chấp lao động giữa cá nhân người lao động và người sử dụng lao động; tranh chấp tập thể
người lao động và người sử dụng lao động về quyền, lợi ích liên quan đến tập thể lao
động. Các tranh chấp chủ yếu về học nghề, tập nghề; cho thuê lại lao động; quyền công
đoàn, kinh phí công đoàn; an toàn lao động, vệ sinh lao động.
Tranh chấp trong kinh doanh, thương mại được qui định chi tiết tại Điều 30 Bộ luật
Tố tụng dân sự 2015 phát sinh giữa cá nhân, tổ chức đăng kí kinh doanh; Tranh chấp
quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau; giữa người
chưa phải thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với
công ty, thành viên công ty; tranh chấp giữa các thành viên công ty.
3. Cơ sở pháp lý xác định thẩm quyền Tòa án theo lãnh thổ và quyền lựa chọn Tòa
án theo nguyên đơn, người yêu cầu:
Việc xác định thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ là sự phân định thẩm quyền sơ
thẩm vụ việc dân sự giữa các tòa án với nhau. Hiện nay, các quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự về xác định thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ cũng dựa trên cơ sở nhất
định, cụ thể được qui định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Việc phân định này
có ý nghĩa nhiều hơn đối với đương sự: Là cơ sở pháp lý để nguyên đơn chủ động trong
việc xác định được Toà án mà mình có thể gửi đơn kiện hoặc lựa chọn Toà án thuận lợi
nhất cho mình trong việc tham gia tố tụng. Bên cạnh đó còn giúp các đương sự nhanh
chóng thực hiện được quyền khởi kiện để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, tránh
được việc gửi đơn kiện ra Toà án không có thẩm quyền gây mất thời gian và chi phí
không đáng có.
Trong một số trường hợp pháp luật quy định cho nguyên đơn, người yêu cầu có
quyền lựa chọn một trong các tòa án có yêu cầu giải quyết vụ việc mà không phụ thuộc
vào ý chí của bị đơn, người bị yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự. Đây là trường hợp thẩm
quyền của tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu – được qui định tại
Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
4. Mối quan hệ giữa Thẩm quyền Tòa án theo lãnh thổ và quyền lựa chọn Tòa án
theo nguyên đơn, người yêu cầu:


Thẩm quyền Tòa án theo lãnh thổ và quyền lựa chọn Tòa án theo sự lựa chọn của
nguyên đơn, người yêu cầu có mối quan hệ với nhau. Có thể nói đó là mối quan hệ giữa
nguyên tắc và ngoại lệ. Việc xác định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ là nguyên tắc
còn quyền lựa chọn tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu là ngoại lệ.
Chính vì vậy khi đã được xem là nguyên tắc thì thẩm quyền của Tòa án sẽ được xác định
trước, và khi thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của đương sự không trái với
nguyên tắc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ thì khi đó mới được áp dụng.
Nếu trong trường hợp phải áp dụng Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xác
định thẩm quyền thì phải tuân theo và không được chấp nhận yêu cầu lựa chọn của
nguyên đơn, người yêu cầu.
Giữa nguyên tắc và ngoại lệ luôn tác động qua lại với nhau, tương trợ, phụ thuộc lẫn
nhau. Do đó việc xác định thẩm quyền theo sự lựa chọn phải dựa vào qui định về xác
định thẩm quyền theo lãnh thổ, bị các qui định về thẩm quyền theo lãnh thổ ràng buộc.
Tuy nhiên, nếu thiếu đi phần ngoại lệ thì việc xác định thẩm quyền mất đi sự cân bằng và
tính hợp lý. Bởi trên thực tế, khi giải quyết các trường hợp thì luôn gặp nhiều khó khăn
bởi có thể trong vụ án có thể có nhiều bị đơn mà mỗi bị đơn lại cư trú, làm việc tại một
nơi khác nhau.. thì trong trường hợp này bắt buộc phải có sự lựa chọn. Tuy nhiên, nếu
như không phải là nguyên đơn yêu cầu thẩm quyền của Tòa án thì liệu quyền và lợi ích
của họ có được bảo vệ ở có lợi nhất hay không? Vì vậy, những quy định về quyền lựa
chọn của nguyên đơn, người yêu cầu theo Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 một phần
là để đảm bảo tính hợp lý trong thực tiễn xét xử.
