Tải bản đầy đủ

nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý chủ yếu của gà mắc ornithobacterium rhinotracheale gây cho đàn gà nuôi tại huyện yên phong, tỉnh bắc ninh và thử nghiệm điều trị

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------

-------

NGUYỄN ĐỨC KIÊN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ
CHỦ YẾU CỦA GÀ MẮC ORNITHOBACTERIUM
RHINOTRACHEALE GÂY CHO ĐÀN GÀ NUÔI
TẠI HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH VÀ
THỬ NGHIỆM ĐIỀU TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2015



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------

-------

NGUYỄN ĐỨC KIÊN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ
CHỦ YẾU CỦA GÀ MẮC ORNITHOBACTERIUM
RHINOTRACHEALE GÂY CHO ĐÀN GÀ NUÔI
TẠI HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH VÀ
THỬ NGHIỆM ĐIỀU TRỊ

CHUYÊN NGÀNH : THÚ Y
MÃ SỐ : 60.64.01.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS: CHU ĐỨC THẮNG

HÀ NỘI, NĂM 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kì công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc./.
Hà Nội, ngày 9 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn

Nguyễn Đức Kiên

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp


Page ii


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi luôn nhận
được sự quan tâm giúp đỡ của các tổ chức, cơ quan, các nhà khoa học, các thầy
cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và những người thân trong gia đình.
Nhân dịp này, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của các giảng viên khoa Thú y Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc sự hướng dẫn, giúp đỡ chân tình, đầy
trách nhiệm và hết lòng vì khoa học của PGS.TS Chu Đức Thắng.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, đồng nghiệp
đã luôn quan tâm, động viên giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 9 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn

Nguyễn Đức Kiên

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page iii


MỤC LỤC

Trang
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii

Mục lục

iv

Danh mục các từ viết tắt

vii

Danh mục bảng

viii

Danh mục hình

ix

MỞ ĐẦU

1

1 Đặt vấn đề

1

2 Mục đích của nghiên cứu

2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3

1.1 Lịch sử và tình hình nghiên cứu bệnh ORT

3

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ORT trên thế giới

4

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ORT tại Việt Nam

6

1.2 Căn bệnh

6

1.2.1 Phân loại

6

1.2.2 Hình thái cấu trúc của vi khuẩn

7

1.2.3 Tính chất nuôi cấy

7

1.2.4 Sức đề kháng

8

1.3 Truyền nhiễm học

8

1.3.1 Loài vật mắc bệnh

8

1.3.2 Chất chứa mầm bệnh

9

1.3.3 Phương thức truyền lây

9

1.3.4 Định serotype và phân loại chủng

10

1.3.5 Khả năng miễn dịch

10

1.4 Triệu chứng và bệnh tích
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

11
Page iv


1.4.1 Triệu chứng của gà mắc ORT

11

1.4.2 Bệnh tích của gà mắc ORT

12

1.5 Chẩn đoán

13

1.5.1 Chẩn đoán lâm sàng

13

1.5.2 Chẩn đoán phòng thí nghiệm

13

1.6 Biện pháp phòng và trị bệnh

16

1.6.1 Phòng bệnh

16

1.6.2 Điều trị

16

1.6.3 Triệu chứng lâm sàng của một số bệnh đường hô hấp của gà.

17

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ NGUYÊN
VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

20

2.1 Đối tượng nghiên cứu

20

2.2 Nội dung nghiên cứu

20

2.3 Phương pháp nghiên cứu

20

2.3.1 Phương pháp quan sát các triệu chứng lâm sàng

20

2.3.2 Phương pháp mổ khám

20

2.3.3 Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu làm tiêu bản

21

2.3.4 Phương pháp nuôi cấy và phân lập vi khuẩn

21

2.3.5 Phương pháp thực hiện các phản ứng nhận biết

22

2.3.6 Phương pháp hóa mô miễn dịch

23

2.3.7 Phương pháp PCR

24

2.3.8 Phương pháp kiểm tra khả năng mẫn cảm kháng sinh của chủng vi
khuẩn ORT phân lập được

25

2.3.9 Sử dụng một số loại kháng sinh để phòng trị bệnh do vi khuẩn
ORT gây ra ở lợn
2.3.10 Phương pháp xử lý số liệu

26
27

2.4 Nguyên liệu nghiên cứu

27

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

28

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page v


3.1 Tình hình dịch bệnh trên đàn gà nói chung và tình hình mắc bệnh ORT
nói riêng nuôi tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh từ tháng 6 năm
2014 đến tháng 9 năm 2015

