Tải bản đầy đủ

thành phần sâu mọt hại kho thóc bảo quản, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và tính kháng thuốc của loài mọt gạo sitophilus oryzae linnaeus tại hà nội năm 2015

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

HOÀNG THANH HÀ

THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI KHO THÓC BẢO QUẢN,
ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ TÍNH
KHÁNG THUỐC CỦA LOÀI MỌT GẠO SITOPHILUS
ORYZAE LINNAEUS TẠI HÀ NỘI NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT


HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

HOÀNG THANH HÀ

THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI KHO THÓC BẢO QUẢN,
ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ TÍNH
KHÁNG THUỐC CỦA LOÀI MỌT GẠO SITOPHILUS
ORYZAE LINNAEUS TẠI HÀ NỘI NĂM 2015

CHUYÊN NGÀNH : BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỐ

: 60620112

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN ĐÌNH CHIẾN

HÀ NỘI, NĂM 2015


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng,
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Hoàng Thanh Hà

ii


LỜI CẢM ƠN
Để đề tài được hoàn thành tốt, trong suốt thời gian thực tập, nghiên cứu,
tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của Giáo viên hướng dẫn, của
các tập thể, cá nhân, sự động viên của gia đình và bạn bè.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS. TS.

Trần Đình Chiến – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã dành cho tôi sự chỉ dẫn
và giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian thực tập và nghiên cứu hoàn thành đề tài.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của tập thể các thầy, cô giáo bộ môn Côn trùng
– Khoa Nông học – Học viện Nông nghiêp Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến sự giúp đỡ nhiệt tình của ban
lãnh đạo và tập thể cán bộ Trung tâm Giám định Kiểm dịch thực vật – Cục Bảo
vệ thực vật đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học
và thực hiện đề tài nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến tất cả bạn bè, người
thân và gia đình đã luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành
nghiên cứu này.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2015

Tác giả luận văn

Hoàng Thanh Hà

iii


MỤC LỤC
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii

Mục lục

iv

Danh mục bảng

vi

Danh mục hình

vii

Danh mục các chữ viết tắt

viii

MỞ ĐẦU

1

1 Tính cấp thiết của đề tài

1

2 Mục đích và yêu cầu

2

2.1 Mục đích nghiên cứu

2

2.2 Yêu cầu của đề tài

2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2

CHƯƠNG 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU

4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

4

1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

5

1.2.1 Nghiên cứu về thành phần côn trùng gây hại trong kho bảo quản

5

1.2.2 Nghiên cứu về thiệt hại do sâu mọt gây ra đối với hạt ngũ cốc dự
trữ trong kho bảo quản

7

1.2.3 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ sâu mọt trong kho bảo quản

9

1.2.4 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh thái và tính kháng thuốc
của mọt gạo Sitophilus oryzae Linnaeus
1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước

13
16

1.3.1 Nghiên cứu về thành phần côn trùng gây hại trong kho bảo quản

16

1.3.2 Nghiên cứu về thiệt hại do sâu mọt gây ra đối với hạt ngũ cốc dự
trữ trong kho bảo quản

17

1.3.3 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ sâu mọt trong kho bảo quản

19

1.3.4 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh thái và tính kháng của mọt
gạo Sitophilus oryzae

22

iv


CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

24

2.1 Đối tượng nghiên cứu

24

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

24

2.3 Vật liệu nghiên cứu

24

2.4 Nội dung nghiên cứu

25

2.5 Phương pháp nghiên cứu

25

2.5.1 Điều tra thành phần côn trùng trong kho thóc bảo quản ở Hà Nội

25

2.5.2 Phương pháp làm mẫu tiêu bản và giám định

26

2.5.3 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của loài
mọt gạo Sitophilus oryzae (Linnaeus)

27

2.6 Phương pháp xử lý số liệu

37

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

38

3.1 Thành phần sâu mọt hại kho tại một số kho bảo quản ở Hà Nội năm 2015

38

3.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của loài mọt
43

gạo Sitophilus oryzae
3.2.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái của mọt gạo Sitophilus oryzae

43

3.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài mọt gạo Sitophilus oryzae

48

3.2.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của loài mọt gạo Sitophilus
52

oryzae
3.3 Khảo sát biện pháp phòng trừ loài mọt gạo Sitophilus oryzae

62

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

67

Kết luận

67

Đề nghị

67

TÀI LIỆU THAM KHẢO

69

PHỤ LỤC

74

v


DANH MỤC BẢNG

STT

Tên bảng

Trang

3.1

Thành phần sâu mọt trong kho thóc bảo quản ở Hà Nội năm 2015

38

3.2

Thành phần thiên địch trong kho thóc bảo quản ở Hà Nội năm 2015

42

3.3

Kích thước các pha phát dục của mọt gạo Sitophilus oryzae

44

3.4

Thời gian phát dục của mọt gạo Sitophilus oryzae ở hai mức nhiệt
độ 25oC và 30oC

3.5

48
o

Sức sinh sản của mọt gạo Sitophilus oryzae ở hai mức nhiệt độ 25 C
và 30oC

3.6

50

Tỷ lệ sống sót qua các pha phát dục của mọt gạo Sitophilus oryzae ở
hai mức nhiệt độ 25oC và 30oC

3.7

Diễn biến mật độ mọt gạo Sitophilus oryzae trên các loại thức ăn

3.8

Diễn biến mật độ mọt gạo Sitophilus oryzae trên các loại hình
bảo quản

3.9

52
53
55

Ảnh hưởng của vật liệu bảo quản đến khả năng gia tăng mật độ của
mọt gạo Sitophilus oryzae

56

3.10 Ảnh hưởng của dụng cụ bảo quản đến tỷ lệ hao hụt trọng lượng thức
ăn do mọt gạo Sitophilus oryzae gây ra

58

3.11 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến khả năng gia tăng mật độ của loài
mọt gạo Sitophilus oryzae

59

3.12 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng do mọt gạo Sitophilus oryzae gây ra trên
các loại thức ăn

