Tải bản đầy đủ

thành phần loài mối hại di tích tại các huyện phía tây hà nội năm 2014 – 2015 và đánh giá mức độ gây hại của chúng

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
***

TRẦN THƯƠNG TÍN

THÀNH PHẦN LOÀI MỐI HẠI DI TÍCH
TẠI CÁC HUYỆN PHÍA TÂY HÀ NỘI NĂM 2014 – 2015
VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ GÂY HẠI CỦA CHÚNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
***


TRẦN THƯƠNG TÍN

THÀNH PHẦN LOÀI MỐI HẠI DI TÍCH
TẠI CÁC HUYỆN PHÍA TÂY HÀ NỘI NĂM 2014 - 2015
VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ GÂY HẠI CỦA CHÚNG

CHUYÊN NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỐ

: 60.62.01.12

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN ĐÌNH CHIẾN

HÀ NỘI, NĂM 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào để bảo vệ luận văn Thạc sĩ hay Tiến sĩ.
Học viên

Trần Thương Tín

ii


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước tiên em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Thầy PGS. TS Trần Đình Chiến đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình học
tập, nghiên cứu.
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô Bộ môn Côn trùng, khoa Nông
học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức làm nền
tảng cơ sở để em hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Sinh thái và Bảo vệ công
trình đã tạo điều kiện thời gian, cơ sở vật chất trang thiết bị để tôi học tập nghiên
cứu hoàn thành luận văn đạt kết quả tốt.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến ban quản lý các khu di tích, cảm ơn các Thầy

TS. Nguyễn Tân Vương, TS. Nguyễn Quốc Huy, các đồng nghiệp Th.S Võ Thu
Hiền, Th.S Nguyễn Thị My …đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình và bạn bè thân thiết đã luôn gần gũi động
viên để tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2015

Học viên

Trần Thương Tín

iii


MỤC LỤC
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii

Mục lục

iv

Danh mục từ viết tắt

vi

Danh mục bảng

vii

Danh mục các hình

viii

MỞ ĐẦU

1

1. Tính cấp thiết của đề tài

1

2. Mục đích, yêu cầu

2

3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3

1.1. Cơ sở khoa học thực hiện đề tài

3

1.2. Những nghiên cứu ở nước ngoài

3

1.2.1. Nghiên cứu thành phần loài mối

3

1.2.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái loài gây hại

6

1.2.3. Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ

8

1.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam

16

1.3.1. Nghiên cứu thành phần loài mối

16

1.3.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái loài gây hại

16

1.3.3. Nghiên cứu biện pháp phòng trừ

18

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

21

2.1. Đối tượng nghiên cứu

21

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

21

2.3. Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu

22

2.4. Khái quát đặc điểm địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu

22

2.4.1. Vị trí địa lý

22

2.4.2. Địa hình

22

2.4.3. Khí hậu

23
iv


2.5. Nội dung nghiên cứu

23

2.6. Phương pháp nghiên cứu

23

2.6.1. Phương pháp điều tra thu thập mẫu

23

2.6.2. Phương pháp xử lý và bảo quản mẫu vật

24

2.6.3. Phương pháp xác định tên loài

24

2.6.4. Phương pháp xác định mức độ gây hại của mối

25

2.6.5. Phương pháp xác định thành phần loài mối gây hại chính

26

2.6.6. Phương pháp thử nghiệm hiệu lực diệt mối của bả B

26

2.6.7. Phương pháp xử lý số liệu

28

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

29

3.1. Thành phần loài mối hại di tích ở các huyện phía Tây Hà Nội

29

3.1.1. Thành phần loài mối trong khu vực nghiên cứu

29

3.1.2. Đặc điểm phân bố của mối trong khu vực nghiên cứu

34

3.2. Mức độ gây hại của các loài mối trong khu vực nghiên cứu

38

3.2.1. Hiện trạng mối gây hại trong các di tích nghiên cứu

38

3.2.2. Loài gây hại chính trong công trình di tích

42

3.3. Hiệu lực của bả B đối với mối Coptotermes gestroi.

46

3.3.1. Thử nghiệm nồng độ hoạt chất phù hợp.

46

3.3.2. Thử nghiệm hiệu lực diệt mối của bả B trên mô hình hộp 500 cá thể.

50

3.3.3. Thử nghiệm hiệu lực diệt mối Coptotermes gestroi của bả B trên
công trình kiến trúc

52

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

54

TÀI LIỆU THAM KHẢO

55

PHỤ LỤC

59

v


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT

Số thứ tự

C. ceyonicus:

Coptotermes ceylonicus

C. domesticus:

Cryptotermes domesticus

C. formosanus:

Coptotermes formosanus

C. gestroi:

Coptotermes gestroi

C. travian:

Coptotermes travian

H. makhamensis:

Hypotermes makhamensis

H. sumatrensis:

Hypotermes sumatrensis

M. annandalei:

Macrotermes annandalei

M. barneyi:

Macrotermes barneyi

M. bugnioni:

Microcerotermes bugnioni

M. dimorphus:

Microtermes dimorphus

O. hainanensis:

Odontotermes hainanensis

O. proformosanus:

Odontotermesproformosanus

O. yunanensis:

Odontotermes yunanensis

vi


DANH MỤC BẢNG
Số bảng
2.1

Tên bảng

Trang

Danh sách các di tích điều tra, khảo sát thu mẫu mối tại một số
huyện phía Tây Hà Nội năm 2014 - 2015

21

2.2

Phiếu tính điểm mức độ tổn hại do mối gây ra đối với công trình di tích

25

3.1

Thành phần loài và tỉ lệ (%) mẫu mối thu được trong các khu di tích
điều tra trên địa bàn các huyện phía Tây Hà Nội năm 2014 - 2015

3.2

30

Cấu trúc thành phần các phân họ mối trong các khu di tích trên địa
bàn các huyện phía Tây Hà Nội năm 2014 - 2015

31

3.3

Phân bố của các loài mối theo các điểm nghiên cứu

35

3.4

Tỉ lệ bắt gặp các loài mối trong tổng số 16 di tích điều tra

36

3.5

Phân bố của mối theo không gian các di tích trên địa bàn các huyện
phía Tây Hà Nội năm 2014 - 2015

3.6

37

Mức độ bắt gặp mối xâm hại các cấu kiện trong các hạng mục di tích
điều tra

39

3.7

Bảng tính điểm mức độ tổn hại ( H ) do mối gây ra

41

3.8

Tỉ lệ bắt gặp mối gây hại trong các hạng mục của các công trình di
tích ở khu vực nghiên cứu

3.9

43

Phân loại mức độ mối hại ở các công trình di tích tại khu vực các
huyện phía Tây Hà Nội năm 2014 - 2015

