Tải bản đầy đủ

Lý luận của lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH và sự vận dụng lý luận đó ở VN

Lời mở đầu
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài ngời, lao động đã đóng góp một vai trò
quyết định và theo cách nói của F.Enghen: Lao động đã góp phần sáng tạo ra con ngời.
Lao động là hoạt động chính của xã hội và sự phát triển của lao động, sản xuất là nền
tảng, là thớc do sự phát triển của xã hội.
Lao động là hoạt động của con ngời. Mỗi ngời tham gia lao động đều có những
lý do, mục đích nhất định: Lao động để kiếm sống, lao động để tự khẳng định mình;
lao động để đợc thăng chức, cấp; lao động bị bắt buộc... Nhng cho dù lý do nào đi
chăng nữa thì lao động luôn là hoạt động có mục đích , có ý thức và sự lỗ lực trong
kinh doanh luôn là động lực thúc đẩy xã hội phát triển.
ở mỗi thời kỳ phát triển của xã hội, hình thành những tổ chức lao động phù
hợp, mà ở đó mỗi ngời phải luôn cố gắng, nỗ lực. Khi mà điều kiện thay đổi, hình thức
đã có trở lên lỗi thời, mọi ngời không còn tích cực lao động nữc, xã hội rơi vào tình
trạng bế tắc và một hình thức mới thích hợp sẽ ra đời. Đó là quy luật chung trong sự
phát triển xã hội.
Trong thời đại ngày nay, do mức độ phát triển cao của tự do cá nhân, hình thức
lao động bắt buộc không còn thích hợp nữa. Mọi ngời đều có thể tự quyết định là gì và
làm nh thế nào trong những điều kiện cụ thể...
Xuất phát từ vai trò hoạt động lao động của con ngời và đặc điểm tâm lý con ngời lao động nói chung và sự tác động của điều kiện kinh tế xã hội hiện nay đặt ra vấn
đề là làm nh thế nào để quản lý có hệu quả, nguồn nhân lực đó là cần có những chính
sách quản lý lao động nh thế nào. Với ý nghĩa là công cụ để tác động vào mục đích

hoạt động lao động của con ngời để phát huy vai trò mục đích của hoạt động lao động
nhằm thúc đẩy xã hội phát triển và hoàn thiện con ngời lao động... Trong đó, công cụ
tiền lơng tiền thởng hiện nay có vai trò hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp đến lợi
ích kinh tế của ngời lao động góp phần tạo ra động lực trực tiếp thúc đẩy con ngời lao
động làm việc tốt, nâng cao hiệu quả hoạt động lao động...
Hiện nay, đất nớc ta đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá
trên lĩnh vực của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội. Đặc biệt là chiến l ợc phát triển
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của
Nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nớc ta
luôn có t tởng chỉ đạo xuyên suốt các chủ chơng, chính sách kinh tế - xã hội là luôn
quan tâm chăm sóc, bồi dỡng và phát huy thế nhân tố con ngời với t cách là động lực,
vừa là mục tiêu của Cách mạng; là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững của đất
nớc. Trong đó chính sách chế độ tiền lơng luôn đợc Đảng và Nhà nớc ta coi là một
trong những vấn đề trọng yếu liên quan mật thiết và có ảnh hởng thờng xuyên mang
tính chất quyết định đến động thái kinh tế - chính trị - xã hội của đất nớc. Chính vì thế
Đảng và Nhà nớc ta đã xác định là : Quan tâm đến con ngời đợc xác định là vấn đề
trọng tâm, chỉ có quan tâm và phát triển con ngời mới khai thác đợc khả năng tiềm ẩn
của con ngời. Một trong những nhân tố kích thích khả năng tiềm ẩn trong con ngời đó
là lợi ích của họ thu đợc gì khi lao động của họ tham gia vào hoạt động có mục đích,
theo Các Mác: Một khi t tởng tách rời lợi ích thì nhất định sẽ tự làm nhục nó; còn F.
Anghen lại khẳng định: ở đâu có sự kết hợp các lợi ích, ở đó có sự thống nhất về mục

1


đích và lý tởng. Chính sách tiền lơng là một trong những biểu hiện cụ thể trong lợi ích
đó.
Do đó việc nghiên cứu và áp dụng đúng đắn các chế độ, chính sách tiền lơng
hiện nay để chúng thực sự là vai trò kích thích lợi ích ngời lao động, trong đó việc
nghiên cứu và áp dụng các hình thức tiền lơng, tiền thởng là một mặt quan trọng trong
các chế độ, chính sách tiền luơng. Đồng thời qua việc học tập và nghiên cứu một số tài
liệu về mặt lý luận và một phần thực tế các hình thức tiền lơng - tiền thởng hiện nay
cho em thấy việc áp dụng các hình thức tiền lơng - tiền thởng có nhiều u điểm ,nhng
cũng còn nhiều hạn chế cần nghiên cứu để hoàn thiện. Do vậy em chọn đề tài : "Vai trò
kích thích lao động của các hình thức tiền lơng - tiền thởng và giải pháp hoàn thiện".
Với mục đích là qua nghiên cứu về mặt lý luận và thực tế các hình thức tiền lơng - tiền
thởng hiện nay để từ đó đợc ra những giải pháp hoàn thiện chúng theo một hớng thống
nhất nhằm tăng cờng vai trò kích thích lao động của nó và đảm bảo các hình thức tiền
lơng này thực sự là những công cụ, đòn bẩy kinh tế to lớn nhằm khai thác và khơi dậy
những tiềm năng của mỗi con ngời trong lao động và cũng nhằm hoàn thiện một công

cụ quản lý lao động tiền lơng hữu hiệu góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nớc ta hiện nay.
Đề án này nghiên cứu về mặt lý luận, kết hợp một phần thực tiễn nhằm tìm ra
những biện pháp nhằm tăng cờng hiệu quả, vai trò kích thích lao động của các hình
thức tiền lơng - tiền thởng ở nớc ta hiện nay. Qua nghiên cứu đề án này em đã sử dụng
phơng pháp thu thập, phân tích, đánh giá, kết hợp các vấn đề có liên quan.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề án gồm 3 phần:
Phần I: Cơ sở lý luận các hình thức tiền lơng - tiền thởng và vai trò của nó trong
việc kích thích lao động.
Phần II: Thực trạng vai trò kích thích lao động của các hình thức tiền lơng - tiền
thởng ở nớc ta hiện nay.
Phần III: Một số giải pháp nhằm tăng cờng vai trò kích thích lao động các hình
thức tiền lơng - tiền thởng.

2


Nội dung
Phần I. Cơ sở lý luận của các hình thức tiền lơng - tiền thởng và vai trò của nó trong việc kích thích lao động
I. Quá trình hình thành và phát triển lý luận về tiền lơng
của các nhà kinh tế - Chính trị học từ W- Petty đến C.Mác.

1. Lý luận về tiền lơng của W. Petty (1623 - 1687):
W. Petty là một nhà kinh tế chính trị t sản cổ điển Anh. Ông đã nghiên cứu
nhiều lý thuyết kinh tế trong đó có lý thuyết về tiền lơng.
Lý thuyết về tiền lơng W. Petty đợc xây dựng trên cơ sở lý thuyết giá trị lao
động của ông. Có thể nói là ông là ngời đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho lý
thuyết giá trị lao động. Ông coi lao động là hàng hoá, tiền lơng là giá trị của lao động.
Mà theo ông giá cả tự nhiên là giá trị của hàng hoá, còn giá cả nhân tạo là giá cả thị trờng của hàng hoá. Ông đã đặt ra nhiệm vụ xác định mức tiền lơng. Theo ông giới hạn
tiền lơng là mức t liệu sinh hoạt tối thiểu để nuôi sống ngời công nhân. Ông là ngời đầu
tiên trong lịch sử đặt nền móng cho lý thuyết "quy luật sắt về tiền lơng"
2. Lý luận về tiền lơng của A. Smith (1723 - 1790):
A.Smith là một nhà kinh tế chính trị cổ điển nổi tiếng ở nớc Anh và trên thế
giới. Ông là một trong những bậc tiền bối lớn của C.Mác. Trong các tác phẩm của
mình ông đã trình bày một cách khá hệ thống các lý thuyết kinh tế, trong đó có lý
thuyết tiền lơng:
ASmith xác định cơ sở của tiền lơng là giá trị những t liệu sinh hoạt cần thiết để
nuôi sống ngời công nhân làm thuê và giáo dục, nuôi dỡng con cái anh ta để có thể đa
ra thay thế trên thị trờng lao động. Ông chỉ mức bình thờng của tiền lơng và cho rằng
tiền lơng phải đạt đợc ở mức (giới hạn) tối thiểu. Theo ông, tiền lơng không đợc hạ
thấp quá giới hạn đó, vì nếu thấp hơn giới hạn tối thiểu này sẽ là thảm hoạ cho sự phát
triển của các dân tộc.
A.Smith đối lập với quan điểm của các nhà kinh tế học đơng thời ủng hộ trả lơng theo mức tối thiểu. A.Smith ủng hộ trả lơng cao vì theo ông, tiền lơng cao sẽ tạo
điều kiện tăng trởng kinh tế. Cụ thể là, tiền lơng cao ngời lao động phấn khởi tìm mọi
cách tăng năng suất lao động, tăng thu nhập quốc dân nói chung.
3. Lý luận về tiền lơng của D.Ricardo (1772 - 1823)
David Ricardo là nhà kinh tế - chính trị học t sản cổ điển Anh. Ông là cha đẻ
của môn kinh tế chính trị học và ông là ngời kế tục xuất sắc A.Smith.
ông có ý đồ giải quyết liên hệ xác định tiền lơng theo quy luật giá trị, nhng
không thành công vì cũng giống nh A.Smith, ông cha phát hiện đợc lao động với sức
lao động. Tuy nhiên ông vẫn xác định đúng tiền lơng của ngời công nhân phải ngang
với giá trị những sinh hoạt tối thiểu cần thiết cho công nhân và gia đình anh ta.