60

3.13 Tập tính lựa chọn thức ăn của mọt gạo Sitophilus oryzae

62

3.14 Hiệu lực của thuốc Phosphine đối với mọt gạo Sitophilus oryzae

63

3.15 Mức độ chống chịu với Phosphine của mọt gạo Sitophilus oryzae

64

vi


DANH MỤC HÌNH

STT

Tên hình

Trang

2.1

Điều tra thành phần côn trùng

25

2.2

Các hình thức bảo quản thóc trong kho

31

2.3

Hình ảnh Thùng khử trùng

34

2.4

Hình ảnh Desicator làm thí nghiệm

34

3.1

Tỷ lệ thành phần họ thuộc bộ Coleoptera trong kho bảo quản

39

3.2

Các loài côn trùng trong kho bảo quản tại Hà Nội năm 2015

42

3.3

Các loài thiên địch trong kho bảo quản tại Hà Nội năm 2015

43

3.4

Trứng Sitophilus oryzae Linnaeus

44

3.5

Sâu non Sitophilus oryzae Linnaeus

45

3.6

Nhộng của mọt gạo Sitophilus oryzae Linnaeus

46

3.7

Trưởng thành Sitophilus oryzae Linnaeus

47

3.8

Nhịp điệu sinh sản của mọt gạo Sitophilus oryzae

51

vii


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BQ

Bảo quản

C.P

Cổ phần

CTG

Công ty giống cây trồng Trung Ương

D (Dose)

Liều

ĐBG

Độ bắt gặp

SN

Sâu non

STĐ

Số trứng đẻ

STT

Số thứ tự

TB

Trung bình

TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam

TT

Trưởng thành

viii


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Lúa (Oryza sativa L.) là một trong những cây lương thực quan trọng nhất
trong nền nông nghiệp thế giới và Việt Nam. Hiện nay trên thế giới có khoảng
100 nước trồng lúa. Khoảng 40% dân số thế giới coi lúa gạo là nguồn lương thực
chính, 25% sử dụng lúa gạo trên khẩu phần lương thực hàng ngày. Như vậy lúa
gạo có ảnh hưởng tới đời sống ít nhất 65% dân số thế giới.
Việt Nam là một nước nông nghiệp, điều kiện khí hậu nhiệt đới có nhiều
thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp, song cũng tạo điều kiện thuận lợi cho
nhiều loài côn trùng phát sinh, phát triển và gây hại cây trồng trên đồng ruộng và
gây hại sản phẩm nông nghiệp cất giữ trong kho. Chúng gây tổn thất đáng kể
không chỉ về khối lượng mà còn làm giảm chất lượng hàng hoá nông sản dự trữ
và bảo quản trong kho.
Ở Việt Nam, mức tổn thất hàng năm từ 8 – 15%, riêng đồng bằng sông
Cửu Long khoảng 18% (Tổng cục Lương thực Việt Nam, 2000). Tổn thất do côn
trùng gây ra cho ngũ cốc bảo quản trong kho là 10% (Nguyễn Thị Giáng Vân và
cộng sự, 1995) . Thóc bảo quản hàng năm bị hao hụt khoảng 4 – 8%, một trong
những nguyên nhân quan trọng gây ra sự hao hụt này là sâu mọt hại kho. Theo
báo cáo tổng kết công tác điều tra kho năm 2003 của Cục Bảo vệ thực vật, hàng
năm nước ta thiệt hại trung bình 15%, tính ra hàng vạn tấn lương thực bị mất đi,
có thể nuôi sống hàng triệu người.
Hiện nay, trên thế giới tất cả các quốc gia đều coi trọng công tác bảo quản
cất giữ nông sản phẩm, vì tác hại của sâu mọt trong kho là rất lớn. Trong số các
loài sâu mọt phổ biến và gây hại nghiêm trọng đối với nông sản trong kho đáng
chú ý là Sitophilus oryzae Linnaeus (mọt gạo). Chúng phân bố hầu như khắp thế
giới, gây hại mạnh ở các kho lương thực, đặc biệt là các kho chứa gạo, ngô, thức
ăn gia súc.
Với mong muốn góp phần vào việc làm giảm tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch

1


và trong quá trình bảo quản, đồng thời nâng cao hiệu quả của công tác kiểm dịch
thực vật, hạn chế tối đa sự phát sinh, phát triển và gây hại của sâu mọt hại thóc
bảo quản, mang lại hiệu quả kinh tế đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, chúng
tôi thực hiện đề tài: “ Thành phần sâu mọt hại kho thóc bảo quản, đặc điểm
sinh học, sinh thái học và tính kháng thuốc của loài mọt gạo Sitophilus
oryzae Linnaeus tại Hà Nội năm 2015”.
2. Mục đích và yêu cầu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Xác định thành phần sâu mọt hại kho thóc bảo quản tại khu vực Hà Nội,
xác định đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học và đánh giá tính kháng thuốc
hóa học của loài mọt gạo Sitophilus oryzae.
2.2. Yêu cầu của đề tài
- Điều tra thành phần sâu mọt gây hại và thiên địch của chúng trong kho
thóc bảo quản tại khu vực Hà Nội
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài mọt gạo Sitophilus
oryzae
- Khảo sát biện pháp phòng trừ và tính kháng thuốc hóa học của loài mọt
gạo Sitophilus oryzae
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học:
- Những kết quả nghiên cứu về thành phần sâu mọt trên thóc bảo quản trong
kho sẽ góp phần bổ sung vào danh mục thành phần sâu mọt hại kho công bố ở
nước ta
- Bổ sung một số dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học, sinh thái của
loài mọt gạo Sitophilus oryzae Linnaeus.
Ý nghĩa thực tiễn:
- Cung cấp các dẫn liệu về tình hình gây hại, biến động mật độ và một số
đặc tính sinh học của loài mọt gạo Sitophilus oryzae Linnaeus làm căn cứ khoa
học quan trọng phục vụ công tác kiểm dịch thực vật đặc biệt là kiểm dịch thực
vật nội địa, giúp quản lý sinh vật gây hại trong vùng.

2


- Cung cấp dẫn liệu về tính kháng thuốc Phosphine ở mọt gạo cũng như
hiệu quả của việc xông hơi khử trùng mọt gạo bằng Phosphine làm cơ sở bổ sung
biện pháp phòng trừ côn trùng trong kho dự trữ.
- Góp phần xây dựng biện pháp phòng chống sâu mọt trong kho bảo quản,
có phương án sử dụng các loại thuốc khử trùng kho một cách hợp lý, an toàn với
con người và môi trường.

