Tải bản đầy đủ

Đáp án đề cương CNHD XD Duong o to K22.2

ĐỀ CƯƠNG: MÔN CÔNG HIỆN ĐẠI TRONG XÂY DỰNG ĐƯỜNG
Câu 1: Bản chất và mục đích của quá trình đầm nén đất nền đường?
1. Bản chất:
- Bản chất vật lý của việc đầm nén đất:
+ Muốn đầm nén lớp đất nền đường chặt lại thì tải trọng đầm nén phải tạo ra được các biến dạng dư,
tích lũy dần trong lớp đất đầm nén.
+ Muốn vậy, tải trọng đầm nén phải lớn hơn cường độ giới hạn của lớp đất đầm nén.
+ Cường độ giới hạn của lớp đất đầm nén phụ thuộc vào loại đất, độ chặt, độ ẩm và tốc độ biến dạng
của lớp đất.
2. Mục đính: Cải thiện kết cấu của đất, làm tăng cường độ chặt bằng cách đẩy không khí ra ngoài,
đảm bảo đất nền (đào và đắp) đạt độ chặt cần thiết, đủ cường độ và độ ổn định dưới tác dụng của tải
trọng bản thân, tải trọng xe cộ, các yếu tố khí hậu, thời tiết ngay sau khi thi công xong nền đường.
3. Tác dụng:
- Nâng cao cường độ nền đường nhờ tăng độ chặt, nhờ đó tính biến rạng của nền đường giảm,
môđun đàn hồi của nền đường tăng lên (Eo), có thể giảm bớt chiều dày kết cấu mặt đường bên trên
mà không làm giảm chất lượng khai thác của tuyến đường (Ech= const).
- Tăng cường sức kháng cắt của đất, nâng cao độ ổn định cơ học của mái taluy đắp.
- Thành phần lực dính và góc ma sát trong của đất nền đường được nâng cao, cho phép đắp nền
đường với độ dốc mái taluy lớn hơn, tiếc kiệm được công đắp đất và giảm được diện tích đất mà
đường chiếm chỗ.
- Độ chặt của đất được tăng cường, độ rỗng giảm đi, làm giảm tính thấm hơi thấm nước, giảm nhỏ

tính co rút và chiều cao mao dẫn của đất, cải thiện được chế độ thủy nhiệt của nền mặt đường, kéo
dài tuổi thọ của kết cấu mặt đường.

1


Câu 2: Kể tên các phương pháp kiểm soát độ chặt đầm nén ngoài hiện trường. Phạm vi áp
dụng của từng phương pháp?
- Kiểm soát chất lượng đầm nén trong thi công bao gồm việc xác định độ chặt của đất tại hiện
trường sau khi đầm nén và so sánh với độ chặt lớn nhất có được từ thí nghiệm trong phòng đối với
loại đất sử dụng.
- Thí nghiệm xác định độ chặt ngoài hiện trường có thể sử dụng là thí nghiệm lấy mẫu hoặc thiết bị
xác định độ chặt theo phương pháp hạt nhân, các phương pháp kiểm soát phổ biến sau:
TT
Phương pháp
Phạm vi áp dụng
Ghi chú
Phương pháp dao vòng
Áp dụng cho đất cát, á cát (đất
1
(dao đai – đốt cồn)
ẩm) không lẫn sỏi sạn.
Áp dụng cho các loại đất (22TCN - Dùng cho mọi loại vật
346-06)
liệu đất và cấp phối có
- Áp dụng cho các loại vật liệu có thể đào được hố đào có
không quá 50% lượng hạt nằm thành thẳng đứng.
trên sàng 19mm.
2
Phương pháp rót cát
- Không áp dụng cho: Vật liệu
chứa quá 50% trên sàng 19mm;
khi thí nghiệm có nước chảy vào
hố đào; hố đào bị biến dạng hoặc
sập khi đào.
Phương pháp bao mỏng
Tương tự như pp rót cát, không
3
(túi bơm chất lỏng)
cần cát tiêu chuẩn

Dung cụ là dung trọng
kế hạt nhân, đây là
Phương pháp dùng thiết
phương pháp chính
bị đồng vị phóng xạ
được sử dụng hiện nay,
4
(phương pháp hạt nhân)
Áp dụng cho mọi loại đất
kết quả thí nghiệm có
TCVN 301:2003 hoặc
được ngay lập tức.
ASTM D2922.
+ Tán xạ trực tiếp
+ Tán xạ ngược
Là quá trình đầm nén và
Phương pháp đo dao
5
Không phổ biến
kiểm tra độ chặt liên lục
động nền đường
trong quá trình đầm nén.

2


Câu 3: Mục đích của việc xác định dung trọng khô lớn nhất của vật liệu trong xây dựng nền
mặt đường. Phương pháp xác định?
1. Mục đính:
- Các yêu cầu đầm nén được xác định thông qua chỉ tiêu về dung trọng khô của đất. Giá trị yêu cầu
của dung trọng khô thay đổi tùy thuộc vào loại đất được đầm nén, giá trị dung trọng khô lớn nhất
phải được xác lập riêng cho mỗi loại đất. Với mỗi loại tác dụng đầm nén, dung trọng khô của một
loại đất sẽ thay đổi theo độ ẩm của nó.
- Bước đầu tiên của công tác kiểm soát độ chặt đầm nén là xác định dung trọng khô lớn nhất có thể
đạt được cho một loại đất dưới tác dụng đầm nén tiêu chuẩn và hàm lượng nước cần thiết để đạt
được dung trọng khô đó.
* Mục đích của việc xác định dung trọng khô lớn nhất của vật liệu trong xây dựng nền mặt đường
làm tiêu chuẩn để so sánh, qua đó xác định được độ chặt đầm nén K của vật liệu tại hiện trường.
2. Phương pháp xác định:
Dung trọng khô lớn nhất của vật liệu được xác định bằng phương pháp đầm nén tiêu chuẩn (22TCN
333 :2006, thí nghiệm Proctor) trong phòng thí nghiệm, từ kết quả thí nghiệm xây dựng đường cong
đầm nén (đường cong quan hệ độ ẩm – độ chặt, đường cong Proctor). Đỉnh của đường cong là thể
hiện dung trọng khô lớn nhất của đất với tác dụng đầm nén trong thí nghiệm tương ứng với hàm
lượng nước (độ ẩm tối ưu Wo).

3


Câu 4: Kể tên các thiết bị và công nghệ đầm nén đất hiện nay (truyền thống và tiên tiến).
Ưu nhược điểm của từng loại?
1. Lu lèn đất:
- Đầm nén là giải pháp cải tạo nền móng hiệu quả, rẻ tiền và được sử dụng rất phổ biến. Nền đất
được đầm chặt sẽ cải thiện đặc tính biến dạng của đất nền, tăng cường độ nền, giảm thiểu các ảnh
hưởng do thay đổi thể tích (trương nở, co ngót, …) kiểm soát được dòng thấm, tăng ổn định của
mái dốc nền đường. Tóm lại, đầm nén là giải pháp tăng ổn định, cải thiện năng lực làm việc, tăng
tuổi thọ, giảm chi phí bảo trì, ,… đối với một công trình.
- Kỹ thuật đầm nén thông dụng nhất gọi là đầm nông, thích hợp cho đầm nén đất hay vật liệu
theo từng lớp. Thiết bị đầm nén sử dụng trong đầm nông là các loại lu và đầm khác nhau. Lu hiện
đại nhất hiện nay là lu tự hành, với bánh và các bánh lu được trang bị thiết bị tạo rung nhằm cải
thiện tác dụng đầm nén (tốc độ rung khoảng 1500-2000 lần/phút được xác định là mang lại hiệu
quả tốt nhất với với hầu hết các loại đất và vật liệu hạt). Các loại lu chủ yếu là lu bánh thép nhẵn,
lu với trống lu có gờ (lu chân cừu), lu bánh lốp.
- Hiện nay, phương pháp đầm nén bao gồm:
+ Phương pháp lu lèn: sử dụng phổ biến nhất do có chi phí đầm nén thấp, có thể đầm nén mọi
loại vật liệu.
+ Phương pháp đầm: dùng ở phạm vi phương tiện không thể lu lèn được.
+ Phương pháp chấn động, đầm – chấn động và lu – chấn động: áp dụng cho các loại vật liệu rời,
ít dính, có tính xúc biến.
2. Kể tên các thiết bị
TT Thiết bị và công nghệ
Ưu điểm
Nhược điểm
đầm nén
Các loại này rất có hiệu quả khi lu
sỏi, cát, đất bụi, cũng như các loại
móng cốt liệu hạt và hỗn hợp bê
tông apsphalt. Chiều dày các lớp có
thể lu là từ 0,5-1m và thông thường
từ 3-5 hành trình để có được một
1 Lu rung bánh thép
độ chặt nhất định.
+ Có thể đầm bề mặt nền nhẵn mịn.
+ Có thể đầm được mặt đường đá
sỏi, mặt đường nhựa.
+ Giá thành thấp.
+ Cấu tạo đơn giản.
+ Do bề mặt lu có vấu nên
Loại lu này hiệu quả đối với các
di chuyển máy khó khăn.
loại đất sét và đất sét bụi do có thể
Khi di chuyển sang công
xuyên dùi vào đất để phá vỡ tính
trình khác phải dùng xe
dính của đất sét, chống lại sự sắp
tải, romooc để di chuyển.
xếp lại cấu trúc hạt của đất. Lu
+ Lớp đất trên cùng hút
chân cừu có thể đầm hiệu quả với
Bánh lu cò gờ (lu chân
nước mạnh khi trời mưa
2
lớp đất dày 15-30cm với 3-5 lượt
cừu)
làm chậm quá trình đầm
hành trình.
đất, làm cho phương tiện
+ Các lớp đất dễ dàng được dính
khác di chuyển khó khăn
kết với nhau.
hơn.
+ Chất lượng đầm cao.
+ Khi cần bề mặt phẳng
+ Chiều cao ảnh hưởng lớn so với
và nhẵn thì phải sử dụng
lu bánh thép và lu bánh lốp.
loại đầm khác.
3 Lu bánh hơi (có từ 2- Mỗi bánh riêng biệt có thể rung, lắc + Không dùng được trong
12 bánh lốp trên mỗi hay di chuyển chậm hơn các bánh nền sỏi đá.
4