3


Một trong những công lao to lớn của ông là phân biệt đợc tiền công thực tế và
xác định nó nh một phạm trù kinh tế. D.Ricardo có chủ trơng ủng hộ "lý thuyết qui
luật sắt về tiền lơng".
4. Lý luận về tiền lơng của Sismondi (1773 - 1842):
Sismondi là nhà kinh tế chính trị học kiểu t sản Pháp. Ông có nhiều công lao
trong viẹc phân tích vấn đề thu nhập: Lợi nhuận, địa tô và tiền lơng. ông giải quyết các
vấn đề này có điểm rõ hơn A.Smith và D.Ricardo.
Về lý luận tiền lơng, Sismondi đã coi công nhân là ngời sáng tạo ra của cải vật
chất, nh vậy ông đã chỉ ra là lao động là nguồn gốc của mọi của cải. . Theo ông, tiền l ơng phải ngang bằng toàn bộ giá trị sản phẩm của công nhân.
5. Lý luận tiền lơng của Các Mác (1818 - 1883).
Các Mác là một trong những ngời sáng lập ra chủ nghĩa Mác là nền tảng lý luận
vững chắc cho giai giai cấp công nhân và nhân dân lao động đấu tranh với chủ nghĩa t bản
để đánh đổ chủ nghĩa lập lên chế độ xã hội chủ nghĩa do ngời lao động làm chủ. Trong nhiều
tác phẩm ông có lý luận về tiền lơng.
Các Mác trên cơ sở tiếp thu có phê phán chọn lọc các lý luận về tiền lơng của
các nhà kinh tế - chính trị học trớc đó, ông đã trình bầy một cách có hệ thống và khá
hoàn chỉnh các lý luận về tiền lơng.
Các Mác chỉ rõ: Dới Chủ nghĩa t bản, sau khi làm việc cho nhà đầu t bản trong
một thời gian nào đó, sản xuất ra một lợng hàng hoá nào đó thì nhận đợc một số tiền
công nhất định. Số tiền công đó chính là tiền lơng mà tiền lơng này không phải là giá
trị hay giá cả lao động, vì lao động không phải là hàng hoá và không phải là đối t ợng
mua bán và cái mà công nhân bán cho nhà t bản, cái mà nhà t bản mua của ngời công
nhân là sức lao động.
C.Mác chỉ ra 2 hình thức cơ bản của tiền lơng: tiền lơng tính theo thời gian và
tiền lơng tính theo sản phẩm. C.mác cũng chỉ ra sự khác nhau giữa tiền lơng danh
nghĩa và tiền lơng thực tế và khẳng định nếu khoảng cách giữa chúng càng lớn là nguy
cơ lớn đối với đời sống của ngời làm công ăn lơng và sự bảo đảm của tiền lơng phụ
thuộc vào nhiều yếu tố: năng suất lao động , cờng độ lao động, trình độ thành thạo của
ngời lao động.
Sau đây ta sẽ nghiên cứu cụ thể lý luận về các hình thức tiền lơng theo lý luận
của C.Mác.
II. Bản chất và vai trò kích thích lao động của tiền lơng - tiền thởng trong nền kinh tế
1. Khái niệm và bản chất của tiền lơng
1.1. Tiền lơng trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung: tiền lơng đợc hiểu thống nhất nh sau:
"Về thực chất, tiền lơng dới chủ nghĩa xã hội là một phần thu nhập quốc dân, biểu hiện
dới hình thức tiền tệ, đợc Nhà nớc phân phối một cách có kế hoạch cho công nhân,
viên chức phù hợp với số lợng và chất lợng lao động của mỗi ngời đã cống hiến. Tiền l-

4


ơng phản ánh việc trả công cho công nhân viên chức, dựa trên nguyên tắc phân phối
theo lao động nhằm tái sản xuất sức lao động".1
Nh vậy: dới chủ nghĩa xã hội, về bản chất tiền lơng có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: tiền lơng không phải là giá cả sức lao động, vì dới chủ nghĩa xã hội
sức lao động không phải là hàng hoá.
Thứ hai: tiền lơng là một khái niệm thuộc phạm trù phân phối, tuân thủ những
nguyên tắc của quy luật phân phối dới chủ nghĩa xã hội.
Thứ ba: tiền lơng đợc phân phối công bằng theo số lợng và chất lợng lao động
của công nhân viên chức đã hao phí và đợc kế hoạch hoá từ cấp trung ơng đến cơ sở, đợc Nhà nớc thống nhất quản lý.
1.2. Tiền lơng trong nền kinh tế thị trờng
Hiện nay nền kinh tế nớc ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự quản
lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa cho nên cơ chế thị trờng buộc chúng ta
phải có những trao đổi lớn trong nhận thức quan niệm về tiền lơng. Do đó khái niệm
tiền lơng trong nền kinh tế thị trờng đợc hiểu nh sau:
Tiền lơng là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá của yếu tố sức
lao động mà ngời sử dụng (Nhà nớc, chủ doanh nghiệp) phải trả cho ngời cung ứng sức
lao động, tuân theo các nguyên tắc cung - cầu, giá cả của thị trờng và pháp luật hiện
hành của Nhà nớc. Nh vậy bản chất của tiền lơng trong nền kinh tế thị trờng là:
Thứ nhất: tiền lơng là giá cả sức lao động đợc hình thành trên cơ sở giá trị sức
lao động thông qua sự thoả thuận giữa ngời có sức lao động và ngời sử dụng sức lao
động và chịu sự chi phối của các qui luật kinh tế trong đó có quy luật cung cầu, giá cả
tiền thực tế và nh vậy trong nền kinh tế thị trờng sức lao động đợc coi là một hàng hoá.
Thứ hai: tiền lơng là bộ phận cơ bản (hoặc duy nhất) trong thu nhập của ngời lao
động, đồng thời là một trong các yếu tố chi phí đầu vào của sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp.
Ngoài khái niệm về tiền lơng đã trình bày trên, ta tìm hiểu và phân biệt thêm
một số khái niệm sau: Khái niệm và phân biệt giữa tiền lơng với tiền công; Khái niệm
và phân biệt giữa tiền lơng danh nghĩa với tiền lơng thực tế; khái niệm tiền lơng tối
thiểu:
Tiền lơng - tiền công chỉ là một biểu hiện, một tên gọi khác của tiền lơng
Tiền lơng và tiền công các khoản biểu hiện của phần thù lao cơ bản mà ngời lao
động nhận đợc thông qua mối quan hệ thuê mớn lao động giữa họ với ngời sử dụng sức
lao động trong đó:
+ Tiền lơng (salary) là số tiền trả cho ngời lao động một cách cố định, thờng
xuyên theo một đơn vị thời gian dựa trên cơ sở loại công việc cụ thể, mức độ thực hiện
công việc, trình độ và thâm niên công tác của ngời lao động. Tiền lơng thờng đợc trả
cho cán bộ quản lý, lãnh đạo, nhân viên chuyên môn và kỹ thuật.
+ Tiền công (wages): là số tiền trả cho ngời lao động tuỳ thuộc vào số lợng thời
gian làm việc thực tế (giờ, ngày), hay số lợng sản phẩm sản xuất ra hay tuỳ thuộc vào
1

Phùng Thế Trờng: Kinh tế lao động - NXB đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội - 1986 - tr 205

5


khối lợng công việc hoàn thành. Tiền công thờng đợc trả cho nhân viên sản xuất, nhân
viên bảo dỡng, nhân viên văn phòng... Tiền công còn đợc hiểu là số tiền trả cho một
đơn vị thời gian lao động cung ứng, tiền trả theo khối lợng công việc đợc thực hiện phổ
biến trong những thoả thuận thuê nhân công trên thị trờng tự do và có thể gọi là giá
nhân công.
Nh vậy tiền công đợc trả trên cơ sở: Khối lợng công việc hoàn thành, thời gian
làm việc thực tế hay số lợng sản phẩm sản xuất ra.
Trong nền kinh tế thị trờng phát triển khái niệm tiền lơng và tiền công đợc xem
là đồng nhất về vật chất kinh tế (đều là giá cả sức lao động hay phản ánh một phần giá
trị sức lao động), cũng nh phạm vi áp dụng và đối tợng áp dụng. Nhng ở các nớc đang
chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng trong đó có nớc
ta thì khái niệm tiền lơng đợc gắn với chế độ tuyển dụng suốt đời trong khu vực kinh tế
Nhà nớc và khu vực hành chính sự nghiệp, hoặc một thoả thuận hợp đồng sử dụng lao
động dài hạn ổn định do đó nó có tính chất ổn định hơn tiền công; còn tiền công đợc
gắn với các quan hệ thuê mớn thoả thuận trực tiếp tự do trên thị trờng lao động thờng
áp dụng với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, nó chịu sự tác động, chi phố rất
lớn của tiền lơng và thị trờng lao động. Do đó nó có tính chất rộng hơn tiền lơng và thờng không ổn định hơn so với tiền lơng.
* Tiền lơng danh nghĩa - tiền lơng thực tế
+ Tiền lơng danh nghĩa: là khái niệm chỉ số lợng thực tế mà ngời sử dụng lao
động trả cho ngời cung ứng sức lao động căn cứ vào hợp đồng thoả thuận giữa 2 bên
trong việc thuê lao động.
+ Tiền lơng thực tế là số lợng t liệu sinh hoạt và dịch vụ mà ngời lao động có thể
mua đợc bằng tiền lơng danh nghĩa cuả họ.
Vậy tiền lơng thực tế không những phụ thuộc vào tiền lơng danh nghĩa mà còn
phụ thuộc vào giá cả hàng hoá và dịch vụ cần thiết mà họ muốn mua. Mối quan hệ giữa
tiền lơng danh nghĩa và tiền lơng thực tế đợc thể hiện bằng công thức sau:
ITLTT
=
ITLDN : Chỉ số tiền lơng danh nghĩa
ITLTT : Chỉ số tiền lơng thực tế
Igiá cả : Chỉ số giá cả hàng hoá - dịch vụ
* Tiền lơng tối thiểu (hay mức lơng tối thiểu): là mức lơng để trả cho ngời lao
động làm việc giản đơn nhất (không qua đào tạo) với điều kiện lao động và môi trờng
lao động bình thờng.2
Mức lơng tối thiểu đợc xem là "Cái ngỡng" cuối cùng, để từ đó xây dựng các
mức lơng khác, tạo thành hệ thống tiền lơng của một ngành nào đó, hoặc một hệ thống
tiền lơng chung thống nhất của một nớc. Mức lơng tối thiểu này đợc luật hoá, nhằm
hạn chế sự giãn cách quá lớn giữa tiền lơng danh nghĩa và tiền lơng thực tế, đây là hình
thức can thiệp của Chính phủ vào chính sách tiền lơng, trong điều kiện thị trờng lao
động luôn có số cung tiềm tàng hơn số cầu lao động.
Các văn bản quy định chế độ tiền lơng mới, tập 4 - Bộ LĐTBXH: Điều 8/Nghị định 197/CP ngày 31/12/1994 về
việc thi hành bộ luật lao động, tr 6.
2

6


1.3. Vai trò chức năng của tiền lơng
Để phù hợp với khái niệm mới về bản chất của tiền lơng trong nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam có một yêu cầu mới là phải làm cho tiền lơng thực hiện đầy đủ các
chức năng của nó. Tất cả có 4 chức năng chủ yếu.
+ Chức năng thớc đo giá trị (sức lao động): Đây là một chức năng cơ bản, nó
phù hợp với quy luật giá trị. Vì tiền lơng phản ánh giá trị sức lao động hao phí, nó là
giá cả sức lao động nên theo quy luật giá trị nó phải đảm bảo đúng quy luật giá trị.
+ Chức năng tái sản xuất sức lao động: nhằm duy trì năng lực làm việc
lâudài, có hiệu quả trên cơ sở tiền lơng bảo đảm bù đắp đợc sức lao động đã hao phí
cho ngời lao động.
+ Chức năng kích thích: bảo đảm khi ngời lao động làm việc có hiệu quả, năng
suất cao thì về mặt nguyên tắc tiền lơng phải đợc nâng cao và ngợc lại. Để thuận tiện
đợc chức năng này thì đòi hỏi phải thực hiện tốt 2 chức năng đầu.
+ Chức năng tích luỹ: Đảm bảo là tiền lơng của ngời lao động không những
duy trì cuộc sống hàng ngày trong thời gian làm việc, mà còn để dự phòng cho cuộc
sống lâu dài. Khi họ hết khả năng lao động hoặc gặp bất trắc, rủi ro.
Trên đây là một số vấn đề cơ sở lý luận và bản chất kinh tế của tiền lơng, ngoài
bản chất kinh tế, tiền lơng còn mang bản chất xã hội, vì nó gắn liền với ngời lao động
và cuộc sống của họ. Sức lao động con ngời không giống nh các loại hàng hoá khác mà
nó là một loại hàng hoá đặc biệt, nó là tổng thể các mối quan hệ xã hội. Do đó khi nghiên cứu,
tính toán tiền lơng không chỉ tính về mặt thực tế, mà còn phải đề cập và tính toán đầy đủ cả về
mặt xã hội của tiền lơng.
2. Khái niệm và bản chất của tiền thởng
2.1. Khái niệm tiền thởng
Tiền thởng thực chất là khoản tiền bổ sung cho tiền lơng nhằm quán triệt hơn
nguyên tắc phân phối theo lao động và nhằm kích thích ngời lao động trong việc nâng
cao năng suất, cải tiến nâng cao chất lợng sản phẩm và tiết kiệm nguyên vật liệu trong
quá trình sản xuất.
Tiền thởng là một trong những biện pháp khuyến khích vật chất đối với ngời lao
động trong quá trình làm việc. Qua đó nâng cao năng suất lao động, chất lợng sản
phẩm và rút ngắn thời gian làm việc.
2.2. Nội dung cơ bản của tổ chức tiền thởng
Nội dung của việc tổ chức tiền thởng bao gồm:
*Chỉ tiêu thởng: là một trong những yếu tố quan trọng nhất của mỗi hình thức
tiền thởng. Yêu cầu của chỉ tiêu thởng là phải rõ ràng, chính xác, cụ thể chỉ tiêu thởng;
bao gồm cả nhóm chỉ tiêu về số lợng và chỉ tiêu về chất lợng gắn với thành tích của ngời lao động và đòi hỏi trong mỗi thời kỳ tổ chức tiền thởng phải xác định đợc một hay
một số chỉ tiêu thởng chủ yếu để ngời lao động có mục tiêu phấn đấu.
* Điều kiện thởng: Là những cái đa ra để xác định những tiền ề, chuẩn mực để
thực hiện một hình thức tiền thởng nào đó, đồng thời các điều kiện này còn đợc dùng
để kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu thởng.