3


Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Lúa gạo là một trong những nguồn lương thực chính của con người và
cũng là nguồn nguyên liệu quan trọng trong sản xuất thức ăn chăn nuôi. Kể từ
cuối thập kỷ 80 đến nay, ngành lúa gạo của Việt Nam đã phát triển liên tục theo
định hướng gia tăng sản lượng. Sự gia tăng gần như liên tục này trong suốt hơn
hai thập kỷ qua đã giúp Việt Nam không những đảm bảo an ninh lương thực
trong nước mà còn liên tục là một trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới.
Do đó, để đảm bảo chương trình an ninh lương thực quốc gia cũng như xuất
khẩu, lượng dự trữ thóc trong kho cũng như lượng thóc luân chuyển trên thị
trường là rất lớn. Những năm gần đây, sản lượng thóc xuất khẩu ngày càng tăng,
tuy nhiên các nước phát triển nhập khẩu thóc luôn có những yêu cầu nghiêm ngặt
về Kiểm dịch thực vật, nhất là các đối tượng con trùng gây hại trên mặt hàng này.
Thành phần các loài sâu mọt hại thóc bảo quản trong kho khá đông đúc đã
gây tổn hại không nhỏ tới số lượng và chất lượng của nguồn nguyên liệu. Không
những thế, việc xuất khẩu thóc từ quốc gia này đến quốc gia khác cũng mang đến
một mối nguy cơ không nhỏ của việc lan truyền các sinh vật gây hại. Trong số
những loài côn trùng gây hại sơ cấp trên thóc không thể không kể đến loài mọt
gạo Sitophilus oryzae, đây là loài mọt rất phổ biến trên thóc đồng thời dễ dàng
phát sinh phát triển nhanh chóng, với mật độ cao gây khó khăn trong việc bảo
quản và dự trữ thóc trong kho. Trong những năm gần đây, tình hình bùng phát
hiện tượng kháng thuốc hóa học ở côn trùng trong kho bảo quản nông sản đã xảy
ra ở một số địa phương càng làm cho việc phòng trừ côn trùng gây hại bằng
thuốc hóa học gặp nhiều khó khăn.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về loài mọt gạo Sitophilus oryzae, ở
Việt Nam cũng đã có một số tác giả đã nghiên cứu về loài mọt này. Tuy nhiên
với mỗi vùng sinh thái khác nhau, điều kiện khí hậu, kho tàng khác nhau thì đặc
điểm sinh học, sinh thái học của loài mọt gạo này cũng lại biến đổi khác nhau.

4


Do đó, việc nghiên cứu nắm bắt được thành phần các loài sâu mọt gây hại trong
kho thóc bảo quản, sự phân bố, mức độ gây hại của côn trùng kho nói chung và
của loài mọt gạo Sitophilus oryzae nói riêng là cần thiết cho ngành Kiểm dịch
thực vật, đồng thời từ những nghiên cứu cụ thể về đặc điểm sinh học, sinh thái
học của loài mọt gạo Sitophilus oryzae giúp chúng ta có cơ sở để đưa ra các biện
pháp phòng trừ loài mọt này một các hiệu quả và hợp lý, giảm thiểu tác hại đến
môi trường và chất lượng nông phẩm.
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.2.1. Nghiên cứu về thành phần côn trùng gây hại trong kho bảo quản
Sự phá hại của côn trùng đối với sản phẩm bảo quản thật đa dạng. Trước
hết phải kể đến việc làm giảm phẩm chất hoặc phá hủy vật chất, làm cho vật chất
dự trữ hay lưu trữ bị giảm hoặc mất hoàn toàn giá trị sử dụng. Cotton and Wilbur
(1974) đã thống kê được số lượng loài côn trùng gây hại hạt dự trữ trong kho trên
thế giới gồm 43 loài; trong đó có 19 loài thuộc nhóm côn trùng gây hại chủ yếu
và 24 loài thuộc nhóm côn trùng gây hại thứ yếu (dẫn theo Snelson, 1987).
Các kết quả điều tra côn trùng và gặm nhấm gây hại trong kho ngũ cốc cũng
như các sản phẩm nông nghiệp khác ở Thái Lan đã xác định khoảng 70 loài gây hại.
Trong đó, các loài gây hại chủ yếu trên thóc lưu trữ là Sitotroga cerealella,
Rhyzopertha dominica và Sitophilus sp. (Sukprakarn, 1985).
Tổng số côn trùng gây hại hạt dự trữ trong kho trên thế giới gồm 43 loài
được chia làm 2 nhóm: nhóm côn trùng gây hại chủ yếu gồm 19 loài, nhóm gây
hại thứ yếu nhưng thường xuyên phát hiện trên hạt gồm 24 loài (Snelson.,1987).
Donahaye and Calderon (1964) đã ghi nhận được 27 loài côn trùng gây
hại trong kho sản phẩm lương thực dự trữ ở Israel. Trong đó, một số loài có mức
độ phổ biến cao như Carpophilus hemipterus, Lasioderma serricorne,
Oryzaephilus surinamensis và Tribolium castaneum.
Tại bang Ohio, nhà côn trùng học người Mỹ, Arnold (1990) và các nhà
khoa học của trường đại học Ohio (1999) đã tiến hành điều tra thu thập các loài
côn trùng hại sản phẩm bảo quản trong kho ở Mỹ. Kết quả điều tra thu thập
được 69 loài côn trùng thuộc 20 họ, 2 bộ. Trong đó có 6 loài côn trùng là đối tượng

5


kiểm dịch thực vật của Việt Nam là: Prostephanus truncatus (Horn.); Caulophilus
oryzae (Gyllenhal); Sitophilus granarius (L.); Trogoderma granarium Everts;
Trogoderma inclusum Leconte; Acanthoscelides obtectus (Say).
Các loài gây hại chính trong kho bảo quản gạo ở Indonesia là nhóm
Curculionid Sitophilus sp. và tenebrionid Tribolium castaneum và một số loài
gây hại thứ yếu bao gồm Corcyra cephalonica, Ephestia kuehniella và
Rhyzopertha dominica (Sidik et al., 1985)
Digvir et al. (1995) cho biết có 17 loài côn trùng gây hại chủ yếu và 12
loài khác gây hại thứ yếu trong kho thóc dự trữ. Sự đa dạng loài của dịch hại phụ
thuộc vào hình thức, cách bảo quản, lưu trữ lúa gạo trong kho.
Theo kết quả

