Tải bản đầy đủ

Đề cương Chính trị học đại cương khoa chính trị học 15 câu

Câu 1. Chính trị là gì, phân tích luận điểm chính trị học vừa là khoa học
vừa là nghệ thuật.
Chính trị là tất cả những hoạt động, những vấn đề gắn với quan hệ giai
cấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã hội xoay quanh một vấn đề trung tâm đó là
vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước.
- Là sự tham gia của nhân dân vào công việc của nhà nước và xã hội.
- Là hoạt động thực tiễn của các đảng phái, giai cấp, nhà nước trong việc tìm
kiếm những khả năng đề ra đường lối thực hiện mục tiêu, nhằm thoả mãn lợi ích.
Chính trị vừa là khoa học vừa là nghệ thuật
Chính trị là khoa học
- Chính trị là một hiện tượng khách quan trong đời sống xã hội loài người,
xuất hiện cùng với giai cấp và nhà nước, gắn liền với quyền lực, với đấu tranh giai
cấp và đấu tranh dân tộc.
- Chính trị là lĩnh vực tương đối độc lập trong đời sống xã hội, có logic phát
triển nội tại, có quy luật phát triển khách quan.
- Chính trị là một hệ thống tri thức, từ những tri thức kinh nghiệm đến tri thức
lý luận hoàn chỉnh, phản ánh quy luật vận động khách quan của chính trị.
- Do hạn chế lịch sử và bị chi phối bởi lợi ích giai cấp, nên chính trị trở thành
đặc quyền của giai cấp thống trị. Nó chỉ trở thành khoa học đích thực khi chủ nghĩa
Mác-Lênin ra đời.



- Ngày nay, chính trị thực sự trở thành một khoa học với đối tượng và phương
pháp nghiên cứu riêng.
- Chính trị là một khoa học, nên phải đối xử với nó như một khoa học.
- Cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giành độc lập cũng như trong xây dựng
CNXH luôn xác định chính trị (đường lối, chính sách và tổ chức thực tiễn) là một
khoa học.
Chính trị là nghệ thuật
- Chính trị là hoạt động của con người liên quan đến tranh giành quyền lực,
quyết liệt một mất một còn, nên các chủ thể chính trị (trước hết là giai cấp) không
thể không sử dụng mọi biện pháp, thủ đoạn để đạt mục tiêu chính trị.
- Hoạt động chính trị luôn sáng tạo, linh hoạt, khôn khéo, mềm dẻo, phù hợp
với thực tiễn để đạt hiệu quả cao nhất.
- Chính trị là phạm vi hoạt động hấp dẫn, nhưng phức tạp, "giống đại số hơn
số học". Nó đòi hỏi kỹ năng, kỹ xảo cao, đòi hỏi tầm trí tuệ tương ứng của các nhà
chính trị.
- Chính trị là nghệ thuật của những bước đi (biết tiến, biết lùi đúng lúc),
những giải pháp, thỏa hiệp trong những thời điểm lịch sử quan trọng.
- Đó là nghệ thuật vận dụng tri thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn để xử lý
các tính huống chính trị phức tạp, vận dụng đúng đắn phép biện chứng giữa khách
quan và chủ quan trong hoạt động, đấu tranh chính trị.
- Chính trị là nghệ thuật của các khả năng: khả năng nắm bắt sự vận động của
xã hội, dự báo chính xác tình thế và thời cơ cách mạng.


- Chính trị là nghệ thuật tổ chức lực lượng, sử dụng con người, nghệ thuật vận
động quần chúng, nghệ thuật tiến hành chiến tranh cách mạng.
- Chính trị là "Dĩ bất biến, ứng vạn biến".
Mối quan hệ biện chứng
- Bản thân chính trị là một khoa học cũng đã phản ánh tính nghệ thuật của nó,
bởi khoa học và nghệ thuật luôn gắn bó hữu cơ.
- Là lĩnh vực nhạy cảm, liên quan đến vận mệnh của con người, của hàng
triệu người, chính trị, hoạt động chính trị đòi hỏi sự chuẩn xác gắn với thực tiễn,
tuân theo quy luật khách quan, tránh chủ quan, duy ý chí; đồng thời nó đòi hỏi sự
nhạy cảm, tinh tế, mưu lược đạt trình độ nghệ thuật cao.
- Trong hoạt động chính trị thực tiễn, tính khoa học và nghệ thuật kết hợp, bổ
sung cho nhau. Nếu tuyệt đối hóa tính khoa học của chính trị dễ rơi vào chủ nghĩa
giáo điều, máy móc; nếu tuyệt đối hóa tính nghệ thuật không tuân theo khoa học
thì chính trị chỉ còn lại là những mánh khóe lừa đảo , mị dân, sớm muộn cũng bị
vạch trần.

Câu 2: Chính trị học là gì? Trình bày chức năng, nhiệm vụ và đối tượng
của chính trị học?
1.

Chính trị học
Chính trị học là một bộ môn khoa học nghiên cứu lĩnh vực chính trị của đời
sống xh để làm rõ những quy luật, tính quy luật vận động chung nhất của đời sống
ctrị xh cùng những phương thức, những thủ thuật chính trị để hiện thực hoá những


quy luật, tính quy luật chung ấy trong các xã hội có giai cấp và được tổ chức thành
nhà nước.
1.

2. Đối tượng, chức năng và nhiệm vụ của chính trị học

2.

Đối tượng của chính trị học
- Quy luật, tính quy luật chung nhất của đời sống chính trị xã hội.
- Cơ chế vận dụng, cơ chế tác động của những quy luật đó vào thực tiễn.
- Thủ thuật, phương thức chính trị.
Chức năng của chính trị học

1.