xung quanh để cải thiện tác dụng
nhồi – nén và đi theo bề mặt của
đất đầm nén. Lu bánh hơi có thể sử
dụng với cả đất sét và đất hạt. Lớp
bê tông apsphalt được nhồi – nén
và lu lèn giai đoạn ban đầu dùng
loại lu này. Chiều sâu lu lèn hiệu
quả đối với đất và các lớp móng
mặt đường đến 15cm và đến 30cm
trục)
với các loại lu 44-55 tấn.
+ Máy có tốc độ làm việc cao, năng
suất cao.
+ Thích ứng với mọi loại đất, kể cả
mặt đường bê tông astphan
+ Có thể tăng giảm được tải trọng
tác dụng vào nền đất nhờ tăng giảm
được khối lượng máy và áp suất
trong lốp.
Dùng để lu hoàn thiện hoặc lu nhẵn
Lu bánh nhẵn, không bề mặt các lớp đất, cốt liệu hạt và
4
rung
lớp hoàn thiện cuối cùng trên mặt
đường bê tông apsphalt.
Sử dụng cho việc đầm các lớp đắp + Năng suất đầm thấp, chi
hoàn trả các tuyến đường ống, cống phí cao;
Đầm bàn rung, đầm
5
hay quanh các công trình (nơi + Chỉ dùng trong phạm vi
cóc và các loại lu nhỏ
không thể sử dụng các thiết bị lớn hẹp;
hơn)
1. Lu bánh cứng:
- Có thể lu lèn được mọi loại đất (trừ các loại đất có hòn, tảng cục lớn);
- Chiều rộng vệt bánh tác dụng nhỏ và giảm dần trong quá trình đầm nén. Ứng suất phân bố trên bề
mặt lớp đất lớn nhưng lại giảm nhanh theo chiều sâu dẫn tới chiều sâu tác dụng nhỏ (không quá 2022cm) và số lần đi qua 1 điểm để đạt độ chặt Kyc cần nhiều.
- Hiệu quả đầm nén cao đối với đất rời và kém hiệu quả với đất dính (để đạt Kyc =0,95 cần 4-6 lượt
với đất rời, 8-12 lượt đối với đất dính).
- Phạm vi áp dụng: đất rời có chiều sâu nhỏ.
2. Lu chân cừu:
- Có thể lu lèn với loại đất, thích hợp khi lu với các loại đất dính lẫn hòn, cục tảng lớn do ánh lực
dưới chân cừu rất cao (không thích hợp với đất rời, ít dính);
- Áp lực đơn vị trên đất lớn, trị số tuyệt đối có thể vượt quá cường độ giới hạn của đất dẫn đến 2 bên
chân cừu bị biến dạng nghiêm trọng-> xuất hiện 1 lớp đất xốp, rời trên bề mặt đầm nén vì vậy làm
giảm hiệu quả đầm nén.
3. Lu bánh lốp (lu bánh mềm, lu bánh hơi)
- Có thể thay đổi độ cứng bằng cách tăng trị số của áp lực hơi trong bánh;
- Diện tiếp xúc giữa bánh lốp và mặt đất lớn, áp lực tác dụng lên mặt đất nhỏ nhưng hầu như không
giảm theo chiều sâu do vậy chiều sâu lu lèn hiệu quả hơn so với lu bánh cứng (bánh cứng 15-18cm;
bánh lốp 20-30cm)
- Có thể lu lèn với mọi loại đất (trừ đất dính cục, hòn tảng lớn).

5


Câu 5: Khái niện về tường chắn có cốt? đặc điểm và phạm vi áp dụng?
1. Khái niệm:
- Đất có cốt là một vật liệu tổ hợp bao gồm đất thiên nhiên có bố trí các lớp cốt bằng vật liệu chịu
kéo được theo các hướng nhất định. Thông qua sức neo bám (do ma sát, dính và neo bám) giữa đất
và vật liệu cốt và vật liệu tổ hợp đất có cốt có khả năng chịu kéo.
- Có nhiều loại công trình được xây dựng bằng đất có cốt, trong đó tường chắn đất có cốt là công
trình khá phổ biến trong lĩnh vực công trình giao thông. Vật liệu cốt có thể là bằng thép, bằng bê
tông cốt thép, bằng lưới thép, bằng tre, gỗ, và phổ biến nhất hiện nay là bằng vật liệu chất dẻo tổng
hợp (vải hoặc lưới địa kỹ thuật).
2. Đặc điểm:
- Đất có là loại vật liệu mềm, có thể cho phép công trình tường chắn ổn định dù có xẩy ra biến dạng
lớn;
- Đất có cốt là vật liệu nặng, đáp ứng được yêu cầu đối với những công trình đòi hỏi phải có trọng
lượng lớn để chịu tác dụng của lực ngang lớn, chịu lực va chạm lớn hoặc áp lực sóng trong trường
hợp xây dựng nền dọc bãi sông;
- Các công trình đắp đất nhờ có cốt có thể xây dựng với mái dốc thẳng đứng, tiếc kiệm vật liệu đắp,
giảm diện tích chiếm dụng đất của công trình nền đường, mố cầu vượt,….;
- Tiếc kiệm chi phí xây dựng so với các dạng tường chắn trọng lực khác như tường bê tông, tường bê
tông cốt thép, tường đá xây.
3. Phạm vi áp dụng
- Thay thế tường chắn bằng bê tông hoặc đá xây để xây dựng nền đường đắp trên sườn dốc có độ dốc
ngang tự nhiên >=50%;
- Thay thế mái dốc taluy nền đường đắp bằng đất thông thường có độ dốc thoải 1:1,5 bằng độ dốc
taluy dốc hơn, thậm chí thẳng đứng để giảm diện tích chiếm dụng mặt bằng.
- Làm công trình chống đỡ các khối trượt trên sườn dốc thiên nhiên vùng có tuyến đường đi qua.
- Làm tường cách li chống ồn, bảo vệ môi trường.
- Trên thực tế, tường chắn đất có cốt được sử dụng khi phân tích giá thành xây dựng rẻ hơn các loại
tường khác hoặc so với giải pháp đắp mái dốc thoải.

6


Câu 6: Trình bày biện pháp thi công tường chắn đất sử dụng cốt vải địa kỹ thuật theo phương
pháp cuộn?
1. Công tác chuẩn bị:
- Cốt Polime: Kiểm tra chất lượng vật liệu (theo yêu cầu vật liệu), kiểm tra khối lượng vật liệu chuẩn
bị;
- Vật liệu đất đắp, thiết bị đầm nén đất: Kiểm tra chất lượng mỏ vật liệu đất đắp, trữ lượng và khả
năng khai thác. Kiểm tra thiết bị đầm nén đất.
- Thiết bị và dụng cụ thi công.
2. Chuẩn bị mặt bằng thi công:
- Đào và thi công móng, kiểm tra móng và cac giải pháp gia cố móng theo như thiết kế. Cao độ đáy
móng và các yêu cầu xử lý móng phải tuân thủ đúng bản vẽ thiết kế thi công. Chiều rộng của móng
càn bao gồm bề rộng bố trí thoát nước sau tường và phần bố trí thoát nước từ trong thân tường ra
ngoài. Độ chặt của nền cho móng tường phải đảm bảo tối thiểu 0.95 độ chặt tiêu chuẩn. Trong
trường hợp đặt trực tiếp trên nền thiên nhiên, cần phải kiểm tra, nếu độ chặt nền thiên nhiên không
đủ, có biện pháp xáo xới lu nèn lại trong khoảng chiều dày 30cm từ mặt móng đạt tối thiều 0.95 độ
chặt tiêu chuẩn.
- Lắp đặt và thi công hệ thống thoát nước theo yêu cầu thiết kế và hệ thống thoát nước tạm trong quá
trình thi công.
3. Thi công thử nghiệm
4. Thi công thân tường đất có cốt bằng vải địa kỹ thuật bọc cuộn:
- Rải cốt:
+ Cốt vải chỉ được rải trên mặt đất nằm ngang với độ bằng phẳng trong phạm vi cho phép (+-5 cm)
so với cao độ dự kiến.
+ Cốt vải địa kỹ thuật được rải bằng thủ công. Kéo thẳng, sau khi kéo đè giữ độ căng bằng các bao
đất, không để cuộn hay xoắn cốt. Cốt vải rải thật vuông góc với phương mặt tường. Tránh nối cốt
theo phương vải chịu kéo.
+ Phần vải ghìm giữ đầu bọc cuộn trong đất dài tối thiểu bằng 2,5 lần khoảng cách thẳng đứng giữa
hai lớp cốt.
+ Trên mặt bằng theo phương dọc tường chắn (phương vải không chịu lực), nếu không khâu vải thì
có thể cho phép rải chồng vải lên nhau với phần rải chồng tối thiểu bằng 0,3m.
+ Bọc phủ kín phần vải địa kỹ thuật bọc cuộn lộ thiên bằng cách phun bọc kín bằng nhũ tương
bitum, vữa nhũ tương bitum, vữa xi măng.
+ Rải sẵn lớp đất mùn có gieo hạt cỏ ở mặt sau của vải bọc cuộn trong phạm vi 15-30cm, dầy 5-7cm
để cây cỏ mọc che phủ vải bọc cuộn.
- Bố trí chống đỡ phía ngoài tường:
+ Giàn giáo chống đỡ ngoài mặt tường trong quá trình thi công được xây dựng bằng cách sử dụng
các cột tựa thẳng đứng hoặc nghiêng theo độ dốc thiết kế của mặt tường với hệ thống khung đỡ.
+ Các ván khuôn di động chỉ chống đỡ thành bên cho một lớp đất đắp để giảm lực đẩy ngang vào
giàn giáo. Sử dụng neo nếu cần thiết để neo cột tựa vào thân tường. Dây neo đặt xuyên qua vải bọc
cuộn khi rải đất, sau đó móc vào cột và căng bằng tăng đơ để tăng ổn định cho cột tựa (dây neo này
sẽ nằm lại trong đất sau khi thi công xong). Khoảng chống giữa cột tựa và lưng tường phụ thuộc vào
chiều dày của ván khuôn di động. Giàn giáo được điều chỉnh bằng tăng đơ và được neo giữ vào đất.
+ Có thể sử dụng các giải pháp khác để chống đỡ mặt ngoài tường chắn trong quá trình thi công như
sử dụng cọc ván thép, cọc ray.
- Chống đỡ mặt ngoài tường chắn đất bằng các vật liệu bao cố định:
+ Có thể sử dụng các bờ chắn bằng bê tông hình chữ L có chiều cao bằng khoảng cách đứng giữa
hàng cốt để chống đỡ mặt ngoài tường chắn trong quá trình thi công. Các bờ chắn này được sử dụng
làm mặt bao tường, nên không có phần vải bọc lộ thiên cần phải xử lý.
+ Rọ đá hay túi đá, thậm chí lốp oto cũ có thể sử dụng để chống đỡ mặt ngoài tường chắn đất có cốt.