45

3.10 Hiệu lực diệt mối Coptotermes gestroi của bả B ở các tỉ lệ hoạt chất
khác nhau trong phòng thí nghiệm

48

3.11 Hiệu lực diệt mối Coptotermes gestroi của bả B ở các tỉ lệ hoạt chất
0,5% và 0,75% trong phòng thí nghiệm

51

3.12 Hiệu lực diệt mối Coptotermes gestroi của bả B ở hàm lượng 0,5%
và 0,75% tại các công trình kiến trúc nghiên cứu năm 2015

vii

52


DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hình
3.1

Tên hình

Trang

Tỉ lệ % số loài của các giống mối trong các khu di tích điều tra trên
địa bàn các huyện phía Tây Hà Nội

3.2

31

Tỉ lệ % số loài và số giống của các phân họ mối trong các khu di tích
điều tra trên địa bàn các huyện phía Tây Hà Nội

32

3.3

Phân tích mẫu mối tại phòng thí nghiệm

32

3.4

Mối hại cột trụ đình Yên Lỗ (trái) và hại khung cửa chùa Cẩm Bào (phải)

38

3.5

Tỉ lệ % số hạng mục công trình điều tra bị mối hại ứng với các loại
cấu kiện khác nhau

3.6

40

Mối lính, mối thợ lớn, mối thợ nhỏ và tổ mối loài Odontotermes
hainanensis

43

3.7

Mối lính và mối cánh loài Cryptotermes domesticus

44

3.8

Mối thợ và mối lính Coptotermes gestroi

45

3.9

Bả B sau khi được sấy khô đóng gói bảo quản

46

3.10 Thí nghiệm cho mối ăn bả với tỉ lệ hoạt chất khác nhau

49

3.11 Thí nghiệm thử hiệu lực diệt mối Coptotermes gestroi của bả B ở mô
50

hình 500 cá thể
3.12 Hộp nhử mối Coptotermes gestroi tại Đình Cống Xuyên

51

3.13 Sự biến đổi tỉ lệ % số cá thể mối Coptotermes gestroi chết theo tỉ lệ
52

hoạt chất khác nhau

viii


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mối (Isoptera) là nhóm côn trùng đa hình thái, thuộc lớp côn trùng
(Insecta), có sự phân chia đẳng cấp và phân công chức năng rõ rệt, có hoạt động
tập tính phức tạp, tạo nên tập đoàn có tổ chức xã hội cao. Tính cho đến nay, trên
thế giới người ta đã xác định được khoảng hơn 2600 loài mối thuộc 8 họ, phân bố
chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Hoạt động của mối có ảnh hưởng quan trọng đến nhiều mặt trong đời sống
của con người. Trong tự nhiên, mối tham gia vào quá trình phân hủy các chất hữu
cơ có nguồn gốc Xenlulose để tạo thành đường và các chất đơn giản hơn trong
chu trình chuyển hóa vật chất. Đồng thời mối là nguồn thức ăn giàu chất dinh
dưỡng cho nhiều loài động vật khác nhau, góp phần duy trì đa dạng sinh học của thế
giới tự nhiên. Nhưng mặt khác nhiều loài mối đã gây ra tác hại to lớn cho nền kinh
tế - xã hội ở nhiều nước. Người ta đã xếp chúng vào nhóm côn trùng kinh tế quan
trọng trong số các loài côn trùng gây hại. Đối tượng gây hại của mối gồm các công
trình kiến trúc (nhà cửa, kho tàng, công sở, khu di tích …); các công trình thủy lợi,
thủy điện (đê, đập đất); các loại cây (cây công nghiệp, cây di tích, cây xanh đường
phố …). Mỗi loại đối tượng có thể bị gây hại bởi nhiều loài mối, nhưng trong đó
chỉ có một hoặc một nhóm loài gây hại chính. Chẳng hạn đối với các công trình
kiến trúc vùng đồng bằng chủ yếu là các loài mối thuộc giống Coptotermes. Nhìn
chung, nghiên cứu về mối hiện nay tập trung chủ yếu theo hai hướng chính : điều
tra sinh học của mối và nghiên cứu các giải pháp phòng trừ các loài mối gây hại.
Theo hướng điều tra đa dạng sinh học đã có nhiều nghiên cứu được tiến hành
như : Nguyễn Đức Khảm (1976); Nguyễn Tân Vương (2007); Nguyễn Văn
Quảng (2003) …. Phần lớn các điều tra mối chỉ tập trung trong các khu bảo vệ
như vườn quốc gia và khu bảo tồn. Các nghiên cứu tổng hợp về thành phần loài
mối vùng đồng bằng, thành phố hầu như còn khá ít ỏi hoặc tản mạn. Đối với
nghiên cứu giải pháp phòng trừ mối, đặc biệt là phòng chống nhóm mối nhà
Coptotermes đã có những thành công nhất định trong việc áp dụng biện pháp lây
1


truyền. Tuy nhiên, do phải sử dụng các chất lây nhiễm có nguồn gốc Arsenic, khá
độc đối với môi trường và người sử dụng, do việc tìm kiếm các biện pháp ít độc
hay không độc thay thế cho biện pháp trên là một yêu cầu thực tế hiện nay.
Các huyện phía Tây Hà Nội là vùng đất với nhiều di tích văn hóa lịch sử
quan trọng, trong đó chiếm đa số là các đình, chùa với cấu trúc gỗ là vật liệu
chính đang trở thành đối tượng chính để các loài mối gây hại.
Xuất phát từ tình hình trên, nhằm góp phần vào việc nghiên cứu thành
phần loài mối tại các huyện phía Tây Hà Nội và đánh giá mức độ gây hại của
chúng để làm tài liệu đề xuất các biện pháp phòng trừ mối một cách hiệu quả
chúng tôi đã thực hiện đề tài : “Thành phần loài mối hại di tích tại các huyện
phía Tây Hà Nội năm 2014 – 2015 và đánh giá mức độ gây hại của chúng”.
2. Mục đích, yêu cầu
2.1. Mục đích:
Trên cơ sở điều tra thành phần loài mối hại di tích ở các huyện phía Tây
Hà Nội và đi sâu vào đánh giá mức độ gây hại của chúng.
2.2. Yêu cầu :
- Điều tra thành phần loài mối ở các di tích thuộc các huyện phía Tây Hà Nội.
- Xác định mức độ gây hại của các loài mối và thành phần loài mối gây
hại chính.
- Thử nghiệm hiệu lực diệt mối Coptotermes gestroi của bả B.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
+ Cung cấp các dẫn liệu có hệ thống và đầy đủ nhất về thành phần loài
mối ở khu vực các huyện phía Tây Hà Nội tính đến nay.
+ Xác định được các loài gây hại chính, đồng thời cung cấp các dẫn liệu
về mức độ gây hại của chúng làm cơ sở khoa học đề xuất biện pháp phòng trừ
chúng cho khu vực các huyện phía Tây Hà Nội và mở rộng cho các địa phương
khác.