- Phát hiện, dự báo những quy luật, tính quy luật của đời sống chính trị xã
hội.
- Hình thành hệ thống tri thức có tính lí luận, có căn cứ khoa học và thực tiễn
về những vấn dề chính trị cơ bản.
2. Nhiệm vụ của chính trị học
-

Trang bị cho những nhà lãnh đạo chính trị những tri thức,những kinh

nghiệm cần thiết giúp cho hoạt động của họ phù hợp với quy luật khách quan,tránh
được những sai lầm như:giáo điều,chủ quan,duy ý chí....
- Trang bị cho mỗi công dân những cơ sở khoa học để họ có thể nhận thức
về các sự kiện chính trị,trên cơ sở đó xây dựng thái độ,động cơ đúng đắn phù hợp
với khả năng trong sự phát triển chung mà mỗi công dân tham gia như một chủ thể.


-

Góp phần hình thành cơ sở khoa học cho các chương trình chính trị,cho

việc hoạch định chiến lược với những mục tiêu đối nội,đối ngoại cùng với các
phương pháp,phương tiện ,những thủ thuật chính trị nhằm đạt mục tiêu chính trị đã
đề ra.
-

Phân tích các thể chế chính trị và mối quan hệ,tác động qua lại giữa

chúng,xây dựng học thuyết,lý luận chính trị,làm rõ sự phát triển của nền dân chủ.


Câu 3: Trình bày tư tưởng chính trị phái Nho gia và Pháp gia sơ kỳ ? ảnh
hưởng của nó đến đời sống chính trị và xã hội việt nam.
1.

Tư tưởng chính trị của phái Nho gia
Tư tưởng Nho gia chiếm vị trí quan trọng trong lịch sử chính trị Trung Quốc.
Tư tưởng Nho gia ảnh hưởng sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội Trung Quốc
và các nước láng giềng trong đó có Việt Nam. Hai đại diện tiêu biễu cho phái Nho
gia là Khổng Tử và Mạnh Tử.
Khổng Tử(551- 479 TCN)
- Nội dung của tư tưởng chính trị
Khổng Tử là người sáng lập ra trường phái Nho gia
- Tư tưởng chính trị của Khổng Tử là vì sự bình ổn của xã hội- một xã hội
thái bình thịnh trị. Theo Khổng Tử là chính đạo, đạo người làm chính trị là phải
ngay thẳng, lấy chính trị để dẫn dắt dân. Để thiên hạ có đạo, quay về lễ, phải củng
cố điều Nhân, coi trọng lễ nghĩa thì xã hội sẽ ổn định.
- Khổng Tử đề ra thuyết : “ Nhân – Lễ- Chính danh”.
+ Nhân là phạm trù trung tâm trong học thuyết chính trị của Khổng Tử. Nhân
là thước đo quyết định thành bại, tốt xấu của chính trị. Nội dung của Nhân bao hàm
các vấn đề đạo đức, luân lí của xã hội. Biểu hiện trong chính trị như sau:



Thương yêu con người



Tu dưỡng bản thân, sửa mình theo lễ là nhân



Tôn trọng và sử dụng người hiền


Nội dung của Nhân là nhân đạo, thương yêu con người, giúp đỡ lẫn nhau.
+ Lễ: là qui định, nghi thức trong cúng tế. Khổng Tử lí luận hóa biến Lễ thành
những qui định, trật tự phân chia thứ bậc trong xã hội, thể hiện trong sinh hoạt:
hành vi, ngôn ngữ…. Ai ở địa vị nào thì sử dụng lễ ấy, lễ là bộ phận của Nhân Lẽ
là ngọn, Nhân là gốc.
Lễ qui định chuẩn mực cho các đối tượng quan hệ: vua- tôi, cha- con, chồngvợ, chúng có quan hệ 2 chiều, phụ thuộc nhau.
+ Chính danh là danh phận đúng đắn, ngay thẳng. Là phạm trù cơ bản trong
thuyết chính trị của Khổng Tử. Phải xác định danh phận, đẳng cấp, vị trí của từng
các nhân, tầng lớp trong xã hội. Danh phải phù hợp với thực, nội dung phải phù
hợp với hình thức. Đặt con người vào đúng vị trí, chức năng, phải xác định danh
trước khi có thực
Chính danh và Lễ có mối quan hệ chặt chẽ: muốn danh được chính thì phải
thực hiện lễ, chính danh là điều kiện để trau dồi lễ.
Học thuyết của Khổng Tử xây dựng trên 3 phạm trù cơ bản: Nhân- Lễ- Chính
danh. Nhân là cốt lõi vấn đề, vừa là điểm xuất phát cũng là mục đích cuối cùng của
hệ thống. Học thuyết của Khổng Tử là “đức trị” vì lấy đạo đức làm gốc.Điều Nhân
được biểu hiện qua Lễ, chính danh là con đường để đạt tới điều Nhân. Ba yếu tố có
quan hệ biện chứng tạo nên sự chặt chẽ của học thuyết.
- Nội dung tư tưởng chính trị của Khổng Tử cũng chính là những mặt tích cực
của trường phái Nho gia.
Tuy nhiên, Về bản chất, học thuyết chính trị của Khổng Tử là duy tâm và
phản động.Vì nó không tính đến các yếu tố vật chất của xã hội mà chỉ khai thác


yếu tố tinh thần. Mục đích của học thuyết này là bảo vệ chế độ, đẳng cấp, củng cố
địa vị thống trị của giai cấp quí tộc đã lỗi thời, đưa xã hội TQuốc trở về thời Tây
chu.
- Theo Khổng Tử, đạo Nhân không phải để cho tất cả mọi người mà chỉ có ở
những người quân tử( quí tộc, trí thức thuộc tầng lớp thống trị), còn kẻ tiểu
nhân( người lao động, tầng lớp bị trị) thì không bao giờ có.
-