7


+ Vật liệu rọ đá yêu cầu phải có khả năng thoát nước từ trong khối đất có cốt ra mặt ngoài tường và
phải được lu lèn chặt. Rọ đá có thể bằng lưới Polime hoặc lưới thép, được buộc chằng với nhau sau
khi xếp thành dãy ngay ngắn dài 10-12m.
+ Các lốp oto cũ được xếp đè lên cốt địa kỹ thuật thành dãy, sau đó đổ đầy đất vào các lòng lốp và
đầm bằng đầm rung loại nhỏ.
- Bọc cuộn mặt tường: Bọc cuộn mặt tường có thể thực hiện cùng với việc thi công các khối chống
đỡ mặt ngoài tường trước khi rải và đắp đất hoặc thực hiện sau khi rải và đầm đất. Phần vải bọc cuộn
phải để thừa và lật ra phía ngoài giàn giáo hoặc để thừa ra phía ngoài mặt các khối chống đỡ tạm
thành bên.
- Rải và đầm nén đất:
+ Thiết bị rải đất không đi trực tiếp trên cốt vải địa kỹ thuật mà chỉ được đi trên vải khi có tối thiểu
lớp đất phủ dày 10cm. Các xe tải vì thế cần bố trí đi lùi để đổ đất trên vải và san gạt theo phương
pháp san lấn.
+ Hướng san gạt đất song song với mặt tường và san rải đất theo thứ tự từ phía ngoài mặt tường dần
vào trong để tránh không làm chùng vải và không ảnh hưởng đến ổn định của vật liệu chống đỡ
thành bên tường.
+ Đầm nén đất theo đúng trình tự đã được thi công thử nghiệm, đảm bảo độ chặt 0.98 độ chặt tiêu
chuẩn. kiểm tra độ chặt với từng lớp rải.
- Xử lý phần vải địa kỹ thuật bọc cuộn lộ thiên: có thể sử dụng phun nhũ tương hoặc vữa nhũ tương
và trồng cỏ.
5. Kiểm tra trong quá trình thi công và kiểm tra nghiệm thu tường chắn đất có cốt bằng vải địa kỹ
thuật bọc cuộn:
- Kiểm tra sản phẩm vải địa kỹ thuật;
- Kiểm tra vật liệu đất đắp;
- Kiểm tra trong quá trình thi công;
+ Kiểm tra việc bố trí chống đỡ mặt ngoài tường bằng quan sát sự dịch chuyển ngang của các vật
liệu và phương tiện chống đỡ trong quá trình rải và đầm nén đất, kiểm tra độ thẳng đứng của các cột
chống đỡ và các vật liệu chống đỡ bằng quả dọi, …
+ Kiểm tra công tác rải và đầm nén cho mỗi lớp đất;
+ Kiểm tra việc bọc phủ vải địa kỹ thuật lộ thiên;
- Kiểm tra nghiệm thu tường chắn hoàn thành:
+ Đảm bảo tường không bị phình hay lồi lõm bất thường, mặt đỉnh tường phải phẳng hoặc công đều
(trên các đoạn cong);
+ Đo đạc sai số vị trí của chân tường trên mặt bằng (sai số cho phép +-20mm);
+ Đo độ lún và độ sai lệch cho phép theo thiết kế;
+ Độ thẳng đứng của tường cho phép sai số +-5mm/1m chiều cao tường.
+ Mức độ bằng phẳng bề mặt tường: cho phép khe hở 25mm khi kiểm tra bằng thước thẳng 4,5m.

8


Câu 7: Các yêu cầu đối với đất dùng đắp tường chắn có cốt? (trang 4 tài liệu)
Yêu cầu đối với đất dùng đắp tường chắn có cốt
Trong mọi trường hợp, đất đắp tường chắn bằng đất có cốt có không quá 25% tỉ lê cỡ hạt lớn
hơn 125 mm và không quá 10% tỉ lê cỡ hạt lọt sàng 0.015 mm. Góc nội ma sát của đất đắp khi
bão hòa nước không nhỏ hơn 250.
Khi sử dụng làm đất đắp cho tường chắn có cốt bằng kim loại, đất đắp có các yêu cầu về đặc
trưng điên hóa như trong Bảng 1:
Báng 1: Yêu cầu về các đặc trưng điên hóa của đất đắp khi dùng cốt kim loại
Tường nằm trong nước
Các đặc trưng điên hóa

min
max
Hàm lượng Clorit, max (%)
Hàm lượng Sunfat SO4 hòa tan, max (%)
Điên trở suất tối thiểu của mẫu đất bão hòa
nước (n/cm) (ngâm bão hòa 1 giờ với nước
ở 250C rồi đo điên trở suất)

Độ pH

Thép không
mạ và thép
mạ
5
10
0.01
0.05
3000

Thép không
gỉ
5
10
0.01
0.05

Tường không ngập
nước
Thép không
Thép
mạ và thép
không gỉ
mạ
5
5
10
10
0.02
0.025
0.1
0.1

3000

1000

1000

Khi sử dụng cốt là polime, đất đắp nên có độ pH nằm trong khoảng từ 6 - 9. Các đặc trưng điên hóa
khác sẽ theo yêu cầu sản phẩm của hãng sản xuất cung cấp.
- Đối với tường chắn có thời hạn phục vụ lâu dài, đất đắp tường chắn chỉ được sử dụng loại
đất rời và đất rời ít dính, cụ thể là các loại đất A-1, A-3, A-2-4, A-2-5 theo cách phân loại đất
của AASHTO với các chỉ tiêu yêu cầu:
____________________________________________________
Tỉ lê % hạt lọt qua sàng 0.074 mm

max, 35%

Chỉ số dẻo

max, 10%

Chỉ số phân nhóm GI
-

=0

Đối với tường chắn có thời hạn phục vụ lâu dài, sử dụng cốt kim loại dạng đai với bề rộng
hẹp (tác dụng tương hỗ giữa cốt với đất chỉ thuần túy dựa vào ma sát, đất đắp tường chắn chỉ
được sử dụng các loại đất A-1a và A-3, các chỉ tiêu yêu cầu:
Tỉ lê % hạt lọt qua sàng 0.074 mm
max, 15%
Chỉ số dẻo
max, 6%
Chỉ số phân nhóm GI
=0

9


Câu 8: Kể tên các phương pháp xử lý đất yếu? Ưu nhược điểm và phạm vi áp dụng của từng
phương pháp?
Có nhiều giải pháp kỹ thuật được áp dụng để xây dựng nền đường đắp trên đất yếu, bao gồm:
Các giải pháp được thực hiện cùng với nền đắp:
- Đắp theo giai đoạn
- Bê phản áp
- Gia tải tạm thời (gia tải trước)
- Đắp bằng vật liêu nhẹ
- Gia cường bằng vải địa kỹ thuật
Các giải pháp cải thiện đất dưới nền đắp:
- Thay đất yếu
- Đường thấm thẳng đứng
- Cố kết bằng hút chân không
- Cọc vật liêu rời (cọc ba lát): đá dăm, sỏi, cát,...
- Hào balát: đá dăm, sỏi,...
- Phun chất rắn (theo phương ngang)
- Cọc đất gia cố vô cơ (vôi, xi măng)
- Nền đắp trên móng cứng
- Gia cố đất bằng điên thấm (điên phân)
Các tác dụng của các kỹ thuật xây dựng nền đắp trên đất yếu được thể hiên trong Bảng 1 và tổng
hợp các ưu, nhược điểm của mỗi phương pháp được mô tả trong Bảng 2.
Đắp theo giai đoạn là đắp trực tiếp nền đường trên nền đất yếu có khống chế tốc độ đắp hoặc chia
thành các giai đoạn đắp khác nhau theo thời gian phù hợp với tốc độ cố kết của đất yếu. Đây là
phương pháp đắp đơn giản, rẻ tiền, thường được áp dụng cho các nền đất đắp có chiều cao từ 3 mét
trở xuống.
Đắp bệ phản áp là giải pháp để chống trượt trồi đảm bảo ổn định của nền đắp trên đất yếu. Bê phản
áp cũng là một giải pháp được xem là rẻ tiền, tuy nhiên, diên tích chiếm dụng mặt bằng khá lớn,
thường thích hợp với các đoạn nền đắp cao như đường đầu cầu.
Gia tải trước là đắp trước đến bằng hoặc thậm chí cao hơn cao độ thiết kế. Sau khi đắp, chờ một thời
gian thích hợp để nền yếu lún và cố kết, sau đó dỡ tải. Phương pháp này khá đơn giản, tuy nhiên, do
thời gian đắp dài nên trong nhiều trường hợp, gây nên các khó khăn về giải pháp thi công tổng thể
cho công trình. Chiều sâu đất yếu để xử lý bằng phương pháp này tùy thuộc vào chiều cao có thể đắp
được hoặc thời gian có thể chờ để cố kết được, có thể tối đa đến 30 mét. Phương pháp này được xem
là thích hợp với các loại sét hay bùn tích đọng.
Đắp bằng vật liệu nhẹ được hiểu theo nghĩa rộng bằng viêc sử dụng một số giải pháp:
- sử dụng vật liêu đắp hỗn hợp có khối lượng thể tích nhỏ: xỉ, tro bay, đất được tạo bọt, bê tông
bọt,... phối hợp với các lớp đất đắp thông thường hay nhựa tổng hợp (polistyren nở) kết hợp
với bê tông cốt thép.
- Kết hợp đắp nền và hê thống ống cống vừa có tác dụng thoát nước, vừa làm giảm trọng lượng
của nền đắp.
Hiên phương pháp này ít sử dụng do tính chất phức tạp trong khi thi công và giá thành khá cao,
thông thường chỉ sử dụng khi có sẵn nguồn vật liêu nhẹ thích hợp.
Gia cường bằng vải địa kỹ thuật là giải pháp dựa trên nguyên lý đất có cốt, làm tăng diên phân bố áp
lực của nền đắp trên đất yếu, tăng khả năng chống cắt của nền đất yếu và giảm độ lún. Kỹ thuật thi
công khá đơn giản và đã được phổ biến, thích hợp khi độ lún tổng cộng không lớn. Đây còn là giải
pháp kết hợp phát huy hiệu quả ngăn cách lớp đất yếu và vật liêu đắp, đồng thời làm tầng lọc ngược
cho nền đất đắp.
Thay đất là giải pháp để tăng cường độ và giảm lún của nền đất yếu bằng cách thay thế một phần
nền đất yếu bằng cát, sỏi, cuội hay đất cấp phối tốt theo phương pháp đào đất yếu để bỏ đi đến đâu,
10