2


Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học thực hiện đề tài
Mối là nhóm côn trùng xã hội , trong một đàn mối có nhiều đẳng cấp (các
dạng mối). Mỗi đẳng cấp đẩm nhận một số chức năng riêng, do chuyên hóa về
chức năng , các đẳng cấp khác nhau về hình thái ngoài. Thức ăn của các loài mối
đều có đặc điểm chung là các sản phẩm từ thực vật. Tùy theo loài và nhóm loài,
có loài ưa ăn gỗ còn mới, có loài ưa ăn mùn. Do đó, đối tượng và mức độ gây hại
của các loài mối cho từng đối tượng kinh tế cũng khác nhau. Có loài ăn gỗ và hại
cho công trình kiến trúc nhưng lại không hại cho đê và ngược lại, có loài hại cho
đê lại ít hại công trình kiến trúc.
Các loài khác nhau có đặc điểm sinh học, sinh thái khác nhau, có loài làm
tổ trong đất, có loài làm tổ trong gỗ, có loài làm tổ trên cây, có loài chuyên ăn
mùn, có loài chuyên ăn gỗ, có loài nuôi trồng nấm có loài không, có loài tỉ lệ mối
thợ thấp, có loài tỉ lệ mối thợ cao ... Các đặc điểm này là cơ sở khoa học để đề ra
biện pháp phòng trừ.
Tác hại của mối được con người biết đến từ lâu. Từ xa xưa con người đã
biết sử dụng các biện pháp dân gian để xử lý mối như: quét hắc ín vào gỗ, đổ
muối, đổ vôi bột vào nền nhà, ngâm gỗ, kê đá ngăn cách mối, lựa chọn các loại
gỗ ít bị mối phá hoại để xây dựng công trình .... Các công nghệ xử lý phòng trừ
mối cho công trình kiến trúc dựa trên những thành tựu của khoa học hiện đại đã
được đưa vào Việt Nam từ khoảng những năm 60 của thế kỉ trước. Từ đó đến nay
các công nghệ này đã từng bước được thay đổi theo sự phát triển của khoa học
công nghệ hiện đại. Các công nghệ cũ được thay thế bằng các công nghệ mới
hiệu quả hơn và ít ô nhiễm với môi trường.
1.2.Những nghiên cứu ở nước ngoài
1.2.1. Nghiên cứu thành phần loài mối
Trong số hơn 2800 loài mối được mô tả trên thế giới chỉ có 183 loài được
biết đến là tấn công các công trình kiến trúc và chỉ có 83 loài được coi là có gây
nguy hại đáng chú ý (Su et al., 2002). Dựa theo thói quen, bản chất của việc gây
3


hại và nhất là nhu cầu về độ ẩm, các loài mối gây hại trong công trình kiến trúc
được chia làm 3 nhóm. Nhóm mối gỗ khô là nhóm mối nhu cầu độ ẩm dưới 13%,
chúng có khả năng sống hoàn toàn trong các cấu kiện gỗ mà không cần nguồn
cung cấp độ ẩm bên ngoài và đất. Nhóm mối gỗ ẩm: sống trong các thân cây, gỗ
mục và chúng có khả năng tấn công vào các cấu kiện gỗ trong công trình kiến
trúc. Nhóm mối ngầm: chúng xây các đường ngầm và làm tổ trong đất, trong cây
và các cấu kiện của công trình và dựa chủ yếu và độ ẩm của đất, có khoảng 80%
các loài mối là thủ phạm gây ra những thiệt hại lớn trong công trình kiến trúc.
Tại các vùng ôn đới như Hoa Kỳ, Châu Âu hay Nhật Bản, nghiên cứu mối
tập trung vào một số giống mối gây hại thuộc về họ mối Rhinotermitidae, bao
gồm các giống Reticulitermes, Coptotermes và Heterotermes. Thông thường
hiếm khi có thể tìm thấy một giống mối khác ngoài các giống mối trên gây hại
các công trình kiến trúc tại các khu vực này (Lee et al., 2007). Tại Mỹ, có 45 loài
được coi là gây hại và chỉ có 9 loài trong số chúng được coi là loài gây hại quan
trọng (Su and Rudolf, 1990). Trong đó bao gồm một loài mối bậc cao
Nasutitermes costalis (Holmgren); hai loài mối gỗ khô, Cryptotermes brevis
(Walker) và Incisitermes minor (Hagen); và 6 loài mối ngầm, Coptotermes
formosanus Shiraki, C. gestroi (Wasmann), Reticulitermes flavipes (Kollar), R.
virginicus (Banks), R. hesperus Banks và Heterotermes aureus (Snyder) (Su and
Rudolf, 1990; Su et al., 1998).
Ngược lại các nước nằm trong khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới là nơi có
các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài mối, sự đa dạng của các loài
mối tại đây cũng cao hơn hẳn so với tại các khu vực ôn đới. Tại Malaysia và
Singapore, có 12 loài mối thuộc 7 giống được tìm thấy ở trong và ngoài các công
trình kiến trúc (Coptotermes, Macrotermes, Microtermes, Globitermes,
Odontotermes, Schedorhinotermes và Microcerotermes). Tại Thái Lan, các loài
mối được tìm thấy trong các khu đô thị thuộc 5 giống mối (Coptotermes,
Microcerotermes, Macrotermes, Hypotermes và Odontotermes). Trong đó loài
phổ biến nhất là Coptotermes gestroi (Lee et al., 2007). Tại Úc, có 7 giống mối
được tìm thấy trong các tòa nhà và các công trình kiến trúc. Các giống mối phổ
4


