Tải bản đầy đủ

Sự phát triển của chủ nghĩa duy vật từ thời cổ đại đến triết học cổ điển đức

LI M U
I. chủ nghĩa duy vật - một trờng phái triết học tiêu biểu

I.1. Vấn đề cơ bản của triết học
Triết học, cũng nh các ngành khoa học khác, phải giải quyết nhiều vấn đề có
liên quan mật thiết với nhau. Những vấn đề này tạo thành hệ vấn đề của từng ngành
khoa học. Tuy nhiên, vai trò của các vấn đề trong hệ vấn đề không giống nhau, bao giờ
cũng có một hoặc một số vấn đề quan trọng nhất đợc coi là nền tảng để dựa vào đó giải
quyết các vấn đề còn lại. Đó chính là vấn đề cơ bản của một ngành khoa học.
Triết học nghiên cứu hàng loạt vấn đề chung, nhng vấn đề trung tâm là vấn đề
về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và t duy hay giữa tự nhiên và tinh
thần. Trong thế giới có vô vàn hiện tợng, nhng chung quy chúng chỉ phân thành hai
loại, một là những hiện tợng vật chất (tồn tại, tự nhiên), hai là những hiện tợng tinh
thần (ý thức, t duy). Do đó, vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại
và t duy là vấn đề cơ bản của triết học. Vấn đề cơ bản của triết học gồm hai mặt: Mặt
thứ nhất giải quyết vấn đề giữa vật chất và ý thức cái nào có trớc, cái nào có sau, cái
nào quyết định cái nào; Mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học giải quyết vấn đề khả
năng nhận thức của con ngời.
I.2. Các trờng phái triết học
Việc phân định các trờng phái triết học liên quan đến mặt thứ nhất trong vấn đề
cơ bản của triết học. Giải quyết mặt này có ba cách:

Cách thứ nhất: Thừa nhận vật chất có trớc, ý thức có sau, vật chất tồn tại khách
quan, độc lập với ý thức và quyết định ý thức. Cách giải quyết này thừa nhận tính thứ
nhất của vật chất, tính thứ hai của ý thức.
Cách thứ hai: Cho rằng ý thức, tinh thần là cái có trớc, cái quyết định còn vật
chất là cái có sau, cái bị quyết định. Cách giải quyết này thừa nhận tính thứ nhất của ý
thức, tính thứ hai của vật chất.
Cách thứ ba: Cho rằng vật chất và ý thức tồn tại độc lập, chúng không nằm
trong quan hệ sinh ra hay quyết định nhau.
Trong ba cách giải quyết trên, cách giải quyết thứ nhất và thứ hai tuy khác nhau
về nội dung nhng giống nhau ở chỗ chỉ thừa nhận tính thứ nhất của một nguyên thể
(vật chất hoặc ý thức) nên thuộc về triết học nhất nguyên. Trong triết học nhất nguyên,
những ngời khẳng định tính thứ nhất của vật chất thuộc trờng phái nhất nguyên duy vật
hay chủ nghĩa duy vật. Những ngời khẳng định tính thứ nhất của ý thức thuộc trờng
phái nhất nguyên duy tâm hay chủ nghĩa duy tâm.
Cách giải quyết thứ ba thuộc về triết học nhị nguyên. Triết học nhị nguyên có
khuynh hớng điều hoà chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm nhng về bản chất lại
nghiêng về chủ nghĩa duy tâm.
Nh vậy, tuy các quan điểm triết học thể hiện rất đa dạng nhng xét cho cùng, tất
cả các quan điểm ấy đợc chia thành hai trờng phái: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy
tâm.

1


II. các hình thức cơ bản của Chủ nghĩa duy vật

Các nấc thang phát triển của chủ nghĩa duy vật gắn liền với các thời kỳ phát
triển của triết học. Trong các thời kỳ triết học khác nhau, chủ nghĩa duy vật biểu hiện
thông qua các trờng phái cũng khác nhau. Có nhiều cách phân chia các thời kỳ của triết
học. Song căn cứ vào sự phát triển các hình thái kinh tế xã hội, triết học có thể đ ợc
phân chia thành các thời kỳ:
-

Triết học thời cổ đại

-

Triết học thời trung đại

-


Triết học thời Phục hng

-

Triết học cận đại

-

Triết học cổ điển Đức

- Triết học Mác - Lênin
Qua các thời kỳ phát triển đó của triết học, chủ nghĩa duy vật đã đợc thể hiện dới ba hình thức cơ bản:
- Chủ nghĩa duy vật chất phác: Là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy
vật thời cổ đại, mang nặng tính trực quan, ngây thơ, chất phác. Tuy còn rất nhiều hạn
chế nhng chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại về cơ bản là đúng vì đã lấy giới tự
nhiên để giải thích tự nhiên, không viện đến thần linh hay thợng đế khi nói về vũ trụ.
Chủ nghĩa duy vật siêu hình: Là hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa
duy vật. Thể hiện khá rõ từ thế kỷ XV, chủ nghĩa duy vật siêu hình đạt đến đỉnh cao
vào thế kỷ XVII, XVIII. Đây là thời kỳ mà cơ học cổ điển thu đợc những thành tựu rực
rỡ nên trong khi tiếp tục phát triển quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời cổ đại, chủ
nghĩa duy vật giai đoạn này chịu sự tác động mạnh mẽ của phơng pháp t duy siêu hình,
máy móc - phơng pháp nhìn thế giới nh một cỗ máy khổng lồ mà mỗi bộ phận tạo nên
nó luôn ở trong trạng thái biệt lập và bất biến. Tuy không phản ánh đúng hiện thực nhng chủ nghĩa duy vật siêu hình cũng đã góp phần không nhỏ vào việc chống thế giới
quan duy tâm và tôn giáo, nhất là giai đoạn lịch sử chuyển tiếp "từ đêm trờng trung cổ
sang thời Phục hng"
Chủ nghĩa duy vật biện chứng: Là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa
duy vật, do C. Mác và Ph. ănghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó
đợc V.I. Lênin phát triển. Do kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trớc đó và sử
dụng khá triệt để thành tựu của khoa học đơng thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng ngay
từ khi ra đời đã khắc phục đợc hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại và
chủ nghĩa duy vật siêu hình, thể hiện là đỉnh cao nhất trong sự phát triển của chủ nghĩa
duy vật. Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ phản ánh hiện thực nh chính bản thân
chúng tồn tại mà còn là một công cụ hữu hiệu giúp những lực lợng tiến bộ trong xã hội
cải tạo hiện thực.
Trong bài viết có tiêu đề "Sự phát triển của chủ nghĩa duy vật từ thời cổ đại
đến triết học cổ điển Đức", tôi chỉ xin đợc trình bày sự ra đời và phát triển của chủ

2


nghĩa duy vật vốn vô cùng phong phú và mang nhiều sắc thái trên nhiều phơng diện từ
thời Cổ đại là khi chủ nghĩa duy vật ra đời cho đến triết học Cổ điển Đức là khi mà chủ
nghĩa duy vật phát triển đến một tầm cao mới và tạo tiền đề cho sự ra đời của chủ
nghĩa duy vật biện chứng sau này.

Chơng II: Sự phát triển của chủ nghĩa duy vật
từ thời cổ đại đến triết học cổ điển đức
I. Triết học thời cổ đại

Triết học cổ đại đợc sinh ra trong hình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nô lệ, là
giai đoạn phát triển đầu tiên của triết học, hình thành ở ba trung tâm điển hình nhất là
ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp. Riêng đối với các nớc phơng Đông (ấn Độ, Trung
Quốc), sự phát triển của triết học giữa thời kỳ cổ đại và trung đại không có sự khác biệt
nhiều do các đặc điểm khu biệt về tự nhiên, xã hội của các nớc này. Vì vậy, trong bài
viết này tôi xin đợc đề cập đến triết học ấn Độ và Trung Quốc trong thời kỳ cổ đại với
ý nghĩa nh giai đoạn phát triển đầu tiên của triết học tức là bao gồm cả triết học cổ đại
và trung đại nếu xét về mặt thời gian.
I.1. Triết học ấn Độ cổ - trung đại
Phản ánh những cơ sở kinh tế, chính trị, khoa học và văn hóa của xã hội ấn Độ
thời cổ, nền triết học ấn Độ cổ đại đã hình thành và phát triển từ rất sớm. Có thể chia
quá trình hình thành và phát triển triết học ấn Độ cổ - trung đại làm ba thời kỳ: Thời
kỳ Vêđa (cuối thiên niên kỷ II đến thế kỷ VII TCN), thời kỳ cổ điển hay thời kỳ
Bàlamôn giáo, Phật giáo (từ thế kỷ VI TCN đến thế kỷ VI SCN), thời kỳ sau cổ điển
hay thời kỳ Hồi giáo (thế kỷ VII đến thế kỷ XVIII).
Thời kỳ Vêđa là thời kỳ tiền sử của triết học ấn Độ. Khi đó con ngời quan niệm
về thế giới, về đời sống bằng các biểu tợng huyền thoại, đa thần. Trớc các hiện tợng tự
nhiên đầy bí ẩn, ngời ấn Độ đã xây dựng một thế giới các vị thần linh khi giải thích
các hiện tợng đó. Trong các bộ kinh Vêđa sớm cha có t tởng triết học mà chỉ là mầm