7


* Nguồn tiền thởng: Đó là những nguồn tiền có thể đợc dùng toàn bộ (hay
dùng một phần) để trả tiền thởng cho ngời lao động. Trong các doanh nghiệp thì nguồn
tiền thởng có thể gồm nhiều nguồn khác nhau nh: từ lợi nhuận, từ tiền quĩ lơng từ kỳ
trớc...
* Mức tiền thởng: Là số tiền thởng mà lao động nhận đợc khi họ đạt đợc các chỉ
tiêu và điều kiện thởng. Mức tiền lơng là cái trực tiếp khuyến khích ngời lao động. Tuy
nhiên, mức tiền thởng đợc xác định cao hay thấp tuỳ thuộc vào nguồn tiền thởng và yêu cầu
khuyến khích của từng loại công việc.
2.3. ý nghĩa của tiền thởng
Chúng ta biết rằng tiền thởng là phần tiền mà ngời sử dụng lao động trả cho ngời lao động khi họ hoàn thành một công việc hay họ có các sáng kiến làm tăng năng
suất lao động, chất lợng sản phẩm... Bên cạnh số tiền mà ngời lao động nhận đợc đó về
mặt vật chất nó còn có ý nghĩa cả về mặt tinh thần, vì họ cảm thấy công việc của mình
đợc ngời khác công nhận và đánh giá. Điều này còn thúc đẩy ngời lao động tích cực hơn
trong công việc mà không phải chỉ vì tiền mà còn là địa vị, niềm đam mê công việc hay sự
thoả mãn về công việc mình làm. Đồng thời tiền thởng còn là công cụ để quản lý tốt hơn
tiền lơng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình mà vẫn khuyến khích đợc ngời lao
động.
3. Động cơ lao động và vai trò kích thích lao động của tiền lơng - tiền thởng.
3.1. Động cơ lao động
3.1.1. Vai trò của con ng ời trong quá trình lao động sản xuất: Khi phân tích quá
trình sản xuất của cải vật chất, C.Mác đã nêu ra 3 yếu tố của lao động, đó là lao động
của con ngời, đối tợng lao động và công cụ lao động. Thiếu 1 trong 3 yếu tố đó, quá
trình sản xuất sẽ không thể diễn ra. Trong đó, nếu xét về mức độ quan trọng, thì lao
động của con ngời là yếu tố đóng vài trò quyết định nhất, hai yếu tố sau (chính là t liệu
sản xuất) là quan trọng, nhng nếu không có sự kết hợp và sự tác động của sức lao động
con ngời thì t liệu sản xuất sẽ không thể phát huy tác dụng. Vì vậy, việc không đánh
giá đúng vai trò quyết định của con ngời trong lao động sản xuất sẽ dẫn đến hiệu quả
tiêu cực và ngợc lại. Trong lịch sử phát triển xã hội, đã có nhiều cách nhìn nhận khác
nhau về vai trò của con ngời. Tơng ứng với mỗi quan niệm, xây dựng sẽ có cách ứng xử
và chính sách quản lý riêng, và đã đem lại những kết quả khác nhau khi sử dụng ngời
lao động.
Ngày nay, các nớc t bản phát triển đã biết khai thác triệt để tiềm năng của yếu tố
con ngời trong hoạt động sản xuất. Các nhà t bản sở dĩ quan tâm đến ngời lao động, có
chính sách tạo điều kiện thuận lợi để ngời lao động làm việc có năng suất, chất lợng và
hiệu quả cao vì trớc hết việc làm đó đem lại lợi nhuận lớn cho nhà t bản. Mặt khác nói
đến vai trò của con ngời, còn phải nói đến tính sáng tạo của họ trong quá trình lao
động. C.Mác chỉ ra rằng xã hội càng phát triển, thì khả năng t duy sáng tạo của con ngời càng phát triển. Ngày nay ngời ta gọi tính sáng tạo đó là "chất xám". Trong điều
kiện khoa học - công nghệ phát triển nh vũ bão hiện nay và đang trở thành lực lợng sản

8


xuất trực tiếp, thì xã hội nào, nớc nào càng thu hút và sử dụng tốt lao động sáng tạo,
chất xám, càng thúc đẩy kinh tế phát triển...
3.1.2. Khái niệm và bản chất của động cơ lao động:
+ Khái niệm động cơ lao động
Động cơ lao động là sự biểu thị thái độ chủ quan của con ngời với lao động, nó
phản ánh mục tiêu đặt ra một cách có ý thức, nó xác định và giải thích cho hành vi xã
hội của mỗi con ngời.
+ Bản chất của động cơ lao động
Từ nghiên cứu vai trò của con ngời trong quá trình lao động sản xuất ở trên ta
thấy rằng, muốn phát huy vai trò và tính sáng tạo của ngời lao động chúng ta phải đi
tìm hiểu động cơ hoạt động cũng nh nhu cầu và lợi ích kinh tế của họ. Để có các biện
pháp, chính sách đáp ứng tốt những nhu cầu và lợi ích đó. Do đó ở đâu, vấn đề đặt ra
là: Tại sao con ngời lao động? Mục đích lao động của họ là gì? vì sao cùng một con
ngời nhng ở các tổ chức này họ làm việc tốt, làm việc hết mình còn ở tổ chức khác lại
không muốn làm việc, làm việc với năng suất thấp và không có hiệu quả? vấn đề đó là
ở chỗ: Ngoài môi trờng làm việc, còn có động cơ thúc đẩy họ làm việc, do đó muốn
phát lực cho động cơ con ngời hoạt động, trớc hết phải xác định đúng đắn mục đích
hoạt động của con ngời và tạo điều kiện môi trờng thuận lợi để họ có thể làm việc.
Động cơ hoạt động của con ngời, theo C.Mác, đó là phần thỏa mãn nhu cầu cho
bản thân và gia đình ngời lao động hay chính nhu cầu của con ngời tạo ra động cơ thúc
đẩy họ lao động.
Nhu cầu đợc xem là những đòi hỏi của con ngời cần đợc đáp ứng, nó xuất phát
từ những nguyên nhân khác nhau, nhu cầu của con ngời rất đa dạng, mỗi con ngời có
thể có những nhu cầu riêng và luôn luôn biến đổi cùng với sự phát triển của ch, nên
việc nắm bắt đợc nhu cầu, định hớng đúng nhu cầu kịp thời thoả mãn các nhu cầu đa
dạng là một vấn đề quan trọng, trong đó tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội của ... từng
thời kỳ mà có thể đáp ứng nhu cầu của con ngời ở mức độ khác nhau.
Trong điều kiện kinh tế thị trờng thì nhu cầu đợc thể hiện tập trung ở lợi ích
kinh tế - động lực trực tiếp thúc đẩy ngời lao động làm việc và làm có năng suất - chất
lợng, hiệu quả.
Lợi ích kinh tế theo C.Mác, đó là một phạm trù kinh tế, biểu hiện quan hệ sản
xuất, đợc phản ánh trong ý thức, thành động cơ hoạt động nhằm thoả mãn một cách tốt
nhất nhu cầu vật chất của các chủ thể tham gia lao động. Lợi ích kinh tế xuất hiện, phát
triển phụ thuộc vào những điều kiện khách quan của đời sống con ngời và hình thành
trên cơ sở những nhu cầu của họ. Về mặt khách quan, lợi ích kinh tế là hình thức biểu
hiện quan hệ sản xuất, là cơ chế tác động chung của tất cả các quy luật kinh tế do quan
hệ sản xuất trực tiếp sinh ra. Về mặt chủ quan, nó trở thành động cơ hành động của con
ngời. Các mặt chủ quan và khách quan này gắn bó chặt chẽ với nhau, qui định và tác động
lẫn nhau. vì vậy lợi ích kinh tế trở thành một trong những động lực cơ bản, phổ biến của sự
phát triển không ngừng của sản xuất và đời sống xã hội.

9


Còn động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của con ngời nhằm tăng cờng mọi nỗ lực để đạt đợc mục đích lao động hay một kết quả lao động cụ thể. (hay
nói cách khác đông lực lao động là bao gồm tất cả các lý do làm cho con ng ời làm
việc).
Nh vậy, lợi ích là mức độ thoả mãn của nhu cầu của con ngời trong một điều
kiện cụ thể nhất định, giữa chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, không có nhu cầu thì
không có lợi ích hay nói cách khác là lợi ích là tổ chức biểu hiện của nhu cầu, trong đó
lợi ích tạo ra động lực cho ngời lao động, mức độ thoả mãn các nhu cầu càng cao thì
động lực lao động tạo ra càng lớn, do đó lợi ích tạo ra động lực thúc đẩy con ngời hăng
say làm việc hơn, có hiệu quả hơn.
Tóm lại: Nhu cầu của con ngời tạo ra động lực thúc đẩy họ tham gia lao động,
song chính lợi ích trong đó có lợi ích kinh tế của họ mới là động lực trực tiếp thúc đẩy
họ làm việc với hiệu quả cao.
3.2. Vai trò kích thích lao động của tiền lơng - tiền thởng và các phơng hớng
kích thích lao động
3.2.1. Kích thích lao động và các phơng hớng kích thích lao động
+ Kích thích lao động là gì?
Là quá trình tạo ra động lực lao động thúc đẩy sự quan tâm đến việc thực hiện
hoạt động lao động.
+ Tại sao phải kích thích lao động
Từ việc nghiên cứu bản chất của động cơ lao động và xuất phát từ khái niệm
kích thích lao động cho ta thấy: Lợi ích trong đó có lợi ích kinh tế tạo động lực lao
động, song thực tế động lực lao động đợc tạo ra ở mức độ nào, bằng cách nào, điều đó
lại phụ thuộc vào cơ chế cụ thể để sử dụng nó nh một nhân tố cho sự phát triển xã hội,
hay nói cách khác muốn lợi ích tạo ra động lực lao động ta phải tác động vào nó, kích
thích nó, làm gia tăng hoạt động có hiệu quả của lao động trong công việc, trong
chuyên môn hay những chức năng cụ thể... Mặt khác cần chú ý kích thích với t cách là
một động lực phát triển sản xuất và khả năng của con ngời, cần phải đợc xem xét chỉ
trong mối quan hệ chặt chẽ với ngời lao động, vì chính ngời lao động là lĩnh vực thể
hiện sự kích thích vật chất.
+ Các phơng hớng kích thích:
Nh vậy, kích thích lao động chính là kích thích lợi ích ngời lao động. Để kích
thích nó ngời ta dùng nhiều phơng pháp khác nhau, trong đó đặc biệt là kích thích kinh
tế và tâm lý xã hội. Hai loại kích thích này gắn chặtvới lợi ích vật chất và tinh thần của
ngời lao động. Nó đợc coi là một công cụ, một phơng tiện, một cơ chế để có đợc những
lợi ích của ngời lao động trong thực tiễn. Do đó lợi ích có hai loại là lợi ích vật chất và
lợi ích tinh thần nên kích thích lao động có hai phơng hớng kích thích chủ yếu là: kích
thích vật chất (kinh tế) và kích thích tinh thần (tâm lý xã hội).
Kích tích vật chất là sự biểu hiện các nhu cầu nên các yếu tố vật chất biểu hiện
ra là những lợi ích đã đợc nhận thức, nó bao gồm: tiền lơng, tiền thởng, lợi nhuận, giá