Lễ không phải dùng cho tất cả mọi người mà nó chỉ đem áp dụng cho

những người có Nhân vì: “không có nhân thì giữ lễ làm sao được”. “Kẻ tiểu nhân
mà có lễ lá điều chưa từng có”.
Mạnh Tử(372- 298 TCN)
Mạnh Tử đã kế thừa và phát triển những tư tưởng của Khổng Tử, xây dựng
học thuyết “Nhân chính”. Tư tưởng chính trị bao gồm những nội dung sau:
-

Thuyết tính thiện: theo Mạnh Tử, bản tính tự nhiên của con người là

thiện( nhân chi sơ tính bản thiện). Con người có lòng trắc ẩn thì tự nhiên có lòng tu
ố, từ nhượng, thị phi. Lòng trắc ẩn là nhân, lòng tu ố là nghĩa, lòng từ nhượng là lễ,
lòng thị phi là trí
- Quan niệm về vua- tôi- dân: Thiên tử là do trời trao cho thánh nhân, vận
mệnh trời nhất trí với ý dân. Quan hệ vua- tôi là quan hệ 2 chiều. Tiến thêm 1 bước
ông cho rằng: nếu vua không ra vua thì phải loại bỏ, vua tàn ác thì phải gọi là
thằng.
Mạnh Tử là người đầu tiên đưa ra tư tưởng trọng dân: dân là quí nhất, quốc
gia thứ hai, vua không đáng trọng.


- Quan niệm quân tử- tiểu nhân: Quân tử là người lao tâm,cai trị người và
được cung phụng. Tiểu nhân là người lao lực, bị cai trị và phải cung phụng người.
MTử đề xuất chủ trương “thượng hiền” dùng người hiền tài để thực hành nhân
chính.
- Chủ trương vương đạo: Mạnh Tử kịch liệt phản đối “bá đạo”, nguồn gốc
của mọi rối ren loạn lạc. Chính trị “vương đạo” là nhân chính lấy dân làm gốc.
Học thuyết nhân chính của Mạnh Tử có nhiều tiến bộ so với Khổng Tử. Tuy
vẫn đứng trên lập trường của giai cấp thống trị nhưng ông đã nhìn thấp được sức
mạnh của nhân dân, chủ trương thi hành nhân chính, vương đạo. Đây là những tư
tưởng tiến bộ, nhân đạo. Tuy nhiên, điểm hạn chế của ông là còn tin vào mệnh trời
và tính thần bí trong việc giải quyết vấn đề quyền lực.
Mạnh Tử đưa ra luận điểm coi trọng dân chỉ là thủ đoạn chính trị đẻ thống trị
tốt hơn mà thôi.
1.

Liên hệ với Việt Nam
Việt Nam là nước láng giềng của Trung Quốc lại nằm dưới ách 1000 năm bắc
thuộc nên chịu ảnh hưởng sâu sắc những tư tưởng chính trị của trường phái Nho
giáo. Nho giáo vào Việt Nam đã được Việt hóa nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ
và xây dựng đất nước đã khi thác những mặt tích cực của nho giáo để khẳng định
giá trị truyền thống của dân tộc. Điều đó được thể hiện như sau: Nho giáo ảnh
hưởng tới nền giáo dục nước ta(tiên học lễ hậu học văn),. Các kiến trúc đát, đền
thờ, văn miếu thờ Khổng Tử cũng đều mang đậm nét tư tưởng của Nho giáo. Có
thể nói Nho giáo ở Việt nam được sử dụng như hệ tư tưởng chính thống. Nho giáo
trở thành tiêu chuẩn đánh giá phẩm chất đạo đức của con người. Truyền thống
quan hệ cha con và anh em đến nay trong gia đình VN vẫn giữ được tư tưởng của


Nho giáo, là nét đẹp trong quan hệ văn hóa xã hội. Nho giáo đòi hỏi sự gắn bó chặt
chẽ giữa các thành viên trong gia đình và dòng họ. Những nghi thức hằng ngày,
những lời răn dạy của ông cha được lưu truyền cho đến đời con cháu. Tuy nhiên,
Nho giáo cũng có những mặt tiêu cục là xem nhẹ dân, không phát huy sức sáng tạo
của dân. Tư tưởng coi thường phụ nữ ăn sâu vào đầu óc người VN từ xưa đến nay,
lấy tiêu chuẩn tứ đức làm đầu công, dung, ngôn, hạnh. Điều đó khiến người phụ nữ
bị dồn nén trong vòng tứ đức mà không phát huy hết được năng lực của mình. Về
kinh tế: Nho giáo cũng khuyên người ta nên làm giàu, tạo ra của cải vật chất cho xã
hội "dân giàu, nước mạnh.
Trình bày tư tưởng chính trị của phái Pháp gia. Liên hệ với Việt Nam?
1. Hoàn cảnh ra đời:
-

Vào thời chiến quốc, quá trình phát triển kinh tế xã hội ngày càng mạnh

mẽ. Phân hóa giai cấp ngày càng sâu sắc dẫn đến giai cấp địa chủ mới và thương
nhân ra đời. Do áp dụng phương thức sản xuất tiến bộ và chính sách kinh tế phù
hợp nên tầng lớp này đã nắm giữ và chi phối toàn bộ đời sống kinh tế xã hội đất
nước.
-

Trong khi quyền lực chính trị vẫn do tầng lớp quý tộc cũ nắm giữ, trở

thành vật cản của phát triển xã hội. Yêu cầu kết thúc tình trạng phân tranh cát cứ,
mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển.
- Tư tưởng Pháp gia được áp dụng thành công và đưa nước Tần trở thành bá
chủ, thống nhất Trung Quốc vào năm 221 TCN.
- Phái Pháp gia gồm nhiều nhà tư tưởng, nhiều trường phái khác nhau như
+ Phái trọng pháp: Quản Trọng, Thương Ưởng.