3


mống của các t tởng triết học ấn Độ cổ đại. Cho đến các tác phẩm Vêđa muộn đặc biệt
là Upanisad - bộ kinh bình chú kinh Vêđa, xu hớng chính cũng chỉ biện hộ và phát
triển t tởng duy tâm, tôn giáo của kinh Vêđa. T tởng duy vật thời kỳ này cha ra đời.
Tuy vậy, những nội dung triết học phong phú của các tác phẩm không những là cơ sở lý
luận cho đạo Bàlamôn, Hinđu ở ấn Độ mà còn là cội nguồn của tất cả các quan điểm
và các hệ thống triết học ấn Độ sau này.
Trong thời kỳ Hồi giáo, dới ách đô hộ của quân ả Rập mà các quân vơng của
các vơng triều đều theo đạo hồi nên đạo Hồi giữ vai trò là hệ t tởng thống trị ở ấn Độ.
Đó là triết lý duy tâm, cho rằng thế giới là do Thánh Ala sáng tạo ra.
Chỉ ở thời kỳ cổ điển, các quan điểm duy vật mới đợc thể hiện.
I.1.1. Một số trào lu triết học có quan điểm duy vật trong thời kỳ cổ điển
Thời kỳ cổ điển ở ấn Độ là thời kỳ phát triển cao của chế độ chiếm hữu nô lệ
khi đất nớc này đã thống nhất và hng thịnh dới sự thống trị của nhà nớc quân chủ độc
quyền hết sức khắc nghiệt. Trong lĩnh vực tinh thần, kinh thánh Vêđa đợc suy tôn là hệ
t tởng chính thống song không phải trào lu triết học nào cũng thừa nhận và chấp thuận
thế giới quan của hệ t tởng này nhất là vào thời kỳ này khi triết học đã trở thành hệ
thống lý luận chặt chẽ. Vì vậy mà các trờng phái triết học chia thành hai hệ thống đối
lập: chính thống và không chính thống. Hệ thống triết học chính thống thừa nhận uy
thế tối cao của kinh Vêđa và đạo Bàlamôn, gồm sáu trờng phái triết học điển hình:
Samkhya, Vaisesika, Yoga, Mimamsa và Vedanta. Hệ thống triết học không chính
thống phủ nhận uy thế của kinh Vêđa và đạo Bàlamôn, vì thế bị coi là tà giáo, gồm ba
trờng phái triết học: Lokyata, Phật giáo và đạo Jaina.
Quan điểm duy vật thời kỳ này thể hiện chủ yếu trong hệ thống triết học không
chính thống. Mặc dù vậy, trong hệ thống triết học chính thống cũng có nhiều quan
điểm tiến bộ. Ví dụ nh: Triết lý Samkhya đã có lúc mang tính duy vật, không thừa nhận
"tinh thần vũ trụ tối cao", phủ nhận sự tồn tại của thần, khẳng định bản nguyên của thế
giới là vật chất; Trờng phái Nyaya và Vaisesika thừa nhận sự tồn tại của thế giới vật
chất và cho rằng vật chất đợc tạo nên bởi một số thực thể vật lý nh đất, nớc, lửa, không
khí, ... các thực thể này lại do nguyên tử tạo nên, đồng thời các phái này còn phủ nhận
vai trò sáng tạo ra thế giới của thần linh.
Trờng phái Lokayata
Lokayata là một trào lu triết học duy vật vô thần triệt để, đợc hình thành rất sớm
từ trong phong trào đấu tranh chống lại quan điểm duy tâm, tôn giáo của kinh Vêđa,
phê phán chế độ phân biệt đẳng cấp, đòi tự do t tởng và bình đẳng xã hội ở vùng Đông
ấn.
Phái Lokayata cho rằng thế giới này là thế giới vật chất. Tất cả mọi sự vật, hiện
tợng trong vũ trụ đều do bốn nguyên tố đất, nớc, lửa và không khí tạo thành. Bốn
nguyên tố đó có khả năng tự tồn tại, tự vận động, biến đổi, chuyển hóa lẫn nhau trong
không gian, tự liên kết với nhau để tạo thành vạn vật kể cả con ngời - một thực thể có ý
thức. Và ngay cả ý thức, lý tính và các giác quan cũng do sự kết hợp ấy mà nên. Sau
khi sinh vật chết đi thì sự kết hợp ấy cũng tan rã thành nguyên tố.

4


Khi giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, phái Lokayata cho
rằng: "vật chất sinh ra ý thức cũng nh gạo nấu thành rợu, nhng rợu khác gạo ở chỗ có
chất men say". ý thức là thuộc tính cố hữu của thân thể, rời khỏi nhục thể thì ý thức
cũng không còn. ý niệm về "cái tôi", "cái tinh thần", "linh hồn" không thể tách rời
thân thể. Khi con ngời chết đi, thể xác tan ra thì ý thức về "cái tôi", "cái tinh thần",
"linh hồn" cũng hết. Từ đó phái Lokayata phủ nhận thuyết luân hồi, nghiệp báo và chế
giễu quan niệm "giải thoát" trong các hệ thống triết học khác. Đồng thời, họ khẳng
định rằng con ngời chỉ sống có một lần trên thế gian này. Vì vậy, cần phải sống cho
chính cuộc đời này chứ không phải sống vì cuộc đời ở một thế giới khác.
Từ những luận điểm triết học trên, ta thấy trờng phái Lokayata là một trờng phái
triết học duy vật triệt để nhất trong lịch sử triết học ấn Độ cổ - trung đại. Dù không để
lại một tác phẩm triết học nào cho đời sau nhng các t tởng triết học duy vật thô sơ, mộc
mạc và chất phác, song về cơ bản là đúng đắn của phái Lokayata đã trờng tồn và phát
triển suốt nhiều thế kỷ. Giá trị của những t tởng triết học đó không chỉ ở chỗ nó chống
lại chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo, mà còn là cơ sở cho sự phát triển của chủ nghĩa duy
vật khoa học sau này.
Trờng phái Phật giáo
Phật giáo là một trờng phái không chính thống của ấn Độ cổ đại, ra đời vào
khoảng thế kỷ VI TCN, do Siddhatha (hay Thích Ca Mâu Ni) sáng lập. Trờng phái triết
học này có yếu tố duy vật ở chỗ cho rằng vũ trụ là bao la, vô cùng, vô tận; vạn vật
trong thế giới chỉ là dòng biến hóa vô thờng, vô định, không do một vị thần hay một
lực lợng siêu nhiên nào sáng tạo ra; thế giới này gồm cả con ngời đều đợc cấu thành
bởi hai yếu tố "Sắc" và "Danh"; "Sắc" là yếu tố vật chất, gồm đất, nớc, lửa, không khí
còn "Danh" là yếu tố tinh thần không có hình chất mà chỉ có tên gọi.
Trờng phái triết học Jaina (Đạo Jaina)
Jiana là một học thuyết triết học không chính thống, ra đời vào khoảng thế kỷ
VI TCN, do Maharvira sáng lập. Đạo Jaina đặt ra mục tiêu chính là tìm đợc con đờng
và phơng tiện giải phóng linh hồn khỏi sự ràng buộc của thế giới hiện thực, trong đó
phủ nhận vai trò sáng tạo thế giới của thần linh hay các lực lợng siêu nhiên. Theo
Jaina, cái thực thể là cái đầu tiên tạo nên thế giới và cũng là cái "chân lý cơ bản" để từ
đó xây dựng nên tri thức. Thực thể là cái tồn tại đầu tiên dới hai trạng thái là sống
(Jiva) và không sống (Ajiva). Thực thể sống là thực thể có lý trí, có linh hồn, gồm các
loại nh: thần, quỷ, ngời, động vật, cây cỏ,.... Còn thực thể không sống là thực thể
không có lý trí, không có linh hồn, gồm: không gian, thời gian, vận động, vật chất ...
Các thực thể này luôn liên kết với nhau, tác động qua lại với nhau. Vật chất chỉ là một
trong những trạng thái biến dạng của Ajiva, có đặc tính nh: sờ mó đợc, có âm thanh,
mùi vị và màu sắc. Các đối tợng mà cảm giác lĩnh hội đợc cấu thành bởi các nguyên tử
(cực kỳ nhỏ bé, không thể phân chia, tồn tại vĩnh viễn, không do ai tạo ra và cũng
không thể tự mất đi hoặc bị huỷ diệt). Nguyên tử nếu đứng một mình thì con ngời phải
dùng tri giác mới hiểu nổi. Ngợc lại, nếu các nguyên tử hấp dẫn nhau, kết hợp lại với
nhau theo nhiều dạng khác nhau sẽ tạo thành các vật thể, các hiện tợng.

5


Đạo Jaina còn quan niệm rằng trong thế giới còn tồn tại một số l ợng rất lớn, cố
định các linh hồn. Linh hồn không do ai sáng tạo ra, tồn tại ngay từ đầu và mãi mãi, đợc thể hiện ra trong các cơ thể sống hoặc không thể hiện ra. Dới dạng tiềm năng, bất kỳ
linh hồn nào cũng có thể xâm nhập vào tất cả và có thể hiểu biết mọi cái. Linh hồn là
lực lợng toàn năng nhng lại bị hạn chế bởi các thân xác cụ thể mà nó tồn tại trong đó.
Vì thế muốn giải thoát linh hồn khỏi thể xác thì phải tu luyện theo đạo Jaina.
I.1.2. Những đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật trong triết học ấn Độ cổ trung đại
Chủ nghĩa duy vật thời kỳ này đợc xây dựng trên cơ sở những tri thức về khoa
học tự nhiên đã khá phát triển và những phong trào xã hội tiến bộ. Đồng thời nó cũng
trở thành cơ sở thế giới quan và phơng pháp luận cho sự phát triển của khoa học tự
nhiên và các phong trào đó. Tuy vậy, do chế độ đẳng cấp khắc nghiệt và sự tồn tại của
hệ thống tôn giáo nặng nề, bên cạnh những quan niệm duy vật tiến bộ vẫn còn những
quan niệm duy tâm tôn giáo và bản thân các quan niệm duy vật cũng không triệt để.
Chủ nghĩa duy vật trong triết học ấn Độ cổ - trung đại thể hiện rõ nhất là vào
thời kỳ cổ điển thông qua ba trờng phái: Lokayata, Phật giáo và đạo Jaina với khuynh
hớng phủ nhận và bác bỏ uy tín của kinh Vêđa. Chúng để lại một số giá trị quan trọng
cho sự phát triển triết học duy vật của các thời đại sau này.
Cùng với sự đan xen của các tín điều tôn giáo, trong phạm vi của triết học, các
quan điểm duy vật và duy tâm của triết học ấn Độ cổ - trung đại không đợc thể hiện ra
một cách rạch ròi, tách bạch với nhau mà chúng cũng thờng đan xen vào nhau, xen kẽ
lẫn nhau trong quá trình vận động và phát triển.
I.2. Triết học Trung Quốc cổ - trung đại
Xã hội Trung hoa cổ đại khi mà triết học hình thành và phát triển là xã hội đánh
dấu sự tan rã của chế độ nô lệ và bắt đầu hình thành các quan hệ xã hội phong kiến
phức tạp. Triết học Trung Quốc thời kỳ này tập trung vào chính trị, xã hội; lấy chính trị,
luân lý làm cơ sở. Các trờng phái triết học lớn đều là các học thuyết về chính trị, xã hội
nh học thuyết "nhân - lễ" của Khổng Tử, "vô vi" của Đạo Tử, "Kiêm ái" của Mặc Tử,
"Vị ngã" của Dơng Chu, "Pháp trị" của Hàn Vi. Khi đó tồn tại cả quan điểm duy tâm
và duy vật, trong đó quan điểm duy vật tập trung chủ yếu ở thuyết Âm Dơng, Ngũ
Hành; dùng thuyết Âm Dơng để giải thích nguồn gốc của mọi vật.
I.2.1. Các trờng phái triết học Trung Quốc cổ - trung đại mang tính duy vật
Nho gia
Nho giáo là trờng phái lớn nhất, tồn tại lâu đời nhất Trung Quốc, do Khổng Tử
(551 - 479 TCN) sáng lập. Triết học của Nho giáo phần lớn thể hiện t tởng duy tâm,
"tôn thiên" (coi trời là đấng tối cao) với quan niệm "sống chết có mệnh, giàu sang do
trời"cho đến khi Tuân Tử coi con ngời vốn có "tính ác", chủ trơng thế giới khách quan
vốn có quy luật riêng, cho rằng sức ngời có thể thắng trời. T tởng triết học của Tuân Tử
rõ ràng mang đặc sắc chủ nghĩa duy vật thô sơ, tạo nên đầu mối cho khuynh hớng duy
vật trong Nho giáo.
 m Dơng gia

