Tải bản đầy đủ

Thương nhân (tìm hiểu về thương nhân theo luật thương mại)

NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG – MSSV 1323801010255
Lớp: D13LU05
Đề bài : hiểu biết của anh chị về thương nhân

Thương nhân là chủ thể của luật thương mại. Từ khái niệm đặc điểm và phân loại giúp ta
hiểu rõ hơn về bản chất của thương nhân cũng như phân biệt thương nhân vói 1 số đối
tượng khác như các tổ chức chính trị- xã hội, cá nhân..
Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Thương Mại 2005 thì “thương nhân bao gồm tổ
chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập,
thường xuyên và có đăng kí kinh doanh”. Trong đó :
- Tổ chức kinh tế bao gồm: Doanh nghiệp( doanh nghiệp tư nhân, công ty như công ty
TNHH 1 thành viên, công ty TNHH 2 thành viên trở lên, công ty hợp danh, công ty cổ
phần ); Hợp tác xã; Hộ kinh doanh.
- Cá nhân bao gồm : Công dân Việt Nam,công dân nước ngoài, người không quốc tịch
- Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng
hoá , cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại, và các hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi khác
Về đặc điểm của thương nhân gồm 5 đặc điểm chính
- thứ nhất về chủ thể của thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế và cá nhân. Điều kiện để
trở thành chủ thể của thương nhân bao gồm
+ về cá nhân : Để trở thành thương nhân cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

Cá nhân nước ngoài và người không quốc tịch muốn trở thành thương nhân Việt Nam
cũng phải có hành vi dân sự đầy đủ theo pháp luật Việt Nam( khoản 2 Điều 762 BLDS
2005) và hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên và có đăng lí kinh doanh
+ Về tổ chức kinh tế là chủ thể nhân tạo được thành lập hợp pháp theo quy định của
pháp luật ( luật doanh nghiệp 2005) tiến hành các hoạt động kinh doanh, thương mại
nhằm mục đích sinh lợi
- Thứ hai, để trở thành hay được xem là thương nhân thì cá nhân hoặc tổ chức kinh tế
tiến hành hoạt động thương mại
- Thứ ba ngoài việc tiến hành hoạt động thương mại thì thương nhân phải tiến hành hoạt
động thương mại một cách độc lập.Tính độc lập ở đây là tính độc lập về mặt pháp lý.
Nghĩa là cá nhân hay tổ chức đó tham gia vào hoạt động thương mại , giao dịch thương
mại, với tư cách là chủ thể pháp luật độc lập. Như vậy cá nhân hay tổ chức kinh tế phụ


NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG – MSSV 1323801010255
Lớp: D13LU05
Đề bài : hiểu biết của anh chị về thương nhân

thuộc về mặt tài chính, kinh tế như công ty con, công ty liên kết trong nhóm không bị mất
đi tính độc lập về mặt pháp lý. Ngoài ra đặc điểm này đã loại trừ văn phòng đại diện và
chi nhánh khỏi khái niệm thương nhân, bởi vì chúng chỉ là các đơn vị phụ thuộc thương
nhân mà thôi ( khoản 1,2 Điều 37 LDN 2005, khoản 6,7 Điều 3 LTM 2005)
- Thứ tư, các hoạt động thương mại mà cá nhân hay tổ chức đó phải tiến hành phải có
tính thường xuyên. Tính thường xuyên nói chung đòi hỏi hoạt động có tính liên tục trong
khoảng thời gian dài có xác định hoặc không xác định. Đối với cá nhân điều đó còn có
nghĩa là cá nhân lấy hoạt động thương mại làm nghề nghiệp chính của mình và tạo ra thu
nhập chính cho mình. Đối với tổ chức kinh tế thì tính thường xuyên đã bao hàm trong
mục đích thành lập. Yêu cầu về tính thường xuyên dẫn đến hệ quả pháp lý, theo đó nếu
thương nhân có ý định tạm dừng hoạt động trong một khoảng thời gian vượt quá một giới
hạn nào đó thì phải thông báo với các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về việc
tạm ngừng hoạt động đó.
- Thứ năm, đặc điểm cuối cùng là để trở thành thương nhân thì cá nhân phải đăng kí kinh
doanh; còn tổ chức kinh tế thì xuất hiện với tư cách là một chủ thể pháp luật và đồng thời
là thương nhân kể từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh (hoặc giấy
chứng nhận có giá trị tương đương, như Giấy chứng nhận đầu tư khi thành lập tổ chức
kinh tế). Như vậy, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (nay theo pháp luật doanh nghiệp
là giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp) là văn bản khai sinh ra chủ thể pháp luật mới
là thương nhân. Đặc điểm này đã loại trừ một số loại tổ chức nghề nghiệp được tổ chức
thành lập dưới hình thức doanh nghiệp ra khỏi phạm trù thương nhân như luật sư,công
chứng viên từa phát lại vì thay vì đăng kí kinh doanh theo luật doanh nghiệp thì các tổ