+ Phái trọng thuật: Thân Bất Hại.
+ Phái trọng thế: Thận Đáo.
Hàn Phi tử là người tổng kết và phát triển học thuyết này
2. Hàn Phi Tử và tư tưởng chính trị của phái Pháp gia:
a.

Hàn Phi Tử (280 – 233)

- Là nhà tư tưởng cuối cùng của thời Tiên Tần, con vua nước Hàn. Là học
trò của Tuân Tử - nhà tư tưởng lướn nhất đương thời.
- Tác phẩm kinh điển “Hàn Phi Tử” của ông nổi bật cho tư tưởng Pháp gia.
b.

Tư tưởng chính trị của phái Pháp gia:

Hàn Phi Tử cho rằng:
- Xã hội loài người luôn luôn biến đổi, phát triển theo hướng đi lên. Bản tính
con người ta là ham lợi. Điều lợi ảnh hưởng và chi phối các mối quan hệ trong
xhội.
- Chính trị đương thời không nên bàn chuyện nhân nghĩa cao xa mà cần có
biện pháp cụ thể cứng rắn, kiên quyết.
Từ nhận thức đó, học thuyết chính trị của ông được xây dựng trên cơ sở thống
nhất pháp – thuật – thể.
- Pháp luật là những quy ước, chuẩn mực khuôn mẫu do vua ban ra, được
phổ biến rộng rãi để nhân dân thực hiện.


+ Pháp luật phải hợp thời, đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển xã hội.
Pháp luật phải rõ ràng, dễ hiểu và phù hợp với trình độ của dân chúng. Pháp luật
phải công bằng để kẻ mạnh không lấn át kẻ yếu.
+ Quyền lực phải tập trung vào một người là vua. Vua dề ra pháp luật, quan
lại theo dõi việc thực hiện, dân là người thi hành.
- Thuật là thủ đọan hay thuật cai trị của người làm vua để kiểm tra, giám sât
hay điều khiển bầy tôi.
+ Thuật là phương pháp tuyển chọn, sử dụng người đúng chức năng. Như
vậy, thuật là yếu tố cần thiết, bổ trợ và làm cho pháp luật được thi hành.
+ Thuật phải được giữ bí mật , kín đáo không được tiết lộ với bất cứ ai.
+ Vua không được để lộ sự yêu ghét của mình đề phòng quần thần lợi dụng .
- Thế là uy thế, quyền lực của người cầm quyền. Quần thần phục tùng nhà
vua, chịu theo sự ràng buộc bởi quyền uy của nhà vua. Quyền lực đảm bảo cho sự
thi hành pháp luật.
+ Thế phải tuân thủ theo nguyên tắc tập trung, không được chia sẻ, không
được để rơi vào tay người khác. Vua phải nắm chắc hai phương tiện cưỡng chế, đó
là “nhị bính” (thưởng và phạt). Thưởng phạt phải căn cứ trên cơ sở pháp luật chứ
không thể tùy tiện. Vua cũng phải phục tùng pháp luật.
Hàn Phi Tử cho rằng, “pháp”, “thuật”, “thế” cần phải kết hợp làm một, trong
đó “pháp” là trung tâm, “thuật” và “thế” là những điều kiện tất yếu trong việc thi
hành pháp luật. Pháp luật phải phục vụ lợi ích chung.


c. Ý nghĩa:
- Đứng lên lập trường của giai cấp địa chủ mới, tư tưởng Pháp gia đã khai
thông các bế tắc xã hội, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển.
- Tư tưởng Pháp gia đã phục vụ đắc lực cho chế độ phong kiến trung ương
tập quyền, góp phần không nhỏ cho việc củng cố chế độ phong kiến đời Tần.
- Tuy còn mang tính sơ khai nhưng nó đã đặt nền móng cho sự phát triển của
các luồng tư tưởng sau này.
- Tính đa dạng của các học thuyết nói lên tính phức tạp của thức tiễn chính
trị , sự khốc liệt trong thời kỳ hình thành và phát triển các chế độ phong kiến. Cuộc
đấu tranh giữa hai phái Pháp gia và Nho gia phản ánh mâu thuẫn gay gắt giữa giai
cấp quý tộc và giai cấp địa chủ mới do có tư tưởng cấp tiến.
- Phái Pháp gia đã tích cực thúc đẩy lịch sử phát triển và có cong tgrong việc
thống nhất đất nước.
3. Liên hệ với Việt Nam:
Điểm chung nhất của các học thuyết chính trị là muốn cho xã hội ổn định và
phát triển nên những tri thức chính trị có giá trị chung cho mọi thời đại. Việc kế
thừa chọn lọc những tri thức đó là cần thiết cho thực tiễn chính trị hôm nay. Đối
với Việt Nam, tư tưởng Pháp gia của Hàn Phi Tử chiếm một ý nghĩa quan trọng
trong đời sống ctrị.
- Từ thời phong kiến, các vua chúa đã biết đề ra các quy tắc, chuẩn mực xã
hội buộc mọi người phải tuân theo. Những quy tắc dù đôi chỗ có thể thiếu hợp lý,
phần lớn lại đảm bảo cho quyền lực của giai cấp thống trị nhưng điều quan trọng là