6


Đợc biết đến với học thuyết Âm dơng và Ngũ hành nổi tiếng. Học thuyết Ngũ
hành có quan hệ với việc sùng bái của con ngời với năm loại vật chất của tự nhiên cần
thiết là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ; năm loại vật chất này luôn vận động, biến đổi và
khi tác dụng vào các giác quan của con ngời sẽ đem lại cho con ngời những biến thái
về tâm lý. Cội nguồn của học thuyết Âm Dơng có quan hệ mật thiết với cuộc sống con
ngời; ngay từ thuở sơ khai, con ngời đã có ý niệm về giống đực và giống cái vì đó là
bản năng, là bớc đầu của đời sống sinh lý và tình cảm. Học thuyết Âm Dơng về cơ bản
có mang tính duy vật vì đã xuất phát từ bản thân giới tự nhiên để giải thích sự khởi
nguồn của vũ trụ. Âm và Dơng là đại biểu cho hai dạng sự vật tồn tại phổ biến trong vũ
trụ, một dạng có dơng tính: tích cực, nhiệt liệt, cứng cỏi ... và một dạng âm tính: tiêu
cực, lạnh nhạt, nhu nhợc .... Hai thế lực Âm và Dơng tác động lẫn nhau tạo thành tất cả
vũ trụ.
I.2.2. Đặc điểm duy vật trong triết học Trung Quốc cổ - trung đại
Thời kỳ cổ đại ở Trung Quốc, chủ nghĩa duy tâm chiếm vị trí chủ đạo trong thế
giới quan của xã hội Trung Hoa cổ đại. Tuy nhiên, các nhà duy vật do dựa trên những
tri thức khoa học tự nhiên, tiến hành quan sát giới tự nhiên nên các quan điểm triết học
của họ đã có tác dụng trong việc phê phán các quan điểm duy tâm thần bí vốn gắn liền
với chế độ phong kiến Trung Hoa.
Vấn đề con ngời nói chung, trong đó đặc biệt là vấn đề tính ngời và số phận con
ngời là vấn đề nổi bật trong lịch sử triết học Trung Hoa cổ đại. Các nhà duy vật cho
rằng, tính ngời (t tởng, tình cảm, tâm lý) của con ngời là do hoàn cảnh bên ngoài sinh
ra; những ham muốn, dục vọng của con ngời trong cuộc sống là điều tự nhiên, không
có gì xấu xa. Họ quan niệm trời là giới tự nhiên, đạo trời và mệnh trời là do sự vận
hành có tính quy luật của giới tự nhiên, không liên quan đến việc trị loạn của con ngời.
Tóm lại, t tởng duy vật trong triết học Trung Hoa cổ đại dù về cơ bản là đúng,
có tiến bộ trong hoàn cảnh lịch sử lúc đó song không triệt để, vẫn đan xen với t tởng
duy tâm do chịu ảnh hởng của chế độ phong kiến Trung Hoa bảo thủ.
I.3. Triết học Hy Lạp cổ đại
Xã hội Hy Lạp cổ đại thời kỳ phát triển các t tởng triết học là xã hội chiếm hữu
nô lệ ở giai đoạn đang diễn ra mâu thuẫn giữa các tầng lớp. Khi đó, một số ngành khoa
học cụ thể nh: toán học, vật lý học, thiên văn, thuỷ văn ...bắt đầu phát triển. Những
khoa học này ra đời đòi hỏi sự khái quát của triết học nhng t duy triết học thời kỳ này
cha phát triển cao; tri thức triết học và khoa học cụ thể thờng hoà vào nhau. Các nhà
triết học lại cũng chính là các nhà khoa học cụ thể. Ngoài ra còn có sự giao l u giữa Hy
lạp với một số nớc phơng Đông nên triết học Hy Lạp cũng chịu sự ảnh hởng của triết
học phơng Đông.
Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử triết
học cổ đại Hy Lạp thể hiện nổi bật ở sự đấu tranh giữa hai đờng lối triết học: đờng lối
của Platôn (đại diện cho chủ nghĩa duy tâm) và đờng lối của Đêmôcrít (đại diện cho
chủ nghĩa duy vật). Ngoài ra còn rất nhiều trờng phái trờng phái triết học có quan điểm
duy vật tiến bộ khác.

7


I.3.1. Các trờng phái có quan điểm duy vật trong triết học cổ Hy Lạp
Trờng phái Milê
Có ba nhà triết học tiêu biểu là Talét (629 - 547 TCN), Anaximanđrơ ()615 - 546
TCN) và Anaximen (585 - 546 TCN). Trong đó Talét đợc coi là ngời đặt nền móng cho
triết học Milê, ông không chỉ là một nhà triết học mà còn là nhà buôn, nhà hoạt động
chính trị, nhà toán học và thiên văn học. Talét quan niệm nớc là khởi nguyên của mọi
sự vật. Mọi vật đều sinh ra từ nớc và khi chết đi lại trở về với nớc.
Anaximanđrơ lại cho rằng cơ sở đầu tiên của mọi vật là "vô cùng". "Vô cùng"
là vật chất không có hình thức nhất định, không có gì quy định, là vô cùng và vô hạn.
"Vô cùng" luôn luôn vận động và biến đổi, nhờ đó các sự vật cụ thể nh đất, nớc, lửa và
không khí ra đời. Bốn sự vật cụ thể này khi mất đi lại trở về với "vô cùng".
Anaximen cho rằng không khí là cơ sở đầu tiên của mọi sự vật. Sự vật sinh ra do
sự vận động không ngừng của không khí. Không khí đặc lại thành gió, mây, đất, nớc,
đá. Không khí loãng ra thành lửa. Các sự vật khác đều do những cái đó sinh ra. Ngay
cả thần linh cũng do không khí sinh ra.
Trờng phái triết học Milê đã đặt cơ sở đầu tiên cho quan niệm duy vật về thế
giới và các nhà triết học của trờng phái đó là các nhà biện chứng tự phát. Họ đã dựa
vào sự quan sát trực tiếp thế giới để xem xét nó.
Hêraclít (530 - 470 TCN)
Hêraclít là một nhà triết học duy vật. Điều đó thể hiện trong việc ông thừa nhận
lửa là bản nguyên của mọi vật, đó là yếu tố căn bản, duy nhất, phổ biến của thế giới. Dới tác động của lửa, đất biến thành nớc, nớc biến thành không khí và ngợc lại. Sự hoạt
động tinh thần của con ngời cũng bị quy định bởi sự biến hóa của lửa.
Trờng phái Pitagor
Do nhà triết học và toán học nổi tiếng Pitagor (571 - 497 TCN) sáng lập. Pitagor
cho rằng bản nguyên của thế giới là con số. Con số là lực lợng chi phối toàn bộ thế giới
theo quy luật. Vì vậy, nhận thức sự vật và thế giới là nhận thức về con số. Con số cũng
là cơ sở của các hiện tợng tinh thần. Con số tồn tại vĩnh viễn nên tinh thần là bất tử; nó
chỉ chuyển từ vật này sang vật khác.
Lơxíp (khoảng 500 - 440 TCN)
Là ngời sáng lập ra học thuyết nguyên tử ở Hy Lạp cổ đại. Những quan điểm
triết học của ông đợc biết đến thông qua Đêmôcrít - học trò của ông và những nhà triết
học khác. Lơxíp cho rằng khởi nguyên của vật chất không phải bốn yếu tố (đất, nớc,
lửa, không khí) mà là các nguyên tử. Nguyên tử là các hạt vật chất vô cùng nhỏ bé,
không phân chia đợc. Các nguyên tử vô cùng nhiều, chúng có hình thức và kích thớc
khác nhau. Sự sắp xếp khác nhau về hình thức giữa các nguyên tử tạo nên các sự vật
khác nhau còn bản thân nguyên tử không thay đổi.
Đêmôcrít (khoảng 460 - 370 TCN)
Đêmôcrít là nhà triết học duy vật vĩ đại nhất trong thế giới cổ đại, từng đi qua
nhiều nớc và tiếp thu nhiều tri thức triết học, khoa học có giá trị. Đêmôcrít tiếp tục phát
triển quan điểm của Lơxíp về thuyết nguyên tử, ông còn thấy rõ mối quan hệ chặt chẽ