điều tra của Haines

phối hợp với các nhà khoa học

Indonesia thuộc Trung tâm sinh học nhiệt đới vùng Đông Nam Á (Seameo Biotrop) và Viện Tài nguyên thiên nhiên (NRI) cũng như các tác giả Sukprakarn
and Tauthong (1998); Nilpanit and Sukprakarn (1990); Nakakita (1994), thành
phần côn trùng hại kho nông sản thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) và bộ
Cánh vảy (Lepidoptera) ở Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Philippines và
một số nước khác thuộc khu vực Đông Nam Á có 174 loài thuộc 38 họ, trong
ñó bộ Cánh cứng (Coleoptera) có 153 loài thuộc 34 họ khác nhau, chiếm
87,93%; bộ Cánh vảy (Lepidoptera) có 21 loài thuộc 4 họ khác nhau, chiếm
12,07%. Kết quả trên cho thấy, khu vực Đông Nam Á là vùng có thành phần côn
trùng hại kho nông sản tương đối phong phú và đa dạng hơn nhiều so với Mỹ
cũng như các nước khác trên thế giới (dẫn theo Hà Thanh Hương, 2008).
Theo Reichmuth (1997) đã thông báo có tới 60 loài côn trùng thuộc 21 họ
của 4 bộ đã bắt gặp trên nông sản bảo quản ở Đức.
Điều tra 1999-2001 ở Tây Ban Nha đã công bố hơn 29 loài côn trùng
thuộc 15 họ (chủ yếu là Coleoptera và Lepidoptera) đã được tìm thấy trên các sản
phẩm thực vật trong kho bảo quản. Trong đó, mọt gạo Sitophilus oryzae và mọt
đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica là những loài có mức độ phổ biến cao nhất
(Riudavets et al., 2002)
Kết quả điều tra quốc gia lần thứ 4 của Trung Quốc năm 2004-2005 về

6


thành phần côn trùng và nhện hại trong kho ngũ cốc là 270 loài, trong đó có 44
loài thiên địch, chúng thuộc 2 lớp, 12 bộ và 54, trong đó có 54 loài gây hại chủ
yếu trong các kho dự trữ như: Sitophilus oryzae (L.), Sitophilus granarius (L.),
Rhyzopertha dominica (F.), Palorus ratzeburgi (Wissmann),

Xylocoris

galactinus (Fieber)……(Yan et al., 2010)
Điều tra các sản phẩm lưu trữ như ngũ cốc, bột, các loại thảo mộc khô, trái
cây khô và các loại hạt tại Đức đã xác định hơn 213 loài côn trùng gây hại trong
đó có 16% được tìm thấy trong kho bảo quản, hầu hết các loài này thuộc nhóm
gây hại thứ phát và nhóm ăn mốc với tỷ lệ tương ứng là 28% và 29% tổng số loài
(Scholler, 2013)
CABI (2015) nêu rõ các loài côn trùng Acanthoscelides obtectus¸
Callosobruchus spp., Prostephanus truncatus, Rhyzopertha dominica, Sitophilus
spp., Tribolium castaneum gây hại nguy hiểm đối với kho thóc lúa và đậu.
Từ những dẫn liệu trên cho thấy thành phần loài côn trùng trong kho dự
trữ hạt ngũ cốc trên thế giới khá là phong phú và được đặc biệt quan tâm
nghiên cứu.
1.2.2. Nghiên cứu về thiệt hại do sâu mọt gây ra đối với hạt ngũ cốc dự trữ
trong kho bảo quản
Các loại hạt ngũ cốc như lúa mỳ, lúa gạo, ngô, v.v… chiếm một phần
quan trọng trong bữa ăn của con người. Những sản phẩm này được dự trữ ở dạng
hạt khô và là nguồn dự trữ lương thực duy nhất của con người. Tuy nhiên, hạt
ngũ cốc dự trữ thường bị các loài côn trùng gây hại cắn phá và gây thiệt hại lớn
về trọng lượng cũng như giảm chất lượng. Theo tài liệu của Tổ chức Nông lương
thế giới (FAO) hàng năm trên thế giới có tới 6-10% số lương thực bảo quản trong
kho bị tổn thất. Báo cáo ở 5 nước Asean chỉ ra rằng các quốc gia thành viên đã
mất khoảng 25% sản lượng của họ trong quá trình thu hoạch và sau thu hoạch
bao gồm lưu trữ và cận chuyển, sự mất mát này ước tính khoảng 10,5 triệu tấn
lúa. Trong báo cáo của FAO (2015) tổn thất trọng lượng gạo của Thái Lan sau
thu hoạch dao động từ 8 – 14%. Các báo cáo gần đây của Viện lúa chỉ ra rằng
trong 20 giống lúa khác nhau chưa xử lý được lưu trữ trong 10 tháng thì tổn thất