“phép tắc xã hội đã duy trì được ổn định xã hội”. Tùy từng thời đại, tùy từng con
người mà những quy chuẩn xã hội đó có thể được thay đổi nhưng mục đích cuối
cùng vẫn là duy trì quyền lực của giai cấp thống trị và duy trì sự phát triển bền
vững của xã hội.
- Biểu hiện ở thời hiện đại: Trước hết đó là việc xây dựng hệ thống pháp luật
để quản lý và duy trì sự phát triển bền vững của đất nước. Sau Cách mạng Tháng
Tám năm 1945, nước ta giành được độc lập, với tầm nhìn chiến lược và sự hiểu
biết sâu rộng trong lĩnh vực chính trị, chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ đầu tiên của
nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã chỉ đạo sự ra đời của Hiến Pháp đầu tiên
năm 1946, đánh dấu sự tồn tại và phát triển của một quốc gia độc lập. Hiến pháp
năm 1946 dần dần được sửa đổi và hoàn thiện để ngày càng phù hợp với tình hình
phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Cho đến hôm nay, nhờ sự có mặt của luật
pháp mà nước ta đã duy trì được chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, duy trì được sự ổn
định chính trị tạo đà cho kinh tế phát triển. Nhờ đó, Việt Nam được đánh giá là
một trong những quốc gia có nền chính trị ổn định nhất khu vực và thế giới.
- Nhờ pháp luật vì lẽ phải và phục vụ lợi ích chung mà trong những năm qua
công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta đã đạt được một số thành tựu
đáng kể. Đó là thành tựu trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng,…
Nhân dân ta đoàn kết một lòng, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, xây dựng
nếp sống tốt đẹp. Trong lĩnh vực chính trị, dân chủ hóa xã hội được mở rộng. Nhân
dân là người bỏ phiếu để bầu ra lực lượng đại diện cho mình.
-

Sự công bằng của pháp luật đã đảm bảo cho việc thực hiện nó một cách

nghiêm túc. Đó là điểm được áp dụng ở mọi quốc gia, không riêng gì Việt Nam.
Trong môi trường công bằng của pháp luật, mọi người dân đều có quyền phát triển


tự do và bình đẳng. Yếu tố này không những duy trì sự ổn định chế độ mà còn kích
thích việc tìm ra nhân tài cho đất nước.
- Tư tưởng Pháp gia là một trong những tư tưởng chủ yếu và chi phối đời
sống chính trị nước ta. Nhờ kế thừa và phát huy học thuyết chính trị của Hàn Phi
Tử mà mỗi quốc gia đã xây dựng cho mình một chế độ độc lập, tự chủ. Riêng với
Việt Nam, đó còn là chế độ của một xã hội nhân văn.


Câu 4. Trình bày nội dung tư tưởng chính trị hy lạp cổ đại, ý nghĩa
khoa học của nó.
Văn minh Hy Lạp cổ đại đã tạo tiền đề hình thành và phát triển khá sớm những tư
tưởng chính trị của nhân loại. Trong quá trình phát triển từ chế độ cộng sản nguyên
thủy sang chiếm hữu nô lệ, ở Hy Lạp xuất hiện các quốc gia thành thị chiếm hữu
nô lệ. Mâu thuẫn xã hội giữa các tập đoàn trong giai cấp chủ nô nhằm tranh giành
quyền lực và mâu thuẫn giữa chủ nô với nô lệ và tầng lớp thị dân tự do ngày càng
gay gắt dẫn đến hình thành các phe phái chính trị và xuất hiện những chính trị gia
xuất sắc.
Mà tiêu biểu là: Hêrôđốt, Xênôphôn, Platôn, Arixtốt.
Hêrôđốt (484 – 425 trước công nguyên)
Ông được coi là “Người cha của chính trị học”
Ông là người đầu tiên phân biệt và so sánh các loại thể chế chính trị khác
nhau.
Tư tưởng:
- Theo Hêrôđôt có 3 loại thể chế:
+ Quân chủ
+ Quý tộc
+ Dân chủ
- Quân chủ: là thể chế độc quyền của một người là vua. Vua có công lập
quốc sống vì nước, vì dân. Vua có quyền cấm tất cả những ý kiến phản biện, phản
kháng. Đặc quyền và quá lạm dụng quyền lực khiến vua dễ trở thành tội lỗi.
- Quý tộc: là chế độ được xây dựng trên cơ sở cầm quyền của một nhóm
người ưu tú nhất của đất nước, vì lợi ích chung.


Tuy nhiên, thể chế này dễ có sự khác biệt, bất hoà chia bè phái dẫn đến
tranh dành, tàn sát lẫn nhau.
- Dân chủ: là thể chế mà quyền lực do đông đảo nhân dân nắm bằng con
đường bỏ phiếu để trao những chức vụ công cộng một cách đúng đắn để ngăn
chặn lạm dụng quyền lực, xây dựng Nhà nước trên nguyên tắc cơ bản: tất cả đều
bình đẳng trước pháp luật.
-> Hêrôđôt thiên về loại hình thể chế quân chủ. Ông cho rằng: thể chính trị
tốt nhất là thể chế hỗn hợp những đặc trưng tốt nhất của 3 loại hình: quân chủ, quý
tộc, dân chủ.
Xênôphôn (427 – 355 trước công nguyên)
Ông thuộc tầng lớp quý tộc.
Tư tưởng:
Khi bàn về chính trị ông bàn về: cách cai trị, cách quản lý.
- Chính trị là một nghệ thuật thực hành, nghệ thuật cao nhất. Nghệ thuật của
bậc đế vương.
Ai nhận thức được các vấn đề chính trị sẽ trở thành người trung thực, người
tốt.
Ai ngu dốt về chính trị sẽ rơi vào hàng nô lệ.
- Tư tưởng chính trị của ông: quan niệm về thủ lĩnh chính trị.
Thủ lĩnh chính trị là người biết chỉ huy, giỏi kỹ thuật, giỏi thuyết phục, biết
cảm hoá người khác.
Người thủ lĩnh phải có những phẩm chất đặc biệt:
+ Bảo vệ lợi ích chung
+ Có khả năng tập hợp sức mạnh quần chúng.