8


giữa vật chất và vận động, vận động là vốn có của nguyên tử chứ không phải đợc đa từ
bên ngoài vào. Tuy vậy, ông vẫn cha thấy đợc nguồn gốc của vận động và vận động
không chỉ là sự di chuyển trong chân không của nguyên tử.
Xuất phát từ quan niệm về nguyên tử, về sự vận động của chúng, Đêmôcrít
khẳng định vũ trụ do vô số thế giới tạo nên. Những thế giới này lại do sự sắp xếp khác
nhau của nguyên tử tạo thành.
Dựa vào thuyết nguyên tử, Đêmôcrít thừa nhận sự ràng buộc lẫn nhau theo luật
nhân quả, tính khách quan và tất nhiên của các sự vật, hiện tợng tự nhiên. Đó là quyết
định luận duy vật - một đóng góp quan trọng của Đêmôcrít vào triết học duy vật. Song,
ông lại phủ nhận tính ngẫu nhiên và cho rằng đó là một hiện tợng không có nguyên
nhân, là khái niệm chủ quan do con ngời nêu ra để che dấu sự ngu dốt của mình.
Quan điểm duy vật của Đêmôcrít còn thể hiện trong việc ông bác bỏ quan niệm
về sự sản sinh ra sự sống và con ngời của thần thánh. Ông cho rằng sự sống là kết quả
của quá trình biến đổi dần dần từ thấp đến cao của tự nhiên. Ngay cả linh hồn cũng do
một loại nguyên tử đặc biệt cấu tạo nên. Cái chết chính là sự phân tán của các nguyên
tử cấu tạo nên thể xác và linh hồn chứ không phải linh hồn rời khỏi thể xác. Tuy quan
niệm của Đêmôcrít còn mộc mạc song nó giữ vai trò rất quan trọng trong việc chống
lại các quan điểm duy tâm và tôn giáo về tính bất tử của linh hồn con ngời.
Triết học duy vật của Đêmôcrít đã đóng vai trò quan trọng trong chủ nghĩa vô
thần. Theo ông, sở dĩ con ngời có quan niệm về thần là do con ngời hoảng sợ trớc
những hiện tợng của tự nhiên nh sấm, chớp ... Và sự tồn tại của thần chỉ là sự nhân
cách hóa những hiện tợng của tự nhiên hay những thuộc tính của chính con ngời.
Tóm lại, những quan điểm, t tởng triết học của Đêmôcrít còn mang tính chất
phác, mộc mạc, trực quan song đã đa triết học duy vật Hy Lạp cổ đại lên bớc tiến mới,
đóng góp cho kho tàng triết học của nhân loại những thành quả vô giá.
Arixtốt (384 - 322 TCN)
Arixtốt là nhà triết học vĩ đại có bộ óc bách khoa trong số các nhà triết học Hy
Lạp cổ đại, là học trò của Platôn nhng lại có nhiều quan điểm bất đồng với Platôn. Ông
khẳng định: Tự nhiên là tất cả sự vật có một bản thể vật chất luôn vận động và biến đổi,
không có và không thể có bản chất của sự vật lại nằm ngoài sự vật. Ông cũng thừa
nhận vật chất và vận động có quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời nhau; ông còn phân
biệt sáu hình thức vận động: phát sinh, tiêu diệt, thay đổi trạng thái, tăng lên, giảm đi,
di chuyển vị trí. Nhng lại sai lầm ở chỗ quan niệm rằng vận động của sự vật là do có sự
đẩy đầu tiên của thần linh, đây là khía cạnh duy tâm trong quan điểm triết học của ông.
Quan điểm duy vật của Arixtốt còn thể hiện trong quan niệm linh hồn chỉ có
trong cơ thể sống của sinh vật và linh hồn không thể là bất tử cũng nh trong nhận thức
luận của ông. Ông khẳng định tự nhiên là đối tợng của nhận thức và là nguồn gốc của
kinh nghiệm, cảm giác.
Nh vậy, dù là một nhà triết học duy vật không triệt để nhng Arixtốt cũng có
nhiều đóng góp cho triết học Hy Lạp cổ đại thông qua các tác phẩm của ông.
I.3.2. Đặc trng cơ bản của chủ nghĩa duy vật trong triết học Hy Lạp cổ đại

9


Những quan điểm triết học của các nhà duy vật gắn với những quan điểm chính
trị là cơ sở lý luận cho hoạt động xã hội của những ngời tiến bộ trong giai cấp chủ nô.
Triết học Hy Lạp cổ đại cũng phản ánh cuộc đấu tranh của khoa học chống thần
học và tôn giáo. Các nhà khoa học đồng thời là những ngời vô thần. Họ đã đa ra và bảo
vệ những quan điểm về khoa học tự nhiên, trong đó có học thuyết nguyên tử. Tuy cha
vạch hết nguồn gốc của thần học và tôn giáo nhng những t tởng của họ đã góp phần to
lớn cho cuộc đấu tranh chống t tởng hữu thần của các nhà triết học duy tâm.
Chủ nghĩa duy vật của Hy Lạp cổ đại mang tính mộc mạc, tự phát. Đó là kết
quả của khoa học tự nhiên còn ở thời kỳ nguyên thủy, mới phát sinh và bắt đầu phát
triển. Khoa học tự nhiên vẫn còn lẫn lộn với triết học, cha thoát khỏi phạm vi của triết
học. Các nhà triết học dờng nh đều là các nhà khoa học nghiên cứu các lĩnh vực khác
nh toán học, thiên văn học, vật lý học, ... Các tri thức khoa học do các nhà triết học duy
vật nêu ra hầu nh chỉ là sự phỏng đoán về thế giới xung quanh chứ cha có cơ sở khoa
học vững chắc, song đó là những phỏng đoán thiên tài. Rất nhiều phỏng đoán của họ
sau này đã đợc khoa học thừa nhận và giúp các nhà khoa học đi đến chân lý và phát
triển các khoa học. Các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại thờng dựa vào các sự vật,
hiện tợng cụ thể nh nớc, không khí, lửa để nêu lên bản nguyên của thế giới. Tuy có nhà
triết học đã đa ra những quan niệm trừu tợng hơn nhng cũng cha thoát khỏi tính trực
quan trong việc xác định bản nguyên của thế giới nh Đêmôcrít.
II. Triết học CáC NƯớC TÂy ÂU THờI TRUNG Cổ (thế kỷ IV - XV)

Xã hội Tây Âu vào thế kỷ III - V đánh dấu sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ
và sự ra đời của chế độ phong kiến và chế độ này cũng tạo ra đợc một xã hội phát triển
cao hơn xã hội cổ đại. Thời kỳ này, nhà thờ trung cổ mà đại diện là tôn giáo bao trùm
lên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội làm cho tất cả các khoa học khác trở thành các bộ
môn của thần học.
Đặc điểm của khuynh hớng triết học thời kỳ này là sự phát triển của chủ nghĩa
kinh viện - một bớc lùi so với thời kỳ cổ đại. Vấn đề quan hệ giữa niềm tin tôn giáo và
trí tuệ lý trí, giữa cái chung và cái riêng là những vấn đề trung tâm của triết học. Quá
trình phát triển của chủ nghĩa kinh viện chia làm ba thời kỳ: thời kỳ đầu (thế kỷ IV XII), thời kỳ hng thịnh (thế kỷ XIII), thời kỳ suy tàn (XIV - XV).
Thời kỳ đầu và thời kỳ hng thịnh, chủ nghĩa duy thực, hiện thân của chủ nghĩa
duy tâm do đợc Thiên chúa giáo chính thống ủng hộ đã lên ngôi với những nhà triết
học duy thực nổi tiếng nh Téctuliêng (160 - 230), Ôguýtxtanh (354 - 430), Giăngxicốt
Ơrigiennơ (810 - 877) và Tômát Đacanh (1225 - 1274).
Tuy nhiên, triết học thời kỳ này không chỉ tồn tại duy nhất chủ nghĩa duy thực
mà còn xuất hiện chủ nghĩa duy danh - đại biểu của chủ nghĩa duy vật khi một số nhà
triết học thấy đợc thực tế là sự vật tồn tại khách quan mà con ngời có thể cảm giác đợc
và ra sức ủng hộ, đấu tranh cho điều đó đặc biệt là vào thời kỳ suy thoái của chủ nghĩa
kinh viện.
II.1. Một số nhà triết học tiêu biểu của trờng phái duy danh
Pie Abơla (1079 - 1142)

10


Pie Abơla là ngời Pháp, đại biểu nổi tiếng của chủ nghĩa kinh viện nửa đầu thế
kỷ XII, là ngời thuộc trờng phái duy danh luận. Trên cơ sở lập trờng duy vật của trờng
phái duy danh luận, khi giải quyết mối quan hệ giữa lòng tin và lý trí, ông đề cao vai
trò của lý trí. Theo ông, lòng tin phụ thuộc vào cơ sở đích thực là lý trí. "Hiểu để mà
tin" là nguyên lý xuất phát của ông. Lý trí là tiêu chuẩn để đảm bảo cho sự đúng đắn
của "linh cảm", là phơng tiện chính xác để vạch ra toàn bộ nội dung của chân lý tôn
giáo, là câu trả lời đúng đắn về sự xác đáng hay không của một tín điều tôn giáo nào
đó. Mục đích của triết học là quá trình vạch ra và lập luận chân lý. Abơla đã phê phán
các đại biểu của nhà thờ đã xem ông là kẻ thù, và gọi ông là "kẻ chống chúa trời".
Dựa vào các tác phẩm của Arixtốt , ông phê phán những nhà triết học duy thực.
Ông cho rằng, khái niệm chung không thể tồn tại bên ngoài các sự vật, hiện tợng cụ
thể, không có đời sống độc lập, nhng cũng không tồn tại bên trong bản thân sự vật,
hiện tợng, không nằm trong bản thân từ ngữ, mà tồn tại trong ý nghĩa của từ ngữ.
Về mặt nào đó, hệ thống triết học của Abơla xa rời những tín điều chính thống
của nhà thờ, là ngời bạn đồng minh và dự báo cho khoa học thực nghiệm của giai đoạn
mới. Do đó, về mặt thế giới quan triết học cũng nh về lý luận nhận thức, ông là ngời
chuẩn bị tiền đề cho sự ra đời của triết học duy vật thời kỳ Phục hng ở Tây Âu.
Rôgiê Bêcơn (khoảng 1214 - 1294)
R. Bêcơn sinh ở Anh, là ngời đề xớng vĩ đại nhất của khoa học thực nghiệm và
phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa kinh viện, giáo hội và nhà nớc phong kiến. Triết học
Bêcơn đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống triết học kinh viện. Theo
ông, triết học (siêu hình học) là khoa học lý luận chung, giải thích mối quan hệ giữa
các khoa học bộ phận và đem lại cho các nhà khoa học đó những quan điểm cơ bản.
Đồng thời, bản thân triết học đợc xây dựng trên thành quả của các khoa học bộ phận.
Đó chính là quan niệm của Bêcơn về đối tợng của triết học. Từ đó, ông phê phán phơng
pháp kinh viện, tách rời cuộc sống, khẳng định vai trò của "kinh nghiệm" trong quá
trình tìm kiếm chân lý khoa học.
Ông cho rằng nguồn gốc của nhận thức là do uy tín, lý trí và kinh nghiệm. Kinh
nghiệm và thực nghiệm là tiêu chuẩn để chứng minh uy tín trong nhận thức chân lý.
Đó là quan niệm rất tiến bộ trong thời đại ông, có tác dụng chống chủ nghĩa kinh viện.
Bêcơn đề cao vai trò của tri thức khoa học: "Không có sự nguy hiểm nào lớn
hơn sự ngu dốt". Vì vậy, ông hớng trọng tâm nghiên cứu vào những vấn đề của khoa
học tự nhiên, và xem khoa học thực nghiệm là chúa tể của các khoa học. Ông đạt đợc
những thành tựu về nhiều lĩnh vực trong nghiên cứu khoa học tự nhiên: đa ra những
kiến giải có giá trị về vật lý và hóa học, vạch ra việc sửa đổi lịch, viết về thuốc súng và
vận dụng trong quân sự, nêu ra t tởng về cấu tạo của kính viễn vọng, kính hiển vi,...
Về mặt xã hội, Bêcơn có t tởng tiến bộ, dũng cảm lên án những tội lỗi của giáo
sĩ và bọn phong kiến áp bức, chống lại giáo hoàng, bênh vực quyền lợi của nhân dân và
đã bị nhà nớc phong kiến và giáo hội truy nã, cầm tù trong nhà tù của tu viện.
Có thể thấy rằng, triết học của Bêcơn đã bộc lộ xu hớng duy vật, thể hiện nhiều
t tởng tiến bộ. Tuy nhiên, trong thời đại của tôn giáo và nhà thờ, ông cũng cha thể nào