biến là Coptotermes và Schedorhinotermes (Charles et al., 2012).
Năm 1996, Sornuwat đã có nghiên cứu tổng hợp về mối Coptotermes
gestroi tại Thái Lan. Trong nghiên cứu này, tác giả đã nghiên cứu các đặc điểm
sinh học và sinh thái của mối như phạm vi kiếm ăn, quần thể kiếm ăn và hoạt
động kiếm ăn của mối C. gestroi, cũng như phản ứng của chúng với một số chất
hóa học được sử dụng trong việc phòng trừ mối. Số lượng cá thể kiếm ăn của loài
mối này cũng trong một quần tộc là khoảng từ 1.13 đến 2.75 × 106cá thể. Sự biến
động về số lượng cá thể kiếm ăn trong mỗi quần tộc có thể tùy theo độ tuổi của
các tổ, điều kiện môi trường và theo mùa (dẫn theo Nguyễn Quốc Huy, 2011).
Gautam (2011) đã tổng hợp những nghiên cứu của mình về sự tác động của độ
ẩm của nền đất, độ ẩm không khí tương đối và nhiệt độ đối với sự tồn tại và hành
vi kiếm ăn của mối đất ngầm Coptotermes formosanus.
Ngày nay, với sự phát triển mạnh của công nghệ sinh học, trong các
nghiên cứu về mối hại công trình kiến trúc, việc ứng dụng công nghệ ADN, công
nghệ gen cũng được sử dụng rộng rãi. Đã có nhiều nghiên cứu nhằm xác định hệ
thống phân loại của các nhóm mối như Coptotermes, Reticulitermes,
Odontotermes (Vargo and Claudia, 2009). Yeap et al. (2009) đã đưa ra dẫn
chứng sinh học phân tử khi nghiên cứu 11 loài mối Coptotermes, chia làm 6
nhóm. Các tác giả đã nhận định rằng C. cochlearus and C. dimorphus có khả
năng chỉ là loài đồng dạng với C. formosanus do sự sai khác về ADN chỉ lên đến
1.0% . Ngoài ra thì các đặc điểm quan trọng khác như sự khác biệt giữa các đẳng
cấp trong tổ, sinh học, sinh thái quần xã, cấu trúc sinh sản và phạm vi kiếm ăn
cũng dễ dàng để tiếp cận và tìm hiểu hơn dưới sự hiểu biết sâu hơn về sinh học
phân tử.
Đối với các công trình di tích trên thế giới, mối từ lâu đã được ghi nhận là
một trong những loài sinh vật hại lớn. Tại Mỹ, Su et al. (2011) đã áp dụng
phương pháp kiểm soát các loài mối ngầm bằng việc sử dụng hệ thống trạm bả
trên nhiều công trình di tích nổi tiếng như Tượng Nữ thần Tự do, phức hợp phố
cổ kiểu Pháp Cabildo năm 2000, khu di tích quốc gia San Juan năm 2002, và tại
khu di tích quốc gia Christiansted, St. Croix năm 2003. Công tác kiểm soát mối
5


cũng được thực hiện tại một số công viên quốc gia như Cane River Creole, và
New Orleans Jazz (Freytag et al., 2000). Tại Hàn Quốc đã có những nghiên cứu
bước đầu về tình hình mối hại trong các di tích của Viện Nghiên cứu quốc gia về
Di sản văn hóa. Tại Bồ Đào Nha, Nunes (2010) cũng chỉ ra mối nguy hại của các
loài mối ngầm thuộc giống Reticulitermes và mối gỗ khô Cryptotermes trong các
tòa nhà cổ tại đất nước này. Bả diệt mối cũng được sử dụng trong công tác diệt
mối tại Santa Maria della Sanità tại Naples (Italia).
1.2.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái loài gây hại
Các phương pháp phòng chống mối đã được nghiên cứu triển khai song
song, đồng thời với những hiểu biết về sinh học, sinh thái mối. Cuốn “Vương
quốc thần bí hay Bí mật của loài mối” đã tổng hợp tất cả những kiến thức chung
về mối như tập tính, vòng đời, đặc điểm gây hại... Vào năm 1999, tập thể các nhà
nghiên cứu mối của Quảng Đông đã cùng cho xuất bản cuốn sách “Nghiên cứu
mối”, ngoài phần giới thiệu chung, mỗi tác giả lại đi sâu vào từng chủ đề như
mối hại công trình thủy lợi, mối hại công trình kiến trúc, mối hại cây xanh. Các
nhà khoa học của Trung tâm Phòng trừ mối toàn quốc cũng biên soạn cuốn “Sổ
tay hướng dẫn phòng trừ mối ở Trung Quốc”. Nội dung cuốn sách bao gồm tất cả
các kiến thức chung về mối như hình thái giải phẫu, đặc điểm sinh học, sinh thái
học cũng như thành phần loài và các biện pháp phòng trừ. Các nhà khoa học
người Mĩ đã đưa ra được các đặc điểm sinh học, nhận dạng phân bố, vòng đời,
cũng như khóa phân loại đến các họ mối (dẫn theo Bùi Công Hiển và cs., 2013) .
Ngoài ra, các tác giả cũng nêu lên được các tác động về kinh tế của mối đến các
công trình kiến trúc. Các phương pháp xử lý mối, trong đó tập trung vào phương
pháp hóa học.
Ngày nay, khi các phương pháp diệt trừ mối bằng bả đã được chứng minh
có hiệu quả,việc nghiên cứu chế tạo cũng như việc cải tiến các sản phẩm bả có
hiệu quả tốt hơn vẫn luôn được nghiên cứu. Các nghiên cứu về tập tính kiếm ăn
của mối là các nghiên cứu cơ bản, làm cơ sở cho việc nghiên cứu bả và việc sử
dụng bả để phòng trừ mối hiệu quả. Do đó, hiểu biết được đặc tính kiếm ăn của
mối ngầm là một trong những yêu cầu quan trọng trong việc phòng trừ mối, đặc
6


biệt là phòng trừ mối bằng bả. Su et al. (1998) đã nghiên cứu về quần thể và
phạm vi kiếm ăn của mối Coptotermes formosanus bằng phương pháp đánh dấu
– thả ra – bắt lại. Nghiên cứu cho thấy số lượng cá thể kiếm ăn trong một quần
tộc là khoảng 1,4 – 6,8.106 cá thể, trong đó phạm vi kiếm ăn của một tổ là từ 162
– 3571 m2. Ngee et al. (2004) đã nghiên cứu quần thể kiếm ăn và đưa ra chiến
lược để kiểm soát loài mối đất ngầm trong môi trường đô thị.
Ngoài ra các nghiên cứu dựa trên phương pháp vật lý và thực nghiệm và mô
hình toán học của Reotramel để hỗ trợ trong việc tính toán ước lượng tuổi của mối
ngầm tấn công và gây hại trong các công trình kiến trúc.
Các đặc điểm về bay phân đàn của mối cũng đã được nghiên cứu từ rất
lâu, các nhà khoa học người Nhật đã nghiên cứu thời điểm bay giao hoan của mối
C. formosanus tai Hawaii. Loài mối C. formosanus tại đây bay phân đàn vào
tháng 4 đến tháng 7, trong đó mạnh nhất là vào tháng 5, cùng thời gian bay của
hai loài mối gỗ khô Cryptotermes brevis và Incitistermes immigrans, tuy nhiên
thời gian cực đỉnh có thể muộn hơn 1 – 2 tháng .
Năm 2012 tại hội nghị TRG 9, Ching đã đưa ra báo cáo của mình về ảnh
hưởng của kích thước nhóm mối nuôi và kích thước hộp nuôi trong việc duy trì
mối Macrotermes gilvus trong phòng thí nghiệm, nhằm mục đích thử nghiệm các
thuốc diệt trừ chúng (dẫn theo Trịnh Văn Hạnh và cs., 2014). Neoh và Lee
(2009) đã nghiên cứu về hoạt động bay trong hai vùng phân bố của Macrotermes
gilvus and Macrotermes carbonarius tại Malaysia. Kết quả cho thấy, mùa bay
giao hoan của mối M. gilvus được ghi nhận trong vòng 7 tháng, từ tháng 3 đến
tháng 9, trong khi ở M. carbonarius là từ tháng 11 đến tháng 1. Ngoài ra, các tác
giả còn nghiên cứu các điều kiện ảnh hưởng đến việc bay giao hoan của chúng
như áp suất không khí, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng. Đồng thời, các tác giả này
cũng nghiên cứu và chỉ ra được thành phần đẳng cấp và kích cỡ tổ mối M. gilvus.
Đối với mối gỗ ẩm (Rhinotermitidae), hệ vi sinh vật trong đường ruột của
chúng đóng một vai trò rất quan trọng. Hệ vi sinh vật này giúp mối phân giải
thức ăn mối ăn vào ruột thành những thành phần đơn giả hơn, giúp mối có khả