Thiên tài của thủ lĩnh không phải tự nhiên mà có. Nó sinh ra từ sự kiên nhẫn,
từ khả năng chịu đựng lớn về mặt thể chất, với ý chí sống và rèn luyện theo phong
cách thanh liêm, biết kiềm chế, yêu lao động.

Platôn (428 – 347 trước công nguyên)
Ông là nhà triết học thiên tài, nhà chính trị xuất sắc.
Tư tưởng chính trị của ông được phản ánh trong tác phẩm: nước cộng hoà,
các đạo luật, nền chính trị.
Ông là người đầu tiền đạt tới quan niệm về giá trị phổ biến, tầm vĩ mô của
chính trị và hành động chính trị, tiêu chuẩn của nền chính trị đích thực.
* Tư tưởng:
Ông cho rằng: chính trị là sự thống nhất tối cao, là nghệ thuật dẫn dắt xã hội
con người.
Chính trị là nghệ thuật cai trị. Cai trị bằng sức mạnh là độc tài, cai trị bằng
thuyết phục mới đích thực là chính trị.
Chính trị phải là sự chuyên chế.
Xã hội lí tưởng của Platôn là xã hội được trị vì bởi sự thông thái. Chia xã hội
thành 3 hạng người:
+ Các triết gia thông thái đảm nhận vai trò lãnh đạo và cai trị Nhà nước.
+ Tầng lớp nông dân, thợ thủ công làm ra của cải vật chất đảm bảo cuộc
sống cho xã hội.
- Điều kiện và cơ sở để duy trì một xã hội được cai trị bưỏi những người
thông thái là: thực hiện cộng đồng về tài sản và hôn nhân.
Ông chủ trương xoá sở hữu cá nhân và tình yêu gia đình thay vào đó là
những tổ chức cộng đồng.


Ông cho rằng khi lãnh đạo Nhà nước, cần gạt sang 1 bên ý chí cá nhâ, trước
tiên phải dựa vào tôn giáo và pháp luật.
Sự chuyển hoá quyền lực trong xã hội là do có sự biến đổi về quyền lợi và
những sự vận động về chính trị.
* Nhược điểm:
Quan điểm cuả Platôn có nhiều mâu thuẫn.
- Vừa đòi hỏi xoá bỏ tư hữu vừa muốn duy trì chế độ đẳng cấp.
- Ông đưa ra mô hình xã hội lí tưởng và công lí nhưng đồng thời lại bảo vệ
lợi ích của tầng lớp quý tộc chủ nô.
Aritxtôt (384 – 322 trước công nguyên)
Aritxtôt là nhà bác học vĩ đại của nền văn minh Hy Lạp.
Ông là tác giả của hai công trình nghiên cứu về chính trị đó là chính trị, hiến
pháp Aten.
Ông đã tổng kết và phát triển tài tình các kết luận của các bậc tiền bối về
nguồn gốc, bản chất, hình thức và vai trò của Nhà nước pháp quyền.
* Tư tưởng:
Theo ông, Nhà nước xuất hiện tự nhiên. Được hình thành trong lịch sử.
Con người là động vật chính trị. Bản tính của con người là sống trong cộng
đồng.
Hình thức tổ chức cộng đồng trong một thể chế xã hội nhất định gọi là Nhà
nước.
Nhà nước ra đời trên cơ sở gia đình, chính quyền Nhà nước là sự tiếp tục
chính quyền trong gia đình. Nhà nước xuất hiện tự nhiên, được hình thành do lịch
sử. Nó được phát triển từ gia đình và làng xã.
Thể chế chính trị điều hành và quản lý xã hội về 3 phương diện: lập pháp,
hành pháp, phân xử.


Sứ mạng của Nhà nước là lãnh đạo tập thể các công dân, quan tâm tới các
quyền chung của công dân, làm cho mọi người sống hạnh phúc.
Ông cho rằng, không có 1 loại hình chính phủ nào là duy nhất có thể phù
hợp với tất cả các thời đại và các nước.
Ông phân chính phủ theo 2 tiêu chuẩn: số lượng và chất lượng.
Kết hợp 2 mặt đó: các chinh phủ có thể xếp theo 2 loại:
+ Chính phủ chân chính: quân chủ, quý tộc, cộng hoà.
+ Chính phủ biến chất: độc tài, quả đầu, dân trị.
Ông nhiệt thành ủng hộ chế độ quân chủ, coi đó như hình thức tổ chức Nhà
nước thần thánh và ưu việt nhất.
Tư tưởng chính trị của Arixtôt chứa đựng những giá trị tích cực sau:
1) Con người có khuynh hướng tự nhiên, gắn bó với nhau thành xã hội. Do
đó con người là động vật công dân, động vật chính trị, sống có trách nhiệm với
cộng đồng.
2) Chính trị là làm sao trong đời sống cộng đồng, cái chung cao hơn cái cá
nhân riêng biệt, con người sống ngày càng tốt hơn.
3) Chính trị phải giáo dục đạo đức và phẩm hạnh cao thượng cho công dân.
4) Chính trị là khoa học lãnh đạo con người, khoa học kiến trúc xã hội của
mọi công dân.
5) Chế độ dân chủ sẽ chuyển thành chế độ mị dân hoặc độc tài nếu: ý chí cá
nhân thay thế pháp luật, chế độ bị trao cho cho những tên nịnh bợ, gian xảo, ham
quyền lực…
6) Không thể hoạt động chính trị nếu bị dục vọng của cải chi phối và sự dốt
nát chế ngự.
7) Chế độ quân chủ là hình thức sơ khai vì không có ai uy tín bằng lãnh tụ
chiến thắng.