11


vợt qua khỏi bức tờng ngăn cách đó để hoàn toàn tự do với những t tởng khoa học và
triết học đặc sắc của mình.
Guyôm ốccam (1300 - 1350)
G. ốccam là nhà văn, nhà chính trị, nhà thần học, nhà triết học kinh viện Anh,
đại diện nổi tiếng nhất của chủ nghĩa duy danh. Về thế giới quan triết học, ông là nhà
duy danh có khuynh hớng duy vật. Ông cho rằng thực thể vật chất tồn tại vĩnh viễn,
thông qua những sự vật riêng lẻ, đơn nhất mà không cần đến "hình thức tinh thần" nào.
Hiện thực khách quan chỉ tồn tại sự vật, hiện tợng cụ thể, còn "khái niệm phổ biến" thì
tồn tại trong "tinh thần và lời lẽ". Cái phổ biến chỉ diễn đạt, mô tả cái giống nhau trong
các đối tợng riêng lẻ.
Trong mối quan hệ giữa lý trí và lòng tin, giữa tri thức và linh cảm, ông khẳng
định: quyền lực nhà thờ chỉ giới hạn ở tôn giáo, thần học chỉ thống trị trong các vấn đề
về lòng tin và sự linh cảm; không thể chứng minh đợc sự tồn tại và bản chất của thợng
đế. Tiếp thu các t tởng triết học của Đơnxcốt, triết học của ông đã thể hiện sự chống
đối quyết liệt hệ t tởng Thiên chúa giáo, phủ nhận sự tồn tại của Giáo hoàng, xem vai
trò của thần quyền chỉ có giới hạn ở việc cứu rỗi linh hồn trong nhà thờ.
Trong lĩnh vực khoa học, trờng phái ốccam ở Pari đã nghiên cứu toán học, cơ
học, thiên văn học và đã khôi phục lý thuyết nguyên tử thời cổ đại. Cùng với các nhà
duy danh khác, ốccam đã có công thúc đẩy khoa học tự nhiên phát triển. Dù bị cấm và
đốt sách, phái duy danh của ốccam đã có ảnh hởng lớn, giúp khoa học thoát khỏi sự
cầm tù của thần học, chuẩn bị cho sự sụp đổ của chủ nghĩa kinh viện thời trung cổ.
II.2. Đặc điểm khái quát của triết học và chủ nghĩa duy vật Tây Âu trung cổ
Đây là giai đoạn mà cả xã hội bị thống trị bởi hệ t tởng tôn giáo, chủ nghĩa kinh
viện (không chấp nhận cái mới và sự tiến bộ) là triết học chính thống. Cả xã hội bị ngự
trị bởi t tởng duy tâm, tôn giáo, thần học và chủ nghĩa ngu dân. Vì vậy, triết học cũng
nh các khoa học khác đều phải phục tùng thần học.
Thời kỳ này chứng kiến sự ra đời của phái duy danh, mặc dù dới thống trị của
nhà thờ và tôn giáo nhng vẫn đấu tranh cho cách nhìn nhận mang khuynh hớng duy
vật, thừa nhận sự vật có trớc, khái niệm có sau và đem đến cho triết học một luồng sinh
khí mới. Đó là sự nhận thức thế giới thông qua kinh nghiệm, thực nghiệm, là sự giải
phóng và đề cao khoa học tự nhiên, dù mới ở bớc đầu, khỏi ách thống trị của thần học
và sự tối tăm, trì trệ. Đây là mầm mống chuẩn bị cho sự sụp đổ của chủ nghĩa kinh viện
và sự phát triển mới của triết học và khoa học tự nhiên trong thời kỳ Phục hng.
Suốt trong thời gian này, phái duy thực cũng nh duy danh không đa ra đợc
những kiến giải triết học mới có tính khoa học và cách mạng.
Mặc dù quá trình phát triển của triết học Tây Âu trung cổ rất phức tạp, đầy mâu
thuẫn, nhng nó vẫn tuân theo quy luật phát triển kế thừa liên tục của lịch sử và của các
hình thái ý thức xã hội. Nó chuẩn bị những hạt nhân hợp lý cho sự phục hồi chủ nghĩa
duy vật cổ đại và phát triển với những thành tựu rực rỡ trong thời kỳ Phục hng.
III. Triết học tây âu thời kỳ phục hng (thế kỷ XV - XVI)

12


Thời kỳ Phục hng ở các nớcTây âu là thời kỳ khôi phục và phát triển những giá
trị văn hóa thời cổ đại sau đêm trờng trung cổ, không những thế còn phát triển làm cho
nó trở nên phong phú, đa dạng. Phơng thức sản xuất phong kiến đã trở nên lỗi thời, phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa từng bớc hình thành. Vào thời kỳ này, gắn liền với sự
phát triển về kinh tế, xã hội, khoa học, nghệ thuật, triết học nói chung và chủ nghĩa duy
vật nói riêng cũng có bớc phát triển mới.
III.1. Một số nhà triết học duy vật tiêu biểu thời Phục hng
Nicôlai Côpécnic (1473 - 1543)
Nicôlai Côpécnic là nhà thiên văn học và triết học ngời Ba lan. Ông là ngời đầu
tiên đa ra thuyết "nhật tâm" (coi mặt trời là trung tâm còn trái đất và các hành tinh
khác đều quay quanh mặt trời). Phát hiện của ông có ý nghĩa lớn lao về triết học và
khoa học tự nhiên lúc vì đã bác bỏ thuyết "địa tâm" trớc đó của Ptôlêmê, giáng một
đòn quyết định vào thế giới quan thần học, giải phóng khoa học tự nhiên khỏi sự thống
trị của thần học.
Gióocđanô Brunô (1548 - 1600)
Gioócđanô Brunô là một nhà triết học đồng thời là một nhà khoa học tự nhiên vĩ
đại thời Phục hng ở Italia. Ông là nhà tự nhiên thần luận nhng ông theo lập trờng duy
vật nhiều hơn và đã phát triển chủ nghĩa duy vật đến đỉnh cao vào thời Phục hng.
Brunô tiếp thu thuyết "nhật tâm" của Côpécnic, đồng thời kế thừa t tởng duy vật
thời cổ đại, xây dựng nên quan điểm duy vật mới về vũ trụ. Ông nêu ra phạm trù "cái
duy nhất", đó chính là thợng đế tồn tại dới dạng giới tự nhiên đợc hiểu nh một thế giới
độc lập, không do một cái gì sáng tạo ra cả. Ông đã đồng nhất thợng đế với giới tự
nhiên. Trên thực tế, thợng đế chỉ còn là danh nghĩa, bởi vì theo ông, mọi vật chỉ là biểu
hiện cụ thể của "cái duy nhất", sự vật thì biến đổi không ngừng, còn "cái duy nhất" thì
bất biến. Ông đã nêu ra quan điểm về tính thống nhất vật chất của vũ trụ: "Mọi vật đều
nằm trong vũ trụ và vũ trụ nằm trong tất thảy mọi vật". Vũ trụ là vô tận. Ngoài hệ mặt
trời còn có vô số hệ thống khác. Quả đất chỉ là một hạt bụi nhỏ trong vũ trụ vô tận,
không có hành tinh nào là trung tâm của vũ trụ, sự sống và con ng ời có thể có trong
nhiều hành tinh khác, không có chúa trời nào thống trị vũ trụ cả.
Ông đã không ngừng tuyên truyền các t tởng khoa học và chủ nghĩa duy vật triết
học và vì vậy toà án giáo hội đã thiêu sống ông.

Galilêô Galilê (1546 - 1642)
G. Galilê là nhà toán học, thiên văn học, vật lý học và triết học cuối thời Phục hng ở Italia, là ngời mở đầu cho sự phát triển của khoa học thực nghiệm. Ông có nhiều
đóng góp cho cơ học, đặc biệt là luật quán tính, lực rơi và gia tốc trọng trờng. ông
cũng đã chế ra kính viễn vọng để quan sát bầu trời, phát hiện ra các vệ tinh, quan sát
mặt trời, mặt trăng, ...Các phát minh khoa học của ông có ý nghĩa triết học sâu sắc. Nó
giúp ông có cơ sở để khẳng định tính thống nhất vật chất của toàn bộ vũ trụ và chứng
minh thuyết "nhật tâm" của Côpécnic. Tuy nhiên do quá đề cao toán học, ông đã giải
thích giới tự nhiên trên cơ sở hình học, quy các sự vật về các hình dạng của hình học.