thay thế vật liêu đắp thích hợp đến đó. Đây là phương pháp đơn giản, có thể thực hiên bằng các kỹ
thuật thi công nền thông thường, có thể áp dụng để sử lý chiều sâu đất yếu tối đa đến 3 mét. Phương
pháp này không áp dụng được trong trường hợp nền đất yếu là bùn lỏng.
Đường thấm thẳng đứng là giải pháp khá phổ biến, bao gồm một số kỹ thuật cơ bản: đường thấm
thoát nước đứng bằng bấc thấm + đêm cát, đường thấm thoát nước đứng bằng giếng cát + đêm cát,
đường thấm thoát nước đứng phối hợp với thoát nước ngang đều bằng bấc thấm, hay ruột tượng cát
là các túi vải địa kỹ thuật đường kính 7 10 cm chứa đầy cát thô hay cát trung làm đường thoát nước
dạng giếng cát. Đêm cát thoát nước ngang bằng cát thô và cát trung dày 30 50 cm. Chiều sâu sử lý
của phương pháp này phụ thuộc vào chiều sâu có thể của đường thoát nước đứng để phát huy hiêu
quả thoát nước của cả hê thống đứng và ngang, và tải trọng đắp tạo áp lực làm đất cố kết, thông
thường tối đa đến 18m.
Cố kết bằng hút chân không là giải pháp hỗ trợ thoát nước đứng và được thực hiên kết hợp với
phương pháp đường thoát nước thẳng đứng. Nguyên lý hoạt động của giải pháp này là tạo khoảng
chân không phía trên khu vực nền yếu cần xử lý hỗ trợ nước thoát ra khỏi nền đất yếu theo các hê
thống thoát nước đứng và ngang ra hào thu nước được bố trí ở hai bên của nền đắp. Áp lực có hiêu
sinh ra do giải pháp này được kiểm chứng là tương đương với chiều cao đắp đất bằng 4 m, tuy
nhiên, tốc độ thoát nước lớn hơn rất nhiều nhờ hê thống bơm hút. Thời gian cố kết của nền đất vì thế
nhanh hơn nhiều so với phương pháp gia tải trước thông thường. Đây là một ưu điểm nổi bật của
giải pháp kỹ thuật này. Tuy nhiên, hút chân không là giải pháp tốn kém và cần phải thận trọng trong
viêc thi công màng phủ để đảm bảo màng phủ kín, không bị rò rỉ làm triêt tiêu áp lực có hiêu do hút
chân không.
Cọc vật liệu rời bao gồm cọc cát, cột balát (đá dăm, sỏi,...) dùng gia cố nền đất yếu được thi công
bằng cách dùng máy đóng cọc tạo lỗ phối hợp đổ cát/ đá dăm đầy lỗ và rung bằng máy chấn động để
làm chặt vật liêu rời đồng thời đẩy ép vùng đất yếu quanh lỗ khoan. Các cọc này vừa có tác dụng
thay thế một phần nền đất yếu, vừa đẩy ép ngang các khoảng đất yếu giữa các cọc và làm đường
thoát nước thẳng đứng, cải thiên khả năng chống cắt của đất yếu. Kỹ thuật thi công khá phức tạp có
có thể gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh nếu sử dụng thiết bị chấn động (đầm rung ở độ
sâu nhất định). Ngoài ra, viêc kiểm soát chất lượng thi công các cọc cũng khá khó khăn. Chiều sâu
gia cố tối đa đối với giải pháp này khoảng 20 mét. Phương pháp cọc vật liêu rời thích hợp sử dụng
với nền đất yếu rời (cát lỏng) hoặc sét chưa bão hòa (độ ẩm dưới 25%).
Hào balát là giải pháp tạo ra các hào rộng bằng vật liêu tốt đầm chặt qua nền đất yếu để hạn chế
được độ lún và cải thiên khả năng chống cắt của nền yếu. Các hào này đồng thời là hê thống đường
thấm thoát nước. Kỹ thuật thi công được thực hiên theo các bước:
- tạo hào bằng phương pháp thả đầm rơi : máy đào bánh xích thả một khối nặng khoảng 15 tấn.
- lấp đầy các hào bằng đá balát, sử dụng phương pháp thả đầm rơi để đầm đá trong hào và đồng
thời để tăng chiều sâu của hào;
- tiếp tục lấp đá và đầm bằng phương pháp thả đầm rơi để đầm đá balát lún vào nền đất yếu trong
khoảng sâu 7 mét, mặt cắt từ 4 5 m2
Phun chất rắn là phương pháp dùng lực đưa vào trong đất hồ vữa rất nhớt bằng cách phun có áp trong
một ống nhỏ đặt trong lỗ khoan. Do độ sệt, vữa không tự thấm vào trong đất mà áp lực sẽ phụt và nén
vữa theo phương ngang. Vữa đông cứng tạo cột gia cố nền yếu. Trình tự thực hiện có thể tóm tắt:
Khoan tạo lỗ kết hợp đặt ống chờ phun
- Phun vữa vào ống nhờ thiết bị bơm, kết hợp rút ống, tỉ lệ phun vữa 5 6 % khối lượng đất yếu được
xử lý.
-

11


Báng 1: Tác dụng của các kỹ thuật xây dựng nền đường đắp trên đất yếu_______
Cải thiện nền Điện thấm
đất dưới nền
Đắp trên nền
cứng
Cọc đất gia cố
Cọc phun vữa xi măng +
đất
Phun chất rắn
ngang
Hào balát
Cột balát
Cố kết bằng hút chân
không thấm thẳng
Đường
đứng
Thay đất
Giải pháp đối Tăng cường bằng vải địa
với nền đắp
kỹ thuật
Đắp
bằng vật liệu
nhẹ
Gia tải trước
Bệ phản áp
Đắp theo giai đoạn
Cải thiện độ ổn định
Giảm biên độ lún
Giảm chuyển vị ngang
Đạt được độ lún cuối cùng
nhanhnhanh cố kết
Tăng

+ +

+
+
+

+
+

+ +
+
+
+
+ + +
+ +

+ + +
+ + +

+ + + +
+ + +
+ + +

+ +
+

+

Cọc đất gia cố xi măng, vôi là giải pháp sử dụng thiết bị để đưa và trộn tại chỗ xi măng và vôi (hàm
lượng 10 15% để gia cố đất thành các cột. Giải pháp này làm tăng cường độ chống cắt của nền yếu
và giảm độ lún. Có hai phương pháp thi công gọi là phương pháp phun/ trộn khô và phun/ trộn ướt.
Kỹ thuật thi công khá phức tạp và giá thành tương đối cao làm cho giải pháp này chưa được phổ biến
ở Việt Nam. Tuy nhiên đây là giải pháp hữu hiệu với nhiều loại đất yếu: bùn, đất bùn, đất sét yếu.
Vôi sử dụng tốt hơn đối với đất có hàm lượng cát nhỏ hoặc nền đất yếu không có các lớp cát xen kẽ,
trong khi xi măng thích hợp hơn đối với đất có hàm lượng cát lớn. Chiều sâu gia cố tối đa của
phương pháp này đến 20m.
Nền đắp trên móng cứng là giải pháp xây dựng đường trên đất yếu đã được áp dụng từ lâu đời, đặc
biệt trong thời kỳ chiến tranh để xây dựng đường qua vùng đất yếu, lầy lội trong thời gian nhanh
nhất đảm bảo giao thông, bằng đắp đất trên các bè bằng tre, gỗ, hoặc thậm chí các cành cây xếp lại.
Giải pháp này còn có thể áp dụng ở các vị trí đắp cao đầu cầu bằng việc sử dụng các tấm bê tông xi
măng làm bản giảm tải để đắp nền đường lên trên, hay có thể được mở rộng hơn ở khái niệm đắp
trên đệm phân bố tải trọng được hỗ trợ bằng hệ thống cọc, cũng được áp dụng hiệu quả ở vị trí đắp
đường đầu cầu.
Gia cố đất bằng điện thấm (điện phân) là giải pháp hỗ trợ cố kết bằng các điện cực như đã được
mô tả trong phần trước.
Bảng 2: Đánh giá ưu, nhược điểm và tính khả thi của các kỹ thuật xây dựng nền đường đắp trên đất
yếu.

Kỹ thuật xây dựng

Giá thành

Thời gian

Đặc tính kỹ
thuật

Tính khả thi

Đắp theo giai đoạn

+

+++

+

++ (thời gian)

Bệ phản áp

++

++

+

+++

Gia tải trước

+

+++

+

++ (thời gian, hiệu
quả)

Tác dụng với nền đắp

12


Đắp bằng vật liệu nhẹ

+++

+

++

+++

Sử dụng vải địa kỹ thuật

++

+

++

++ (hiệu quả)

Thay đất yếu

+++

+

+

+++

Đường thấm thẳng đứng

++

++

++

++ (thời gian)

Cố kết bằng hút chân không +++

++

+++

++ (hiệu quả)

Cột balát

+++

++

+++

++ (hiệu quả)

Hào balát

++

+

+++

++ (hiệu quả)

Phun chất rắn

+++

++

+++

++ (hiệu quả)

Cọc đất gia cố xi măng, vôi

+++

++

+++

++ (hiệu quả)

Nền đắp trên móng cứng

+++

++

++

+++

Điện phân

+++

+++

+++

++ (thời gian, hiệu
quả)