10


cả... Đó là những cái thoả mãn trực tiếp các nhu cầu vật chất của con ng ời. Trong đó
tiền lơng, tiền thởng là những hình thức cơ bản để kích thích vật chất.
Kích thích tinh thần: ngoài nhu cầu vật chất, con ngời còn có nhu cầu tinh thần.
Những biện pháp thoả mãn nhu cầu tinh thần của ngời lao động chính là kích thích họ
hăng say lao động và lao động có năng suất cao. Kích thích về mặt tinh thần gồm các
mặt sau: tạo việc làm ổn định cho ngời lao động, động viên, quan tâm khen thởng kịp
thời ngời lao động của tổ chức...
Giữa kích thích vật chất và kích thích tinh thần có mối quan hệ chặt chẽ và tơng
hỗ lẫn nhau.
3.2.2. Vai trò kích thích lao động của tiền l ơng và nguyên tắc kích thích của tiền
lơng
Tiền lơng là một hình thức cơ bản nhằm thoả mãn nhu cầu và kích thích vật chất
đối với ngời lao động. Tiền lơng có vai trò rất lớn không chỉ đối với ngời lao động mà
còn cả đối với nền kinh tế đất nớc. Vì tiền lơng gắn liền với ngời lao động và là nguồn
sống chủ yếu của họ và gia đình họ. Tiền lơng ngời lao động nhận đợc thoả đáng sẽ là
động lực kích thích ngời lao động nâng cao năng lực làm việc của mình, phát huy
những khả năng vốn có để tạo ra năng suất lao động cao, mặt khác khi năng suất lao
động của ngời lao động tăng lên thì lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng và do đó nguồn
phúc lợi cuả doanh nghiệp mà ngời lao động nhận đợc cũng sẽ tăng lên, đó là phần bổ
sung thêm cho tiền lơng làm tăng thêm thu nhập và lợi ích ngời lao động. Hơn nữa khi
lợi ích của ngời lao động đợc bảo đảm bằng các mức lơng thoả đáng, nó sẽ tạo ra sự
gắn kết giữa ngời lao động với mục tiêu và lợi ích của tổ chức, xoá đi sự ngăn cách
giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động, làm cho ngời lao động có trách nhiệm tự
giác hơn với các hoạt động của doanh nghiệp và tổ chức, ngợc lại nếu mức lơng ngời
lao động nhận đợc không thoả đáng, không chú ý đúng mức đến lợi ích của ngời lao
động thì nguồn nhân công có thể sẽ bị kiệt quệ về thể lực, giảm sút về chất lợng và hạn
chế khả năng làm việc của ngời lao động, biểu hiện rõ nhất là tình trạng cắt xén thời
gian làm việc, lãng phí nguyên vật liệu và thiết bị, làm dối, làm ẩu và tạo ra sự mẫu
thuân gay gắt giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động, một biểu hiện nữa là doanh
nghiệp tổ chức sẽ mất đi những ngời lao động có chuyên môn, tay nghề cao sang các
doanh nghiệp tổ chức khác có mức lơng hấp dẫn hơn... Do đó có một nhà quản lý đã
nhận xét: nếu tất cả những gì anh đa ra chỉ là hột lạc, thì chẳng có gì ngạc nhiên, rằng
kết cục anh chỉ có thể đánh bạn với lũ khỉ.
Với vai trò và ý nghĩa đó của tiền lơng, để tiền lơng thực sự đóng vai trò kích
thích ngời lao động thì nguyên tắc kích thích của tiền lơng phải đảm bảo các nguyên
tắc kích thích sau:
+ Tiền lơng của ngời lao động phải đảm bảo chiếm 70 - 80% trong tổng thu
nhập của ngời lao động.
+ Tiền lơng phải đảm bảo sao cho ngời lao động có thể tái sản xuất sức lao
động, bao gồm tái sản xuất giản đơn sức lao động và đảm bảo trách nhiệm xã hội của
chính họ.

11


+ Tiền lơng chỉ thực sự khuyến khích ngời lao động khi nó gắn trực tiếp với số lợng, chất lợng lao động của họ đã cống hiến, do vậy tất cả các công việc phải có tiêu
chuẩn đánh giá rõ ràng, chính xác làm cơ sở để trả lơng.
3.2.3. Vai trò kích thích của tiền thởng và nguyên tắc kích thích của tiền thởng
Ngoài tiền lơng để động viên ngời lao động các doanh nghiệp, tổ chức còn áp
dụng các hình thức tiền thởng để khuyến khích ngời lao động. Đây cũng là một trong
những biện pháp kích thích vật chất có hiệu quả đối voí ngời lao động. Cùng với tiền lơng, tiền thởng góp phần thoả mãn các nhu cầu vật chất cho ngời lao động và ở một
chừng mực nào đó tiền thởng còn có tác dụng kích thích ngời lao động về mặt tinh
thần, vì họ cảm thấy công việc của họ đợc ngời khác công nhận và đánh giá. Điều này
càng thúc đẩy ngời lao động tích cực hơn nữa trong công việc mà không phải chỉ vì
tiền mà là địa vị niềm đam mê trong công việc hay sự thoả mãn về công việc mình làm.
Đồng thời tiền thởng là công cụ giúp doanh nghiệp, tổ chức quản lý tiền lơng đợc tốt
hơn mà vẫn kích thích ngời lao động.
Để tiền thởng đóng vai trò kích thích ngời lao động thì nguyên tắc kích thích
của tiền thởng phải đảm bảo những nguyên tắc sau:
+ Tiền thởng chỉ có hiệu quả nếu nằm trong giới hạn 15 - 30% trong tổng thu
nhập của ngời lao động.
+ Mức tiền thởng phải đảm bảo một mức có ý nghĩa nhất định nào đó trong
cuộc sống của ngời lao động, nghĩa là ngời lao động nhận đợc tiền thởng thì họ nghĩ là
sẽ đợc thoả mãn yếu tố này hay yêú tố khác trong cuộc sống hàng ngày mà học mong
mỏi.
+ Tiền thởng phải tác động vào đúng thành tích của ngời lao động và làm cho
ngời lao động hiểu rằng: làm tốt sẽ có nguồn kích thích và ngời ta hy vọng vào cái đó.
+ Thời gian thởng không nên quá dài và cũng không nên quá ngắn sẽ gây cho ngời
lao động cảm giác nhàm chán và vai trò kích thích tiền thởng sẽ mất đi.
III. Các hình thức tiền lơng - tiền thởng

1. Các hình thức tiền lơng
1.1. Các hình thức tiền lơng theo thời gian
Hình thức trả lơng theo thời gian là hình thức trả lơng cho ngời lao động căn cứ
vào trình độ chuyên môn, kỹ thuật và thời gian làm việc thực tế của ngời lao động
(theo năm, tháng, ngày, giờ).
Hình thức tiền lơng trả theo thời gian có hai chế độ là:
1.1.1. Chế độ trả lơng theo thời gian giản đơn: Là chế độ trả lơng mà tiền lơng
nhận đợc của mỗi ngời lao động do mức lơng cấp bậc cao hay thấp và thời gian làm
việc thực tế nhiều hay ít quyết định.
1.1.2. Chế độ trả lơng theo thời gian có thởng: Là sự kết hợp giữa chế độ trả lơng theo thời gian giản đơn với tiền thởng, khi ngời lao động đạt đợc những chỉ tiêu về
số lợng hay chất lợng quy định. Tiền lơng của ngời lao động nhận đợc tính bằng mức lơng thời gian giản đơn cộng với tiền thởng.

12


1.2. Hình thức tiền lơng theo sản phẩm
Là hình thức trả lơng cho ngời lao động căn cứ trực tiếp vào số lợng và chất lợng
sản phẩm hay dịch vụ mà họ đã hoàn thành.
Hình thức trả lơng theo sản phẩm có các chế độ trả lơng nh sau:
1.2.1. Chế độ trả lơng sản phẩm trực tiếp cá nhân: là chế độ trả lơng cho ngời
lao động trực tiếp làm ra sản phẩm theo sự tỷ lệ thuận với số lợng sản phẩm hoàn thành
theo đúng chất lợng yêu cầu.
1.2.2. Chế độ trả lơng theo sản phẩm tập thể: là chế độ trả lơng đợc áp dụng để
trả lơng cho một nhóm ngời lao động khi họ hoàn thành một khối lợng sản phẩm nhất
định theo đúng chất lợng yêu cầu. Chế độ trả lơng này áp dụng cho những công việc
đòi hỏi nhiều ngời cùng tham gia thực hiện mà công việc của mỗi cá nhân có liên quan
đến nhau.
1.2.3. Chế độ trả lơng theo sản phẩm gián tiếp: là chế độ trả lơng đợc áp dụng
để trả lơng cho những ngời lao động làm những công việc phục vụ hay phù trợ cho hoạt
động của công nhân chính.
1.2.4. Chế độ trả lơng khoán sản phẩm: là chế độ lơng sản phẩm mà khi giao
công việc đã định rõ số tiền để hoàn thành một khối lợng công việc trong một thời gian
nhất định.
1.2.5. Chế độ trả lơng sản phẩm có thởng: là sự kết hợp trả lơng theo sản phẩm (đã
nghiên cứu ở trên) và kết hợp với tiền thởng khi ngời lao động đạt đợc những chỉ tiêu về số
lợng, chất lợng hay thời gian thởng theo qui định.
1.2.6. Chế độ trả lơng theo sản phẩm luỹ tiến: là chế độ trả lơng theo hai đơn giá
khác nhau, đơn giá bình thờng cho số lợng sản phẩm trong định mức và đơn giá cao
hơn (luỹ tiến) cho những số lợng sản phẩm vợt mức để kích thích sản xuất càng nhiều
sản phẩm càng tốt.
2. Các hình thức tiền thởng
Tiền thởng là loại kích tích vật chất có các tác dụng rất tích cực đối với ngời lao
động trong việc phấn đấu thực hiện công việc tốt hơn. Tiền thởng có nhiều loại, tuỳ vào
điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp, tổ chức có thể áp dụng một hay một số hình
thức tiền thởng. Trong thực tế có một số hình thức tiền thởng: Thởng hoàn thành vợt
mức kế hoạch, thởng phát huy sáng kiến; thởng nâng cao năng suất chất lợng sản
phẩm; thởng tiết kiệm vật t...
IV. Vai trò kích thích lao động của các hình thức TIềN LơNG
tiền thởng