7


trọng lượng dao động trong khoảng 2,06-24,30% trung bình là khoảng 4,54%. Vì
vậy thiệt hại do côn trùng gây ra có liên quan đến thời gian lưu trữ.
Theo Subramanyam and Hagstrum (1996) tổng sản lượng lương thực
thế giới đã có thể tăng 25 – 30% nếu chúng ta có thể tránh được mất mát sau
thu hoạch.
Năm 1973, FAO đã chỉ ra rằng không lâu nữa, nguồn cung cấp lương
thực của thế giới sẽ không đủ để chống lại thiệt hại mùa màng và nạn đói. Ít nhất
10% lương thực sau thu hoạch bị mất mát do dịch hại trong kho và thiệt hại lên
tới 30% là phổ biến ở nhiều khu vực trên thế giới. Hàng hoá tổn thất về ngũ cốc
dự trữ trên toàn thế giới vào khoảng 10%, có nghĩa là 13 tấn ngũ cốc đã bị mất
chỉ do côn trùng và 100 tấn đã bị mất giá trị. Theo Powley (1963) ở Mỹ, mất mát
hàng năm trong các kho dự trữ ngũ cốc thường dao động giữa 15 và 23 triệu tấn,
trong đó khoảng 7 triệu tấn do chuột phá hại và 8 - 16 triệu tấn do côn trung phá
hại. Nếu tính giá trị bằng tiền mặt đã mất khoảng 465 triệu USA (dẫn theo
Snelson,1987).
Tỷ lệ tổn thất do côn trùng gây ra trong kho ngũ cốc dự trữ tại Thái Lan
dao động từ 1 – 25% (Sukprakarn, 1985)
Tổn thất sau thu hoạch đối với thóc và gạo tại một số nước châu Á như
Malaysia là 17%, Nhật Bản là 5% và Ấn Độ là 11 triệu tấn/ năm (Vũ Quốc
Trung, 2008).
Tại Mỹ, theo Pawgley (1963) tổn thất hại bảo quản mỗi năm được công bố
là khoảng 15-23 triệu tấn, trong đó khoảng 7 triệu tấn do chuột, từ 9-16 triệu tấn
do côn trùng. Ở châu Mỹ - Latinh, người ta đánh giá rằng ngũ cốc và đậu đỗ đã
thu hoạch bị tổn thất tới 25-50%; ở vài nước châu Phi, khoảng 30% tổng sản
lượng nông nghiệp bị mất đi hàng năm. Đối với thóc và gạo, tổn thất sau thu
hoạch tại một số nước châu Á như Mã Lai là 17%. Nhật Bản là 5% và Ấn Độ là
11 triệu tấn/năm (dẫn theo Nguyễn Xuân Huy, 2009).
Lam (1993) đã cho biết tổn thất sau thu hoạch đối với gạo cất giữ trong
kho ở châu Á khoảng 2 – 6%.
Walter công bố rằng, thiệt hại do dịch hại kho gây ra khoảng 10% ở

8


Minnesota, thậm chí tới 50% ở một số quốc gia đang phát triển. Tổn thất do côn
trùng gây ra ước tính từ 5 – 10% sản phẩm lương thực toàn thế giới (dẫn theo Hà
Thanh Hương, 2008).
Snelson (1987) công bố rằng, tại vùng Sahara thiệt hại của hạt trong kho
bảo quản có thể lên tới 25 – 40%.
Bùi Công Hiển (2014) cho rằng mọt gạo là đối tượng gây hại chủ yếu
trong lương thực, đặc biệt ở những kho chứa gạo, ngô; ở Thổ Nhĩ Kỳ 2/3 số
trường hợp bị hại là do mọt gạo. Ở Mỹ, riêng năm 1951 ước tính thiệt hại do mọt
gạo gây ra khoảng 120 triệu đô la Mỹ. Trong lịch sử cũng ghi nhận ở một chiếc
tàu chở 145 tấn ngô vào năm 1948, khi cập bến đã sàng được 3 tấn mọt gạo.
Sitophilus zeamais và Tribolium castaneum là côn trùng gây hại nghiêm
trọng trong kho lưu trữ hạt, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch mà chúng gây ra tại
Brazil khoảng 25% (Atunes, 2013)
Tại Ấn Độ, theo Sittisuang and Imura (1987) chỉ ra rằng gạo nâu mất 19%
so với trọng lượng hạt ban đầu sau 14 tuần nhiễm Sitophilus oryzae. Để đánh giá
khả năng gây hại của ấu trùng và trưởng thành Sitophilus oryzae các thí nghiệm
trong phòng đã được thực hiện. Chúng làm trọng lượng hạt bị giảm tối đa là 57%
đối với gạo và 10% đối với lúa mì (dẫn theo CABI, 2015).
Sitophilus oryzae được coi là một trong những loài gây hại chính trong
kho bảo quản ngũ cốc (ngô, thóc, gạo, lúa mạch và lúa mì). Chúng làm giảm
trọng lượng và chất lượng hạt, tạo điều kiện cho nấm, côn trùng khác phát triển.
Trên ngô hoặc hạt bo bo, S. oryzae tấn công khi độ ẩm hạt đã giảm đến 18 –
20%. Xâm nhiễm và gây hại trong kho thông qua việc di chuyển vào các vật liệu
lưu trữ. Trong kho ngô dự trữ, S. oryzae thường gây tổn thất khoảng 4 – 5%
nhưng cũng có khi gây hại nặng lên đến 30 – 40% (CABI, 2015).
1.2.3. Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ sâu mọt trong kho bảo quản
Phòng trừ sinh học cũng bao gồm việc sử dụng các chất độc có nguồn gốc
tự nhiên, các chất xua đuổi hoặc dẫn dụ, những chất có thể được sử dụng trong
hệ thống phòng trừ tổng hợp côn trùng gây hại trong kho, thậm chí những kỹ
thuật này còn được gọi tên riêng là các kỹ thuật công nghệ sinh học (Reichmuth,

9


2000). Phòng trừ sinh học tạo ra cơ hội để đấu tranh có hiệu quả chống lại một
loài dịch hại riêng biệt mà không gây ra ảnh hưởng đến các loài dịch hại khác
hoặc các loài côn trùng có ích.
Một số kết quả nghiên cứu về sinh học phòng trừ côn trùng gây hại trong kho:
McGaughey (1980) cho biết việc xử lý trên lớp hạt bề mặt (khoảng 10cm) với
một lượng nhỏ chế phẩm Bacillus thuringiensis đã hạn chế khoảng 81% quần thể
ngài Ấn Độ (Plodia interpunctella) và ngài bột điểm (Esphestia cautella) và kết quả
đã hạn chế sự ăn hại của chúng tới hơn 92% (dẫn theo Bùi Công Hiển, 2014).
Scholler (2000) nghiên cứu tại Đức cho biết trong điều kiện thí nghiệm
phòng và trong kho có quy mô nhỏ, việc thả ong ký sinh Trichogramma
evanescens đã làm giảm quần thể của Ephestia elutella tới 31,4% so với đối
chứng. Trong số những kẻ thù tự nhiên, Anisopteromalus calandrae (Howard)
và Lariophagus distinguendus (Forster) là ong kí sinh sâu non và có khả năng
kiểm soát số lượng của một số loài mọt như Sitophilus oryzae, Sitophilus
zeamay.
Reichmuth (2000) cho biết bọ xít Xylocoris flavipes Reuter ăn trứng, sâu
non và nhộng nhiều loài côn trùng gây hại trong kho như: Plodia interpunctella,
Corcyra cephalonica, Ephestia cautella, Acanthoscelides obtectus, Dermestes
maculatus, Sitophilus zeamais, Cryptolestes ferrugineus, Sitophilus granarius,
Tribolium confusum, Tribolium castaneum, Lasioderma serricorne và Sitotroga
cerealella. Cũng theo Christoph Reichmuth (2000), ong Trichogramma
evanescens Wetw. ký sinh trứng nhiều loài côn trùng gây hại trong kho như
Plodia interpunctella, Ephestia kuehniella, Corcyra cephalonica, Ephestia
cautella, Acanthoscelides obtectus, Dermestes maculatus.
Batta (2003) công bố nghiên cứu sử dụng chủng nấm Metarhzium
anisopliae để phòng trừ mọt gạo Sitophilus oryzae, tỷ lệ chết của trưởng thành
mọt gạo khá cao từ 73,3 – 80%.
Agostini (2015) chỉ ra rằng sử dụng các chủng nấm Beauveria bassiana,
Metarhizium anisopliae và Isaria fumosorosea để kiếm soát mật độ Sitophilus
oryzae là có hiệu quả với tỷ lệ tử vong dao động từ 5 – 25%.