Tác dụng đối với nền yếu

13


Câu 9: Trình bày nguyên tắc bố trí các lớp vật liệu trong kết cấu áo đường (áo đường cứng và
áo đường mềm)?
1. Khái niệm mặt đường: Kết cấu mặt đường bao gồm một số tầng - lớp vật liệu tạo nên một hệ kết cấu
đủ cường độ tải trọng bánh xe và tác dụng trực tiếp của các yếu tổ tự nhiên: mưa, nhiệt độ, độ ẩm...
Khi xe chạy lực tác dụng lên kết cấu mặt đường gồm có hai thành phần, lực thẳng đứng do tải trọng
xe chạy, gây ra ứng suất ơz trong kết cấu mặt đường. Lực nằm ngang do sức kéo, lực hãm và lực
ngang khi xe chạy trong đường cong, gây ra trạng thái ứng suất ơx trong kết cấu mặt đường.
Như vậy,về mặt chịu lực kết cấu mặt đường cần có nhiều tầng lớp vật liệu khác nhau có chức năng
khác nhau để đáp ứng yêu cầu chịu lực phù hợp với trạng thái ứng suất. Các lớp ở trên cần phải là
các lớp vật liệu tốt, có cường độ cao để chịu tác dụng trực tiếp của tải trọng và phân bố tải trọng
rộng, có khả năng chống cắt trượt và chịu mài mòn tốt. Các lớp dưới có thể có cường độ thấp hơn,
và có thể là vật liệu rời rạc.
2. Sơ đồ kết cấu mặt đường với các tầng - lớp kết cấu được thể hiện dưới đây: (vẽ sơ đồ hình 1.2)
+ Tầng mặt chịu tác dụng trực tiếp của tải trọng xe chạy (lực thẳng đứng và lực nằm ngang) và tác
dụng của các nhân tố thiên nhiên (mưa, gió, thay đổi nhiệt độ,...). Để chịu được các tác dụng đó,
tầng mặt đòi hỏi phải được làm bằng các vật liệu có cường độ và sức liên kết tốt, thường là bằng vật
liệu có sử dụng gia cố chất dính kết hữu cơ (là nhựa đường), hoặc chất dính kết vô cơ (vôi, xi
măng... ). Tầng mặt phải đủ bền trong suốt thời kỳ sử dụng, phải bằng phẳng, có đủ độ nhám, chống
thấm nước, chống nứt, có khả năng chịu mài mòn tốt, không bụi và ít bong bật. Tầng mặt có thể có
nhiều hơn một lớp, trong đó có lớp hao mòn (lớp bảo vệ) để tạo độ bằng phẳng, hạn chế lực xung
kích, lực xô trượt và mài mòn trực tiếp của tải trọng bánh xe và các ảnh hưởng của các yếu tố tự
nhiên - khí hậu. Tầng mặt có thể có một hoặc nhiều lớp: lớp hao mòn - bảo vệ, lớp mặt trên, lớp mặt
dưới (lớp mặt chịu lực).
+ Tầng móng là tầng chịu lực chính, tiếp nhận tải trọng thẳng đứng và phân bố tải trọng để khi
truyền xuống nền đất thì ứng suất đã được giảm đến một mức độ nhất định mà không tạo nên biến
dạng thẳng đứng hoặc biến dạng trượt quá lớn quá khả năng chịu lực của đất nền.
Vật liệu tầng móng cần phải có độ cứng nhất định, tuỳ thuộc vào điều kiện chịu tải trọng, như cấp
đường (lưu lượng và tải trọng trục xe), điều kiện tự nhiên (khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm...) và vị trí của
lớp vật liệu trong hệ kết cấu nền - mặt đường. Tầng móng có thể có một hoặc nhiều lớp vật liệu có
cường độ giảm dần theo chiều sâu, phù hợp với biểu đồ phân bố ứng suất do tải trọng bánh xe truyền
xuống nền đường, để tận dụng vật liệu tại chỗ địa phương, giảm giá thành xây dựng.
+ Lớp đáy mặt đường (lớp đỉnh nền hoặc là lớp nền cơ sở)
Lớp đáy mặt đường có các chức năng sau:
- tạo lòng đường có khả năng chịu lực tốt và đồng nhất;
- ngăn chặn ẩm thấm xuống nền đất và từ dưới nền lên các lớp móng mạt đường;
- tạo "hiệu ứng đe" để bảo đảm chất lượng đầm nén các lớp móng phía trên;
- tạo điều kiện cho xe máy đi lại trong quá trình thi công mạt đường không gây hư hại nền đất phía
dưới (ngay cả khi thời tiết xấu).
Lớp đáy mạt đường được cấu tạo bằng đất hoặc vạt liệu chọn lọc thích hợp để đạt được các yêu cầu
sau:
- độ chạt đầm nén cao (k = 1,00 ^ 1,02 (đầm nén tiêu chuẩn); hoạc k = 0.98 (đầm nén cải tiến))
- môđun đàn hồi E > 50 MPa (500 daN/cm1) hoạc chỉ số CBR > 10 (tùy theo loại đất);
- bề dày tối thiểu là 30 cm.
Cần bố trí lớp vật liệu chọn lọc thay thế cho 30 cm phần đất trên cùng của nền đường, đối với đường
cấp I, đường cấp II và đường cấp III có 4 làn xe trở lên, nếu bản thân phần đất trên cùng của nền
đường không đạt các yêu cầu nói trên. Nên bố trí lớp đáy mạt đường trong trường hợp nền đường
đắp bằng cát, bằng đất sét trương nở và khi đường qua vùng mưa nhiều hoạc chịu tác động của nhiều
nguồn gây ẩm.Chiều rộng lớp đáy mạt đường nền lớn hơn chiều rộng tầng móng khoảng 0.15m cho
mỗi bên.
Các loại vạt liệu làm lớp đáy mạt đường có thể là:
1

14


đất có cấp phối tốt (không phải là cát);
cấp phối tự nhiên (cấp phối đồi, cấp phối sỏi suối);
đất gia cố chất liên kết vô cơ (vôi, xi măng) với tỉ lệ thấp;
Nền đất : Một phần của nền đất phía trên được tính là một bộ phạn của kết cấu mạt đường. Các biện
pháp nhằm tăng cường độ và bảo đảm ổn định cường độ của nền đất, là giải pháp thiết kế tốt để đảm
bảo kết cấu mạt đường có cường độ đảm bảo yêu cầu và ổn định trong thời gian khai thác.
-

15


Câu 10. Các yêu cầu đối với mặt đường: Yêu cầu cơ bản đối với thi công mặt đường mềm?
1. Yêu cầu thiết kế kết cấu mặt đường mềm
Mặt đường mềm phải được thiết kế để đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây:
- Đủ cường độ: cường độ chung của kết cấu tổng thể nền - mặt đường, và cường độ riêng của mỗi
lớp kết cấu.
+ Trong thiết kế kết cấu mặt đường sử dụng lý thuyết đàn hồi (tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành
22TCN-211-06), cường độ chung của kết cấu tổng thể nền - mặt đường được thể hiện qua cường độ
chống lại biến dạng võng của kết cấu mặt đường tại tâm của vòng tròn tải trọng tương đương tải
trọng bánh xe. Cường độ riêng của mỗi lớp vật liệu là cường độ chịu kéo khi uốn (đối với vật liệu
liền khối), và cường độ chống cắt trượt (đối với lớp vật liệu yếu, rời rạc và kém dính).
+ Để đảm bảo yêu cầu này, cần phối hợp một cách hợp lý giữa việc lựa chọn và bố trí các lớp kết
cấu mặt đường, lựa chọn giải pháp cải thiện nền đường ... phù hợp với điều kiện tải trọng giao thông
thực tế, phân bố trạng thái ứng suất do tải trọng giao thông trong kết cấu nền - mặt đường và điều
kiện tự nhiên trong khu vực xây dựng đường. Tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành đã đưa ra được các
khuyến nghị cần thiết cho việc lựa chọn bề dày tối thiểu của tầng mặt của mặt đường cấp cao A1 phụ
thuộc vào lưu lượng tích lũy tải trọng trục tiêu chuẩn tính toán trong thời kỳ thiết kế.
Bề dày tối thiểu của tầng mặt cấp cao A1 tùy thuộc quy mô giao thông
Số trục xe tiêu chuẩn tích lũy trong thời kỳ thiết kế Bề dày tối thiểu của tầng mặt cho mặt đường
mềm, mặt đường cấp cao A1 (cm)
(kể từ khi đưa mặt đường vào sử dụng) (trục/làn xe)

-

-

-

< 0,1.106

6 (5)

> 0,1.106

7 (5)

> 0,5.106

8 (5)

> 1.106

9 (5)

> 2.106

10 (5)

> 4.106

12,5 (7,5)

> 6.106

15,0 (10)

> 9.106

20,0 (10)

Đảm bảo cường độ của kết cấu t ổng thế nền - mặt đường và của môi lớp kết cấu ổn định trong thời gian
khai thác. Trong thiết kế kết cấu mặt đường, yêu cầu này có thể được thực hiện bằng việc lựa
chọn loại vật liệu và bố trí các lớp vật liệu trong kết cấu mặt đường hợp lý, đảm bảo phù hợp
giữa đặc tính sử dụng của vật liệu và đặc điểm của điều kiện thời tiết và điều kiện tải trọng tác
dụng.
Mặt đường phải đảm bảo độ bằng phang nhất định để giảm sức cản lăn, giảm xóc khi xe chạy
nhằm nâng cao tốc độ xe chạy, giảm tiêu hao nhiên liệu và giảm hao mòn xe và do đó làm
giảm giá thành vận doanh. Độ bằng phẳng mặt đường có mối quan hệ chặt chẽ với cường độ
chung của cả kết cấu nền - mặt đường, với cường độ cũng như chất lượng vật liệu lớp bể mặt.
Các hiện tượng như lún vệt bánh xe, biến dạng lồi lõm, bong bật, ổ gà... làm giảm độ bằng
phẳng của mặt đường đều là biểu hiện của sự suy giảm cường độ của kết cấu mặt đường và
độ bền của cấu trúc lớp bề mặt. Chọn kết cấu tầng mặt thích hợp, tính toán để đảm bảo kết
cấu nền - mặt đường đủ cường độ và chú ý đến các biện pháp kỹ thuật khi thi công là các
bước thực hiện để đảm bảo độ bằng phẳng mặt đường thiết kế trong thời gian khai thác.
Bề mặt đường phải có đủ độ nhám nhất định để nâng cao hệ số bám giữa bánh xe với mặt
đường, tạo điều kiện tốt cho xe chạy an toàn với tốc độ cao và trong trường hợp cần thiết có
thể dừng xe nhanh chóng. Chọn kết cấu tầng mặt thích hợp là giải pháp đảm bảo độ nhám cần
16


-

thiết của mặt đường. Yêu cầu về độ nhám đặc biệt cần thiết đối với giao thông hiện đại, khi
tốc độ chạy xe cao. Có nhiều vật liệu cải tiến được nghiên cứu để sử dụng làm lớp mặt tạo
nhám cho kết cấu mặt đường.
Mặt đường phải có sức chịu bào mòn tot và sản sinh ra ít bụi. Bụi sẽ làm giảm tầm nhìn, gây tác
dụng xấu cho hành khách, hàng hóa và gây ô nhiễm môi trường. Trong thiết kế kết cấu mặt
đường, việc chọn vật liệu tầng mặt là vật liệu gia cố nhựa đường là giải pháp tăng sức chịu
bào mòn của mặt đường và hạn chế sinh bụi.