chức này đăng kí hoạt động tại cơ quan chuyên nghành là sở tư pháp( luật luật sư
2006,luật công chứng 2006, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP). Ngoài ra các cá nhân hoạt
động thương mại mà theo quy định tại Nghị định số 39/2007/ NĐ-CP không phải đăng kí
kinh doanh thì không phải là thương nhân ( các nhân buôn bán hang rong, buôn bsn vặt,
bán vé số, sửa khoá, sửa chữa xe .. và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố
định, cũng như các hoạt động thương mại tương tự khác). Tuy các cá nhân này hoạt động
thương mại cũng có các tính chất thường xuyên độc lập tuy nhiên tính chất nhỏ lẻ, thu
nhập thấp, không thuê mướn người khác nên pháp luật loại trừ các hoạt động này khỏi
nghĩa vụ đăng kí kinh doanh
Về phân loại dựa theo 3 căn cứ cơ bản để phân loại thương nhân đó là theo tư cách pháp
lý,hình thức tổ chức và chế độ trách nhiệm tài sản
- Căn cứ tư cách pháp lý : Dựa vào tư cách pháp lý có thể phân loại thành thương nhân có
tư cách pháp nhân và thương nhân không có tư cách pháp nhân. Theo Điều 84 LDS 2005


NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG – MSSV 1323801010255
Lớp: D13LU05
Đề bài : hiểu biết của anh chị về thương nhân

thì điều kiện để trở thành pháp nhân bao gồm: Được thành lập hợp pháp; Có cơ cấu tổ
chức chặc chẽ; Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng
tài sản độc lập đó; Nhân danh mình tham gia vào quan hệ pháp luât một cách độc lập.
Như vậy căn cứ vào luật doanh nghiệp 2005 thương nhân có tư cách pháp nhân bao gồm:
Công ty TNHH 1 thành viên; công ty TNHH 2 thành viên trở lên; công ty cổ phần; hợp
tác xã- lien hiệp hợp tác xã. Thương nhân không có tư cách pháp nhân gồm: Công ty hợp
danh, doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình.
- Căn cứ hình thức tổ chức có thể phân loại thương nhân thành doanh nghiệp các loại, hộ
kinh doanh, hợp tác xã và lien hiệp hợp tác xã.
- Căn cứ vào chế độ trách nhiệm tài sản có thể phân loại thương nhân thành thương nhân
chịu trách nhiệm hữu hạn và thương nhân chịu trách nhiệm tài sản vô hạn. Thương nhân
chịu trách nhiệm hữu hạn bao gồm công ty TNHH các loại, công ty cổ phần hợp tác xã và
liên hiệp hợp tác xã. Theo đó thương nhân chỉ chịu trách nhiệm về tài sản bằng tài sản
của chính mình(bao gồm tài sản do thành viên, cổ đông, xã viên góp vốn và các tài sản
hợp pháp khác tạo lập được trong quá trình hoạt động thuộc sở hữu của mình. Còn
thương nhân chịu trách nhiệm tài sản vô hạn bao gồm doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh
doanh và công ty hợp danh.
“Thương nhân” là một trong số các khái niệm cơ bản của pháp luật thương mại, bởi vì
quan hệ pháp luật thương mại chỉ được xác lập khi có sự tham gia của ít nhất một bên
thương nhân.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×