5. Ý nghĩa:
Bên cạnh những vụ việc mà nguyên đơn, người yêu cầu bắt buộc phải khởi kiện thì
trong một số trường hợp pháp luật trao quyền cho nguyên đơn, người yêu cầu được tự
quyết định Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết vụ việc của mình.
Mục đích của quy định này là nhằm tạo sự thuận lợi cho bên nguyên đơn, người yêu
cầu bảo vệ quyền lợi của họ và đảm bảo được việc giải quyết nhanh chóng, thuận lợi cho
Toà án. Bên cạnh đó pháp luật cũng căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh của người khởi kiện,
người yêu cầu.
Nguyên đơn, người yêu cầu khi tham gia tố tụng là bảo vệ quyền và lợi ích của
mình, họ có các quyền năng mà các chủ thể khác không có, đây là giới hạn luật định cho


các chủ thể này để họ có thể lựa chọn tòa án giải quyết nhằm đảm bảo lợi ích của chính
họ và đảm bảo cho nguyên tắc về quyền của đương sự.
II. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu:
Để xác định vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Toà cụ thể nào, đầu tiên,
người ta phải xác định vụ việc đó có phải là vụ việc dân sư thuộc thẩm quyền giải quyết
của Toà án hay không, sau đó căn cứ vào xác định xem vụ việc đó thuộc thẩm quyền sơ
thẩm của Toà án cấp nào và bước sau cùng là xác định trong số các Toà án cùng cấp đó
thì Toà án lãnh thổ nào sẽ có thẩm quyền giải quyết. Nếu có nhiều Toà án có thẩm quyền
xét xử trong cùng một vụ việc thì các đương sự có thể lựa chọn Toà án theo quy định của
pháp luật. Tức là thẩm quyền của tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu
không hề loại trừ thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ mà là để tăng thêm sự lựa chọn Tòa và
tạo thuận lợi cho công dân được thực hiện quyền tài phán của mình.
Những trường hợp pháp luật cho phép nguyên đơn, người yêu cầu được quyền lựa
chọn Toà án để giải quyết vụ việc đều nhằm mục đích đảm bảo được quyền lợi hợp pháp
của công dân trong quan hệ pháp luật dân sự. Các nhà làm luật đã dựa trên căn cứ “tạo
điều kiện thuận lợi cho đương sự dựa vào pháp luật thực hiện quyền tố tụng” để giới hạn
một số trường hợp mà nguyên đơn và người yêu cầu có quyền được lựa chọn Tòa án sao
cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế, trao quyền chủ động cho người nộp đơn và tạo thuận
lợi cho quá trình tố tụng dân sự.
Quyền của nguyên đơn và người yêu cầu trong việc lựa chọn Tòa có thẩm quyền
giải quyết vụ việc dân sự cấp sơ thẩm chỉ phát sinh trước khi nguyên đơn, người yêu cầu
khởi kiện, nộp đơn yêu cầu. Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị quyết 03/2012/NQ –
HĐTP hướng dẫn Bộ luật Tố tụng Dân sự 2006 thì:
“Trong trường hợp nguyên đơn, người yêu cầu được quyền lựa chọn nhiều Tòa án
có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự (ví dụ: Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ
sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36 Bộ luật Tố
tụng dân sự), thì khi nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, Tòa án phải giải thích cho họ biết
là chỉ có một Tòa án trong các Tòa án được Điều luật quy định mới có thẩm quyền giải
quyết vụ việc dân sự để họ lựa chọn. Cho nên người khởi kiện, người yêu cầu phải cam


kết trong đơn khởi kiện hoặc trong đơn yêu cầu là không khởi kiện hoặc không yêu cầu
tại các Tòa án khác.