7


năng tiêu hóa thức ăn. Chính vì vậy, việc nghiên cứu hệ vi sinh vật trong ruột
mối cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc nghiên cứu phòng trừ
mối. Nhiều đề tài nghiên cứu tổng hợp và nghiên cứu khu hệ vi sinh vật phân
giải Xellulose trong ruột mối một cách toàn diện. Hệ thống phát sinh phân tử của
quần xã vi sinh vật trong ruột mối Coptotermes formosanus được nghiên cứu
bằng cách sử dụng dòng gen 16S rRNA bằng cách sử dụng phản ứng PCR. 94%
các dòng vi khuẩn thuộc về các nhóm Bacteroidales, Spirochaetes, các vi khuẩn
Gram dương (Clostridiales, Mycoplasmatales, Bacillales, and Lactobacillales).
Hệ thống phát sinh phân tử của quần xã vi sinh vật trong ruột mối Coptotermes
formosanus được nghiên cứu bằng cách sử dụng dòng gen 16S rRNA bằng cách
sử dụng phản ứng PCR. Kết quả cho thấy 94% các dòng vi khuẩn thuộc về các
nhóm Bacteroidales, Spirochaetes, các vi khuẩn Gram dương (Clostridiales,
Mycoplasmatales, Bacillales, and Lactobacillales) (Shinzato et al., 2005).
Trong nhóm mối bậc cao thì nhóm mối có vườn nấm được tập trung
nghiên cứu rất nhiều. Một phần vì chúng cũng là nhóm mối gây hại chính cho rất
nhiều công trình trong đó có cả công trình kiến trúc, đê đập và cây trồng. Đồng
thời cũng do đặc tính phân giải thức ăn thú vị của mình. Chúng là nhóm mối có
thể cộng sinh với nấm Termitomyces trong tổ của mình và chính nhờ hệ nấm này
chúng có thể phân giải được nguồn thức ăn từ Xellulose rất rộng. Đặc tính này
khiến chúng trở thành loài có phổ thức ăn rộng, tính thích nghi cao cũng như rất
khó xử lý bằng phương pháp sử dụng bả. Nghiên cứu mối quan hệ của mối và
nấm Termitomyces góp phần quan trọng trong nghiên cứu việc kiểm soát mối
bằng cách làm giảm hoạt động của nấm.
1.2.3. Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ
Việc phòng chống mối để đạt hiệu quả cao nhất phải dựa trên những hiểu biết
về các đặc tính đặc trưng của các loài mối, đồng thời cũng phải hiểu biết rõ mối
quan hệ của mối đối với môi trường sống xung quanh, các yếu tố tự nhiên cũng như
sự tương tác trong quần thể mối hoặc quần xã sinh vật trong khu vực nghiên cứu xử
lý.
Trong phòng trừ sinh vật hại thì việc sử dụng thiên địch là các loài ăn mồi
8


được chú ý đến đầu tiên. Trong số đó kiến là một đối tượng được đặc biệt chú ý.
Phần lớn các nghiên cứu đều tập trung vào tìm hiểu xem loài kiến nào có hiệu
quả nhất trong xử lý mối, môi trường sống của mối và kiến, cách nuôi thả kiến
vào tổ mối… Abensperg – Traun (1988) đã nghiên cứu đa dạng sinh học và sinh
thái của mối ở Australia, trong đó hướng đến nghiên cứu sử dụng kiến làm thiên
địch trong phòng trừ mối. Tuy nhiên, việc này thường được áp dụng cho việc xử
lý mối trong nông nghiệp hoặc ngoài tự nhiên, đối với môi trường gần với con
người thì kiến thường được coi là loài gây hại, gây phiền nhiễu đến đời sống con
người, do đó việc áp dụng chúng cần được nghiên cứu thêm.
Một số hợp chất diệt mối được chiết xuất từ các loại thực vật có khả năng
chống mối tự nhiên đã được nghiên cứu và thử nghiệm với những kết quả khả
quan trong phòng thí nghiệm và ngoài thực tế. Trong quá khứ, một số loài thực
vật đã được sử dụng để kiểm soát mối như Pseudotusuga menziesii, Lysitoma
seemnii, Tabebina guaycan, Diospyros sylvatica (Ganapaty et al., 2004),
Curcuma aromatica và Euphorbia kansuii (Shi et al., 2008). Những chất chiết
xuất này ngăn cản sự kiếm ăn và làm giảm sức sống của mối. Phát kiến mang số
hiệu A1 của Bedoukian và Ashok (2009) cũng đã nghiên cứu và chứng minh
được các chất hóa học có nguồn gốc tự nhiên như carvone, linalool, styralyl
alcohol và tetrahydrolinalool có thể được dùng để kiểm soát một số côn trùng hại
trong đó có mối ngầm Coptotermes formosanus (dẫn theo Nguyễn Quốc Huy,
2011). Upadhyay et al. (2010) cũng đã nghiên cứu sử dụng những hợp chất được
chiết xuất từ Capparis deciduaand để diệt mối Odontotermes obesus tại Ấn Độ.
Thêm vào đó, dựa vào những kinh nghiệm của các nông dân khi dùng rễ cỏ
vetiver để làm lớp phủ chống mối và các côn trùng khác cho cây trồng mới, các
nhà khoa học tại Los Angeles đã nghiên cứu sử dụng tinh dầu chiết suất từ rễ loại
cỏ này để diệt mối. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng lớp phủ có chứa rễ
của cỏ vetiver hay sử dụng dầu được chiết xuất từ rễ của chúng để xử lý đất cho
kết quả khả quan trong việc mối giảm xây dựng đường mui, giảm tiêu thụ thức
ăn và tăng mức độ tử vong của mối. Kết quả nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng
rằng cỏ vetiver có thể hữu dụng như các hợp chất không có tác dụng xua đuổi đối
9