28

3.1.1 Tình hình mắc một số bệnh truyền nhiễm theo lứa tuổi của gà

28

3.1.2 Tình hình dịch bệnh tại trại qua các mùa vụ.

31

3.1.3 Tình hình mắc bệnh ORT trên đàn gà nuôi tại huyện Yên Phong,
tỉnh Bắc Ninh theo truyền thống chăn nuôi.

34

3.1.4 Tình hình nhiễm bệnh ORT theo lứa tuổi.

36

3.1.5 Tình hình nhiễm ORT theo phương thức chăn nuôi.

37

3.2.6 Tình hình nghi nhiễm ORT theo giống gà.

39

3.2 Kết quả nghiên cứu biểu hiện các triệu chứng lâm sàng và biến đổi
bệnh lý đại thể, vi thể của gà mắc ORT

42

3.2.1 Kết quả thu thập mẫu

42

3.2.2 Kết quả nghiên cứu bệnh tích đại thể của gà mắc ORT

48

3.2.3 Kết quả nghiên cứu bệnh tích vi thể của gà mắc ORT

51

3.3 Kết quả nuôi cấy và phân lập vi khuẩn bằng các phương pháp

54

3.4 Kết quả xác định tính mẫn cảm của vi khuẩn với một số loại kháng
sinh và thử nghiệm phác đồ điều trị

57

3.4.1 Kết quả xác định tính mẫn cảm của vi khuẩn với một số loại
kháng sinh

57

3.4.2 Kết quả sử dụng một số loại kháng sinh phòng trị bệnh do vi
khuẩn ORT gây ra ở gà

60

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

64

Kết luận

64

Kiến nghị

65

TÀI LIỆU THAM KHẢO

66

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page vi


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT

Tên viết tắt

Tên đầy đủ

1

AGP

Accelerated Graphics Port

2

BEAs

Boiled Extract Antigens

3

BHB

Brain Heart Infusion Broth

4

CBA

Columbia Blood Agar

5

cDNA

Complementary Deoxyribonucleic Acide

6

CRD

Chronic Respiratory Disease

7

DIA

Dot Immunobinding Assay

8

ELISA

Enzyme-Linked Immunosorbent Assay

9

GAP

Agar Gel Precipitation

10

IB

Infectious Bronchitis

11

ILT

Infectious Laryngo Tracheitis

12

ORT

Ornithobacterium rhinotracheale

13

PAP

Peroxidase - Anti Peroxidase

14

PB

Pasteurella Broth

15

PBS

Phosphate Saline Buffer

16

PCR

Polymerase Chain Reaction

17

PGNR

Pleomorphic Gram Negative Rod

18

RNA

Ribonucleic Acide

19

rRNA

Ribosomal Ribonucleic Acide

20

RT - PCR

Reverse Transcriptase-Polymerase Chain Reaction

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page vii


DANH MỤC BẢNG
Số bảng
3.1

Tên bảng

Trang

Tình hình mắc một số bệnh truyền nhiễm theo lứa tuổi của gà tại
Huyện Yên Phong

3.2

Tình hình mắc bệnh truyền nhiễm trên gà qua các mùa vụ khác nhau

3.3

Kết quả điều tra tình hình mắc bệnh ORT trên đàn gà nuôi tại

29
32

huyện Yên Phong theo truyền thống chăn nuôi.