Trong trường hợp người khởi kiện, người yêu cầu nộp đơn khởi kiện, nộp đơn yêu
cầu tại nhiều Tòa án khác nhau được Điều luật quy định, thì Tòa án đã thụ lý đầu tiên
theo thời gian có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Các Tòa án khác, nếu chưa thụ lý
thì căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 trả lại đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu; nếu đã thụ lý thì căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 168 và điểm i khoản
1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 của đó trong sổ thụ lý ra quyết định đình chỉ giải
quyết vụ việc dân sự, xoá tên vụ việc dân sự đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện,
đơn yêu cầu cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự.
Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu được quy
định cụ thể tại Điều 40 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015. Tuy nhiên, các bên trong quan hệ
dân sự cũng có thể thỏa thuận về việc lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết trước
hoặc sau khi tranh chấp, yêu cầu dân sự phát sinh.
1. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn:
Nguyên đơn là đương sự trong vụ án dân sự nên quyền lựa chọn Tòa án để nộp đơn
khởi kiện phát sinh khi có tranh chấp phát sinh. Khoản 1 Điều 40 Bộ Luật Tố tụng dân sự
2015 liệt kê các trường hợp mà nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án, đó là các tranh
chấp về các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động như
sau:
- Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu
cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải
quyết. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của người khởi kiện trong trường hợp không
xác định được nơi cư trú của bị đơn hoặc không xác định được tài sản đang ở đâu.
- Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể
yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết. Chi nhánh
là đơn vị phụ thuộc của tổ chức, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng
của tổ chức kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền. Do đó, tranh chấp phát sinh từ hoạt
động chi nhánh sẽ có một phần lỗi quản lý của tổ chức sở hữu chi nhánh đó. Việc pháp
luật cho phép nguyên đơn khởi kiện tại nơi tổ chức có trụ sở hoặc có chi nhánh là phù
hợp và tạo thuận tiện cho các bên đương sự khi tham gia tố tụng.


- Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh
chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có
trụ sở giải quyết. Quy định này giải quyết vấn đề bị đơn là người không có quốc tịch Việt
Nam mà không cư trú tại Việt Nam và người Việt Nam định cư tại nước ngoài. Trên thực
tế các trường hợp thuộc quy định này thường thuộc phạm vi điều chỉnh của tư pháp quốc
tế Việt Nam.
- Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu
cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải
quyết. Đây là quy định hợp lý bởi vì trong trường này thiệt hại đã xảy ra trên thực tế và
pháp luật phải tạo điều kiện tốt nhất để người bị thiệt hại bảo vệ lợi ích chính đáng của
mình.
- Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động,
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quyền và lợi ích liên quan đến việc
làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì
nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết.
Mục đích của quy định này giống với mục đích của quy định trong trường bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng; pháp luật luôn bảo vệ bên yếu thế và tạo điều kiện thuận lợi
nhất để họ đấu tranh cho quyền lợi của bản thân mình.
- Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người
có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi người sử dụng lao động là
chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian
cư trú, làm việc giải quyết.
- Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa
án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết.
- Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có
thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết.
- Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì
nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.
2. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của người yêu cầu:
Đối với yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, người yêu cầu có quyền lựa chọn
Tòa án giải quyết trong các trường hợp sau đây:


- Người yêu cầu có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết đối với các yêu cầu về dân sự
sau:
+ Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành
vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ
hành vi.
+ Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của
người đó.
+ Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.
+ Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết.
+ Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.
+ Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án.
+ Yêu cầu công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền
sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam.
+ Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung
để thi hành án và yêu cầu khác theo quy định của Luật thi hành án dân sự.