với mối trong cảnh quan đô thị (Nix et al., 2006). Tại Pakistan, các nhà khoa học
đã nghiên cứu tác động của lá cây Nerium oleander lên mối Coptotermes heimi
tại Pakistan. Tuy nhiên, kết quả không cho thấy sự thay đổi rõ rệt nào trong hoạt
động kiếm ăn và đắp đường mui của mối, nhưng lại cho thấy tỉ lệ chết của mối
thay đổi theo nhiệt độ và độ ẩm. Điều này mở ra hướng nghiên cứu mới về việc
tách chiết các thành phần hóa học của cây từ các bộ phận khác nhau nhằm chế
tạo các hợp chất diệt mối.
Một hướng nghiên cứu nữa trong các biện pháp sinh học trong phòng trừ
mối là việc nghiên cứu các vi sinh vật gây bệnh hoặc kí sinh cho mối. Các đối
tượng thường được thử nghiệm là nấm, tuyến trùng và vi khuẩn. Trong số các
loài nấm được nghiên cứu để phòng chống mối có 2 đối tượng được quan tâm
nhiều hơn cả là Beauveria bassiana và Metarhizium anisopliae lên nhiều loại
giống mối như Nasutitermes, Coptotermes, Reticulitermes, Microtermes,
Mastotermes, Hodotermopsis, Hodotermes, Prorhinotermes. Enzim và các hợp
chất do 2 loài nấm tạo ra cũng có ảnh hưởng đến khả năng gây bệnh cho côn
trùng, trong đó có mối. Tính kháng của mối đối với các loại nấm này cũng có thể
bị ảnh hưởng bởi áp lực chọn lọc của các hệ sinh thái nơi làm tổ của mỗi loài
(Chouvenc et al., 2009).
Cũng có nhiều tài liệu nghiên cứu về cách sử dụng một số loài tuyến trùng
để ngăn chặn sự tấn công của mối. Đã có 4 họ tuyến trùng được đưa vào chương
trình phòng chống các loại côn trùng sống trong đất. Chúng mang nhiều đặc điểm
phù hợp với mục đích phòng trừ sinh học và với các sản phẩm có giá trị kinh tế,
được coi như một dạng thuốc trừ sâu sinh học. Fujii (1976) đã xác nhận khi loài
mối C. formosanus bị nhiễm tuyến trùng Steinernemar carpocapsae (Weiser) có
tỉ lệ chết đạt tới 96% sau 7 ngày. Từ kết quả thử nghiệm trong phòng thí nghiệm,
Trudeau cũng khẳng định tỷ lệ gây chết mối khá cao đối với loài Nasutitermes
costalis và R. flaviceps bị lây nhiễm Steinernemar carpocapsae. Tuy nhiên, nồng
độ tuyến trùng cần để gây chết chỉ khoảng 50% mối thợ hai loài Coptotermes
formosanus và Reticulitermes favipes là khoảng 400 tuyến trùng (đối với thử
nghiệm trong phòng thí nghiệm với lần lượt là 30 và 40 cá thể mối) ( Sindhu et
10


al., 2011). Yeap et al. (2009) cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của hai loài S.
riobrave và S. feltiaecaused đối với tỉ lệ chết của mối Reticulitermes virginicus
(Banks) dưới cùng một điều kiện. Tại 22ºC, tỉ lệ chết đạt trên 80% mối thợ của
H. aureus và G. perplexus gây ra bởi S. riobrave. Nồng độ tuyến trùng và khả
năng ủ bệnh ảnh hưởng đáng kể đến tỉ lệ chết của mối H. aureus. S. riobrave là
nguyên nhân gây ra các mức độ lây nhiễm và tỷ lệ tử vong cao nhất của H.
aureusin.
Thêm vào đó, các đoạn gen, đoạn ARN cũng được sử dụng như những tác
nhân gây bệnh cho mối, được nghiên cứu trở thành biện pháp phòng trừ đáng
được lưu tâm trong tương lai. Nghiên cứu của Zhou et al. (2008) cho thấy đã có
những biến dạng về hình thái của mối Reticulitermes flavipes khi chúng tiêu hóa
sợi kép hex-2 ds ARN.
Các nghiên cứu về mối trên thế giới tập trung vào nghiên cứu các phương
pháp phòng trừ đối với các loài mối cũng như các đặc điểm sinh học sinh thái
học của chúng mà từ đó có con người có thể lợi dụng để loại trừ chúng. Việc
kiểm soát mối cho một công trình kiến trúc bao gồm kết hợp của nhiều phần bảo
vệ như các hàng rào hóa học, vật lý.
Các rào cản vật lý được áp dụng cho việc ngăn chặn mối xâm nhập vào
các công trình kiến trúc, phát hiện tổ mối cũng như để diệt trừ mối. Một sáng chế
đã đưa ra rào cản và phương pháp để ngăn chặn xâm nhập của mối trên bề mặt
của một cấu trúc, các rào cản được áp dụng cho các bề mặt của cấu trúc và bao
gồm một chất keo dính có khả năng cản trở và bẫy mối trên bề mặt. Các nhà khoa
học cũng nghiên cứu sử dụng các biện pháp và thiết bị điện tử để bảo vệ các công
trình khỏi sự phá hoại của các đàn mối đi kiếm ăn bằng việc kiểm soát số lượng
và phạm vi hoạt động của chúng. Có một số lượng khá lớn các công nghệ chú
trọng vào việc sử dụng sóng điện từ để kiểm soát hoạt động, sự di chuyển và số
lượng cá thể của đàn mối đi kiếm ăn. Ví dụ như ở phát kiến của Pedersen (1995)
tác giả đã trình bày phương pháp xử lý mối qua cách tạo nhiệt làm nóng các khu
vực có mối sinh sống bằng năng lượng vừa phải của sóng điện từ. Ở phát kiến