35

3.4

Kết quả điều tra tình hình nhiễm ORT ở các lứa tuổi

36

3.5

Tình hình nghi nhiễm ORT theo phương thức chăn nuôi

38

3.6

Tình hình nghi nhiễm ORT theo giống gà

39

3.7

Kết quả thu thập mẫu bệnh phẩm tại các địa phương

42

3.8

Triệu chứng lâm sàng của gà mắc hoặc nghi mắc ORT

43

3.9

Kết quả quan sát bệnh tích đại thể của gà mắc ORT

49

3.10

Bảng tổng hợp biến đổi bệnh lý của gà mắc ORT

52

3.11

Sự phân bố của vi khuẩn trên các cơ quan, tổ chức

53

3.12

Kết quả phân lập vi khuẩn ORT thu thập được tại Yên Phong,
Bắc Ninh

3.13

Bảng tổng hợp kết quả thử tính mẫn cảm của ORT với một số loại
kháng sinh

3.14

56

Kết quả sử dụng một số kháng sinh điều trị bệnh do ORT gây ra

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

57
62

Page viii


DANH MỤC HÌNH
Số hình

Tên hình

Trang

1.1

Hình thái vi khuẩn ORT dưới kính hiển vi

7

3.1

Tình hình mắc bệnh truyền nhiễm trên gà qua các mùa vụ khác nhau

3.2

Tỷ lệ mắc bệnh ORT trên đàn gà nuôi tại huyện Yên Phong theo
truyền thống chăn nuôi.

33
35

3.3

Tỷ lệ nghi nhiễm ORT ở các lứa tuổi

37

3.4

Tỷ lệ nghi nhiễm ORT theo phương thức chăn nuôi

38

3.5

Tỷ lệ nghi nhiễm ORT theo giống gà

40

3.6

Triệu chứng lâm sàng của gà mắc ORT

48

3.7

Triệu chứng của gà mắc ORT trên gà đẻ

48

3.8

Một số bệnh tích đại thể điển hình của gà mắc ORT

50

3.9

Một số bệnh tích đại thể của gà mắc ORT

51

3.10

Kết quả kiểm tra bệnh lý vi thể của gà mắc bệnh ORT

52

3.11

Kết quả nuôi cấy vi khuẩn ORT trên môi trường thạch máu

54

3.12

Kết quả kiểm tra một số đặc tính sinh hóa của vi khuẩn ORT

55

3.13

Kết quả kiểm tra phản ứng Indol đối với vi khuẩn ORT

55

3.14

Kết quả giám định sự có mặt của vi khuẩn ORT bằng kỹ thuật PCR

56

3.16

Tỷ lệ mẫn cảm với kháng sinh của chủng vi khuẩn phân lập được

59

3.17

Kết quả kiểm tra tính mẫn cảm của vi khuẩn ORT đối với các loại
kháng sinh trên thạch

3.18

60

Tỷ lệ gà khỏi bệnh khi sử dụng một số kháng sinh điều trị bệnh do
ORT gây ra

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

63

Page ix


MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Hiện nay, ở Việt Nam ngành chăn nuôi vẫn được xem là một ngành trọng
yếu trong phát triển nông nghiệp vì vậy việc mở rộng các cơ sở chăn nuôi cũng
như quy mô là một việc cần thiết. Cùng với sự đi lên của ngành chăn nuôi nói
chung và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng, sự phát triển kinh doanh, buôn bán
và giết mổ gia cầm không được kiểm soát chặt chẽ dẫn đến tình trạng lây lan một
số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như: Cúm gia cầm, Gumboro Newcastle,…
trong đó phải kể đến là Bệnh hô hấp phức hợp trên gà (hay được gọi là ORT)
Năm 1981, lần đầu tiên người ta phân lập một chủng ORT từ dịch nước
mũi, dịch phù ở mặt, mủ và tơ huyết trên túi khí bị viêm của gà tây năm tuần tuổi
tại phía Bắc nước Đức. Bệnh hô hấp phức hợp trên gà (ORT) là một bệnh truyền
nhiễm nguy hiểm do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale gây ra hay gặp ở
gà và gà tây ở mọi lứa tuổi. Ornithobacterium rhinotracheale lần đầu tiên được
mô tả năm 1993. Là bệnh khó phòng và điều trị gây giảm khả năng sản xuất, thiệt
hại lớn về kinh tế với những triệu chứng, bệnh tích như: ho, khó thở, đớp không
khí, màng niêm mạc mắt viêm thủy thũng, phế quản gốc có kén mủ, khí quản bị
xung huyết, có nhiều dịch nhày, phổi viêm tơ huyết... (Charlton, B.R., và cs.,
1993). Vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale phát triển chậm trên môi
trường nuôi cấy đặc và được đặt tên vào năm 1994.
Tại Việt Nam các nghiên cứu về vi khuẩn Ornithobacterium
rhinotracheale cũng như bệnh hô hấp phức hợp trên gia cầm vẫn còn rất hạn chế
Do đó việc chẩn đoán chính xác bệnh dựa trên các bệnh tích, triệu chứng lâm
sàng còn gặp nhiều khó khăn và dễ nhầm lẫn với các bệnh gây ra trên đường hô
hấp của gia cầm như: IB, CRD, Newcastle, ILT…. Trước yêu cầu cấp thiết trên
cần phải có các nghiên cứu về đặc điểm bệnh lý cũng như các phương pháp chẩn
đoán phi lâm sàng: phân lập vi khuẩn hay giám định PCR… để giúp việc chẩn
đoán sớm tìm ra vi khuẩn gây bệnh làm cơ sở cho phòng và trị bện đạt hiệu qur
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 1