Nhưng khi xã hội phát triển, người tốt, người giỏi có nhiều thì chế độ chính
trị phải thay đổi.
-> Hạn chế:
- Mục tiêu giai cấp
- Quan điểm cổ đại hẹp hòi về quyền tự do của cá nhân những người nô lệ
và lao động.
Trên đây là hệ thống quan điểm về chính trị của những chính trị gia nổi tiếng
Hy Lạp cổ đại: Hêrôđôt, Xênôphôn, Platôn, Arixtôt. Bên cạnh điểm tích cực, quan
điểm của các ông còn tồn tại những hạn chế riêng. Những hạn chế ấy có thể do
thời đại tác động cũng có thể do tư tưởng chủ quan của mỗi người. Điều quan
trọng là họ đã có những đóng góp đáng ghi nhận, đã xây dựng viên gạch đầu têin
cho nền chính trị học không chỉ của Hy Lạp mà còn của cả thế giới.


Câu 5. Trình bày tư tưởng chính trị của lốccơ và môngtétkiơ, Ý nghĩa
của nó.
- LỐC CƠ: Ông cho rằng bản chất của con người là tự do, xã hội loài người
là tự do, cho nên tự do là giá trị cao quý nhất của xã hội, của con người. Nhà nước
phải bảo đảm sự tự do của con người, mới bảo đảm tồn tại sự hợp lí của nhà nước.
Luật của tư nhiên bắt buộc phải tự do nên con người phải tự do. Ông đã luận giải
về nguồn gốc và bản chất của nhà nước xuất phát từ quyền lực tự nhiên của con
người là tối cao và bất khả xâm phạm. Do quy luật tự nhiên của xã hội mà nảy sinh
ra bất công về kinh tế xã hội, mất an ninh và quyền tự nhiên của con người bị xâm
phạm. Để bảo vệ quyền tự nhiên của con người thì mọi thành viên trong xã hội mới
“ký kết”, hình thành một chính quyền có quyền lực chung. Như vậy quyền lực xuất
hiện từ các thành viên của xã hội. Từ đó ông đưa ra 3 kết luận quan trọng như sau :
- Quyền lực nhà nước về bản chất là quyền lực của dân. Quyền lực của dân là
cơ sở, nguồn gốc, nền tảng của quyền lực nhà nước. Trong quan hệ với dân, nhà
nước không có quyền mà chỉ thực hiện sự ủy quyền của nhân dân . Nhà nước có
quyền trong “khế ước xã hội”, đó là hiến pháp những đạo luật cơ bản…
- Nhà nước thực chất là khế ước của xã hội, trong đó công dân nhường một
phần quyền của mình mà hình thành quyền lực chung, quyền lực nhà nước điều
hành và quản lý XH để bảo vệ quyền tự nhiên của con người.
- Bảo toàn quyền tự nhiên của mỗi cá nhân con người, đó cũng là tiêu chí căn
bản nhất để xem xét tính hợp lý hay không hợp lý của nhà nước, đó là giới hạn căn
bản của nhà nước. Đi quá giới hạn này, chính quyền sẽ là chuyên chế , thành kẻ thù
của quyền lực tự nhiên và là đối tượng cách mạng.
Ba kết luận trên đặt nền móng cho chế độ dân chủ hiện đại. Lốccơ chia nhà
nước làm 3 cơ quan với 3 quyền khác nhau:


- Quyền lập pháp : là sự biểu hiện ý chí chung của quốc gia và thuộc về toàn
dân. Nếu những quốc gia lớn thì cử ra đại biểu nhân dân (nghị viện) do nhân dân
bầu ra và phải là những người hiểu rõ về luật.
- Quyền hành pháp : là quyền thực hiện pháp luật đã được lập ra bởi cơ quan
lập pháp, phải có cơ cơ quan riêng và tách ra khỏi quốc hội.
- Quyền tư pháp : là quyền xét xử tội phạm và giải quyết tranh chaá©p giữa
cá nhân được thực hiện bởi thẩm phán do nhân dân bầu ra.
Theo ông, phân quyền là một tất yếu kĩ thuật, là một tiêu chuẩn không thể
thiếu được của một xã hội dân chủ. Yêu cầu phân quyền sao cho cân bằng, công
bằng nghĩa là dùng quyền lực này để chế ngự quyền lực khác.
Như vậy, tư tưởng chính trị ở phương tây thường gắn liền với pháp luật
trong khi tư tưởng chính trị phương đông thường gắn liền với đạo đức. Tư tưởng
chính trị phương tây thường xuất phát từ “trạng thái tự nhiên” của con người
thường đề cao động lực “quyền lợi” của con người. Chính trị học của giai cấp tư
sản phương tây thường dựa trên cơ sở của chủ nghĩa cá nhân, tuyết đối hoá quyền
lợi cá nhân. Tư tưởng chính trị của giai cấp tư sản so với tư tưởng chính trị của giai
cấp phong kiến là một bước tiến bộ trong việc giải phóng con người nhưng vẫn
chưa đặt con người như là mục đích, tức là vẫn chưa thể giải phóng đại đa số nhân
dân lao động.
Sự ra đời của tư tưởng chính trị Macxit là một cuộc cách mạng vĩ đại, lần đầu
tiên trong lịch sử xã hội loài người, một giai cấp bị áp bức bóc lột, giai cấp công
nhân đã có một hệ tư tưởng cách mạng và khoa học là kim chỉ nam cho hành động
của mình. Trên thực tế Mác-Ănggghen đã xây dựng tư tưởng chính trị của mình
khác về chất so với những tư tưởng chính trị duy tâm trước đó. Sự ra đời của tư
tưởng chính trị của 2 ông là bước ngoặc cách mạng trong lịch sử tư tưởng chính trị
nhân loại. Với 2 ông chính trị lớn nhất là giải phóng con người mà muốn giải
phóng con người thì phải giải quyết vấn đề giai cấp, phải giành lấy các nguồn lực