11


của mình, Lawrence (1993) mô tả một phương pháp và thiết bị sử dụng tần số
quét để diệt mối. Thiết bị là một dụng cụ tạo ra nguồn điện cao thế kết hợp với
thiết bị truyền năng lượng điện tử để xử lý mối. Mankin đã sử dụng hệ thống máy
âm xách tay, tần số thấp để tìm mối hại các cây trong thành phố (dẫn theo Ngô
Trí Côi và cs., 2007). Từ các thử nghiệm thành công ở hiện trường, họ cho biết
hệ thống âm có khả năng phát hiện và kiểm tra mối hại ngầm cho cây trong thành
phố và xung quanh công trình, hỗ trợ việc tìm và kiểm tra mối bên trong công
trình. Ứng dụng năng lượng sóng siêu âm cũng đã được nghiên cứu trong xử lý
mối. Ví dụ như phát kiến số do Biederman et al. (1996) mô tả phương pháp sử
dụng sóng siêu âm để diệt quần tộc mối. Gần đây nhất là phát kiến số WO
2007/037899 của Amburgey (2010), họ sử dụng một nguồn điện tử có tần số nhỏ
hơn 4000 Hz với cường độ 1miliwat - 1kw như là một nguồn hấp dẫn mối.
Nguồn điện tử bao gồm một điện thế và một anten gắn lên hoặc gần kề với chất
hấp dẫn mối. Nguồn điện từ có tần số 1 - 4000Hz có thể được phát ra bởi một
oscillator và một anten. Tùy thuộc vào phạm vi vùng cần được bảo vệ, mà cường
độ nguồn điện của đầu ra có thể chạy từ 1mmw đến 1kw. Diba et al. (2013) phát
triển các phương pháp sử dụng điện từ máy sóng để kiểm soát mối ngầm
Coptotermescurvignathus Holmgren và Coptotermes formosanus Shiraki. Tần số
của sóng điện từ được sử dụng trong nghiên cứu này là 30 Hz ~ 300 Hz, 0.3 KHz
~ 3 KHz, và 3 KHz ~ 300 KHz với sự thay đổi của thời gian phơi sáng chiếu xạ
(15, 30, 45 và 60 phút) cho C. curvignathus Holmgren. Kết quả tối ưu đã đạt
được trên máy phát sóng điện từ với tần số 300 KHz và thời gian chiếu xạ
khoảng 60 phút cho cả C. curvignathus Holmgren và C. formosanus Shirak.
Ngoài các phương pháp vật lý thì các phương pháp tiếp cận trong việc sử
dụng hóa chất diệt để diệt trừ và ngăn cản mối đã được sử dụng từ những hơn 80
năm trước. Việc xử lý bằng các chất hóa học trong đất tạo ra một rào cản hóa học
trong đất, ngăn không cho mối xâm nhập từ môi trường tự nhiên vào các công
trình cần bảo vệ. Phương thức này được thực hiện theo hai cách: áp dụng cho đất
trước khi đổ sàn và chu vi quanh công trình hoặc xung quanh tường nhà và đồ
nội thất (Pedersen, 1995). Ban đầu, các hóa chất được sử dụng là các hợp chất
12


của arsen được sử dụng để bảo vệ các cấu kiện bằng gỗ. Từ những năm sau của
thập kỉ 40 của thế kỉ 20, việc kiểm soát mối chuyển sang sử dụng chất hóa học
cho việc xử lý đất bằng các hợp chất clo hữu cơ (cyclodiene) (Su and Rudolf,
1990). Tuy nhiên, các hợp chất này gây độc khá cao đối với môi trường cũng như
với sức khỏe con người, do đó chúng đã bị cấm sử dụng vào năm 1988. Sau đó
người ta chuyển sang sử dụng các hợp chất phosphate hữu cơ như chlorpyrifos,
pryfon và các prythroids tổng hợp. Tuy nhiên, các chlorpyrifos nhanh chóng bị
ngừng sử dụng cho lượng tồn dư ngắn và các phản ứng không tốt đối với môi
trường, gây độc cao đối với động vật và con người nhưng lại ít độc với mối đất
ngầm. Các prythroids tổng hợp mặc dù có tác dụng trong việc tiêu diệt mối bằng
phương pháp tiếp xúc trực tiếp nhưng đặc tính xua đuổi của chúng khiến cho các
mối thợ khác phát hiện ra hóa chất và sẽ tránh xa các khu vực được xử lý (Su and
Rudolf, 1990). Do đó, việc sử dụng các thuốc diệt côn trùng không có tác dụng
xua đuổi trong quá trình kiểm soát mối đất ngầm đã trở nên rất phổ biến từ những
năm cuối thập niên 90 và đầu những năm 2000. Một phần nào đó do tác động
chậm của các thuốc diệt côn trùng cho phép mối được xử lý có thể truyền các
chất độc qua cá thể cùng tổ và dạng sinh sản thông qua tương tác xã hội dẫn đến
kết quả loại trừ được các tổ mối (Gautam, 2011).
Những nghiên cứu về các phản ứng bất thường của mối khi bị xử lý với
thuốc diệt côn trùng đã được nghiên cứu và ghi nhận. Ví dụ như các nhà khoa
học đã tìm cách để kiểm tra ảnh hưởng của nồng độ thuốc và thời gian tiếp xúc
đất đã được xử lý thuốc trên sự khởi đầu của hành vi bất thường indoxacarb gây
ra đối với mồi ngầm Reticulitermes theo cá thể và theo nhóm. Khởi đầu của hành
vi bất thường phụ thuộc vào cả nồng độ và thời gian tiếp xúc với đất được xử lý
bằng indoxacarb. Majid và Abdul (2008) đã nghiên cứu về hành vi kiếm ăn và
đánh giá tác động của hoạt chất imidacloprid đối với việc kiểm soát mối ngầm.
Casarin (2009) đã tiến hành 2 thử nghiệm sinh học lần lượt đánh giá hiệu quả của
boric acid và fipronil chống lại các quần thể C. gestroi khác nhau. Dữ liệu cho
thấy tỉ lệ mối chết nhanh thuộc về mối nhiễm fipronil, kể cả với liều lượng nhỏ,
và vì thế điều đó không phù hợp để sử dụng làm bả chống lại C. gestroi. Nghiên
13


cứu hiện tại cho thấy độc chất tác động chậm của acid boric chống lại mối ngầm
C. gestroi được khuyến cáo thử nghiệm xa hơn trên hiện trường (dẫn theo Bùi
Công Hiển và cs., 2013).
Từ giữa những năm 90 của thế kỉ 20, hệ thống trạm bả diệt mối bắt đầu
được sử dụng trong việc phòng trừ mối nhằm thay thế các hợp chất chống mối
dưới dạng lỏng do các quan ngại về môi trường, đầu tiên là tại Mỹ. Các hệ thống
trạm bả khác nhau với các thiết kế và hoạt chất khác nhau đã được sử dụng ngày
càng phổ biến, ví dụ như Sentricon TM system (hoạt chất: hexaflumuron; Dow
AgroSciences), FirstLine® (hoạt chất: sulfuramid; FMC Corp.), hydramethylnon
bait (hoạt chất: Chất ức chế trao đổi chất; American Cyanamid Co.), Exterra®
(hoạt chất: diflubenzuron; Ensystex) (Su and Rudolf, 1990). Phương pháp này sử
dụng tập tính kiếm ăn và sự truyền thức ăn trong tổ của mối để làm giảm số
lượng quần thể mối hoặc loại trừ hoàn toàn tổ mối (Su et al., 2011).
Một vấn đề khi kiểm soát mối trong các khu đô thị tại các vùng nhiệt đới
là có nhiều nhóm mối cùng một lúc xâm hại các công trình ở đây, trong đó có cả
nhóm mối bậc cao (Termitidae). Nghiên cứu về mối gây hại trong các khu đô thị
cho thấy mặc dù C. gestroi là loài gây hại phổ biến nhất trong và xung quanh
công trình kiến trúc nhưng trong môi trường đô thị thì họ mối Termitidae vẫn là
họ có số lượng loài đa dạng nhất. Nếu chỉ xử lý nhóm mối ngầm thì sẽ gia tăng
sự phát triển của nhóm mối bậc cao. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng
việc loại trừ các tổ mối bậc cao bằng phương pháp sử dụng bả, đặc biệt là đối với
nhóm mối có xây dựng vườn nấm (Macrotermitinae) là khá khó khăn. Lee et al.
(2007) chỉ ra rằng việc loại trừ các tổ mối Macrotermes gilvus sẽ khó khăn hơn
khi vùng bị nhiễm trước đó đã được xử lý bả đối với Coptotermes. M. gilvus
được tìm thấy trong nhà chỉ sau khoảng 2 tháng sau khi tổ mối Coptoteremes bị
yếu đi hoặc bị loại trừ. Phương pháp thường được áp dụng để xử lý vấn đề này là
sử dụng các thuốc hóa học nhằm xử lý đất ngăn ngừa mối. Tuy nhiên, cũng có
một số các nghiên cứu về bả sử dụng cho nhóm mối bậc cao. Năm 2006, các nhà
khoa học đã tiến hành đánh giá hiệu quả của bả fipronil đối với mối
Odontotermes formosanus, một trong những loài mối có vườn cấy nấm gây hại
14