Yêu cầu cơ bản đối với thi công mặt đường mềm:
Có 6 tiêu chí cơ bản đối với xây dựng mặt đường. Đó là:
- Đủ cường độ chịu tải trọng giao thông: Mặt đường phải được xây dựng để đủ khả năng chịu
tải trọng xe chạy trên đường, để biến dạng trong các lớp mặt, móng và nền đất nằm trong
phạm vi giới hạn chấp nhận được. Khái niệm này chính là cường độ và độ ổn định của kết cấu
mặt đường, không chỉ liên quan đến khả năng chống lại lực tác dụng theo phương thẳng đứng
của bánh xe lên mặt đường (là bao nhiêu KG/cm 2 hoặc bao nhiêu MPa...), mà còn là khả năng
chống lại các nứt vỡ, bong bật bề mặt, biến dạng trượt trong cấu trúc vật liệu của mặt đường.
Để đảm bảo tiêu chí này, trong thi công, khi đã có một thiết kế kết cấu mặt đường hợp lý,
phải tuân theo các quy định kỹ thuật phù hợp với điều kiện khai thác tương ứng với mỗi loại
vật liệu mặt đường
- Chong thấm nước xuong nền đường: Độ ẩm lớn của nền đường và vật liệu của kết cấu mặt
đường ảnh hưởng đến độ ổn định về cường độ của kết cấu mặt đường. Lớp mặt của kết cấu
mặt đường cần được thiết kế và thi công để tránh nước thấm xuống các lớp móng và nền
đường. Trong thi công, yêu cầu này liên quan đến mức độ đủ của công tác lu lèn.
- Giảm thiểu mất mát vật liệu bề mặt: Tải trọng giao thông gây mài mòn, mất mát vật liệu bề
mặt kết cấu mặt đường ở các mức độ khác nhau, phụ thuộc vào loại vật liệu bề mặt, loại hình
giao thông trên đường, điều kiện thời tiết - khí hậu. Tải trọng giao thông tác dụng trực tiếp
trên bề mặt đường gây bong tróc hạt mịn bề mặt đến bong bật các hạt lớn. Ngoài việc thiết kế
kết cấu mặt đường với lớp mặt có chất dính kết hợp lý, việc kiểm soát chất lượng trong quá
trình thi công để đảm bảo tránh hiện tượng nhựa lão hóa sớm, đảm bảo dính bám tốt trong
cấu trúc vật liệu... sẽ góp phần giảm thiểu mất mát vật liệu bề mặt.
- Tạo lớp bề mặt đủ nhám: Trong thi công, kiểm soát chất lượng vật liệu và qui trình thi công
sẽ đảm bảo có bề mặt đường đủ nhám thỏa mãn thiết kế, đặc biệt là đối với loại vật liệu đặc
biệt tạo nhám bề mặt đường
- Khả năng chống lại phong hóa: Mặt đường chịu tác dụng trực tiếp của các yếu tố khí hậu như
nắng, mưa, gió, băng giá ... trong quá trình khai thác. Ngoài việc xem xét lựa chọn loại vật
liệu hoặc phối hợp bố trí các tầng lớp vật liệu phù hợp với điều kiện thời tiết trong thiết kế kết
cấu mặt đường, khi thi công đảm bảo chất lượng vật liệu, qui trình công nghệ lớp mặt để
kiểm soát lão hóa của nhựa đường trong giai đoạn thi công và hạn chế quá trình lão hóa trong
khai thác hay kiểm soát lu lèn đảm bảo độ chặt của nền đường và móng đường... giúp kết cấu
mặt đường có khả năng chống lại phong hóa do khí hậu, thời tiết.

2.

17


Câu 11: Các vật liệu cấu thành lên hỗn hợp bê tông Asphalt (BTN rải nóng). Nêu trình tự thi
công mặt đường bê tông nhựa rải nóng? Các chú ý trong quá trình thi công (xử lý mối nối, kỹ
thuật lu lèn…)
1. Các vật liệu cấu thành lên hỗn hợp bê tông Asphalt (BTN rải nóng)
- Nguyên lý sử dụng vật liệu: cấp phối chặt và liên tục
- Thành phần của hỗn hợp BTN:
+ Cốt liệu: Đá dăm tiêu chuẩn các loại, cát;
+ Chất chèn: bột khoáng;
+ Chất liên kết: Bitum dầu mỏ;
+ Chất phụ gia (nếu có): phụ gia hoạt tính bề mặt;
- Chức năng của các loại cốt liệu trong thành phần hỗn hợp BTN:
+ Đá dăm: là cốt liệu chịu lực chính và tạo độ nhám cho BTN.
+ Cát: lấp đầy lỗ rỗng của đá dăm.
+ Bột khoáng và nhựa: tương tác với nhau tạo thành chất liên kết asphalt để liên kết các hạt khoáng
và lấp đầy lỗ rỗng còn lại.
+ Chất phụ gia: cải thiện tính liên kết, dính bám giữa nhựa và cốt liệu
- Hỗn hợp vật liệu thường được phối hợp và trộn tại trạm trộn.
+ Dùng nhựa đặc 40/60, 60/70, 70/100, 100/150, hàm lượng nhựa từ (4÷6)%.
+ Nhiệt độ trộn 140÷170oC, nhiệt độ rải >120oC.
+ Bê tông nhựa sau khi rải và lu xong nhiệt độ giảm bằng nhiệt độ không khí thì cường độ hình
thành gần 100%.
2. Trình tự thi công mặt đường bê tông nhựa rải nóng, gồm các bước:
2.1. Máy móc, thiết bi thi công măt đường bê tông nhựa:
+ Trạm trộn: Hỗn hợp bê tông nhựa thường được trộn tại trạm trộn;
+ Máy rải bê tông nhựa bao gồm hai bộ phận chính: bộ phận kéo và bộ phận rải (láng);
+ Thiết bị lu lèn: Có 3 loại lu có thể sử dụng để lu lèn hỗn hợp bê tông nhựa (Lu tĩnh bánh thép; Lu
bánh lốp; Lu rung).
2.2. Chuẩn bi măt bằng trước khi thi công lớp măt bê tông nhựa
- Mặt đường bê tông nhựa thi công mới: phải được hiểu là việc kiểm soát chất lượng từ thi công nền
đường và các lớp móng đường.
- Lớp nền cơ sở: phải được kiểm soát từ việc lựa chọn vật liệu đắp phù hợp, phương pháp đắp hợp
lý và lu lèn tại độ ẩm thích hợp để đạt được độ chặt yêu cầu.
- Công tác thoát nước nền đường:Thoát nước nền đường ảnh hưởng quyết định đến cường độ
nền và móng đường. Hệ thống thoát nước đồng bộ sẽ giải quyết tốt ảnh hưởng của các nguồn gây
ẩm như: nước mưa, nước mao dẫn ngang, hơi nước từ mực nước ngầm....
- Các lớp móng đường: có thể là vật liệu hạt không gia cố, có thể là vật liệu hạt có gia cố chất liên
kết hữu cơ hoặc vô cơ. Với đường giao thông có lưu lượng và tải trọng xe lớn, thường sử dụng các
loại vật liệu gia cố: gia cố nhựa đường (đá dăm trộn nhựa, cấp phối đá dăm trộn nhựa); gia cố xi
măng ... để đảm bảo độ bền khai thác của lớp mặt đường bê tông nhựa. Các chỉ tiêu kiểm tra nghiệm
thu lớp móng: Độ bằng phẳng của mặt đường; Đảm bảo kích thước và hình dạng mặt đường thiết kế
(độ dốc ngang, độ dốc dọc đường); Độ chặt lu lèn; Cường độ móng được xác định bằng thí nghiệm
nén tấm ép tĩnh.
- Chuẩn bị mặt bằng, thi công lớp nhựa dính bám:Bề mặt trước khi rải bê tông nhựa phải được vệ
sinh sạch sẽ, đảm bảo bằng phẳng, khô ráo và được rải lớp nhựa dính bám.
- Thi công lớp nhựa dính bám/ thấm, bám: là tưới một lớp nhựa đường mỏng, thông thường là nhũ
tương nhựa đường pha thêm với nước, để đảm báo dính bám về mặt móng và lớp mặt bê tông nhựa
rải lên trên. Yêu cầu cho lớp này là cần được tưới đúng tỉ lệ và đều.
+ Lớp dính bám, các loại thông dụng là SS-1, SS- 1h, CSS-1 và CSS-1h, với tỉ lệ rải 0.25 - 0.70 l/m 2
và nhiệt độ tưới là 24 - 550C.

18


+ Lớp thấm bám, loại MC-30 và MC-70 cho lớp móng chặt và loại MC-250 cho lớp móng hở. Tỉ lệ
tưới từ 0.9 - 2.7 lít/m2. Nhiệt độ rải của mặt đường khi tưới tối thiểu là 16 0C. Nếu không có nhựa
lỏng, có thể sử dụng SS-1, SS-1h, CSS-1, CSS-1h, MS-2 hay CMS-2 với tỉ lệ 0.5 - 1.4 lít/m 2
- Xử lý bề mặt đường cũ: Trước khi rải bê tông nhựa trên mặt đường cũ, ngoài vệ sinh sạch, làm khô
mặt đường và tưới nhựa dính bám, cần phải sửa chữa toàn bộ các hư hỏng bề mặt và bù vênh để đảm
bảo mặt đường cũ bằng phẳng.
2.3. Rải hỗn hợp:
- Trước khi rải hỗn hợp, cần phải bố trí tổ chức số làn rải, thứ tự và cách vận hành. Chiều rộng của
máy rải được xem xét cùng với thứ tự của các vệt rải để chọn số và chiều rộng mỗi vệt rải trên một
mặt cắt ngang đường. Các vệt rải ngoài ra còn phải được bố trí tránh để chiều dài mối nối dọc cần xử
lý dài, các mối nối dọc và mối nối ngang đường của bê tông nhựa phía trên và phía dưới không trùng
nhau. Thông thường bố trí số làn và chiều rộng làn rải theo làn xe, đặc biệt là đối với đường nâng
cấp, cải tạo để đảm bảo thông xe trên đường.
- Nếu có thể được, nên bố trí 2 máy rải làm việc đồng thời trên hai làn rải cạnh nhau, với khoảng
cách giữa hai máy từ 3m-5m, để dễ dàng giải quyết mối nối dọc của các làn đường trên tuyến. Phần
nối nên được rải trùm lên nhau khoảng 3-5cm và phải được kiểm soát cao độ tốt và lu lèn cẩn thân.
- Trong thành phố, khi rải bê tông nhựa cần lưu ý đến hệ thống các tuyến kỹ thuât và các hố ga.
Quanh các vị trí này thường phải rải bằng thủ công.
- Tại các khu vực lớn, nút giao thông, quảng trường, đường băng sân bay... cần phải lưu ý tính toán
số và chiều rộng làn rải và bố trí các vết rải rất cẩn thân. Phải đặc biệt lưu ý tránh không để mặt
đường bị đọng nước. Trong các trường hợp này, máy rải cần có bộ phân tự điều chỉnh cao độ kết
hợp với hệ thống kiểm soát cao độ rải hai bên vệt rải.
2.4. Lu lèn hỗn hợp bê tông nhựa:
- Tác dụng của việc đầm nén:
+ Cải thiện độ ổn định cơ học của hỗn hợp bằng cách tăng số điểm tiếp xúc giữa các hạt cốt liệu.
+ Kéo dài thời gian ổn định chống nứt mỏi của mặt đường do giảm lỗ rỗng không khí trong hỗn hợp
đầm nén, tránh ô xi hóa và hóa cứng sớm của bê tông nhưa;
+ Giảm thấm nước của hỗn hợp, tránh hiện tượng bóc tước màng nhựa đường ra khỏi bề mặt hạt cốt
liệu và tăng độ ẩm của các lớp dưới và làm giảm cường độ kết cấu mà các lớp phía dưới hỗ trợ.
- Mục đích của việc đầm nén là đạt được độ chặt và độ rỗng còn dư nhất định cho hỗn hợp (bằng 3%
đến 4% thể tích).
- Quá trình lu lèn bao gồm:
+ Lu sơ bộ: Để di chuyển các hạt cốt liệu trong hỗn hợp đến vị trí ổn định để sau đó đẩy nhanh quá
trình hình thành độ chạt ở giai đoạn lu sau. Lu sơ bộ có thể dùng lu nhẹ bánh thép.
+ Lu chạt: Làm giảm lỗ rỗng giữa các hạt, tăng số lượng điểm tiếp xúc giữa các hạt, giảm chiều dày
màng nhựa để tăng lực dính và liên kết hóa học giữa các hạt. Áp lực lu trong giai đoạn này phải đủ
để chống lại lực cản ma sát và lực cản nhớt trong hỗn hợp. Tốt nhất trong giai đoạn này là sử dụng lu
lốp. Lu bánh sắt nạng cũng dùng được trong giai đoạn lu này. ở thời gian đầu của giai đoạn này có
thể vẫn sử dụng lu rung.
+ Lu hoàn thiện thực hiện các nhiệm vụ: xóa vệt bánh lu, xử lý hoàn thiện vệt nối, thay đổi cấu trúc
bề mạt đường (nếu cần), tạo độ phẳng cần thiết, sửa chữa các vùng lu chưa đủ độ chạt. Lu nạng bánh
thép thường được dùng cho mục đích lu hoàn thiện.
- Các nguyên tắc chính:
+ Lu khi mặt đường còn nóng (đạt nhiệt độ theo yêu cầu của từng giai đoạn lu)
+ Đưa lu vào hoạt động ngay sau khi rải.
- Nguyên tắc vận hành chung cho các loại thiết bị lu lèn:
+ Không dừng lu trên bề mạt rải còn nóng
+ Điều khiển lu theo cách hành trình liên tục trên bề mạt rải nóng để không tạo vết
+ Không dừng lu đột ngột
+ Lu lèn từ vị trí thấp lên vị trí cao
+ Lu lèn tại đoạn có đường cong đứng dốc, lu theo hai phía từ dưới dốc lên
+ Không thay đổi làn chạy trên bề mạt rải nóng, không chạy quá gần máy rải cho đến khi hỗn hợp
19