chính trị, đó là con đường giải phóng một cách khoa học và như vậy chủ nghĩa
Mác chính là chủ nghĩa nhân đạo hiện thực chứ không phải là chủ nghĩa nhân đạo
trừu tượng chỉ dựa vào đạo đức và lòng thương người. Trong quá trình đấu tranh,
giai cấp công nhân và nông dân, các dân tộc bị áp bức, tư tưởng chính trị Macxit đã
trở thành ngọn cờ chủ đạo.
Ngày nay, CNXH đang đứng trước những thử thách to lớn nhưng chúng ta tin
vào bản chất cách mạng và khoa học vốn có của nó, CNXH khoa học nói riêng và
tư tưởng chính trị Macxit nói chung sẽ tiếp thu được những tri thức mới của thời
đại, tiếp tục làm kim chỉ nam cho phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động trên thế giới.
Môngtexkiơ là nhà tư tưởng chính trị xuất sắc của Pháp, là một trong những
người mở đầu phông trào giải phóng tư tưởng vĩ đại. cuộc đấu tranh của ông chống
lại ché độ chuyên chế, lộng quyền chính trị và nhà thờ đã cổ vũ tư tưởng của các
nhà tư tưởng cách mạng tư sản Pháp. Ông là người đề cao tinh thần pháp luật và tư
tưởng phân quyền trong nhà nướcnhằm đảm bảo tự do chính trị cho các công dân.
Môngtexkio cho rằng tự do chính trị của công dân đó là quyền mà người ta có thể
làm mọi cái mà luật pháp cho phép. Như vậy, tự do chính trị mà chỉ có ở những
quốc gia mà tất cả các quan hệ được điều chỉnh bằng pháp luật. do đó, pháp luật đã
trở thành thước đo tự do. Nhưng pháp luật bị phá bỏ nếu người nắm quyền lực tối
cao lạm quyền. Trong khi đó, kinh nghiệm những người nắm quyền lực đều có
thiên hướng lạm quyền. Cách hữu hiệu nhất để chống lạm quyền là chống độc
quyền, là phân chia quyền lực để cho quyền lực kiểm soát kiểm soát quyền lực.
Từ ý tưởng về sự phân biệt ba quyền của Aristot và Lốccơ, Môngtexkio tiếp thu và
phát triển tư tưởng về thể chế chính trị tự do, chống chuyên chế, Môngtexkiơ xây
dựng học thuyết phân quyền, đây là nội dung tư tưởng chủ yếu trong học thuyết


chính trị - pháp lý của Môngtexkiơ, với mục đích tạo dựng những thể chế chính trị,
đảm bảo tự do cho các công nhân.
Tiếp thu và phát triển tư tưởng về thể chế chính trị,tự do,chống chuyên chế
của các nhà tư tưởng tiền bới. Môngtetxkiơ đã hoàn thiện thuyết “Tam quyền phân
lập” Ông cho rằng quyền lực nhà nước phải chia thành ba quyền:
-Lập pháp (quốc hội)
-Hành pháp (chính phủ)
-Tư pháp ( tòa án)
+Lập pháp: biểu hiện ý chí chung của quốc gia.Nó thuộc về toàn thể nhân
dân,được trao cho hội nghị đại biểu nhân dân- Quốc hội.
+Hành pháp: Là việc thực hiện những luật pháp đã được thiết lập.Quyền này
không thể thực hiện bởi những thành viên của quốc hội,mà thuộc về nhà vua.
+Tư pháp: là để thực hiện việc trừng trị tội phạm và giải quyết xung đột giữa
các cá nhân.
Các quyền này thực hiện độc lập với nhau và kiểm soát lẫn nhau, kiềm chế
lẫn nhau.
Các thẩm phán được chọn từ dân và xử án chỉ tuân theo pháp luật.
 Tư tưởng phân quyền của Môngtetxkiơ là đối thủ đáng sợ của chủ nghĩa
chuyên chế phong kiến.Tư tưởng này là cơ sở để thiết lập nhà nước ở các nước Tư
sản.Nhưng nó cũng có hạn chế đó là: chưa chỉ ra được nếu 1 trong 3 chủ quan: Lập
pháp,hành pháp,tư pháp vi phạm thì đâu sẽ là cơ quan xử lý.
Như vậy,sau khoảng 20 thế kỷ thì thuyết “Tam quyền nhân lập” đã dần dần
được hoàn thiện với các đại diện tiêu biểu như: Arixtôt,J.Lốccơ, Môngtetxkiơ.Đây
là một học thuyết tiến bộ vì nó chống lại tư tưởng đội quyền,chuyên quyền vì
quyền lực nhà nước đã được phân chia.Trong 3 cơ quan lập pháp,hành pháp và tư
pháp thì không có 1 cơ quan nào có quyền lực tuyệt đối trong sinh hoạt chính trị.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×