nhiều cho các công trình kiến trúc (Huang et al., 2006). Kết quả cho thấy khoảng
3–5 mg fipronil có thể hạn chế được tổ mối O. Formosanus có khoảng 0.4–0.7
triệu mối thợ kiếm ăn. Điều này cho thấy việc sử dụng bả fipronil có thể là biện
pháp thay thế để kiểm soát mối O. formosanus. Neoh et al. (2011) đã có những
nghiên cứu về việc sử dụng bả có hoạt chất bistrifluron trong việc loại trừ các tổ
mối Globitermes sulphureus. Mo et al. (2005) đã nghiên cứu độc tính của
acetamiprid đối với mối thợ của một số loài mối gây hại cho công trình kiến trúc
trong đó có loài O. formosanus. Sau 72h xử lý, LD50 của acetamiprid đối với
mối thợ của 3 loài lần lượt là 4.41×10−5, 13.8×10−5 and 146×10−5 µg/mối. Hơn
90% cá thể mối chết trong 120 giờ sau khi tiếp xúc với đất có chứa 4.8 ppm
acetamiprid.
Ngoài ra, Indrayani (2010) đã bước đầu thí nghiệm bả diệt mối gỗ khô
Incisitermes minor trong phòng thí nghiệm. Hợp chất bả được dùng dưới dạng gel
với thành phần gồm hoạt chất (2,15% hydramethylnon) và chất hấp dẫn được sử
dụng để thử nghiệm. Nghiên cứu đã cho thấy việc sử dụng bả dạng gel có thể được
áp dụng cho việc loại trừ mối gỗ khô và khuyến cáo việc tiếp tục nghiên cứu xa hơn
để áp dụng phương thức này cũng như việc xây dựng hệ thống trạm bả để xử lý mối
gỗ khô.
Janowiecki (2012) đã nghiên cứu tác động của các tác nhân sinh trưởng
đến quần thế mối Reticulitermes flavipes sử dụng các hóa chất tác động đến sinh
trưởng của mối nhằm ngăn ngừa chúng sinh trưởng và phát triển. Phát kiến của Su
et al. (2011) đã nghiên cứu và đưa ra phương thức cho việc sử dụng hóa chất trong
bả diệt mối bằng cách kết hợp các hợp chất đẩy nhanh quá trình lột xác và các chất
ức chế tổng hợp kitin. Sự kết hợp này thể hiện sự tăng cường hoạt động của mối
hơn hẳn so với hai nhóm hợp chất riêng biệt.
Những năm gần đây, việc sử dụng các hợp chất hóa học trong phòng trừ
mối ngày càng được khuyến cáo nhiều hơn do các ảnh hưởng đến môi trường hoặc
đối với sức khỏe con người. Nhằm hạn chế những tác hại đó, những nghiên cứu về
phòng trừ mối gần đây có xu hướng nghiêng về việc sử dụng các phương pháp
sinh học.
15


1.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam
1.3.1. Nghiên cứu thành phần loài mối
Bên cạnh những nghiên cứu điều tra thành phần loài, xác định các loài gây
hại chính cho các đối tượng cần bảo vệ, các nghiên cứu chuyên sâu hơn về phân
loại học về tỉ lệ đẳng cấp và sự phân công lao động của mối cũng được tiến hành
nhằm chính xác hóa các loài mối còn chưa được xác định chắc chắn bằng phương
pháp phân loại hình thái và làm cơ sở đề xuất các biện pháp phòng trừ hợp lý.
Trong những năm gần đây, ứng dụng của sinh học phân tử trong phân loại
mối đang được từng bước thực hiện. Ngô Trường Sơn (1999); Lê Văn Triển và
cs. (1998) đã áp dụng phương pháp sắc kí khí biểu bì trong công tác định loại
loài mối. Trịnh Đình Đạt và cs. (2005) cũng đã công bố kết quả nghiên cứu về đa
dạng di truyền ở một số loài mối, sử dụng hệ thống đa hình di truyền isozyme
esteraza để so sánh giữa hai loài M. annandalei và O. yunnanensis, hai loài M.
gilvus và M. carbonarius ở miền nam Việt Nam. Trịnh Đình Đạt và cs. (2005) đã
tiến hành xác định mức độ đa hình di truyền của một số loài mối giống
Macrotermes bằng kỹ thuật RAPD-PCR. Để làm rõ hơn vấn đề đa hình trong
quần thể mối, Nguyễn Đức Khảm (2008) đã bàn luận trong nghiên cứu của mình
về đặc điểm đồng hình và dị hình trong cùng một loài ở mối và công tác phân
loại mối dựa vào hình thái ngoài. Trong đó nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi
kích thước rất lớn trong cùng một loài của nhóm mối Coptotermes. Do đó đòi hòi
các công trình nghiên cứu cơ bản để phân biệt được các loài đồng hình và nhận
thức được các dị hình trong cùng loài nhắm khai thác các thông tin về sinh học
của các loài đó để ứng dụng vào việc khai thác những thuận lợi cũng như phương
pháp phòng trừ.
1.3.2.Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái loài gây hại
Nguyễn Văn Quảng (2003) đã tiến hành nghiên cứu tỉ lệ đằng cấp trong
tổ mối của loài M. annandalei và quá trình phân công lao động trong các hoạt
động kiếm ăn xây tổ. Tác giả đã cho thấy hoạt động của mối bên ngoài tổ chủ
yếu do mối thợ lớn đảm nhận, chúng chiếm tới 79,4% ở vị trí kiếm ăn và 53,3%
ở vị trí xây tổ, trong khi tỉ lệ của đẳng cấp này trong quần thể tổ mối chỉ chiếm
16


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×