+ Các yêu cầu khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ
quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
- Đối với yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì người yêu cầu có thể yêu cầu
Tòa án nơi cư trú của một trong các bên đăng ký kết hôn trái pháp luật giải quyết. Việc
lựa chọn tòa án tại nơi cư trú của một trong các bên kết hôn trái pháp luật nhằm bảo quy
trình tố tụng diễn ra thuận lợi, nhất là trong việc triệu tập đương sự và thi hành quyết định
của Tòa.
- Đối với yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc
quyền thăm nom con sau khi ly hôn thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi người
con cư trú giải quyết. Việt Nam là một trong những nước phê chuẩn công ước Liên Hợp
Quốc về quyền trẻ em, điều đó cho thấy Việt Nam rất quan tâm đến việc chăm sóc và bảo
vệ trẻ em. Khi có yêu cầu về việc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
tức là cha, mẹ có khả năng ảnh hưởng xấu đến việc phát triển của trẻ và người dân và
chính quyền nơi trẻ em cư trú sẽ hiểu rõ hoàn cảnh và giải quyết vấn đề tốt hơn tòa án ở
địa phương khác.
3. Thỏa thuận của các đương sự trong việc lựa chọn Tòa án:


Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận của cá nhân, pháp nhân là một
trong các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự của hầu hết các nước. Trong quan hệ
đân sự, nhất là quan hệ hợp đồng, các bên thường thỏa thuận với nhau về việc lựa chọn
tòa án có thẩm quyền trong trường hợp có tranh chấp phát sinh. Tuy nhiên, thỏa thuận về
vấn đề lựa chọn Tòa chỉ phát sinh trong vụ án dân sự chứ không phát sinh trong việc dân
sự, bởi vì việc dân sự khởi phát từ yêu cầu mà không phải là do phát sinh tranh chấp.
Thỏa thuận này là một xu thế tất yếu, bởi vì: thứ nhất, các bên đều muốn bảo vệ quyền lợi
hợp pháp của mình; thứ hai, phát sinh tranh chấp trong quan hệ dân sự là không thể tránh
khỏi; thứ ba, để tránh sự mâu thuẫn và giảm thiểu sự phức tạp trong việc lựa chọn tòa thì
các bên nên có sự thống nhất, thỏa thuận vừa là để nhanh chóng giải quyết vụ án và cũng
là tiền đề cho việc hòa giải giữa các bên.
Điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: “Các đương sự có
quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của
nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên
đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh doanh, thương mại, lao động” thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án dân sự.
Tuy nhiên, trong Tư pháp quốc tế thì việc thỏa thuận lựa chọn tòa là một vấn đề
phức tạp vì nó phụ thuộc vào nội dung của pháp luật quốc gia lẫn nội dung của các Điều
ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Trong các điều ước quốc tế đa phương hiện
nay, có bốn loại quy định cơ bản liên quan đến quyền thỏa thuận lựa chọn tòa án của các
bên tham gia tranh chấp :
Thứ nhất, quy định về cách thức thỏa thuận lựa chọn tòa án. Có hai cách thức thỏa
thuận lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp được các điều ước quốc tế áp dụng:
- Các bên tham gia tranh chấp chỉ có thể thỏa thuận lựa chọn một tòa án giải quyết
tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự giữa các bên và tòa án được lựa chọn có độc
quyền giải quyết tranh chấp. Như vậy, theo cách thức này khi tranh chấp phát sinh các
bên chỉ có thể khởi kiện tại tòa án đã được các bên thỏa thuận lựa chọn.
- Cho phép một bên được lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp. Theo cách thức này,
khi tranh chấp phát sinh thì bên khởi kiện (nguyên đơn) có quyền lựa chọn tòa án để nộp
đơn và tòa án được lựa chọn có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Cách thức này ít được


áp dụng hơn do không phản ánh được đầy đủ ý chí của các bên chủ thể trong thỏa thuận
lựa chọn tòa án giải quyết.