1. Vai trò kích thích lao động của các hình thức tiền lơng
Nh chúng ta đã nghiên cứu ở phần lý luận về tiền lơng ở trên ta biết rằng tiền lơng là một trong những hình thức kích thích lợi ích vật chất với ngời lao động. Vì vậy
để sử dụng đòn bẩy kinh tế của tiền lơng nhằm đảm bảo sản xuất phát triển, duy trì một
đội ngũ có trình độ kỹ thuật nghiệp vụ cao, với ý thức kỷ luật vững, đòi hỏi công tác tổ
chức tiền lơng trong doanh nghiệp, tổ chức phải đặc biệt coi trọng. Tổ chức tiền lơng
trong doanh nghiệp đợc công bằng và hợp lý sẽ tạo ra hoà khí cởi mở giữa những ngời

13


lao động, hình thành khối đại đoàn kết thống nhất, trên dới một lòng, một chính sách
nhất trí vì sự phát triển của doanh nghiệp, tổ chức và vì lợi ích của bản thân ngời lao
động.
Chính vì vậy mà ngời lao động có thể làm việc tích cực bằng cả sự nhiệt tình
hăng say và họ có quyền tự hào về mức lơng họ đạt đợc, ngợc lại khi công tác tổ chức
tiền lơng trong doanh nghiệp tổ chức thiếu tính công bằng, hợp lý thì không những sẽ
đẻ ra mâu thuẫn nội bộ thậm chí khá gay gắt giữa những ngời lao động với nhau và
giữa những ngời lao động với ngời sử dụng lao động mà có lúc, có nơi còn có thể gây
nên sự phá hoại ngầm dẫn đến sự lãng phí to lớn trong sản xuất.
Do đó công tác tiền lơng trong doanh nghiệp, tổ chức đóng vai trò hết sức quan
trọng, trong đó việc xây dựng, tổ chức và thực hiện các hình thức tiền lơng làsự thể
hiện cụ thể, trực tiếp của công tác tổ chức tiền lơng trong doanh nghiệp . Tổ chức, thực
hiện tốt các hình thức tiền lơng này là việc thực hiện trực tiếp vai trò kích thích lao
động của tiền lơng.
Hiện nay có 2 hình thức tiền lơng chủ yếu áp dụng trong các doanh nghiệp, tổ
chức là: Hình thức tiền lơng theo sản phẩm và hình thức tiền lơng theo thời gian. Sau
đây ta sẽ nghiên cứu cụ thể vai trò kích thích lao động của các hình thức tiền lơng này:
1.1. Vai trò kích thích lao động của hình thức tiền lơng theo sản phẩm
* áp dụng hình thức tiền lơng theo sản phẩm là một hình thức kích thích vật
chất có từ lâu đời và đợc sử dụng rộng rãi và phổ biến hiện nay và có hiệu quả cao. Trả
lơng theo sản phẩm là hình thức tiền lơng căn cứ vào số lợng và chất lợng sản phẩm
sản xuất ra của mỗi ngời và đơn giá sản phẩm để trả lơng cho cán bộ công nhân viên
làm và sản xuất ở đó.
Hình thức tiền lơng trả theo sản phẩm là hình thức căn bản để thực hiện quy luật
phân phối theo lao động. Để quán triệt để đợc hơn nữa nguyên nhân, nguyên tắc phân
phối theo số lợng và chất lợnglao động, nghĩa là căn cứ trực tiếp vào kết quả lao động
của mỗi ngời sản xuất. Ai làm nhiều, chất lợng sản phẩm tốt, đợc hởng nhiều lơng, ai
làm ít chất lợng sản phẩm xấu thì hởng ít lơng. Những ngời làm việc nh nhau thì đợc hởng lơng nh nhau. Mặt khác chế độ trả lơng theo sản phẩm còn phải căn cứ vào số lợng
và chất lợng lao động kết tinh trong từng sản phẩm của mỗi công nhân làm ra để trả lơng cho họ, làm cho quan hệ giữa tiền lơng và năng suất lao động, giữa lao động và hởng thụ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Thực hiện các hình thức tiền lơng theo sản phẩm sẽ có tác dụng kích thích rất
lớn với ngời lao động, cụ thể:
Thứ nhất: Việc thực hiện các chính sách tiền lơng theo sản phẩm sẽ làm cho
ngời lao động vì lợi ích vật chất mà quan tâm đến việc nâng cao năng suất lao động, hạ
giá sản phẩm, phải đảm đơng hoàn thành toàn diện và vợt mức kế hoạch cho doanh
nghiệp hình thức đặt ra. Bởi vì hình thức tiền lơng theo sản phẩm căn cứ trực tiếp vào
sản lợng và chất lợng sản phẩm trong mỗi ngời sản xuất ra để tính lơng nên phải có tác
dụng khuyến khích ngời lao động tích cực sản xuất, tận dụng thời gian làm việc để
tăng năng suất lao động. Hơn nữa chỉ có sản phẩm tốt mới đợc tính để trả lơng cao nên

14


ngời lao động cần phải cố gắng sản xuất bảo đảm chất lợng sản phẩm tốt. Do vậy cùng
với năng suất lao động tăng lên chất lợng sản phẩm bảo đảm thì giá thành sản phẩm sẽ
hạ xuống tạo cho sản phẩm trong doanh nghiệp có thể cạnh tranh đợc trên thị trờng, tạo
điều kiện tăng doanh thu cho doanh nghiệp và đó là cơ sở để tăng lơng cho ngời lao
động.
Thứ hai: Thực hiện hình thức tiền lơng cho sản phẩm sẽ khuyến khích ngời lao
động phải quan tâm đến việc nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ, khoa
học kỹ thuật hợp lý hoá sản xuất và lao động tích cực, sáng tạo và luôn áp dụng những
phơng pháp sản xuất tiên tiến. Bởi vì khi thực hiện trả lơng theo sản phẩm, ngời lao
động phải phấn đầu để thờng xuyên đạt đợc và vợt mức các định mức lao động đề ra,
do đó để thực hiện đợc, họ không thể đơn thuần dựa vào sự lao động hết sức mình, tận
dụng thời gian làm việc mà phải luôn có gắng học tập để không ngừng nâng cao trình
độ, văn hoá khoa học kỹ thuật thì mới có thể dễ dàng tiếp thu, nắm vứng và áp dụng đợc những phơng pháp trên vào sản xuất. Hơn nữa họ còn phải liên kết luôn tìm tòi suy
nghĩ để phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất. Chỉ có nh thế thì sản
phẩm của họ làm ra sẽ tăng lên và sức lao động sẽ giảm xuống mà vẫn đảm bảo chất lợng sản phẩm.
Thứ ba: Thực hiện hình thức tiền lơng theo sản phẩm còn góp phần đẩy mạnh,
hoàn thiện việc cải tiến, tổ chức , quá trình sản xuất, thúc đẩy việc thực hiện tốt chế độ
hạch toán và quản lý kinh tế trong doanh nghiệp, tổ chức. Bởi vì, khi áp dụng các chế
độ tiền lơng theo sản phẩm đòi hỏi phải có sự tổ chức chuẩn bị sản xuất ở điều kiện
nhất định; phải củng cố kiện toàn tổ chức sản xuất, kỹ thuật sản xuất; tài chính, lao
động... để đảm bảo cho quá trình sản xuất đợc cân đối, hợp lý. Mặt khác trong quá
trình thực hiện thì do năng xuất lao động trong ngời lao động tăng lên thì nhiều vấn đề
mới đặt ra cần giải quyết nh: Cung cấp nguyên vật liệu đúng quy cách chất lợng, sản lợng kịp thời gian; Công tác nghiệm thu sản phẩm phải chính xác theo sản lợng - chất lợng sản phẩm. Điều chỉnh lại lao động trong dây truyền sản xuất, thống kê thanh toán
tiền lơng nhanh chóng, chính xác, đúng kỳ hạn.... Tất cả những vấn đề trên đều ảnh hởng đến trực tiếp đến mức tiền lơng trong công nhân nên họ rất quan tâm phát hiện và
yêu cầu giải quyết. Do đó bất cứ có một hiện tợng nào vi phạm đến yêu cầu kỹ thuật và
chế độ phục vụ, công tác,... thì ngời lao động không những tự tìm cách khắc phục kịp
thời mới cần có ý thức tích cực để đề phòng những khiếm khuyết có thể xẩy ra. Đồng
thời nâng cao tinh thần đấu tranh chống lại những hiện tợng tiêu cực, làm việc thiếu
trách nhiệm trong cán bộ quản lý và giám sát công nhân sản xuất.
Thứ t: Thực hiện hình thức tiền lơng theo sản phẩm sẽ tạo điều kiện củng cố và
phát triển mạnh mẽ phong trào thi đua sản xuất giữa những ngời lao động, xây dựng
tác phong lao động tiên tiến, góp phần bồi dỡng, nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm
tình thần hợp tác và phối hợp có hiệu quả giữa những ngời lao động, từ đó xây dựng đợc bầu không khí giúp đỡ, tơng thân tơng ái giúp đỡ lẫn nhau giữa những ngời lao động
trong tập thể vì lợi ích chung giữa doanh nghiệp, tổ chức và lợi ích riêng trong từng ngời lao động. Do đó việc áp dụng tiền lơng theo sản phẩm là phơng tiện tốt nhất để thực

15


hiện yêu cầu đó, tuy nhiên bên cạnh việc áp dụng đúng đắn chế độ tiền lơng tính theo
sản phẩm, đồng thời phải kết hợp vấn đề động viên tinh thần thi đua liên tục và mạnh
mẽ. Sẽ kết hợp đợc hai mặt khuyến khích bằng lợi ích vật chất và động viên về tinh
thần để thúc đẩy và phát triển sản xuất.
Điều kiện và các chế độ trả lơng theo sản phẩm.
+ Để hình thức trả lơng theo sản phẩm thực sự phát huy tác dụng, vai trò kích
thích lao động của nó, khi áp dụng hình thức tiền lơng này các doanh nghiệp tổ chức
cần phải đảm bảo các điều kiện sau và việc thực hiện đầy đủ và làm tốt các điều kiện
naỳ cũng chính là sự thể hiện vai trò khuyến khích lao động trong hình thức tiền lơng
này đồng thời cũng là tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả áp dụng hình thức tiền lơng này.
- Công tác chuẩn bị sản xuất: bao gồm
+ Chuẩn bị về nhân lực: khi tổ chức trả lơng theo sản phẩm, thì việc chuẩn bị về
nhân lực là vấn đề cần thiết và quan trọng bởi vì trong quá trình sản xuất thì con ngời là
yếu tố qua trọng nhất, con ngời có quán triệt đợc ý nghĩa, tác dụng trong chế độ trả lơng theo sản phẩm thì họ mới đề cao tinh thần trách nhiệm, tích cực và quyết tâm lao
động tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện chế độ lơng sản phẩm.
Do đó phải giải thích, giáo dục, thuyết phục cho ngời lao động hiểu rõ mục đích
ý nghĩa trong chế độ tiền lơng theo sản phẩm và chỉ rõ cho họ thấy đợc mục tiêu phấn
đấu trong họ về sản lợng và năng xuất lao động, chất lợng sản phẩm, chi phí sản xuất
gắn với lợi ích trong doanh nghiệp và ngời lao động. Bên cạnh đó con ngời phải kết
hợp với bồi dỡng, nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ, lao động tiền lơng, cán bộ kỹ thuật,
kiểm tra, chất lợng sản xuất... nhằm thực thiện tốt công tác quản lý việc áp dụng hình
thức tiền lơng này có hiệu quả.
+ Chuẩn bị về kế hoạch sản xuất: Kế hoạch sản xuất cho những ngời lao động
làm theo lơng sản phẩm phải đợc xác định rõ ràng, cụ thể, phải dự báo, tổ chức cung
cấp đầu đủ thờng xuyên nguyên vật liệu, máy móc trang bị và phơng tiện phòng hộ để
ngời lao động có thể sản xuất đợc liên tục, giảm bớt những thời gian tổn thất do phòng
vụ tổ chức và phòng kỹ thuật.
+ Xác định đơn giá lơng sản phẩm: Là trong nhứng yếu tố quan trọng trong việc
áp dụng hình thức tiền lơng theo sản phẩm.
Đơn giá tiền lơng là mức tiền lơng dùng để trả cho ngời lao động khi họ hoàn
thành một đơn vị sản phẩm hay công việc nào đó.
Đơn giá tiền lơng là khái niệm thờng đợc sử dụng trong phơng thức khoán sản
phẩm, trả lơng theo sản phẩm. Nó thờng gắn với kết quả sản xuất - kinh doanh là đơn
vị hiện vật, đo lờng giá đơn vị lao động đã hao phí, để sản xuất một đơn vị sản phẩm
đó. Đơn giá tiền lơng do đó đợc hiểu là phản ánh lợi ích của ngời thực hiện công việc,
vì trong chế độ tiền lơng theo sản phẩm tiền lơng trong ngời lao động phụ thuộc và đơn
giá tiền lơng và khối lợng công việc hoàn thành.
Nh vậy, điều kiện thứ hai để thực hiện tiền lơng theo sản phẩm là cần xác định
đợc đơn giá lơng sản phẩm cho chính xác trên cơ sở xác định cấp bậc công việc và
định mức lao động chính xác.