cao. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trên, chúng tôi tiến hành triển khai đề
tài“Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý chủ yếu của gà mắc
Ornithobacterium rhinotracheale gây cho đàn gà nuôi tại huyện Yên Phong,
tỉnh Bắc Ninh và thử nghiệm điều trị”.
2. Mục đích của nghiên cứu
1) Xác định định được những biểu hiện triệu chứng lâm sàng đặc trưng
của bệnh ORT.
2) Nghiên cứu các biểu hiện triệu chứng lâm sàng và biến đổi bệnh tích
đại thể, vi thể trên đàn gà mắc ORT.
3) Xác định được tính mẫn cảm của vi khuẩn với một số kháng sinh và thử
nghiệm điều trị;
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1) Các kết quả nghiên cứu về một số đặc điểm bệnh lý chủ yếu của đàn gà
mắc bệnh ORT ở huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; là những tư liệu khoa học bước
đầu nghiên cứu trên đàn gà mắc bệnh ORT ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam
2) Qua kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học đề ra được các biện pháp
phòng và trị bệnh ORT trên đàn gà đạt hiệu quả cao, giảm tác hại của bệnh gây
ra cho ngành chăn nuôi gà ở nước ta.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 2


Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lịch sử và tình hình nghiên cứu bệnh ORT
Bệnh suy hô hấp do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale là một
bệnh truyền nhiểm ở loài chim với đặc điểm là; gây trụy hô hấp, gây chết và làm
giảm khả năng sinh trưởng. Bệnh có các triệu chứng lâm sàng đa dạng, tỷ lệ gây
chết khá cao, diễn biến phụ thuộc vào môi trường chăn nuôi như, quản lý chăm
sóc kém, mật độ chuồng nuôi cao, chất lượng của chất lót chuồng kém, vệ sinh
không khí, vệ sinh chuồng nuôi kém.
Triệu chứng lâm sàng trong suốt giai đoạn bệnh và tỷ lệ chết do O
rhinotracheale ở các ổ dịch bùng phát diễn biến khá đa dạng. chúng chịu ảnh
hưởng của rất nhiều các yêu tố môi trường như quản lý chăm sóc kém, độ thông
thoáng kém, mật độ cao, hàm lượng amoniac cao, chất độn chuồng kém.
Triệu chứng lâm sàng thường suất hiện ở gà thịt xuất hiện ở 3-6 tuần tuổi
với tỷ lệ chết khoảng 5-10% với các triệu chứng ủ rũ, kém ăn, giảm tăng trọng,
tăng tiết dịc, vẩy mỏ có hiện tượng phù mặt.