Thứ hai, quy định về hình thức của thỏa thuận lựa chọn tòa án. Các công ước đều
quy định thỏa thuận lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp phải được lập thành văn bản.
Thứ ba, quy định về nghĩa vụ của tòa án không được lựa chọn. Các công ước quốc
tế đều quy định rất cụ thể khi các bên tham gia tranh chấp đã thỏa thuận lựa chọn tòa án
giải quyết tranh chấp đó và thỏa thuận đã phát sinh hiệu lực pháp lý thì bất cứ tòa án nào
không được các bên thỏa thuận lựa chọn sẽ không có thẩm quyền giải quyết và phải từ
chối thụ lý vụ việc khi nhận được đơn kiện.
Thứ tư, quy định về những trường hợp ngoại lệ các bên tham gia tranh chấp không
được thỏa thuận lựa chọn tòa án. Phần lớn các công ước quốc tế đều quy định các bên
tham gia tranh chấp không được thỏa thuận lựa chọn tòa án khi tranh chấp thuộc thẩm
quyền giải quyết riêng biệt của tòa án một quốc gia. Khi một quốc gia nhận được yêu cầu
công nhận và cho thi hành phán quyết của tòa án nước ngoài đã tuyên mà tranh chấp này
thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của tòa án quốc gia đó thì dù thẩm quyền của tòa
án nước ngoài được xác định trên cơ sở sự thỏa thuận lựa chọn hợp pháp của các bên,
phán quyết của tòa án nước ngoài cũng sẽ không được công nhận và cho thi hành.
Nếu tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của
Tòa án Việt Nam theo Điều 470 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015 thì trong mọi trường hợp
bản án của tòa án nước ngoài sẽ không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam nếu
có yêu cầu. Tuy nhiên, điều luật này cũng không đề cập đến thẩm quyền của tòa án nước
ngoài dựa trên cơ sở pháp lý nào, có liên quan gì đến sự thỏa thuận lựa chọn của các bên
đương sự hay không.
III. Thực tiễn áp dụng quyền lựa chọn toà án của đương sự - đánh giá:
Mặc dù đã được pháp luật điều chỉnh bằng những quy định cụ thể, tuy vậy, những
quy định này vẫn không thể bao quát được tất cả các tình huống xảy ra trên thực tế, đơn
cử là những tình huống nằm ngoài dự trù của pháp luật hoặc trường hợp các bên đương
sự không hiểu đúng quy định pháp luật, đã phát sinh nhiều quan điểm trái chiều về việc
lựa chọn toà án phù hợp và hợp pháp, gây nhiều trở ngại cho các cơ quan có thẩm quyền
trong việc giải quyết.


Vấn đề đầu tiên là việc cấp xét xử nào có thẩm quyền giải quyết vụ việc trong
trường hợp các bên đương sự thoả thuận chọn toà án? Lấy ví dụ trường hợp công ty A và
công ty B kí hợp đồng mua bán thuỷ hải sản, trong hợp đồng có điều khoản khi có tranh
chấp phát sinh, tranh chấp sẽ được đưa ra toà án nhân dân cấp tỉnh X. Tuy vậy, khi tranh
chấp xảy ra và một bên nộp đơn khởi kiện thì toà án từ chối thụ lý với lý do vụ việc
không thuộc thẩm quyền của toà cấp tỉnh X mà phải do toà cấp huyện Y xét.
Trong trường hợp này, một số thẩm phán cho rằng toà án X không có quyền từ chối
thụ lý đơn khởi kiện vì rõ ràng, tại Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 chỉ quy định
đương sự có quyền chọn toà thuộc khu vực nào, không hề có một quy định nào buộc
đương sự phải chọn toà cấp tỉnh hay cấp huyện và do đó, phải tôn trọng thoả thuận của
các bên. Phần đông còn lại cho rằng quyết định không thụ lý đơn khởi kiện của toà X là
hợp lẽ căn cứ theo các quy định tại khoản 1 Điều 38 và khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng
dân sự 2015, theo đó đây là tranh chấp thương mại thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân
cấp huyện.
Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ hai và cho rằng đây là một điều khoản không
phù hợp với quy định pháp luật vì toà án mà hai công ty chọn không có thẩm quyền xét
xử sơ thẩm tranh chấp này. Hơn nữa, việc toà án thụ lý theo đúng thẩm quyền sẽ hạn chế
được việc đơn khởi kiện bị gửi tràn lan và không theo địa hạt
Thứ hai, về vấn đề nộp đơn khởi kiện tại toà án khác sau khi đã được một toà án thụ
lý. Giả sử công ty trách nhiệm hữu hạn A (gọi tắt là Công ty A) có trụ sở tại quận X, Tp.
HCM ký kết với Công ty trách nhiệm hữu hạn B (gọi tắt là Công ty B) có trụ sở tại quận
Y, Tp. HCM hợp đồng xây dựng ngôi nhà 10 tầng tại huyện Z, tỉnh Q. Hợp đồng ký kết
giữa Công ty A và Công ty B không thỏa thuận lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết
khi tranh chấp xảy ra. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng do Công ty B vi phạm hợp
đồng đã ký kết nên ngày 20/02/2013, Công ty A khởi kiện Công ty B tại Tòa án nhân dân
quận Y, thành phố HCM. Sau khi nhận đơn khởi kiện và các tài liệu chúng cứ kèm theo.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, ngày 25/02/2013 Tòa
án nhân dân quận Y, thành phố HCM đã thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Trong quá
trình giải quyết vụ án Nguyên đơn là Công ty A đã viết đơn đến Tòa án nhân dân quận Y,
Tp. HCM đề nghị Tòa án chuyển vụ án đến Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Q giải quyết


theo thẩm quyền với lý do “Hợp đồng được thực hiện tại huyện Z, tỉnh Q”. Sau khi nhận
được đơn xin chuyển vụ án, Tòa án nhân dân quận Y, thành phố HCM đã chuyển hồ sơ
vụ án đến Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Q.
Vậy, Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Q có thẩm quyền giải quyết vụ việc trên không?
Có hai quan điểm giải quyết vấn đề trên:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Q có thẩm quyền giải
quyết vì căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 36 BLTTDS quy định “Nếu tranh chấp phát
sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng thực
hiện giải quyết”. Nơi thực hiện hợp đồng này là tại huyện Z, tỉnh Q nên Tòa án huyện Z,
tỉnh Q có thẩm quyền giải quyết vụ án tranh chấp trên.
- Quan điểm thứ hai cho rằng: Tòa án huyện Z, tỉnh Q không có thẩm quyền giải
quyết với lý do mặc dù hợp đồng được thực hiện tại huyện Z, tỉnh Q nhưng nguyên đơn
là Công ty A đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Y, thành phố HCM (là Tòa án nơi bị
đơn có trụ sở) và Tòa án nhân dân quận Y, thành phố HCM đã thụ lý đúng thẩm quyền
(căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS) nên Công ty A mất quyền lựa chọn Tòa án
nhân dân huyện Z, tỉnh Q giải quyết hay nói cách khác quyền lựa chọn thẩm quyền Tòa
án giải quyết theo sự lựa chọn của nguyên đơn chỉ xuất hiện khi nguyên đơn nộp đơn
khởi kiện (tức là trọng vụ án này nguyên đơn có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân
huyện Z, tỉnh Q hoặc Tòa án nhân dân quận Y, thành phố HCM) và khi Tòa án quận Y,
thành phố HCM đã thụ lý đúng thẩm quyền thì nguyên đơn không có quyền lựa chọn
nữa.
Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ 2. Thẩm quyền lựa chọn Tòa án giải quyết theo
yêu cầu của nguyên đơn chỉ xuất hiện khi nguyên đơn nộp đơn khởi kiện. Nếu Tòa án đã
thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền thì thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của
nguyên đơn không còn. Quy định trên tạo sự thuận lợi cho nguyên đơn trong việc lựa
chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết nhằm bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của
mình cũng như tránh tình trạng khi đã thụ lý vụ án thẩm quyền của Tòa án lại “chạy”
theo yêu cầu của nguyên đơn.
Thẩm quyền của Tòa án được quy định cụ thể tại các Điều từ 26 đến Điều 41 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015. Trong đó, Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ được quy
định tại Điều 36, còn Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người


yêu cầu được quy định tại điều 36 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Như vậy, ngoài việc quy
định các Tòa án có thẩm quyền theo lãnh thổ thì Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 còn tạo
điều kiện thuận lợi để cho nguyên đơn, người yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình thông qua việc lựa chọn Tòa án để giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và
gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động ...
Việc Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 vừa quy định nguyên đơn, người có yêu cầu được
khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền (Điều 39), vừa quy định nguyên đơn, người có yêu
cầu được quyền lựa chọn Tòa án (Điều 40) thì có dẫn đến tình trạng một vụ việc hoặc
một quan hệ tranh chấp nhưng có nhiều Tòa án có thẩm quyền giải quyết hay không;
hoặc sau khi Tòa án có thẩm quyền theo lãnh thổ đã thụ lý giải quyết nhưng thấy có sự
bất lợi hoặc không thuận lợi hoặc vì lý do khác thì nguyên đơn, người có yêu cầu có
quyền lựa chọn Tòa án khác (Tòa án có thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn,
người yêu cầu) giải quyết hay không. Ví dụ được đưa ra là một “dạng” vướng mắc trong
khi giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao
động…
Tuy nhiên, qua các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ về tố tụng dân sự, việc áp dụng
Điều 36 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã được hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết số
01/2005/NQ – HĐTP ngày 31/5/2005 và được “nhắc lại” tại Nghị quyết số 03/2012/NQ –
HĐTP ngày 03/12/2012 của Tòa án Tối cao về hướng dẫn thi hành một số quy định
chung nhằm bảo đảm thi hành đúng và thống nhất Phần thứ nhất “Những quy định
chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo các hướng dẫn trên, thì trong trường hợp nguyên đơn, người yêu cầu được
quyền lựa chọn nhiều Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự (ví dụ: Tòa án nơi
bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 36 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015), thì khi nhận đơn khởi kiện, đơn yêu
cầu, Tòa án phải giải thích cho họ biết là chỉ có một Tòa án trong các Tòa án được điều
luật quy định mới có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự để họ lựa chọn. Cho nên
người khởi kiện, người yêu cầu phải cam kết trong đơn khởi kiện hoặc trong đơn yêu cầu
là không khởi kiện hoặc không yêu cầu tại các Tòa án khác.


Trong trường hợp người khởi kiện, người yêu cầu nộp đơn khởi kiện, nộp đơn yêu
cầu tại nhiều Tòa án khác nhau được Điều luật quy định, thì Tòa án đã thụ lý đầu tiên
theo thời gian có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Các Tòa án khác, nếu chưa thụ lý
thì căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 trả lại đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu; nếu đã thụ lý thì căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 168 và điểm i khoản
1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự,
xoá tên vụ việc dân sự đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu cùng tài
liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự (trích điều 9, nghị quyết số 03/2012 ngày
03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao).