16


Ta có công thức tính đơn giá lợng sảm phẩm:
ĐGSP =

Lcv
hay ĐGSP = LCV x MTG
Msl

Trong đó:

LCV: là mức lơng cấp bậc công việc.
MSL: là mức sản lợng
MTG: là mức thời gian
+ Xác định cấp bậc công việc: Nh vậy từ công thức tính đơn giá trên cho thấy
muốn có đơn giá hợp lý, chính xác phải xác định đúng đắn cấp bậc công việc. Nếu cấp
bậc công việc đợc đánh giá cao hơn yêu cầu kỹ thuật thì đơn giá sẽ cao hơn và ngợc
lại, do đó nếu doanh nghiệp cha có cấp bậc công việc thì phải xây dựng lại cấp bậc,
công việc nếu đã có rồi thì phải rà soát lại để kịp thời sửa đổi những cấp bậc chức vụ đã
lạc hậu.
+ Định mức lao động: Là một công tác, đó là quá trình dự tính và tổ chức thực
hiện những biện pháp về tổ chức, kỹ thuật để thực hiện các công việc có năng suất lao
động cao, trên cơ sở đó và xác định các định mức tiêu hao để thực hiện công việc đó.
Mức lao động là lợng lao động hao phí đợc quy định để hình thành một đơn vị
sản phẩm hay một khối lợng công việc theo đúng tiêu chuẩn chất lợng quy định và
trong những điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định.
Mức lao động có bốn dạng chủ yếu sau: Mức thời gian, mức sản lợng, mức phục
vụ, mức biên chế (mức định biên).
+ Mức thời gian: là đại lợng thời gian cần thiết đợc quy định để thực hành môt
công việc cho một công nhân hay một nhóm công nhân trong một nghề nào đó có trình
độ thành thạo tơng ứng với mức độ phức tạp trong công việc, phải thực hiện trong
những điều kiện thách thức kỹ thuật nhất định.
+ Mức sản lợng: là số lợng sản phẩm quy định mà một công nhân hay một
nhóm công nhân phải hình thành trong một đơn vị thời gian nhất định phù hợp với
trình độ thành thạo trong họ lơng ứng với mức độ phức tạp trong công việc và trong
những điều kiện thách thức, kỹ thuật nhất định.
Mức lao động là yêu cầu bắt buộc đối với các hình thức trả lơng theo sản phẩm,
lơng khoán trong các xí nghiệp, vì nó xác định số lợng và chất lợng của lao động đã
hao phí, phân biệt đợc kết quả lao động của các thành viên trong doanh nghiệp. Do đó
định mức lao động là thớc đo tiêu chuẩn về tiêu hao lao động, đánh giá kết quả lao
động và từ đó làm cơ sở tính đơn giá tiền lơng cho ngời lao động cho nên nếu các cơ sở
dó không chính xác sẽ tính đơn giá sai và tiền lơng công nhân sẽ tăng hoặc giảm không
hợp lý vì vậy sẽ không khuyến khích ngời lao động tăng năng suất lao động.
Định mức lao động để trả lơng sản phẩm là mức lao động trung bình tiên tiến do đó phải xây dựng định mức lao động từ tình hình kinh tế sản xuất trong doanh
nghiệp đã đợc chấn chỉnh, đồng thời các mức lao động đang áp dụng cũng phải thờng
xuyên đợc kiểm tra lại để kịp thời sửa đổi những mức bất hợp lý không sát với kinh tế
sản xuất.
- Công tác kiểm tra nghiệm thu sản phẩm:

17


Yêu cầu của hình thức tiền lơng sản phẩm là đảm bảo thu nhập từ tiền lơng theo
đúng số lợng và chất lợng sản phẩm đã hoàn thành của bộ phận kiểm tra chất lợng, do
đó cần phải kiểm tra chất lợng theo số lợng sản phẩm để tăng thu nhập, làm ra những
sản phẩm sai, hỏng không đúng quy cách và yêu cầu kỹ thuật đồng thời thực hiện tốt
điều kiện này sẽ đảm bảo việc trả lơng cho ngời lao động đợc chính xác, đúng đắn, kịp
thời.
- Công tác tổ chức đời sống:
Cần phải tổ chức tốt công tác đời sống cho ngời lao động yên tâm, phấn khởi lao
động sản xuất và phục vụ sản xuất. Vấn đề liên quan đến đời sống trong ngời công
nhân trớc hết là vấn đề thu nhập từ tiền lơng - tiền thởng, kế đến là vấn đề an toàn lao
động, các vấn đề sinh hoạt đời sống trong ngời công nhân nh ăn, ở, đi lại... đều phải có
kế hoạch để giải quyết tốt những vấn đề này sẽ tạo điều kiện cho ngời lao động yên
tâm sản xuất đạt năng suất cao nhất, chất lợng tốt.
Đây chính là tính u việt trong hình thức tiền lơng theo sản phẩm làm cho ngời
lao động tin tởng sâu sắc vào đời sống hạnh phúc họ có đợc quan tâm mật thiết với sự
lao động trung thành trong họ với doanh nghiệp
* Cắn cứ vào đơn giá sản phẩm và đối tợng trả lơng, hình thức tiền lơng theo sản
phẩm có nhiều chế độ trả lơng khác nhau. Sau đây ta sẽ nghiên cứu cụ thể vai trò kích
thích lao động của các chế độ tiền lơng đó:
-Chế độ trả lơng sản phẩm trực tiếp cá nhân: Chế độ tiền lơng này đợc trả theo
từng đơn vị sản phẩm hoặc chi tiết sản phẩm và tính theo đơn giá nhất định. Tiền lơng
trong ngời lao động căn cứ vào sản lợng sản phẩm hoặc chi tiết sản phẩm do họ trực
tiếp sản xuất ra để trả lơng. Bất kỳ trờng hợp nào ngời lao động sản xuất hụt mức, đạt
mức hay vợt mức bao nhiêu, cứ mỗi đơn vị sản phẩm làm ra đảm bảo chất lợng đều đợc
trả lơng nhất định gọi là đơn gián sản phẩm. Nh vậy tiền lơng trong ngời lao động sẽ
tăng lên theo số lợng sản phẩm sản xuất ra nếu sản xuất đợc nhiều sản phẩm thì đợc trả
nhiều lơng và ngợc lại sản xuất đợc ít sản phẩm thì đợc trả ít lơng, do đó sẽ kích thích
ngời lao động có ý thức tự giác, năng động, tích cực trong công việc để tăng năng xuất
lao động.
Đơn giá sản phẩm cá nhân là cơ sở của chế độ tiền lơng tính theo sản phẩm trực
tiếp cá nhân. Khi xác định đơn giá sản phẩm ngời ta căn cứ vào những nhân tố: Định
mức lao động và mức lơng cấp bậc công việc. Do đó công thức tính đơn giá sản phẩm
xác định nh sau:
+ Nếu công việc có định mức sản lợng:
ĐGSP =
Trong đó : LCV: Lơng cấp bậc công việc
PC: Là các khoản phụ cấp lơng
MSL: Là mức sản lợng
+ Nếu công việc đợc định mức thời gian: ĐGSP = LCV x MTG
Trong đó: LCV : Là mức lơng cấp bậc công việc
MTG: Là mức thời gian qui định hoàn thành một đơn vị sản phẩm

18


Khi tính đơn giá sản phẩm thì ta phải lấy mức lơng cấp bậc công việc để tính
chứ không lấy mức lơng cấp bậc công nhân đợc giao làm công việc đó, vì có những trờng hợp lơng cấp bậc công nhân cao hoặc thấp hơn cấp bậc công việc đợc giao làm cho
đơn giá sản phẩm thay đổi, sẽ phá vỡ tính thống nhất của chế độ tiền lơng theo sản
phẩm và tính hợp lý của quy luật phân phối theo lao động, mặt khác cấp bậc công nhân
chỉ là cơ sở đánh giá khả năng, năng lực trong ngời lao động, còn công việc trực tiếp
ngời lao động làm mới quyết định kết quả kinh tế làm ra.
Ngoài ra bên cạnh tiền lơng cơ bản (L cv ) , trong đơn giá tiền lơng cần đợc tính
các khoản phụ cấp có tính chất thờng xuyên theo chế độ.
Khi đó mức tiền lơng của công nhân làm việc theo chế độ lơng sản phẩm trực
tiếp cá nhân đợc xác định trong kỳ là: LTT = ĐGSP x SLTT
Trong đó: LTT: Là mức lơng thực tế ngời lao động nhận đợc trong kỳ
SLTT : Mức sản lợng thực tế sản xuất trong kỳ
Nh vậy mức lơng thực tế của ngời công nhân làm việc theo chế độ tiền lơng sản
phẩm trực tiếp cá nhân phụ thuộc vào đơn giá sản phẩm và mức sản lợng thực tế họ
làm ra, sẽ kích thích ngời lao động rất lớn trong việc nâng cao năng suất lao động, mặt
khác đơn giá tiền lơng lại tính theo lơng cấp bậc công việc do đó đơn giá càng cao thì
mức lơng cấp bậc công việc càng cao do đó khuyến khích ngời lao động luôn có gắng
học tập để không ngừng nâng cao trình độ lành nghề, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ
thuật... để có đủ khả năng làm đợc những công việc cao hơn, khó khắn phức tạp hơn..
Tuy nhiên chế độ tiền lơng này cũng có những nhợc điểm nh: Dễ làm cho ngời công
nhân chỉ quan tâm đến số lợng mà ít chú ý đến chất lợng sản phẩm và do đó nếu không
có thái độ ý thức làm việc tốt sẽ ít quan tâm đến việc tiết kiệm vật t, nguyên vật liệu
hay sử dụng máy móc thiết bị, mặt khác sự hợp tác và tính tập thể lao động kém, nh
hiện tợng dấu nghề, không chú ý, chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau mà chỉ chú ý đến cá nhân.
- Chế độ trả lơng sản phẩm tập thể:
+ Tính đơn giá tiền lơng sản phẩm tập thể đợc xác định:
n