đạt đến độ ổn định cơ học nhất định.
Nguyên tac vạn hành lu rung
- Không điều khiển rung khi lu đứng tại chỗ
- Không điều khiển quá tốc độ cho phép khi rung
- Không điều khiển rung khi không cần thiết
- Lựa chọn tải trọng lu thấp nhất để có thể đạt được độ chạt lớn nhất với ít lần lu nhất
- Trong đường cong có siêu cao, có thể tăng tốc độ lu rung (đến mức độ hợp lý), chỉ rung một
trống (1 bánh), hoạc để chạy ở chế độ tĩnh để tránh bị trượt xuống dốc.
Nguyên tac vạn hành lu lOp
- Tránh dùng lu lốp trong giai đoạn lu sơ bộ cho đến khi hỗn hợp đạt được độ ổn định cơ học
nhất định.
- Lựa chọn tải trọng và áp lực hơi bánh lu thích hợp để lu lèn Nguyên tac lu xử lý moi noi dọc
- Khi có thể, nên dùng hai máy rải
- Khi lu xử lý mối nối dọc với một bên hỗn hợp còn nóng, một bên hỗn hợp đã nguội, cần phải:
+ chạy lu thẳng theo mối nối
+ phần trải trùm lên (khoảng 3 - 5 cm) về bên hỗn hợp đã nguội
+ tạo phẳng bằng thiết bị thích hợp (nếu cần)
+ tốc độ lu chạm, có thể dùng lu lốp.
Thi công đoạn thử nghiệm là yêu cầu bắt buộc đối với thi công mạt đường để xác định quy trình lu
lèn thích hợp đạt được độ chạt yêu cầu. Số lượt lu trên một điểm cũng được xác định trên cơ sở kết
quả đoạn thi công thử nghiệm.
Tốc độ lu phải được điều chỉnh theo quy trình, phù hợp với tốc độ của máy rải để tạo một quy trình
liên hoàn, đảm bảo theo đúng qui trình công nghệ.
2.5. Bảo dưỡng măt đường hoàn thành: Bảo dưỡng mặt đường bê tông nhựa nóng hoàn thành
thường chỉ yêu cầu trong ngày cho đến khi hỗn hợp bê tông nhựa nóng nguội hẳn. Phương pháp bảo
dưỡng cũng đơn giản, chỉ bao gôm điều chỉnh giao thông chạy với tốc độ chậm trong đoạn mới hoàn
thành.

20


Câu 12: Vai trò của hệ thống ván khuôn trong thi công mặt đường BTXM bằng công nghệ ván
khuôn cố định? Nêu trình tự thi công mặt đường BTXM? Các chú ý trong quá trình thi công?
1. Vai trò của hệ thống ván khuôn: Là thành phần then chốt của việc thi công bằng ván khuôn cố
định. Ván khuôn là khuôn để xác định: Chiều dày mặt đường; Bề rộng; Độ bằng phang và êm thuận
của mặt đường cho xe chạy.
Yêu cầu ván khuôn:
+ Đáy phẳng và rộng để giúp cho ván khuôn ổn định;
+ Tạo thành một đường ray nhỏ phía trên để chống đỡ các thiết bị thi công;
+ Các ván khuôn có thể liên kết với lớp móng và đất nền bằng các thanh cắm chốt;
+ Các đoạn ván khuôn liên kết với nhau qua các chốt cài;
+ Mỗi đoạn ván khuôn thường được làm từ thép bề dày tối thiểu 5,6mm, dài 3m.
+ Cho phép kê kích ở đáy ván khuôn, dùng chốt để tăng chiều cao (tối đa cho phép là 50mm).
2. Trình tự thi công mặt đường BTXM
2.1. Làm phẳng móng (hoặc nền) đường: móng (hoặc nền) đường được làm phẳng sẽ tránh gây ra
việc xé rách lớp ngăn nước, hạn chế mặt BTXM có bề dày không đều (chỗ dày, chỗ mỏng), dẫn đến
dễ nứt tấm BTXM do ứng suất cục bộ gây ra bởi tải trọng khai thác tác dụng lên vị trí tiếp giáp giữa
chỗ dày và chỗ mỏng (thậm chí chỗ mỏng có đủ bề dày thiết kế, nhưng thực tế thì chỗ mỏng thường
có bề dày nhỏ hơn thiết kế).
2.2. Lắp ván khuôn: Ván khuôn phải được lắp chính xác theo cao độ và phải được chống đỡ bởi nền
chắc chắn. Ván khuôn không được đặt trên các bệ đất tơi hoặc đá tảng (phải đặt trên nền bằng
phẳng, chắc chắn);
2.3. Thanh truyền lực: Lắp đặt các thanh truyền lực và các neo sắt ở đúng vị trí để ngăn chặn sự dịch
chuyển của cốt thép khi bê tông được rải.
2.4. Sản xuất và vận chuyển bê tông:
- Độ sụt phụ thuộc vào biện pháp thi công
+ Nếu thi công bằng phương pháp thủ công, độ sụt có thể tới 5-6cm
+ Nếu thi công bằng cơ giới, độ sụt 2 - 4cm
- Điều kiện giới hạn khi trộn BTXM: Đảm bảo đủ ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo khi trộn, rải,
hoàn thiện bê tông. Chỉ được rải bê tông mặt đường khi nhiệt độ không khí trong phạm vi từ 5-36 oC.
- Trộn bê tông: Trộn tại các trạm trộn cố định, các nhà máy sản xuất bê tông hoặc trộn bằng các
máy trộn tại đường (di chuyển theo tốc độ đổ bê tông).
2.5. Thi công mặt đường, bao gồm: Rải hỗn hợp; San phẳng hỗn hợp; Đầm bê tông; Hoàn thiện mặt
đường bê tông và tạo nhám mặt đường.
2.5.1.Máy rải, san, đầm bê tông:
Bê tông được đổ vào trong khuôn đã được chuẩn bị, việc san gạt bê tông có thể thực hiện theo các
phương pháp sau:
a) Phương pháp thủ công: Sau khi đổ bê tông thành từng đống, dùng các dụng cụ như xẻng, cuốc,
bàn gạt gỗ để gạt bê tông theo bề rộng của ván khuôn.
b) Phương pháp dùng bằng khuôn gạt: Bộ khuôn gạt bê tông là bộ phận khung bang thép (đủ nặng)
có bánh xe chạy trên 2 thành của ván khuôn, sau khi đổ bê tông vào trong khuôn, dùng ô tô kéo cho
khung gạt di chuyển theo hướng thi công, bê tông sẽ được san cơ bản.
c) Dùng thiết bị đầm gạt để vừa gạt vừa đầm bê tông, hiệu quả và chất lượng rất cao nếu có phương
tiện này.
2.7.2. Đầm bê tông bằng thiết bị cầm tay:
Trình tự thực hiện:
+ Đầu tiên dùng đầm dùi đầm dọc theo mép của ván khuôn. Đầm dùi có thể đầm theo sơ đồ và
phương pháp đầm sâu, phương pháp kéo dùi khi đầm, phương pháp cải tiến của phương pháp kéo
dùi. Thường người ta dùng phương pháp kéo dùi, dùi xiên 1 góc 300 - 450 tới độ sâu nhất định,
tránh làm hỏng móng. Thời gian tại một vị trí là 30-45s, sau đó nâng đầm dùi lên từ từ, tránh tạo
thành lỗ và chuyển sang vị trí mới cách vị trí cũ không quá 1,5 bán kính tác dụng của đầm.
21