10


Các biện pháp kỹ thuật được xử lý trong việc bảo quản lưu trữ hàng hóa
trong kho có tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của chúng. Vệ
sinh sạch sẽ kho tàng trước khi nhập hàng, sắp xếp và bố trí hàng hóa bảo quản
trong kho gọn gàng, ngăn nắp và giữ cho kho sạch sẽ trong suốt quá trình bảo
quản có tác dụng loại bỏ nguồn lây nhiễm côn trùng gây hại cho các lô hàng lưu
trữ tiếp theo. Côn trùng trong kho thường sống trong các phần hàng hóa còn sót lại
sau khi xuất hàng hoặc ẩn nấp trong các khe kẽ của sàn tường kho, trong các
phương tiện chế biến, vận chuyển. Vì vậy giữ cho kho tàng luôn được sạch sẽ
trong quá trình bảo quản kết hợp với kiểm tra định kỳ giúp phát hiện sớm sự xuất
hiện của côn trùng gây hại để có biện pháp xử lý kịp thời. Theo những nghiên cứu
của Evans (1981) thì biện pháp vệ sinh kho tàng là điều có giá trị trước tiên khi áp
dụng các biện pháp phòng trừ côn trùng gây hại (sinh học, hóa học và vật lý) (dẫn
theo Bùi Công Hiển, 2014).
Tại Trung Quốc, thuốc thảo mộc Gu Chong Jing (GCJ) đã được sản xuất và
đưa vào sử dụng rộng rãi trong các kho bảo quản lương thực dự trữ tại tỉnh
Quảng Tây, Quảng Đông và nhiều tỉnh khác ở Trung Quốc đạt hiệu quả tốt (Lin,
2003).
Đánh giá dầu thực vật trừ sâu hại bắt đầu được sử dụng từ những năm đầu
của thế kỷ 19. Năm 1927, một công trình nghiên cứu tiến hành tại Mỹ đã ghi nhận
hạt dầu bông, hạt lanh, hạt thầu dầu có hiệu quả trừ sâu. Messina & Renwich
(1983) đã sử dụng dầu lạc, dầu dừa Cocos nucifera L., (Arecales:Arecaceaee) và
dầu cây rum nhuộm để bảo quản hạt đậu đỗ, trừ loài mọt ngũ cốc Sitophilus
granarius (L) (Coleoptera: Curculionidae). Dầu thực vật như hạt dầu lanh, (Lnum
usitatissium L., bộ Linales: họ Linaceae), hạt thầu dầu (Ricinus communis L., bộ
Euphorbiales: họ Euphobiaceae), ... cây ô liu (Oler europaea L. bộ Scophulariales:
họ Oleaceae) (Snelson, 1987).
Hossain et al. (2014) công bố kết quả nghiên cứu khi tiến hành xông hơi
tinh dầu húng quế (Ocimum basilicum) liều lượng 0,83 µl/ml kết hợp với chiếu
xạ ở liều 200 Gy trên nông sản bảo quản thì tỷ lệ chết của mọt gạo Sitophilus
oryzae đạt 100% tại thời điểm 5 ngày sau xử lý.

11


Wang et al. (2015) chỉ ra rằng các loại tinh dầu thực vật có tiềm năng để
phát triển thành thuốc xông hơi tự nhiên hoặc chất xua đuổi kiểm soát côn trùng
gây hại như Sitophilus zeamais và Sitophilus oryzae trong kho bảo quản nông
sản.
Spart (1979) đã báo cáo kinh nghiệm ở Úc trong việc bảo quản kín khi
lượng ôxy đạt 5% thì mọt đục hạt nhỏ (Rhizopertha dominica Fabr.) vẫn tồn tại
và sinh sản được. Nhìn chung, phương pháp bảo quản kín chỉ thích hợp với điều
kiện hạt khô và nồng độ ôxy đạt từ 5-10% và cácbônic cũng chiếm tỷ lệ tương tự
(dẫn theo Bùi Công Hiển, 2014).
Việc bảo quản hạt ngũ cốc ở Úc và Trung Quốc hiện nay chủ yếu sử dụng
các loại kho xylô với hệ thống thông gió hiện đại có sức chứa 50.000-70.000 tấn.
Với các loại kho này, côn trùng rất khó xâm nhiễm từ bên ngoài vào bên trong
kho để gây hại (Lin, 2003, Qin et al., 2003).
Bên cạnh đó, ở Úc hiện áp dụng biện pháp bảo quản kín dưới đất bằng
việc đào các hố sâu khoảng 1-2m dưới đất, sau đó để trải bạt để cách nhiệt và
ẩm, rồi đổ rời hạt lúa mỳ xuống; sau đó trùm lên trên bằng một tấm bạt che
khác và ghép các mép bạt lại với nhau làm kín (không cần đến nhà và mái che
cho loại kho này). Phương pháp này kết hợp với sử dụng thuốc Phostoxin
xông hơi để trừ côn trùng gây hại trên hạt lúa mỳ. Bảo quản theo phương pháp
này có thể kéo dài trong thời gian 6 tháng. Bảo quản dưới mặt đất cũng rất
phổ biến ở các nước châu Phi hiện nay, nơi có điều kiện thời tiết khô và nóng.
Phương pháp bảo quản dưới mặt đất có chi phí thấp hơn nhiều so với bảo quản
trong các xylô. Tuy nhiên, phẩm chất hạt bảo quản cũng giảm đi nhanh hơn
nên thời gian bảo quản thường chỉ là 6 tháng (Collins et al., 2002).
Thủy phần của hàng hóa trong bảo quản là một trong những yêu cầu rất quan
trọng. Hàng hóa bảo quản phải đủ độ khô cần thiết sẽ hạn chế sự bốc nóng trong
khối hàng cũng như hạn chế sự xâm nhiễm và gây hại của côn trùng. Davey và
Elcoata (1996) kết luận rằng thủy phần an toàn đối với hạt ngũ cốc khoảng 1213%; với lạc là 8%; với hạt cọ dầu là 6%. Hyde (1969) cho rằng nấm mốc và côn
trùng chỉ phát triển khi độ ẩm tương đối của không khí trong kho lớn hơn 70-