ĐGSPTT =

L
i =1

CVI

hay ĐGSPTT =

n

L
i =1

M SL

CVI

x MTG

Trong đó: ĐGSPTT: Là đơn giá tiền lơng sản phẩm tập thể.
LCVI :Là tổng tiền lơng tính theo cấp bậc công việc của cả tổ
n: Là số ngời làm theo lơng sản phẩm trong tổ.
MSL: là mức sản lợng định mức của cả tổ trong kỳ.
MTG: Là mức thời gian định mức của cả tổ trong kỳ.
Nh vậy: Mức tiền lơng của tập thể nhận đợc là:
Tiền lơng sản phẩm
tập thể

=

Đơn giá sản
phẩm tập thể

19

X

Mức sản lợng
thực tế


Trong đó: Tiền lơng sản phẩm tập thể : là mức tiền lơng thực tế trong tập thể lao
động nhận đợc trong kỳ.
Mức sản lợng thực tế : là mức sản lợng của tập thể sản xuất đợc trong kỳ.
Khi đó tiền lơng của từng ngời công nhân trong tập thể nhận đợc phụ thuộc vào
đơn giá sản phẩm tập thể, số lợng sản phẩm tập thể chế tạo đợc và phụ thuộc vào cách
phân phối tiền lơng cho mỗi thành viên. Do đó việc chia lơng cho từng cá nhân trong tổ
rất quan trọng trong chế độ trả lơng sản phẩm tập thể. Có hai phơng pháp chia lơng thờng đợc áp dụng đó là:
+ Phơng pháp dùng hệ số điều chỉnh: Phơng pháp này đợc thực hiện theo trình
tự sau:
Bớc 1: Tính tổng số tiền lơng đã chia lần đầu(lấy mức tiền lơng một giờ của mỗi
ngời nhân với số giờ làm việc của mỗi ngời, sau đó tổng hợp lại cho cả nhóm)
Bớc 2: Tính hệ số điều chỉnh (bằng cách lấy số tiền lơng cả tổ đợc lĩnh chia cho
tổng số tiền đã chia lần đầu).
Bớc 3: Tính tiền công trong từng ngời trong tổ: Căn cứ vào hệ số điều chỉnh và
tiền lơng đã lĩnh lần đầu của mỗi ngời.
+ Phơng pháp dùng giờ hệ số: Qúa trình tính toán nh sau:
Bớc 1: Tính tổng số giờ hệ số của đơn vị (giờ hệ số là số giờ quy đổi của các
công nhân ở các bậc khác nhau ra giờ của mức lơng tối thiểu) bằng cách: Lấy giờ làm
việc thực tế của từng ngời nhân với hệ số cấp bậc của ngời đó, sau đó tổng hợp lại cho
cả tổ.
Bớc 2: Tính tiền lơng của một giờ hệ số: Lấy tiền lơng cả tổ đợc lĩnh chia cho
tổng số giờ hệ số của cả tổ.
Bớc 3: Tính tiền lơng của từng ngời lao động trong tập thể nhận đợc căn cứ vào
hệ số và số giờ làm việc thực tế của mỗi ngời
Cả hai phơng pháp chia lơng trên đều đem lại kết quả tơng tự nhau, chúng đều
bảo đảm tính chính xác trong việc trả lơng cho ngời lao động.
Nh vậy chế độ trả lơng theo sản phẩm tập thể có tác dụng nâng cao ý thức trách
nhiệm, tinh thần hợp tác và phối hợp có hiệu quả giữa các công nhân làm việc trong tổ
để cả tổ làm việc có hiệu qủ hơn do tiền lơng của cả tổ nhận đợc phụ thuộc và kết quả
chung trong tập thể làm ra và cũng khuyến khích các tổ lao động làm việc theo mô
hình tổ chức lao động tự quản. Mặt khác, qua hai cách chia lơng trên thì mức lơng
trong từng có nhân ngời lao động nhận đợc phụ thuộc vào mức lơng của tập thể nhận đợc, đồng thời càn phụ thuộc vào mức lơng cấp bậc công việc thực tế trong từng ngời
lao động do đó khuyến khích mỗi ngời lao động luôn thi đu, phấn đấu để có trình độ
lành nghề cao hơn để có thể đảm nhận những công việc cao hơn. Tuy nhiên chế độ
tiền lơng này cũng có nhợc điểm là hạn chế khuyến khích tăng năng suất lao động cá
nhân, vì tiền lơng phụ thuộc vào kết quả làm việc của các tổ chức không trực tiếp phụ
thuộc vào kết qủa làm việc của riêng bản thân họ v.v...
- Chế độ lơng sản phẩm gián tiếp.

20


Chế độ lơng này chỉ áp dụng cho những công nhân phụ mà công việc của họ có
ảnh hởng trực tiếp đến việc đạt và vợt mức của công nhân chính hởng lơng theo sản
phẩm. Nhiệm vụ và thành tích của họ gắn liền với nhiệm vụ và thành tích của công
nhân đứng máy. Tiền lơng của công nhân phục vụ đợc tính căn cứ vào số lợng sản
phẩm của công nhân đứng máy sản xuất ra.
Do đó đơn giá tiền lơng của công nhân phụ đợc tính theo công thức:
ĐGSP =

Lp
M .Q

Trong đó:

Lp : là mức lơng cấp bậc công việc của ngời công nhân phụ.
M: là mức phục vụ hay số máy phục vụ trong ngời công nhân phụ
Q: là mức sản lợng định mức của ngời công nhân chính.
Khi đó: mức tiền lơng thực tế mà ngời công nhân phụ nhận đợc là:
LTTP = ĐGSP x QTT
Trong đó: QTT là số sản phẩm thực tế mà ngời công nhân chính sản xuất ra.
Nh vậy: Nếu ngời công nhân chính sản xuất càng nhiều sản phẩm thì mức tiền lơng trong ngời công nhân phụ nhận đợc càng nhiều và ngợc lại, nếu những ngời công
nhân đứng máy sản xuất đợc ít sản phẩm thì tiền lơng trong công nhân phụ càng ít. Do
đó áp dụng chế độ trả lơng này sẽ khuyến khích công nhân phụ phục vụ tốt hơn cho
hoạt động trong công nhân chính, góp phần nâng cao năng suất lao động của công
nhân chính. Mặt khác khi áp dụng chế độ tiền lơng này mà khi bản thân ngời công
nhân phụ có sai lầm làm cho công nhân chính sản xuất sản phẩm hỏng, hàng xấu thì
tiền lơng của ngời công nhân phụ nhận đợc hởng theo chế độ trả lơng khi làm ra hàng
hỏng, hàng xấu, xong vẫn đảm bảo ít nhất bằng mức lơng cấp bậc công việc của họ và
khi công nhân đứng máy họ hoàn thành định mức sản lợng thì tiền lơng trong ngời
công nhân phụ nhận đợc sẽ không tính theo đơn giá sản phẩm gián tiếp mà theo lơng
cấp bậc công việc của họ.
Tuy nhiên chế độ tiền lơng cũng có những nhợc điểm nh tiền lơng trong công
nhân phụ phụ thuộc vào kết quả làm việc thực tế của công nhân chính nhng kết quả này
nhiều khi lại chịu tác động của các yếu tố khác. Do đó hạn chế sự cố gắng làm việc
trong công nhân phụ.
- Chế độ trả lơng sản phẩm khoán: Là chế độ lơng sản phẩm khi giao công việc
đã quy định rõ ràng số tiền để hoàn thành một sản phẩm hay một khối lợng công việc
trong một đơn vị thời gian nhất định.
Tiền lơng khoán đợc tính: LI = ĐGk x QI
Trong đó: LI: là tiền lơng thực tế ngời công nhân i nhận đợc.
ĐGk : là đơn giá khoán cho một sản phẩm hay một khối lợng công việc.
QI : là số sản phẩm hay khối lợng công việc hoàn thành.
Nh vậy thực hiện chế độ tiền lơng này thì ngay từ đầu ngời lao động khi nhận
đợc công việc đã biết ngay đợc toàn bộ số tiền lơng mà mình sẽ nhận đợc sau khi hoàn
thành công việc giao khoán do đó, nếu đơn vị nhận khoán mà giảm bớt đợc ngời hoặc
rút ngắn thời gian hoàn thành khối lợng giao khoán thì tiền lơng tính theo ngày làm

21


việc trong mỗi ngời trong đơn vị sẽ tăng lên và ngợc lại dó đó chế độ tiền lơng này có
tác dụng khuyến khích ngời lao động nâng cao năng xuất lao động, phấn đấu hoàn
thành nhiệm vụ trớc thời hạn hoặc giảm bớt số ngời không cần thiết. Tuy nhiên việc áp
dụng chế độ tiền lơng này lại gặp khó khăn trong việc xác định thời gian lao động ,
phát huy sáng kiến và tích cực cải tiến lao động để tối u hoá quá trình làm việc giảm
bớt thời gian lao động.
Đơn giá giao khoán rất phức tạp và nhiều khi khó chính xác, do đó có thể làm
cho ngời lao động bi quan hay không cú ý đầu t đến một số công việc trong quá trình
hoàn thành công việc giao khoán.
- Chế độ trả lơng sản phẩm có thởng:
Thực chất đó là sự kết hợp giữa các chế độ tiền lơng sản phẩm tập thể ở trên với
tiền thởng khi mà ngời công nhân đạt đợc những chỉ tiêu tiền thởng về số lợng và chất
lợng hay thời gian đã quy định.
Tiền lơng sản phẩm có thởng đợc xác định:
Lth = Lcđ x
Với: Lcđ = Ltt = ĐGsp x Msltt
m: là tỷ lệ % tiền thởng (tính theo tiền lơng sản phẩm với đơn giá cố định)
h: là tỷ lệ % hình thành vợt mức sản lợng đợc tính thởng.
Nh vậy áp dụng chế độ tiền lơng này sẽ quán triệt đầy đủ hơn nữa nguyên tắc
phân phối theo lao động, khuyến khích ngời lao động chú trọng hơn nữa tới việc cải tiến
chất lợng sản phẩm, tiết kiệm nguyên vật liệu, hoàn thành vợt mức nhiện vụ sản xuất đợc giao.
Tuy nhiên việc tính toán xác định các chỉ tiêu tiền thởng không chính xác có thể làm tăng giá
tiền lơng trong doanh nghiệp ...
- Chế độ tiền lơng sản phẩm luỹ tiến.
Chế độ tiền lơng này thờng áp dụng cho những công nhân sản xuất ở những
khâu quan trọng, tức sản xuất khẩn trơng để đảm bảo tính đồng bộ, ở những khâu mà
năng xuất tăng có tính chất quyết định đối với việc hoàn thành chung kế hoạch sản
xuất của doanh nghiệp.
Trong chế độ trả lơng này có hai loại đơn giá.
+ Đơn giá cố định dùng để trả cho những sản phẩm sản xuất ra trong phạm vị
định mức khơi điểm luỹ tiến.
+ Đơn giá luỹ tiến: dùng để tính lơng cho những sản phẩm vợt mức khởi điểm
luỹ tiến, nghĩa là có nhiều đơn giá cho những sản phẩm vợt mức khơi điểm luỹ tiến,
nếu vợt mức với tỷ lệ cao thì đợc tính những sản phẩm vợt mức bằng đơn giá cao hơn.
Đơn giá luỹ tiến = đơn giá cố định x tỷ lệ tăng đơn giá.
Do đó tiền lơng trong công nhân làm theo chế độ tiền lơng sản phẩm luỹ tiến đợc xác định theo công thức:
L lt = ĐGcđ x Q1 + (Q1 - Q0) ĐGcđ x K.
Trong đó:
Q1 : là số lợng sản phẩm sản xuất ra thực tế trong kỳ đó.
Q0 : là số lợng sản phẩm sản xuất kế hoạch (định mức) đề ra trong
kỳ đó.