Về nguyên tắc, trước khi thụ lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, Tòa án có trách nhiệm
xác định đơn khởi kiện hay đơn yêu cầu đó có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay
không. Do đó, nghị quyết hướng dẫn “...khi nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, Tòa án
phải giải thích cho họ biết là chỉ có một Tòa án trong các Tòa án được Điều luật quy định
mới có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự để họ lựa chọn ... người khởi kiện, người
yêu cầu phải cam kết trong đơn khởi kiện hoặc trong đơn yêu cầu là không khởi kiện
hoặc không yêu cầu tại các Tòa án khác”. Việc quy định như vậy chính là tạo sự thuận lợi
cho nguyên đơn, người yêu cầu trong việc lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết
nhằm bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đồng thời, cũng tránh được tình
trạng sau khi Tòa án đã thu lý vụ án đúng thẩm quyền lại phải chuyển vụ án sang Tòa án
khác có thẩm quyền theo yêu cầu của nguyên đơn hoặc người có yêu cầu.
Với quy định như viện dẫn ở trên, tôi thấy rằng Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa
chọn của nguyên đơn xuất hiện khi Tòa án thụ lý giải quyết. Tức là khi nộp đơn khởi
kiện, họ có thể chọn một trong các Tòa án có thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, nếu
không thì họ có thể lựa chọn một trong các Tòa án có thẩm quyền theo quy định tại Điều
36 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Và nếu như họ đã có sự lựa chọn Tòa án có thẩm quyền để giải quyết và Tòa án đã
thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền thì đương nhiên nguyên đơn không có quyền lựa chọn
Tòa án có thẩm quyền khác giải quyết nữa.


Mặc dù vậy, ở Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 vẫn chưa có những quy định rõ ràng
điều chỉnh cho thiếu sót này và hiện nay vẫn phải sử dụng Nghị quyết 03 của hội đồng
thẩm phán, dễ gây ra sự bất đồng trong thẩm quyền xét xử giữa các toà án
Thứ ba, về vấn đề gửi đơn khởi kiện tại toà án nơi có bất động sản đối với tranh
chấp bất động sản. Trong trường hợp có nhiều bất động sản đặt ở nhiều nơi thì đây sẽ là
một trở ngại lớn cho cơ quan xét xử trong việc xác minh và thẩm định bất động sản tại
những địa phương khác, lãng phí tiền bạc và thời gian của các bên cũng như của các cơ
quan nhà nước, giả sử các bên đương sự thoả thuận lựa chọn toà án ở nơi có ít bất động
sản hơn. Nếu như pháp luật có một quy định rõ ràng có thể làm căn cứ pháp lý để có thể
lựa chọn toà án thì không những tiết kiệm được thời gian và tiền của của các bên mà còn
giúp cho hoạt động tố tụng thuận lơi hơn rất nhiều
Thứ tư, về việc xác định nơi cư trú cuối cùng của bị đơn cũng là một vấn đề gây
tranh cãi: Theo điểm a khoản 1 Điều 36 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì nếu không biết
nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án “nơi bị đơn
cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng” giải quyết. Tuy nhiên, chưa có hướng dẫn việc xác
định nơi cư trú cuối cùng như thế nào và trường hợp nào xác định là “không biết nơi cư
trú, làm việc, trụ sở của bị đơn” nên gây khó khăn cho việc áp dụng trong thực tiễn. Vì
vậy, thiết nghĩ việc quy định rõ việc “nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng” và
“không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn” để áp dụng thống nhất là một điều vô
cùng cần thiết.
KẾT LUẬN
Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy, việc xác định Toà án có thẩm quyền
xét xử sơ thẩm theo quyền lựa chọn toà án của đương sự có ý nghĩa rất quan trọng trong
hoạt động tố tụng dân sự, nó là tiền đề để tiến hành các hoạt động tiếp theo. Việc xác định
thẩm quyền này nhằm tránh sự chồng chéo, cũng như sự đùn đẩy trách nhiệm giải quyết
đối với việc giải quyết các vụ việc dân sự. Từ đó, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp
pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức. Tuy có những quy định chưa hợp lý và chưa dự
liệu hết được các trường hợp thực tế có thể xảy ra nhưng chúng ta không thể phủ nhận
được tác dụng tích cực mà những quy định này đã đem lại.




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×