12


75% (dẫn theo Bùi Công Hiển, 2014).
Chiếu xạ cũng là một biện pháp phòng trừ Sitophilus oryzae trong kho bảo
quản gạo. Thóc bị nhiễm mọt gạo sẽ được chiếu xạ với liều lượng 120 Gy khiến
tỷ lệ chết của mọt gạo trưởng thành lên tới 100% tại thời điểm 2 tuần sau khi xử
lý. Chiếu xạ là phương pháp tối ưu để kiếm soát mật độ Sitophilus oryzae ở các
quần thể thể hiện tính kháng với phosphine cũng như ngăn ngừa sự lây lan của
mọt gạo trong các loại ngũ cốc xuất khẩu (Follet et al., 2013).
Đầu thế kỷ XX, thuốc hóa học với ưu điểm nổi vật như tác động diệt côn trùng
nhanh, phổ tác động của thuốc rộng, để dễ sử dụng và giá thành rẻ đã giúp cho phòng
trừ hóa học được xem như là vũ khí rất lợi hại của con người trong cuộc chiến chống
lại các loài côn trùng gây hại ngoài đồng rộng cũng như trong kho bảo quản.
Một số hoạt chất hóa học được sử dụng trong việc phòng trừ côn trùng hại
kho như alpha-cypermethrin, thiamethoxam. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ
chết của sâu non và trưởng thành loài Trogoderma granarium và Tenebrio molitor
cao hơn khi xử lý bằng alpha-cypermethrin so với thiamethoxam (Athanassiou et
al., 2015).
Nghiên cứu của Swamy (2015) đã chỉ rõ hiệu lực của một số loại thuốc hóa
học sử dụng để phòng trừ Sitophilus oryzae trong kho ngô như Emamectin
benzoate 5 SG, spinosad 45 SC, indoxacarb 14,5 SC, rynaxypyr 20 SC,
chlorfenapyr 10 EC, novaluron 10 EC và Deltamethrin 2,8 EC cũng như ảnh
hưởng của từng loại thuốc tới chất lượng hạt giống (khả năng nảy mầm, sức
sống, độ ẩm hạt,...). Trong đó, hiệu quả nhất trong việc kiểm soát mật độ
Sitophilus oryzae trên ngô giống là spinosad 45 SC.
1.2.4. Nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh thái và tính kháng thuốc của mọt
gạo Sitophilus oryzae Linnaeus
Vị trí phân loại (CABI, 2015)
+ Giới (Kingdom): Metazoa
+ Ngành (Phylum): Arthropoda
+ Lớp (Class): Insecta
+ Bộ(Oder): Coleoptera

13


+ Họ(Family): Dryophthoridae
+ Giống: Sitophilus
+ Loài: Sitophilus oryzae
Phân bố:
Mọt gạo phân bố ở nhiều khu vực trên thế giới như châu Âu: Áo, Belarus,
Bỉ, Hi Lạp, Italy, Phần Lan, Tây Ban Nha; châu Á: Trung Quốc, Ấn Độ,
Malaysia, Nepal, Sri Lanka; châu Mỹ: Brazil, Peru, Argentina; châu Đại Dương:
Ôxtrâylia, New Zealand; châu Phi: Congo, Ai Cập, Ghana, Kenya (CABI, 2015).
Phạm vi kí chủ:
Mọt gạo Sitophilus oryzae gây hại chủ yếu trên hạt gạo. Ngoài ra chúng
còn gây hại trên nhiều loại ngũ cốc khác nhau đậu đỗ, ngô, hạt bo bo … Mặc dù,
Sitophilus oryzae là côn trùng gây hại trong kho bảo quản nhưng chúng cũng có
thể gây hại các loại ngũ cốc ngoài đồng ruộng (CABI, 2015).
Đặc điểm hình thái, sinh học và tính kháng thuốc của mọt Sitophilus oryzae
Linnaeus
Theo CABI (2015) mọt trưởng thành có màu nâu đỏ, trên đầu có vòi nhô
dài ra. Râu đầu hình đầu gối có 8 đốt. Trên mảnh ngực trước có những đốm tròn
nhỏ lõm vào. Trên cánh cứng có những đường dọc lõm cũng có những điểm tròn.
Con đực có vòi ngắn và to hơn con cái, trên mặt lưng chấm lõm dài và rõ hơn
con cái. Trứng được đẻ bên trong hạt. Sâu non và nhộng phát triển hoàn toàn bên
trong hạt mà chúng phá hại, chỉ sau khi vũ hóa trưởng thành mới chui ra ngoài.
Mọt hoạt bát, có tính giả chết, thích bò lên cao và phía ngoài các bao nông
sản, bay được khá tốt. Mọt có thể sinh sôi nảy nở trong kho và ngoài đồng. Mọt
gạo trung bình sống khoảng 180- 200 ngày. Thời gian sống của mọt gạo phụ
thuộc chủ yếu vào nhiệt độ và thủy phần của hạt (PADIL, 2015)
Trung bình một con cái đẻ 380 trứng, cao nhât đạt 576 trứng (Perez-Mendoza et
al., 2004).
Ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, mọt gạo có thể bay ra ngoài đồng và đẻ
trứng lên lúa sắp thu hoạch. Nhưng thường khi nhiệt độ cao hơn 25oC thì hoạt động
của mọt ngô chiếm ưu thế hơn mọt gạo (Jayashree et al., 2013).