13


Có thể nói ông đã mở đầu cho quan niệm duy vật máy móc về giới tự nhiên.
Nh vậy, tuy còn nhiều hạn chế nhng Galilê đã đóng vai trò to lớn trong sự phát
triển của triết học và khoa học tự nhiên thời Phục hng, tạo cơ sở cho sự phát triển tiếp
tục vào thời cận đại.
III.2. Đặc điểm cơ bản của triết học duy vật thời kỳ Phục hng
Triết học thời kỳ này là thế giới quan của giai cấp t sản đang trong quá trình
hình thành và phát triển. Sau "đêm trờng trung cổ", dới sự thống trị của thần học và
triết học kinh viện, thời kỳ này chủ nghĩa duy vật đợc khôi phục và phát triển. Sự khôi
phục và phát triển đó lại gắn liền với cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại thần học và
triết học kinh viện.
Do tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa
duy tâm, tôn giáo và dới ảnh hởng rất lớn của thần học lúc bấy giờ nên chủ nghĩa duy
vật thời kỳ này cha triệt để, vẫn mang tính chất phiếm thần luận hay tự nhiên thần luận.
Tuy nhiên, t tởng duy vật vẫn giữ vai trò chi phối.
Thời kỳ Phục hng, triết học có bớc phát triển mới dựa trên cơ sở các thành tựu
của khoa học tự nhiên. Các nhà khoa học tự nhiên đồng thời là các nhà triết học vì vậy
đã có cách nhìn nhận vũ trụ trên cơ sở khoa học.
Có thể nói, triết học thời Phục hng đã tạo ra một bớc ngoặt trong sự phát triển
của triết học sau đêm trờng trung cổ, tạo tiền đề cho triết học tiếp tục phát triển vào
thời Cận đại.
IV. Triết học Tây âu thời kỳ cận đại (thế kỷ XVII - XVIII)

Thời kỳ này, phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ, mâu
thuẫn gay gắt với phơng thức sản xuất phong kiến dẫn đến các cuộc cách mạng t sản
nhằm thay thế phơng thức sản xuất phong kiến bằng phơng thức sản xuất t bản chủ
nghĩa. Do vậy, xuất phát từ yêu cầu phát triển phơng thức sản xuất mới, khoa học tự
nhiên cũng có một bớc phát triển nhảy vọt. Khoa học tự nhiên thực nghiệm phát triển
mạnh mẽ, các tri thức khoa học đợc khái quát từ các tài liệu do thực nghiệm đem lại.
Từ những thay đổi sâu sắc trong đời sống xã hội và những thành tựu mới trong khoa
học tự nhiên, triết học thời kỳ này đã có một bớc phát triển mới.
IV.1. Sự phát triển của chủ nghĩa duy vật ở một số nớc Tây Âu thời cận đại
IV.1.1. Chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII
Vào thế kỷ XVII, nớc Anh là quốc gia t bản lớn nhất ở Tây Âu, không những
phát triển về kinh tế, xã hội mà khoa học và văn hóa cũng phát triển mạnh. Triết học
Anh thế kỷ XVII là ngọn cờ lý luận của giai cấp t sản Anh trớc và sau cách mạng, thiên
về duy vật và duy cảm. Tuy nhiên do tính chất không triệt để của cách mạng t sản Anh
nên chủ nghĩa duy vật Anh cũng thiếu triệt để. Các đại biểu của chủ nghĩa duy vật Anh
thời kỳ này là Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ và G.Lốccơ.
Phranxis Bêcơn (1561 - 1626)
P.Bêcơn là một quan chức cao cấp nớc Anh (thủ tớng Anh). Ông là nhà triết học
và khoa học tự nhiên thực nghiệm kiệt xuất, là "ông tổ của chủ nghĩa duy vật Anh".
Khía cạnh duy vật trong học thuyết của ông thể hiện ở bản thể luận khi Bêcơn kế thừa

14


và phát triển t tởng của các nhà duy vật thời cổ Hy Lạp. Theo ông, thế giới vật chất tồn
tại khách quan, khoa học không thể biết cái gì ngoài thế giới vật chất. Khắc phục hạn
chế của Aixtốt khi tách rời vật chất với "hình dạng", ông cho rằng "hình dạng" là bản
chất của sự vật "tự nhiên", "hình dạng" thống nhất với "tự nhiên".
Bêcơn còn khẳng định vật chất không tách rời vận động. Nhận thức bản chất của
sự vật là nhận thức sự vận động của chúng. Vật chất đa dạng nên vận động cũng đa
dạng. Ông chia vận động của vật chất thành 19 dạng nhng lại đều quy về vận động cơ
học. Điều này thể hiện tính chất siêu hình, máy móc của ông. Song ông có một cống
hiến mới, đó là coi "đứng yên" cũng là một hình thức vận động, vận động là thuộc tính
cố hữu của vật chất. Ông là ngời đầu tiên khẳng định tính bảo toàn của vật chất.
Quan điểm duy vật của Bêcơn còn thể hiện khi ông giải thích bản chất của linh
hồn. Theo ông, "linh hồn biết cảm giác" tồn tại trong óc ngời và vận động theo các dây
thần kinh và mạch máu. Nó chính là "một vật thể, thể xác là vật chất chân chính". Nó
cũng giống nh lửa và không khí.
Tuy nhiên, Bêcơn hạn chế ở chỗ ông không đứng vững trên lập trờng duy vật vô
thần. Theo ông, khoa học và thần học không nên can thiệp vào công việc của nhau. Cả
hai lĩnh vực này đều có điểm mạnh cũng nh điểm yếu riêng. Tính không triệt để đó của
ông phản ánh tính thỏa hiệp của giai cấp t sản Anh lúc bấy giờ.
Tômát Hốpxơ (1588 - 1679)
T. Hốpxơ sinh ở Anh và có một thời làm th ký cho Bêcơn. Ông là một nhà triết
học nổi tiếng, là đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII.
Quan điểm duy vật của ông thể hiện trong bản thể luận khi cho rằng thế giới vật
chất tồn tại khách quan, không do thần thánh sáng tạo ra và cũng không phụ thuộc vào
ý thức con ngời. Song thế giới vật chất, thế giới tự nhiên mà ông nói tới là thế giới của
những vật thể riêng lẻ, mọi sự vật đều đợc quy về quan hệ số lợng cơ học, toán học, vì
thế là một thế giới không thuộc tính, không màu sắc. Đây là một bớc lùi so với thế giới
nhiều tính chất, nhiều màu sắc của Bêcơn. Đến trái tim con ngời ông cũng coi là "chiếc
lò xo", dây thần kinh là "sợi chỉ" còn các khớp xơng là "những bánh xe".
Ông cũng coi vật chất luôn luôn vận động. Song ông quy vận động của vật chất
về vận động cơ học, đó chỉ là sự di chuyển giản đơn, máy móc của các vật thể trong
không gian. Đó chính là quan điểm siêu hình, máy móc của ông. Hốpxơ phân biệt
không gian, thời gian với tính cách là những hình thức tồn tại khách quan của sự vật và
không gian, thời gian với tính cách là cái phản ánh khách quan trong nhận thức con ngời. Từ đó ông khẳng định: cái gì có quảng tính (độ dài, khoảng cách) và hình dạng mới
tồn tại, thần thánh không có quảng tính và hình dạng nên không tồn tại. Điều này thể
hiện t tởng duy vật của ông. Chủ nghĩa duy vật của ông đã dẫn đến quyết định luận duy
vật máy móc.
Giôn Lốccơ (1632 - 1704)
Giôn Lốccơ sinh ra ở Anh, học Đại học Ôtxpho, nghiên cứu triết học, kinh tế,
chính trị, y học, khoa học tự nhiên. Ông là đại biểu của phái duy cảm nhng cũng có
những quan điểm duy vật nhất định dù chủ nghĩa duy vật của ông không triệt để.

15


G.Lốccơ tiếp thu quan niệm kinh nghiệm luận duy vật của Ph.Bêcơn và có sự
phát triển thêm. Kế thừa t tởng của Ph.Bêcơn cho rằng mọi nhận thức đều bắt đầu từ
kinh nghiệm, Lốccơ phát triển thêm mọi kinh nghiệm đều bắt nguồn từ cảm giác. Cảm
giác đợc hình thành khi con ngời tiếp cận với thế giới xung quanh. Đó là căn cứ đầu
tiên và có quyết định tới toàn bộ nhận thức. Lốccơ khẳng định không có t tởng bẩm
sinh, mọi nhận thức đều sinh ra trong kinh nghiệm và từ kinh nghiệm.
Lốccơ còn phân chia đặc tính của sự vật thành "đặc tính có trớc" và "đặc tính có
sau". "Đặc tính có trớc" là đặc tính nh vận động, đứng im, khối lợng, hình dạng, ... . Đó
là những đặc tính khách quan, không phụ thuộc vào cảm giác của con ngời, chúng
không thể mất đi dù sự vật có biến đổi. Còn "đặc tính có sau" là những đặc tính nh âm
thanh, mùi vị, màu sắc, ... Đó là đặc tính dễ biến đổi vì nó tuỳ thuộc vào cảm giác chủ
quan của mỗi ngời. Việc phân biệt một cách cực đoan "đặc tính có trớc" và "đặc tính
có sau" thể hiện tính không triệt để trong chủ nghĩa duy vật của Lốccơ.
Tóm lại, mặc dù triết học của Lốccơ mang tính chất không triệt để, có những
điểm nhợng bộ chủ nghĩa duy tâm nhng chủ nghĩa duy vật vẫn chiếm u thế. Những t tởng tiến bộ, duy vật của ông đã đợc các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII kế thừa và phát
triển.
IV.1.2. Các nhà siêu hình học thế kỷ XVII
Thế kỷ XVII, quan điểm duy vật còn đợc thấy ở một số nhà siêu hình học. Siêu
hình học ở đây đợc hiểu là khoa học nghiên cứu bản chất và nguồn gốc của tồn tại nói
chung, vạch ra nguyên nhân cấu thành của sự vật.
Rơnê Đêcáctơ (1596 - 1650)
R.Đêcáctơ xuất thân từ một gia đình quý tộc Pháp. Ông là nhà toán học, nhà vật
lý học và là một trong những ngời sáng lập ra triết học cận đại. Cùng với Ph. Bêcơn,
ông đã tạo ra một bớc cách mạng trong lịch sử t tởng triết học Tây Âu thời cận đại.
Quan điểm duy vật về triết học của R.Đêcáctơ thể hiện trong "vật lý học". Theo
ông, vũ trụ là thế giới vật chất. Vật chất là nguồn gốc chung của mọi sự vật, là vô tận
và vĩnh viễn. Vật chất gồm những hạt nhỏ có thể phân chia đợc. Ông cũng cho rằng,
không gian và thời gian là thuộc tính gắn liền với sự vật; tất cả các vật thể đều vận
động, vận động không do ai sáng tạo ra và cũng không bị tiêu diệt. Song ông chỉ hiểu
vận động là vận động cơ giới, là sự di chuyển vị trí giản đơn trong không gian.
Từ lý thuyết về các hạt nhỏ của vật chất, ông xây dựng lý thuyết về sự hình
thành vũ trụ. Theo ông, vật chất lúc đầu ở trạng thái hoàn toàn đồng loại và chuyển
động không ngừng theo chiều xoáy lốc. Quá trình "xoáy lốc" đã chia vật chất thành ba
loại: nguyên tố đất, nguyên tố không khí và nguyên tố hỏa. Từ đó, Đêcáctơ giải thích
sự xuất hiện của hệ thống mặt trời: sự vận động của "nguyên tố hỏa" tạo nên mặt trời
và những vì sao, sự vận động của "nguyên tố không khí " tạo nên bầu trời, sự vận động
của "nguyên tố đất" tạo nên trái đất và các hành tinh khác. Học thuyết về vũ trụ của
Đêcáctơ tuy còn thô sơ, chất phác nhng bản chất của nó là duy vật, có vai trò tích cực
trong việc chống tôn giáo và chuẩn bị cho sự phát triển khoa học về sau.