22


K là tỷ lệ tăng đơn giá đợc tính dựa vào khả năng tiết kiệm chi phí
sản xuất gián tiếp cố định
Nh vậy việc áp dụng chế độ tiền lơng này do việc tăng đơn giá cho những sản
phẩm vợt mức khởi điểm sẽ làm cho công nhân tích cực làm việc có năng suất lao động
cao, đồng thời đơn giá đợc nâng cao nhiều hay ít cho những sản phẩm vợt mức khởi
điểm là so mức độ quan trọng của bộ phận sản xuất đó quyết định và mức độ tiết kiệm
chi phí sản xuất trong tiền lơng cố định, do đó cần nâng cao tinh thần trách nhiệm và
sự nỗ lực của ngời lao động trong những bộ phận sản xuất đó:
Tuy nhiên việc áp dụng chế độ tiền lơng này dễ làm cho tốc độ tăng tiền lơng
lớn hơn tốc độ tăng năng suất lao động của những khâu áp dụng chế độ tiền l ơng này
do đó không nên áp dụng nó một cách rộng rãi, và thời gian trả lơng của chế độ này
không nên quy định quá gắn (nh hàng ngày) để tránh tình trạng ngời lao động không
hoàn thành mức lao động hàng tháng mà vẫn đợc hởng chế độ tiền lơng này. Mặt khác
khi dự kiến và xác định hiệu quả kinh tế của chế độ tiền lơng này không nên chỉ dựa
vào khả năng tiết kiệm chi phí sản xuất gián tiếp có định và hạ giá thành sản phẩm mà
cần phải dựa vào nhiệm vụ sản xuất cầu phải hoàn thành.
1.2. Vai trò kích thích lao động của các hình thức tiền lơng theo thời gian.
Hình thức tiền lơng theo thời gian là hình thức mà tiền lơng thanh toán cho ngời
lao động căn cứ vào trình độ chuyên môn, kỹ thuật và thời gian công tác của họ.
Hình thức tiền lơng này chủ yếu áp dụng đối với những ngời làm công tác quản
lý. Đối với công nhân sản xuất thì hình thức tiền lơng này chỉ áp dụng với những bộ
phận lao động bằng máy móc là chủ yếu hay những công việc không thể tiến hành
định mức một cách chặt chẽ và chính xác, hoặc vì tính chất của sản xuất nếu thực hiện
trả lơng theo sản phẩm sẽ không đảm bảo đợc chất lợng sản phẩm, không đem lại hiệu
quả thiết thực. Hình thức tiền long theo thời gian có thể không rõ ràng nh hình thức
tiền lơng theo sản phẩm. Bởi vì ngời ta không thể định mức một cách chính xác những
công việc để giao cho ngời lao động, đồng thời cũng phải hiểu rằng loại lao động áp
dụng để trả lơng theo hình thức này có đặc thù riêng đó là lao động trí óc nền kết quả
lao động của họ không thể đo đếm thực tiếp đợc do kết quả lao động trong họ là những
quyết định quản lý mà kết quả của nó đợc biểu hiện gián tiếp qua kết quả lao động của
tập thể mà họ quản lý. Điều này gây nên việc trả lơng cho ngời lao động cha gắn liền
với sức lao động, kết quả lao động mà họ tạo ra. Tuy vậy để trả lơng cho những ngời
lao động đặc thù nh vậy chỉ có cách là căn có chủ yếu vào thời gian lao động trong họ
để trả lơng.
Hình thức tiền lơng theo thời gian có hai chế độ sau:
* Chế độ tiền lơng thời gian giản đơn.
* Chế độ tiền lơng này chỉ áp dụng ở những nời làm việc khó xác định đợc định
mức lao động một cách chính xác, không đơn giá công việc thật chính xác.
Do đó mức lơng thực tế ngời lao động làm theo chế độ lơng thời gian giản đơn
đợc xác định:
Ttti = Lcbi x Ttti

23


Trong đó: Ltti : là mức lơng thực tế ngời lao động i nhận đợc.
Lcbi : là lơng cấp bậc tính theo thời gian.
Ttti : là thời gian làm việc thực tế của ngời lao động i.
Lcbi = Smin x Hi: Trong đó Smin : là mức lơng tối thiểu do Nhà nớc quy định hay
mức lơng tối thiểu do doanh nghiệp áp dụng hệ số điều chỉnh theo hệ số điều chỉnh S min
do Nhà nớc hớng dẫn, với điều kiện:
Sminnn Hi : là hệ số lơng lao động i đợc xác định dựa vào mức độ phức tạp của lao động
tại bậc đó, điều kiện lao động có liên quan đến hao phí lao động và yếu tố trách nhiệm.
Tuy hình thức tiền lơng này hiện nay đang đợc áp dụng nhng nó có những hạn
chế cần có biện pháp bổ sung vào hình thức tiền lơng này nhằm khắc phục nhợc điểm
của nó nh tính chất bình quân, không khuyến khích ngời lao động sử dụng hợp lý thời
gian làm việc tiết kiệm nguyên vật liệu, tập trung công suất máy móc thiết bị để tăng
năng suất lao động và thờng gây ra hiện tợng ỉ lại hay làm việc chống đối...
* Trả lơng theo thời gian có thởng.
Thực chất của chế độ tiền lơng này là sự kết hợp giữa chế độ tiền lơng theo thời
gian giản đơn và tiền thởng khi ngời lao động đạt đợc những chỉ tiêu về số lợng và chất
lợng đã quy định chế độ tiền lơng này chủ yếu áp dụng đối với những công nhân phụ
làm công việc phụ ở những giây truyền tự động hoá cao hay những công việc đòi hỏi
tuyệt đôí phải bảo đảm chất lợng.
Mức tiền lơng của ngời lao động nhận đợc bằng cách: Lấy tiền lơng cấp bậc
của họ nhân với thời gian làm việc thực tế của họ sau đó cộng với mức tiền lơng mà họ
đợc nhận.
Do đó chế độ tiền lơng này có nhiều u điểm hơn chế độ trả lơng theo thời gian
giản đơn do chế độ tiền lơng này không những phản ánh trình độ thành thạo và thời
gian làm việc thực tế mà cần gắn chặt với thành tích công tác trong từng ngời thông
qua các chỉ tiêu xét thởng đã đạt đợc. Nh vậy nó đã khuyến khích ngời lao động quan
tâm đến trách nhiệm kết quả công tác của mình mà do đó cùng với ảnh hởng của khoa
học kỹ thuật và nhằm khắc phục hạn chế của chế độ tiền lơng theo thời gian thì chế
độ tiền lơng này ngày càng áp dụng rộng rãi. Cách thức trả lơng.
1.3.Thời điểm trả lơng của các hình thức tiền lơng trên và vai trò kích thích
lao động của nó
Theo điều 58, Bộ luật lao động quy định: 1. Ngời sử dụng lao động có quyền
lựa chọn các hình thức trả lơng theo thời gian , giờ, ngày, tuần, tháng, theo sản phẩm,
theo khoán nhng phải duy trì hình thức trả lơng đã chọn trong một thời gian nhất định
và phải thông báo cho ngời lao động biết.
2. Ngời lao động đợc hởng lơng giờ, ngày, tuần đợc trả lơng sau giời, ngày, tuần
làm việc ấu và đợc trả gộp do hai bên thoả thuận, nhng ít nhất 15 ngày phải đợc trả gộp
một lần.
3. Ngời lao động hởng lơng tháng phải đợc trả lơng cả tháng một lần

24


4. Ngời lao động hởng lơng theo sản phẩm, theo khoán đợc trả lơng theo thoả
thuận của hai bên, nếu công việc làm trong nhiều tháng thì hàng tháng đợ tạm ứng lơng
theo khối lợng công việc đã làm trong tráng (3).
Và cũng theo điều 59 của Bộ luật lao động quy định: 1. Ngời lao động đợc trả
lơng trực tiếp, đầu đủ, đúng thời hạn và tại nơi làm việc. Trong trờng hợp đặc biệt mà
phải trả lơg chậm thì cũng không đợc quá một tháng và ngời sử dụng lao động phải đền bù
cho ngời lao động một khoảng tiền ít nhất bằng lãi suất tiền qũy tiết kiệm do Ngân hàng Nhà
nớc công bố tại địa điểm trả lơng.
2. Tiền lơng đợc trả bằng tiềm mặt, việc trả lơng một phần bằng séc hoặc ngân
phiếu do Nhà nớc phát hàng, do hai bên thoả thuận với điều kiện không gây thiệt hạ,
phiền hà cho ngời lao động"(4)
Pháp luật lao động quy định là ngời lao động đợc trả lơng tại nơi làm việc. Ngời
sử dụng lao động không đợc viện bất cứ lý do gì để buộc ngời lao động phải nhận lơng
ở bất cứ nơi nào khác mà gây khó khăn, phiền hà cho ngời lao động và ngời lao động
phải đợc trả lơng trực tiếp, nghĩa là việc trả lơng không đợc trả lơng qua các khâu trung
gian nhằm nâng cao trách nhiện ngời sử dụng lao động, đồng thời tránh trờng hợp ngời
lao động bị ăn chặn tiền lơng thông qua khâu trung gian.
Nh vậy, luật lao động của nớc ta đã quy định rất chặt chẽ và cụ thể cách thức và
thời điểm trả lơng cho các hình thức tiền lơng hiện nay. Đồng thời việc thực hiện đầy
đủ và cụ thể các quy định này sẽ góp phần kích thích lao động rất lớn do ddây là vấn
đề phân phối một lợi ích vật chất mà liên quan đến kết quả lao động trong ng ời lao
động, cái mà họ mong đợi nhất sau khi tham gia lao động nhằm thoả mãn kịp thời
những nhu cầu mà họ mong muốn và đảm bảo cho họ kịp thời tái sản xuất lại sức lao
động đã hao phí trong quá trình lao động. Do đó đây là khâu cuối cùng nhng quyết
định vai trò kích thích lao động của các hình thức tiền lơng với ngời lao động...
2. Vai trò kích thích lao động của các hình thức tiền thởng.
Về mặt nguyên tắc, thì tiền lơng phải trả đúng giá cả sức lao động đã hao phí,
nhng đó mới là mức hao phí sức lao động trung bình , phần vợt hơn mức hao phí sức
lao động trung bình là do tiền thởng bù đắp.
Tiền thởng khuyến khích sản xuất thực chất là tiền lơng bổ sung cho tiền lơng,
nhằm quán triệt hơn nữa nguyên tắc phân phối theo lao động, trả đúng giá trị sức lao
động đã hao phí và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Tiền thởng là một loại kích thích vật chất có tác dụng rất tích cực đối với ngời
lao động trong việc phấn đấu thực hiện công việc tốt hơn. Mặt khác trong tình hình
thực tế của sản xuất luôn luôn biến đổi thì chế độ tiền lơng cấp bậc lại mang tính chất
cố định nên không thể kích thích kịp thời sản xuất trong mỗi trờng hợp, mỗi lúc, mỗi
nơi. Do đó chế độ tiền thởng có thể bổ sung đợc nhợc điểm của chế độ tiền lơng cấp
bậc và tiền thởng trở thành một bộ phận tiền lơng biến động kích thích lao động rất
mạnh.
(3)
(4)
(

Điều 58, Bộ luật lao động của Nớc CHXHCNV, trang 43
Điều 59, Bộ luật lao động của nớc CHXHCNVN, trang 44

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×