Ở gà giống bố mẹ, bệnh thường xảy ra ở giai đoạn đầu của gà đẻ đạt
đỉnh hay ngay trước khi đưa gà lên chuồng đẻ. Có biểu hiện: tăng tỷ lệ
chết, giảm ăn, giảm đẻ, giảm kích thước trứng, chất lượng vỏ trứng kém, tỷ
lệ có phôi và khả năng ấp nở cũng bị ảnh hưởng.
Ở gà đẻ thương phẩm, giảm đẻ, tăng trứng méo và tăng tỷ lệ chết có
liên hệ tới sự nhiễm O. Rhinotracheale.
Ở gà thịt thương phẩm, các tổn thương đại thể thường gặp bao gồm
viêm phổi, viêm màng phổi và viêm túi khí. Khi giết thịt hoặc kiểm tra sau
giết mổ sẽ thấy dịch dạng bọt, mầu trắng, chất dịch tiết này có màu giống
sữa chua và có thể thấy rõ trong các túi khí. Hầu hết các tổn thương chỉ tiến
triển ở một bên thùy phổi. Các tổn thương do O. Rhinotracheale có thể làm
tỷ lệ chết tăng cao tới 50% hoặc hơn. Thêm nữa, phù thũng dưới da mặt,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 3


gây viêm đầu, viêm xương tủy và viêm màng não được thấy ở gà.
Lần đầu tiên người ta phân lập được một chủng ORT từ dịch nước mũi,
dịch phù ở mặt, mủ và tơ huyết trên túi khí bị viêm của gà tây 5 tuần tuổi tại phía
Bắc nước Đức. Năm 1983, người ta đã tiến hành nuôi cấy vi khuẩn từ dịch khí
quản của quạ non. Năm 1986, ORT được phân lập từ gà tây tại Isarel ở nhiều lứa
tuổi với bệnh tích viêm xuất huyết cấp tính ở phổi và viêm túi khí. Năm 1987,
ORT được phân lập từ giống vịt Bắc Kinh 10 tuần tuổi ở Hungary và người ta
cho rằng cùng với bệnh tụ huyết trùng, vi khuẩn ORT được coi như một bệnh
truyền nhiễm nguy hiểm trên gà. Giữa những năm 1986 và 1988 là thời điểm
ORT được nhận định như một chủng vi khuẩn giống Pasteurella, được phân lập
từ đàn gà tây giống ở Anh, kèm với triệu chứng như yếu ớt, giảm đẻ, ho, tỷ lệ
chết thấp, túi khí viêm tơ huyết và viêm phổi.
Năm 1986, người ta đã bắt đầu nghiên cứu phân lập ORT ở Califonia. Kết
quả: đã xác định được các đặc điểm của 14 chủng vi khuẩn thu thập và phân lập
được từ năm 1980 đến 1981 trên các đàn gà tây và gà có triệu chứng của bệnh hô
hấp (Charlton và cs, 1986). Vào năm 1991, Du Preez thấy rằng có các biểu hiện
của bệnh hô hấp trên các bệnh hô hấp trên các đàn gà thịt thương phẩm tại Nam
Phi, nơi sau đó cũng đã phân lập được ORT.
Năm 1993, lần đầu tiên ORT được mô tả chính thức (Charlton và cs,
1993). Đến năm 1994, người ta đã công bố cây phát sinh loài, các genotype, phân
loại sinh hóa học và các đặc trưng phenotype cổ điển của 12 chủng đã phân lập
và được đề xuất mang tên ORT (Vandamme và cs 1994). Tuy nhiên, sự phát hiện
và phân lập được vi khuẩn đã được thực hiện từ những năm trước 1993.
ORT được báo cáo là nguyên nhân gây ra bệnh với các triệu chứng, bệnh
tích giống tụ huyết trùng trên gà tây ở Đức vào năm 1993 và 1994 và gà tây
giống 32 tuần tuổi tại Mỹ năm 1996. Và kể từ đó tới nay, có nhiều báo cáo phân
lập của Vandamme và cs. Vào năm 1994, ORT đã được phân lập từ chim hoang
dã ở nhiều quốc gia trên thế giới (Nguyễn Thị Lan và cs., 2014).
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ORT trên thế giới
Năm 1981, lần đầu tiên người ta phân lập được một chủng ORT từ dịch
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 4