16


Bêkenit Spinôda (1632 - 1677)
B.Spinôda là một nhà duy vật xuất sắc ngời Hà Lan. Ông học ở trờng đào tạo
các cha cố nhng dần dần đi đến nghi ngờ tôn giáo và đi vào nghiên cứu triết học, khoa
học tự nhiên. Ông tiếp thu các quan điểm duy vật, phiếm thần luận của Brunô, chịu ảnh
hởng nhiều bởi R.Đêcáctơ nhng phản đối nhị nguyên luận của R.Đêcáctơ.
B.Spinôda đã có quan điểm duy vật về thế giới. Ông đặt ra cho mình nhiệm vụ
nhận thức "trật tự tự nhiên phổ biến" mà con ngời là một bộ phận. Trong triết học của
ông khái niệm "thực thể" là khái niệm trung tâm. "Thực thể" ở đây chính là giới tự
nhiên. Giới tự nhiên nh một thực thể duy nhất, hoàn toàn độc lập, tự nó sản sinh ra nó.
Nó tồn tại đợc là nhờ lực lợng tiềm tàng của chính nó, không cần có một lực lợng siêu
tự nhiên nào. Bản thân thợng đế cũng chính là giới tự nhiên chứ không phải là lực lợng
siêu tự nhiên nào. Thực thể duy nhất là nguồn gốc, là cơ sở, nền tảng và là bản chất
chung của mọi sự vật, hiện tợng, kể cả vật chất lẫn tinh thần. Thực thể là thực tại tối
cao, vô cùng, vô tận về mặt không gian và vĩnh viễn về mặt thời gian.
Thuộc tính của thực thể là vô hạn. Song thuộc tính của các "sự vật có hạn" của
thế giới xung quanh mà ta biết đợc là có quảng tính và có t duy. Để chỉ ra mối quan hệ
giữa "thực thể" với các sự vật, B.Spinôda đa ra khái niệm "dạng thức". "Dạng thức" là
một trạng thái của "thực thể", là biểu hiện đơn nhất của "thực thể". Vì là biểu hiện đơn
nhất của "thực thể" nên "dạng thức" không giống "thực thể". B.Spinôda cho rằng: thực
thể thì bất động còn dạng thức thì luôn luôn vận động và bị chi phối bởi luật nhân quả.
Ông đã đi đến quyết định luận duy vật cho rằng: Không có sự vật nào không có nguyên
nhân và nó là nguyên nhân của bản thân nó. Song ông lại phủ nhận tính khách quan
của "ngẫu nhiên". Theo ông chúng ta thấy tính ngẫu nhiên chỉ vì chúng ta xem xét sự
vật trong tính cô lập của nó; còn khi nhận thức đợc toàn bộ giới tự nhiên với đầy đủ
mối liên hệ nhân quả, lúc ấy ta thấy mọi cái đều tất nhiên. ở đây, ông đã rơi vào quyết
định luận duy vật máy móc.
Tóm lại, học thuyết "thực thể" của B.Spinôda tuy còn một số hạn chế nhất định
nhng nó đã thấm đợm tinh thần duy vật, vô thần và chứa đựng những yếu tố biện
chứng. Nó tạo cơ sở cho sự phát triển tiếp theo của chủ nghĩa duy vật.
IV.1.3. Các nhà triết học khai sáng Pháp thế kỷ XVIII
Triết học khai sáng Pháp thế kỷ XVIII là một giai đoạn phát triển quan trọng
trong triết học Tây Âu. Nó là vũ khí lý luận của giai cấp t sản Pháp chuẩn bị cho cuộc
cách mạng lật đổ xã hội phong kiến, xác lập xã hội t bản. Thời kỳ này có rất nhiều đại
biểu xuất sắc nh: Môngtexkiơ, Vônte, Rútxô, Điđrô, Hônbách, .... ở đây tôi chỉ đề cập
đến một số nhà triết học tiêu biểu mà quan điểm duy vật của họ đóng góp một phần rất
lớn cho sự phát triển của triết học nói chung và chủ nghĩa duy vật nói riêng.
La Mêtri (1709 - 1751)
La Mêtri là một nhà triết học duy vật thời kỳ này. Cùng với các nhà bách khoa
toàn th khác của Pháp, ông là ngời chuẩn bị về mặt t tởng cho cuộc cách mạng t sản
Pháp. Quan điểm duy vật của ông đợc xây dựng trên cơ sở khoa học tự nhiên. Theo
ông, thực thể vật chất là thống nhất ba hình thức của nó trong giới tự nhiên: vô cơ, thực

17


vật, động vật. Đặc tính cơ bản của vật chất là quảng tính, vận động và cảm thụ. Giữa ba
hình thức của giới tự nhiên đó không có sự khác nhau về chất, chỉ khác nhau về lợng.
Loài ngời thì có tính cảm thụ cao hơn và trí tuệ lớn hơn so với động vật.
La Mêtri bác bỏ nhị nguyên luận của Đềcáctơ và cho rằng linh hồn con ngời
hoàn toàn về thuộc trạng thái nhục thể. Trong cuốn sách "Ngời máy" (chủ yếu trình
bày các quan điểm triết học duy vật), ông xem con ngời nh một cái máy, cố gắng giải
thích các hiện tợng sinh lý theo quy luật của cơ học.
Nh vậy mặc dù đã có khuynh hớng duy vật trong quan điểm nhng La Mêtri vẫn
có cách nhìn máy móc, quy mọi cái về cơ học.
Đêni Điđrô (1713 - 1784)
Đêni Điđrô là nhà triết học duy vật chủ nghĩa Pháp nổi tiếng thế kỷ XVIII, nhà
văn, nhà lý luận nghệ thuật, đại biểu phái khai sáng, ngời tổ chức và biên tập cuốn
"Bách khoa toàn th Pháp" thế kỷ XVIII. Ông cũng là kẻ thù của chế độ chuyên chế
phong kiến và nhà thờ.
Là nhà duy vật, Điđrô bảo vệ quan điểm về tính vật chất của thế giới, thừa nhận
vật chất là tồn tại vĩnh viễn, khách quan ngoài ý thức của con ngời. Sự phong phú và đa
dạng của sự vật, hiện tợng chỉ là các hình thức khác nhau của tồn tại vật chất do các
phân tử cấu thành. Bác bỏ thuyết nhị nguyên, ông cho rằng: vật chất là một thực thể
duy nhất, nguyên nhân tồn tại của nó là nằm ngay trong bản thân nó. Giữa vận động và
vật chất là thống nhất chặt chẽ. Điđrô bác bỏ quan niệm về trạng thái đứng im tuyệt
đối. Ông cố gắng khắc phục chủ nghĩa siêu hình, chỉ gắn sự vận động của vật thể với
sự chuyển chỗ của chúng trong không gian và khẳng định vận động của vật thể là quá
trình phát triển, biến đổi không ngừng.
Thông qua t tởng về vận động, Điđrô đã thể hiện quan niệm vô thần. Giống nh
các nhà duy vật trớc đó, ông đã cố gắng tiếp cận t tởng về tự thân vận động của vật chất
, từ đó chống lại quan niệm về sự tồn tại của thợng đế, công kích chủ nghĩa duy tâm và
các tín đồ tôn giáo về sự bất tử của linh hồn.
Khi xây dựng lý luận nhận thức, Điđrô cũng đứng trên lập trờng duy vật. Theo
ông, cảm giác là nguồn gốc của mọi sự hiểu biết, là giai đoạn thức nhất trong nhận
thức còn lý trí, t duy là giai đoạn thức hai; trên cơ sở cảm giác mới xuất hiện t duy.
Chính vật chất, giới tự nhiên là nguyên nhân phổ biến của cảm giác con ngời.
Pôn Hăngri Điđrích Hônbách (1723 - 1789)
Hônbách xuất thân từ một gia đình quý tộc ở Đức nhng cuộc đời và sự nghiệp
của ông lại gắn liền với nớc Pháp. Ông là đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật và vô
thần, là một trong những ngời lãnh đạo của phái khai sáng Pháp, là cộng tác viên của
"Bách khoa toàn th". Hônbách xây dựng triết học duy vật và chủ nghĩa vô thần của
mình dựa trên những tri thức khoa học tự nhiên phong phú.
Vấn đề vật chất và vận động đợc Hônbách giải quyết trên lập trờng của chủ
nghĩa duy vật. Ông khẳng định tính khách quan, vĩnh cửu, không do ai sáng tạo của vật
chất. Sự phát triển và biến đổi không ngừng của vật chất đã sinh ra tính muôn vẻ của
thế giới hiện thực. Vũ trụ, theo ông, là vật chất đang vận động, và vận động là phơng

18


thức tồn tại của vật chất, nhờ vận động mà biết đợc bản chất của vật chất. Song vận
động theo quan niệm của Hônbách vẫn chỉ là vận động cơ giới.
IV.2. Các đặc điểm cơ bản của triết học duy vật ở Tây Âu thời kỳ cận đại
Triết học Tây Âu thời kỳ cận đại là sự phát triển tiếp tục các t tởng triết học thời
kỳ Phục hng trong giai đoạn mới, giai đoạn cách mạng t sản và sự phát triển mạnh mẽ
của khoa học tự nhiên. Trong cuộc đấu tranh lâu dài giữa chủ nghĩa duy vật và chủ
nghĩa duy tâm thì đây là thời kỳ mà chủ nghĩa duy vật đã "thắng thế" chủ nghĩa duy
tâm và tôn giáo. Chủ nghĩa duy vật thời kỳ này là thế giới quan của giai cấp t sản cách
mạng; là vũ khí t tởng của giai cấp t sản trong cuộc đấu tranh chống phong kiến và
giáo hội, xác lập xã hội t bản.
Nhờ những thành tựu khoa học tự nhiên, chủ nghĩa duy vật có một bớc phát
triển mới, với cơ sở khoa học vững chắc và đợc chứng minh về chi tiết. Tuy nhiên hầu
hết các nhà duy vật vẫn rơi vào phiếm thần luận hay tự nhiên thần luận, chỉ có một số ít
nhà duy vật đi đến chủ nghĩa vô thần. Đó không chỉ do ảnh hởng sâu sắc của tôn giáo
mà còn do giai cấp t sản vẫn cần đến tôn giáo cho nên có lập trờng cha triệt để.
Nhìn chung, triết học Tây Âu thời kỳ Phục hng và cận đại nói chung và chủ
nghĩa duy vật nói riêng là một bớc phát triển rực rỡ trong lịch sử t tởng triết học nhân
loại. Những thành tựu triết học thời kỳ này không chỉ đáp ứng yêu cầu đặt ra lúc đó mà
nó còn đặt nền tảng cho sự phát triển của triết học trong các giai đoạn về sau.
V. triết học cổ điển Đức (thế kỷ XVIII - Xix)