14


Nakakita (1997) đã chỉ ra ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến Sitophilus
oryzae , ở nhiệt độ dưới 10oC Sitophilus oryzae đình dục; sự gia tăng mật độ của
mọt gạo bị ảnh hưởng ở 15 oC.
Theo Koehler (1994) trưởng thành cái mọt gạo Sitophilus oryzae đẻ trung
bình 4 trứng mỗi ngày và có thể sống 4-5 tháng. Vòng đời khoảng 26 – 32 ngày
trong những tháng mùa hè nhưng kéo dài hơn trong thời tiết lạnh. Trứng nở trong
khoảng 3 ngày. Sâu non đục bên trong hạt ngũ cốc trung bình 18 ngày. Nhộng
trần, giai đoạn nhộng kéo dài 6 ngày. Trưởng thành mới vũ hóa vẫn ở trong hạt
khoảng 3 – 4 ngày rồi chui ra.
Choudhury (2013) chỉ ra rằng trong điều kiện nhiệt độ 30,7oC trên giống
lúa địa phương Sampa mashuri, vòng đời Sitophilus oryzae dao động từ 35 - 49
ngày, thời gian sâu non kéo dài từ 22 – 29 ngày, nhộng từ 7-8 ngày.
Trưởng thành cái mọt gạo S. oryzae đẻ 50 – 250 trứng, vòng đời kéo dài từ
28 – 35 ngày trong thời tiết ấm, có vài thế hệ trong một năm. Thời gian hoàn thành
một vòng đời kéo dài hơn khi nhiệt độ giảm. Trứng nở sau 5 – 7 ngày, trưởng
thành S. oryzae có thể sống từ 3 – 8 tháng trong điều kiện nhiệt độ từ 15 – 35oC
(Trécé, 1999)
Vòng đời Sitophilus oryzae trong kho ngô bảo quản khoảng 42 ngày (ở
nhiệt độ từ 15 – 34oC, độ ẩm 58 – 89%) giai đoạn sâu non 27,6 ngày và giai đoạn
nhộng diễn ra trong 9,5 ngày (Swamy et al., 2014).
Manoj et al. (2004) đánh giá ảnh hưởng của thời gian tiếp xúc và nồng độ
phosphine tới tỷ lệ chết của dòng mẫn cảm và dòng kháng yếu của mọt gạo
Sitophilus oryzae tại Australia.
Odeyemi et al. (2010) thực hiện nghiên cứu tính kháng pirimiphos methyl của
mọt gạo Sitophilus oryzae. Thóc bị nhiễm Sitophilus oryzae được lấy mẫu từ 5
tỉnh khác nhau của Nigeria để thử nghiệm tính kháng với pirimiphos methyl ở 7
nồng độ khác nhau. Kết quả cho thấy tỷ lệ chết của mọt gạo Sitophilus oryzae
tăng theo nồng độ và thời gian tiếp xúc với thuốc pirimiphos methyl; cả 5 dòng mọt
gạo đều có tỷ lệ chết 100% tại thời điểm 24 giờ sau tiếp xúc với pirimiphos methyl ở
các nồng độ khác nhau.

15


Akhlag et al. (2013) nghiên cứu tính kháng phosphine trong quần thể côn
trùng Tribolium castaneum. Rhyzopertha dominica, Trogoderma granarium và
Sitophilus oryzae từ các vùng khác nhau của Sindh. Bốn mươi tám dòng địa
phương lần lượt được thu từ 7 thành phố của Sindh đã được thử nghiệm tính
kháng phosphine. Trong đó các dòng địa phương của loài Tribolium castaneum.
Rhyzopertha dominica, Trogoderma granarium đều thể hiện mức kháng khác
nhau trong khi tất cả các dòng địa phương của loài Sitophilus oryzae chỉ thể hiện
tính kháng yếu so với dòng mẫn cảm chuẩn.
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.3.1. Nghiên cứu về thành phần côn trùng gây hại trong kho bảo quản
Việt Nam là một trong những nước nằm trong khu vực Đông Nam Á,
thành phần côn trùng và nhện hại kho nông sản cũng không kém phần
phong phú.
Kết quả điều tra về thành phần loài côn trùng và nhện hại trong kho bảo
quản nông sản của tác giả Bùi Công Hiển (2014) đã công bố thành phần các loài
thuộc bộ cánh cứng gây hại trong kho đã phát hiện ở Việt Nam gồm 55 loài.
Kết quả điều tra thành phần côn trùng trong kho ở Việt Nam công bố năm
1996 của Nguyễn Thị Giáng Vân và cs. (1995) đã ghi nhận được 110 loài côn
trùng. Chỉ tính riêng trong kho thóc dự trữ, các tác giả đã phát hiện được 23 loài
côn trùng gây hại trong kho thóc dự trữ đổ rời thuộc 14 họ của 3 bộ, trong đó có
4 loài thuộc nhóm gây hại sơ cấp và 19 loài thuộc nhóm gây hại thứ cấp.
Một số loài côn trùng trong kho không có ở Việt Nam nhưng chúng
thường lây nhiễm và theo hàng hóa nhập khẩu vào nước ta, trong đó có một số
loài rất nguy hiểm như mọt cứng đốt (Trogoderma granarium) (Nguyễn Thị
Giáng Vân, 1995).
Bùi Minh Hồng và cs. (2002) đã tiến hành điều tra côn trùng hại kho trên
thóc đổ rời tại hệ thống kho cuốn thuộc Cục dự trữ quốc gia ở 3 tỉnh Hà Nội,
Thái Bình, Bắc Giang. Kết quả thu thập được 15 loài, thuộc 3 bộ, 11 họ. Số loài
tập trung chủ yếu ở bộ cánh cứng (13 loài thuộc 11 họ) trong đó 3 họ chính là
Curculionidae, Tenebrionidae và Silvanidae.

16


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×