+ Sau khi đầm dùi đầm xong (có thể kết hợp song song) thì dùng đầm bàn đầm sơ bộ, thời gian tác
dụng đầm bàn tại một chỗ từ 30-45s. Sau khi đầm bàn đầm sơ bộ, đầm từ mép ngoài vào giữa, các
vệt đầm trùng lên nhau 5-10cm.
+ Sau khi đầm sơ bộ xong dùng đầm ngựa. Đầm ngựa có tác dụng đầm chặt hỗn hợp bê tông đến
cao độ thiết kế trên toàn chiều rộng, khắc phục những chỗ lồi lõm làm cho tấm bê tông bằng phẳng.
+ Sau đầm ngựa đến đầm đập đá, đầm đập đá là loại đầm ngựa, nhưng đáy có hàn thêm các đoạn
thanh thép 06 theo hướng ngang.
+ Mặt khác đầm đập đá còn tạo ra 1 lượng vữa đủ để hoàn thiện lớp mặt bê tông.
+ Đầm là phẳng: Dùng một ống tròn thằng bằng kim loại, có đường kính 50-60mm, dài khoảng 4m,
hai đầu có tay cầm.
2.7.3.Hoàn thiện bê tông-tạo nhám: Việc hoàn thiện và tạo nhám bề mặt tấm bê tông có thể thực
hiện bằng các dụng cụ cầm tay như bàn trang, bàn xoa gỗ, thước 3m, chổi quét nhám.
2.7.4 .Công tác xẻ khe bê tông: Để khống chế nứt do bê tông co ngót và do nhiệt độ. Giải pháp là
thiết kế các loại khe mặt đường, các vết nứt tự nhiên có thể xảy ra nhưng không ảnh hưởng tới chất
lượng xe chạy và sự làm việc của mặt đường.
2.7.5. Bảo dưỡng bê tông:
- Công tác bảo dưỡng bê tông cần được tiến hành ngay sau 3 ngày kể từ khi công việc hoàn thiện
cuối cùng được hoàn tất. Tránh phơi bê tông trên 30 phút trong thời gian bảo dưỡng.
- Không cho các phương tiện chạy trên mặt đường ít nhất 10 ngày hoặc cho đến khi cường độ chịu
nén của bê tông đạt được 15kPa theo thí nghiệm của AASHTO T97.
a. Giữ độ ẩm bằng vật liệu rời hạt nhỏ: Vât liệu rời tốt nhất là cát vàng, cát đen, các vât liệu dăm sạn
khác (lưu ý: các vât liệu này dùng được nhiều lần).
b.Phương pháp màng mỏng không thấm: chỉ dùng ở thời tiết khô trong quá trình bảo dưỡng. Chất
bảo dưỡng được rải bằng máy có thùng khuấy và một vòi thổi đều để có thể chất lượng bảo dưỡng
đạt 1l/3.5m2 mặt đường.
c. Bảo dương bằng bao tải: các bề mặt bê tông được bảo dương phải được che phủ, trước khi phủ,
bao phải được thấm đẫm nước kỹ càng.
d. Bảo dương bằng giấy không thấm nước (giấy dầu, vải bạt, tấm bạt che bang polime).
2.7.6. Bịt khe:Công tác đổ (rót) chất chèn khe được tiến hành ngay sau thời kỳ bảo dưỡng hoặc
trước khi cho xe chạy trên mặt đường.
2.7.7. Tháo ván khuôn
+ Ván khuôn có thể được dỡ ngay sau khi 6-8h nhưng cần cẩn thân trong việc kéo thanh chốt và tháo
dỡ ván khuôn.
+ Kéo thanh chốt sử dụng kìm nhổ, sau đó dỡ ván khuôn mà không tác động vào giữa ván khuôn và
bê tông.
+ Vỗ nhẹ cạnh tấm tạo độ bong rời.
+ Sau khi gỡ bỏ ván khuôn, kiểm tra để đảm bảo rằng bê tông được đầm tốt để tạo ra bê tông chặt
dọc theo đường ván khuôn.
2.7.8. Sửa chữa các tấm mặt đường bị khuyết tật:
2.7.9. Công tác bảo vệ mặt đường: Khống chế xe chạy trên mặt đường. Thực hiện theo đúng kế
hoạch kiểm tra, cho phép xe chạy trên đường. Thông xe: Chỉ cho phép xe chạy tên mặt đường sau
14 ngày (trong trường hợp bảo dương tốt) hoặc 21 ngày trong điều kiện bình thường ke từ khi đổ bê
tông.
2.7.10. Lề đường: Trước khi mặt đường được thông xe lề đường phải được xây dựng hoàn chỉnh
dọc theo mỗi mép.
3. Một số vấn đề cần chú ý khi thi công mặt đường bê tông xi măng:
Các nhân tổ quan trọng trong thi công cần chú ý:
- Đảm bảo bê tông được đổ xuống và san đều. Dịch chuyển bê tông bằng xẻng, không dùng cào hay
đầm dùi, vì nó có thể gây phân tầng hỗn hợp bê tông.
- Đảm bảo đầm rung đủ cho toàn vùng bê tông đe đạt được sự trộn đều của bê tông.
- Đảm bảo rang công nhân giữ máy vừa đầm rung và gạt phang di chuyern theo chiều tien lên trên
ván khuôn, neu gạt phang bang tay, công việc phải được thực hiện một cách đều đặn.
22


- Bề mặt phải được là phang, thường được thực hiện bởi 2 người công dùng bay tay và thước thang.
Các lượt tiếp theo được san phang, neu có yêu cầu, phải đè lên lượt trước.
Khi thi công gặp mưa xử lý như sau:
- Nếu mưa nhỏ, hãy nhanh chóng san gạt và đầm phần bê tông đã trộn và hoàn thiện, đe tránh rỗ mặt
phải phủ bạt hoặc tam ni lông che tam đã rải (ke cả các tam bê tông mới rải được 3-4h).
- Neu mưa to, phải tạm ngừng rải, che những phần đã rải. Neu mưa kéo dài, xi măng bat đầu ninh ket
phải loại bỏ. Neu còn thời gian cho phép, phải che chan mưa mới được tiep tục rải.
- Khi thi công, máy đầm hoặc thiet bị trộn trục trặc, không sửa kịp. Neu đang rải dở tam, phải cố
gang thi công bang thủ công cho het tam. Chỉ được thi công trong phạm vi tam dở dang, neu sửa
được máy mới thi công tiep.
- Trong trường hợp cần thiet, có thể tự che mattit chèn khe theo công thức sau: Bitum 60%, xi măng
(hoặc bột đá vôi) 25%, bột amiang 10%, bột cao su tái sinh 5%.

23


Câu 13: Khái niệm về bê tông đầm lăn? Ưu nhược điểm, vật liệu và các thiết bị sử dụng trong
thi công mặt đường bê tông đầm lăn?
1. Khái niệm: Công nghệ bê tông đầm lăn (BTĐL) là loại công nghệ sử dụng bê tông không có độ
sụt, được làm chặt bằng thiết bị rung lèn từ mặt ngoài (lu rung). Công nghệ này thích hợp sử dụng
cho các công trình bê tông khối lớn, không cốt thép và hình dáng không phức tạp như lõi đập, mặt
đường. Việc sử dụng hỗn hợp bê tông khô hơn (không có độ sụt) và đầm lèn bê tông bằng lu rung
giúp cho thi công nhanh hơn, rẻ hơn so với dùng công nghệ thi công bê tông truyền thống.
2. Ưu điểm:
- Lượng dùng xi măng thấp, có thể sử dụng một số phế thải hoặc sản phẩm phụ của các ngành công
nghiệp khác giúp hạ giá thành vật liệu;
- Đạt cường độ cao ở thời gian đầu, sớm cho phép lưu thông đường (sau 24h hoặc cùng lắm 72h có
thể thông xe);
- Phương pháp thi công không phức tạp, tương tự như thi công bê tông asphalt;
- Tốc độ thi công nhanh giúp rút ngắn thời gian thi công và giảm tổng chi phí.
3. Nhược điểm:
- Do được đầm chặt bằng phương pháp lu lèn nên độ bằng phẳng của mặt đường chưa đáp ứng được
yêu cầu cho các phương tiện xe chạy với tốc độ cao;
- Khuyến cáo chỉ dùng mặt đường BTĐL cho các đường có tốc độ thiết kế không quá 60 km/h;
4. Vật liệu chế tạo BTĐL
4.1. Xi măng
- Đối với BTĐL dùng cho đâp khối lớn nên sử dụng xi măng có nhiệt thuỷ hoá thấp hơn so với nhiệt
thuỷ hoá của xi măng poc lăng thường (TCVN 2682 -1992) như các loại poóc lăng - pu giơ lan
(TCVN 4033-95) và xi măng hỗn hợp xỉ lò cao (TCVN 6260 -1999) hay xi măng ít toả nhiệt (TCVN
6069-95).
- Đối với BTĐL cho mặt đường có thể dùng các loại xi măng thông thường như các dạng xi măng
dùng cho kết cấu thông thường khác.
4.2. Cốt liệu
- Đối với BTĐL cho đâp, có thể sử dụng cốt liệu có Dmax tới 75mm hoặc cao hơn. Tuy nhiên việc
lựa chọn Dmax cần cân nhac kỹ ve kinh tế và kỹ thuât. Việc sử dụng cốt liệu có Dmax lớn 100mm150mm tuy có giảm giá thành vât liệu chế tạo bê tông nhưng lại đay cao chi phí trộn và vận chuyển
hỗn hợp bê tông. Đối với BTĐL cho mặt đường, chỉ nên sử dụng cốt liệu có Dmax 20mm.
4.3. Phụ gia khoáng
- Phụ gia khoáng (PGK) pu-giơ-lan là vật liệu silicat hoặc alumo-silicat mà bản thân nó có ít hoặc
không có khả năng đóng rắn nhưng với sự có mặt của nước hoặc độ ẩm nó có thể phản ứng với canxi hy-dro-xit để có thể đóng rắn. Pu-giơ-lan cho BTĐL cần phù hợp tiêu chuẩn ASTM C618-97 hoặc
14 TCN 105-97, TCVN 3735-82.
4.4. Phụ gia hoá học
- Các công trình BTĐL thường sử dụng các loại phụ gia: Phụ gia dẻo hoá-giảm nước, giảm nước và
kéo dài thời gian đông kết và một số loại phụ gia cuốn khí. Trên thực tế, việc sử dụng phụ gia dẻo
hoá và dẻo hoá chậm đông kết làm tăng tính dễ thi công lu lèn và kéo dài thời gian thi công làm cho
khả năng bám dính và độ chống thấm vùng tiếp giáp giữa các lớp bê tông được tăng cường.
- Việc lựa chọn loại và tỷ lệ dùng phụ gia hoá học thường căn cứ vào kết quả thí nghiệm với các vật
liệu XM, PGK, cốt liệu cụ thể.
5. Thiết bị cho thi công đường, sân bãi: Máy trộn cưỡng bức; xe tải tự đổ; máy rải (asphalt); xe lu
rung; xe lu lốp; máy cắt bê tông;
6. Hiệu quả áp dụng bê tông đầm lăn làm mặt đường ở Việt Nam
- Về kinh tế:Rút ngắn thời gian thi công, sớm đưa công trình vào khai thác sử dụng; Sử dụng BTĐL
có thể rút ngắn thời gian đưa công trình vào sử dụng nhanh gấp hai lần so với bê tông thường.
- Về môi trường: nhờ việc giảm lượng dùng xi măng trong BTĐL và có thể thay thế một phần xi
măng bằng phụ gia khoáng giúp giảm mức tiêu hao năng lượng, giảm ô nhiễm môi trường do ngành
công nghiệp sản xuất xi măng gây nên. Hơn nữa việc có thể tận dụng phế thải tro than, cho phép giải
24


quyết xử lý phế thải công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×