Triết học cổ điển Đức với những nét riêng do nền tảng chính trị, xã hội và t tởng
của thời kỳ này quy định là đỉnh cao của thời kỳ triết học cổ điển ở phơng Tây và có
ảnh hởng to lớn tới triết học hiện đại. Kant, Heghen và Phơbách là những đại biểu lớn
của triết học cổ điển Đức, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển triết học vào cuối
thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, góp phần làm cho triết học cổ điển Đức trở thành
một tiên đề lý luận trực tiếp cho sự ra đời của triết học Mác.
V.1. Các nhà triết học duy vật tiêu biểu của triết học cổ điển Đức
Về khía cạch duy vật, Kant và đặc biệt là Phơbách là những nhà triết học có
những đóng góp đặc biệt quan trọng.
Immanuel Kant (1724 - 1804)
Kant là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất trong lịch sử t tởng phơng Tây.
Triết học Kant là nền tảng và là điểm xuất pháp của triết học Đức hiện đại. Mặc dù còn
có những điểm hạn chế nhng những đóng góp của ông cho triết học là không thể phủ
nhận.
Về cơ bản, Kant đã thể hiện nh một nhà duy vật tự nhiên. Ông coi cả thế giới
nh một chỉnh thể vật chất, mọi sự vật luôn vận động và biến đổi không ngừng, tơng tác
lẫn nhau thông qua lực hút và lực đẩy. Ông là ngời đầu tiên khám phá ra ảnh hởng của
lực hấp dẫn giữa trái đất và mặt trăng đối với các hiện tợng thuỷ triều.
Đi xa hơn các nhà duy vật trớc đây, Kant nhận thấy thế giới không phải từ đầu
đã có đợc trạng thái nh hiện nay mà là kết quả của một quá trình lịch sử lâu dài theo hớng ngày càng hoàn thiện tự nhiên. Kant có sự giải thích thiên tài về sự hình thành hệ

19


thống mặt trời. Ông dự đoán ngoài thiên hà của chúng ta còn có các thế giới khác.
Hạn chế của Kant là ở chỗ ông theo thuyết "không thể biết". Kant đã chia thế
giới thành hai phần: thế giới hiện tợng và thế giới "vật tự nó". Thế giới hiện tợng là thế
giới mà chúng ta nhìn thấy còn thế giới vật tự nó lại là bản chất của các sự vật, hiện t ợng. Giữa hai thế giới này có danh giới tuyệt đối không thể vợt qua. Vì vậy con ngời
không thể nhận thức đợc bản chất của thế giới.
Lútvích Phơbách (1804 - 1872)
L.Phơbách là nhà duy vật chủ nghĩa kiệt xuất trớc thời kỳ Mác, là đại biểu nổi
tiếng của triết học cổ điển Đức, nhà t tởng của giai cấp t sản dân chủ Đức. Phơbách đã
có công lớn trong việc phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen cũng nh chủ nghĩa duy
tâm và tôn giáo nói chung, khôi phục vị trí xứng đáng của triết học duy vật.
Chống lại luận điểm duy tâm của Hêghen coi giới tự nhiên là "tồn tại khác" của
tinh thần, L.Phơbách đã chứng minh thế giới là vật chất, giới tự nhiên tồn tại ngoài con
ngời không phụ thuộc vào ý thức con ngời, là cơ sở sinh sống của con ngời. Giới tự
nhiên không do ai sáng tạo ra, nó tồn tại, vận động nhờ những cơ sở bên trong nó.
Triết học của Phơbách mang tính chất nhân bản. Nó chống lại nhị nguyên luận
về sự tách rời giữa tinh thần và thể xác. Ông coi ý thức tinh thần cũng là một thuộc tính
đặc biệt của vật chất có tổ chức cao là óc ngời. Từ đó cho phép khẳng định mối quan
hệ khăng khít giữa tồn tại và t duy. Phơbách không chỉ chống lại chủ nghĩa duy tâm mà
với triết học nhân bản của mình ông còn đấu tranh chống những quan điểm duy vật
tầm thờng quy các hiện tợng tâm lý, tinh thần về các quá trình lý hóa, không thấy sự
khác nhau về chất giữa chúng.
Mặt tích cực trong triết học nhân bản của Phơbách còn thể hiện ở chỗ ông đấu
tranh chống các quan niệm tôn giáo chính thống của đạo Thiên chúa, đặc biệt là quan
niệm về thợng đế. Trái với các quan niệm truyền thống của tôn giáo và thần học cho
rằng thợng đế tạo ra con ngời. Ông khẳng định chính con ngời sáng tạo ra thợng đế.
Phơbách phủ nhận mọi thứ tôn giáo và thần học về một vị thợng đế siêu nhiên đứng
ngoài sáng tạo ra con ngời, chi phối cuộc sống của con ngời.
Triết học của Phơbách cũng bộc lộ những hạn chế. Đó là khi ông đứng trên lập
trờng của chủ nghĩa tự nhiên để xem xét mọi hiện tợng thuộc về con ngời và xã hội.
Con ngời trong quan niệm của Phơbách là con ngời trừu tợng, khi xã hội mang những
thuộc tính sinh học bẩm sinh. Triết học nhân bản của Phơbách chứa đựng những yếu tố
của chủ nghĩa duy tâm. Ông nói rằng bản tính con ngời là tình yêu, tôn giáo cũng là
một tình yêu. Do vậy, thay thế cho thứ tôn giáo tôn sùng một vị thợng đế siêu nhiên
cần xây dựng một thứ tôn giáo mới phù hợp với tình yêu của con ngời. Ông cho rằng
cần phải biến tình yêu thơng giữa ngời với ngời thành mối quan hệ chi phối mọi mối
quan hệ xã hội khác, thành lý tởng xã hội. Trong điều kiện của xã hội t sản Đức thời
đó, với sự phân chia và đối lập giai cấp thì chủ nghĩa nhân đạo của Phơbách trở thành
trừu tợng và duy tâm.
Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm của Hêghen, Phơbách lại phủ
nhận luôn phép biện chứng vốn là "hạt nhân hợp lý" của Hêghen.

20


Mặc dù còn những hạn chế, triết học của Phơbách vẫn có ý nghĩa to lớn trong
lịch sử triết học và trở thành một trong những nguồn gốc lý luận quan trọng của triết
học Mác.
V.2. Đặc trng cơ bản của triết học duy vật trong triết học cổ điển Đức
Triết học cổ điển Đức là thế giới quan và hệ ý thức của giai cấp t sản Đức cuối
thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX. Các đại biểu của thời kỳ này đều xuất thân từ tầng
lớp thợng lu trong xã hội. Họ đều thể hiện nguyện vọng của giai cấp t sản Đức muốn
đấu tranh cho một trật tự xã hội mới và đợc sự cổ vũ của giai cấp t sản các nớc phát
triển hơn Đức nhng khác với giai cấp t sản vốn triệt để cách mạng, giai cấp t sản Đức
lại muốn thoả hiệp với tầng lớp phong kiến quý tộc đang thống trị.
Triết học cổ điển Đức đã đem lại một cách nhìn mới về thực tiễn xã hội và tiến
trình lịch sử của nhân loại; đặc biệt đề cao vai trò hoạt động của con ngời, thực hiện bớc ngoặt trong lịch sử t tởng triết học phơng Tây từ chỗ chủ yếu bàn về các vấn đề bản
thể luận, nhận thức luận, ... đến chỗ bàn về con ngời nh một chủ thể, từ tồn tại đến hoạt
động. Kế tục t tởng của triết học cổ đại về đề tài con ngời và khuynh hớng đề cao con
ngời từ thời Phục hng, Kant lần đầu tiên coi con ngời là một chủ thể đồng thời lại là kết
quả của quá trình hoạt động của mình, khẳng định thực tiễn cao hơn lý luận. Tuy
nhiên các nhà triết học cổ điển Đức lại đề cao trí tuệ và sức sáng tạo của con ngời đến
mức cực đoan. Kant và Hêghen thần thánh hóa năng lực của con ngời và đi đến quan
niệm duy tâm, khẳng định không chỉ xã hội mà cả mọi vật trong tự nhiên đều là kết
quả của hoạt động con ngời.
ở khía cạnh duy vật, Phơbách đã phát triển chủ nghĩa duy vật lên đến một tầm
cao mới, khác với các quan điểm duy vật tầm thờng khác. Phơbách cũng nh các bậc
tiền bối của thời kỳ này đã quá đề cao con ngời, quy triết học về nhân bản học. Tuy
nhiên, ông lại hiểu con ngời theo nghĩa trận tục, bằng xơng, bằng thịt nên lại gặp phải
hạn chế khác trong triết học của mình: duy vật máy móc.

Kết luận
Trong suốt lịch sử ra đời và phát triển của mình bắt đầu từ thời cổ đại cho đến
triết học cổ điển Đức và sẽ còn tiếp tục phát triển, chủ nghĩa duy vật thông qua các tr ờng phái triết học cũng nh những nhà duy vật tiêu biểu của thời đại với các quan điểm
tiến bộ về thế giới quan hay nhận thức luận đã chứng minh đợc sức sống của mình qua
các thời kỳ cụ thể.
ứng với các thời kỳ khác nhau của triết học đều tồn tại các quan điểm duy vật
đặc trng. Từ chỗ chỉ là những nhận thức trực quan, chất phác có xen lẫn yếu tố duy tâm

21


của triết học thời kỳ cổ đại đến bớc đầu quan điểm duy vật siêu hình, máy móc vào thế
kỷ XV và phát triển đến đỉnh cao với triết học cổ điển Đức, chủ nghĩa duy vật đã chứng
tỏ là tiền đề đáng tin cậy cho một sự phát triển cao hơn của chính bản thân mình, đó là
chủ nghĩa duy vật biện chứng sau này.
Trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật ngày càng
chứng tỏ là có cơ sở khoa học và chủ nghĩa duy vật với cách nhìn khoa học đối với thế
giới đã có nhiều đóng góp vĩ đại cho sự phát triển của triết học, khoa học nói riêng và
cho xã hội nói chung.

22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×