nước mũi, dịch phù ở mặt, mủ và tơ huyết trên túi khí bị viêm của gà tây 5 tuần
tuổi tại phía Bắc nước Đức.
Năm 1983, vi khuẩn được nuôi cấy từ dịch khí quản của quạ non.
Năm 1986, ORT được phân lập từ gà tây tại Isarel ở nhiều lứa tuổi với bệnh
tích viêm xuất huyết cấp tính phổi và viêm túi khí. Năm 1987, ORT được phân lập
từ giống vịt Bắc Kinh 10 tuần tuổi ở Hungary và cùng với bệnh tụ huyết trùng, vi
khuẩn ORT được coi như một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên gà. Giữa những
năm 1986 và 1988 là thời điểm ORT được nhận định như một chủng vi khuẩn
giống Pasteurella, được phân lập từ đàn gà tây giống ở Anh, kèm với triệu chứng
như yếu ớt, giảm đẻ, ho, tỷ lệ chết thấp, túi khí viêm tơ huyết và viêm phổi.
Năm 1986, người ta đã bắt đầu nghiên cứu phân lập ORT ở Califonia. Kết
quả: đã xác định được các đặc điểm của 14 chủng vi khuẩn thu thập và phân lập
được từ năm 1980 đến 1981 trên các đàn gà tây và gà có triệu chứng của bệnh hô
hấp (Charlton và cs, 1986). Vào năm 1991, Du Preez thấy rằng có các biểu hiện
của bệnh hô hấp trên các bệnh hô hấp trên các đàn gà thịt thương phẩm tại Nam
Phi, nơi sau đó cũng đã phân lập được ORT.
Năm 1993, một số gà tây đã được quan sát ở Hà Lan và Đức, với những triệu
chứng lâm sàng như vảy mỏ, khó thở và sung huyết xoang hốc mắt, cùng với sự tăng
trưởng chậm của gà thịt (Hafez H.M và Cs.,1996;. K. H. Hinz và Cs., 1994)
Tại Đức, người ta thấy rằng tỷ lệ nhiễm chủ yếu ở gà tây 14 tuần trở lên
(Hafez H.M và Cs.,1996). Sau đó, tìm thấy vi khuẩn trong mẫu bệnh phẩm
đường hô hấp gia cầm ở Israel (Bock et al., 1995), Bỉ (Wyffels & Hommez,
1990), và Mỹ (B. R. Charlton và Cs., 1993).
Ban đầu, các loại vi khuẩn mới chỉ được gọi tên như là một vi khuẩn
Gram âm, hình que (PGNR; B. R. Charlton và Cs., 1993), Pasteurella -like
(Hafez H.M và Cs., 1993) hoặc Kingella -like (P. van Empel và Cs., 1994). Năm
1994, ORT được phân lập từ chim hoang dã và được đặt tên dùng cho đến nay
(P. Vandamme và Cs., 1994).
Tại Đức, đã thực hiện điều tra về việc nuôi cấy O. rhinotracheale đã thấy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 5


rằng ORT phân lập từ đường hô hấp của gà tây trong năm 1981 và ở quạ trong
năm 1983 (P. Vandamme và Cs., 1994). Nó cũng đã được phân lập ở Bỉ (Wyffels
& Hommez, 1990), Mỹ (B. R. Charlton và Cs., 1993) và Israel (R. Bock và Cs.,
1995). O. rhinotracheale đã được phân lập từ gà gô, gà lôi, chim bồ câu, chim
cút, vịt, chim đa đa, đà điểu, ngỗng, gà sao, gà và gà tây (B. R. Charlton và Cs.)
Trong các khu vực khác nhau ở Mỹ, O. rhinotracheale gây ra viêm phổi
cấp tính với tỷ lệ tử vong từ 1 - 15%, và đôi khi thậm chí lên đến 50% ở gà tây
vào năm 1995 và 1996. Sự hiện diện của O. rhinotracheale trên chim ở Nam Mỹ
và châu Á có thể đã được nghiên cứu, quan sát nhưng chưa được công bố ((P.
Vandamme và Cs).
Hiện nay, tình hình dịch bệnh ORT cũng như các nghiên cứu về chúng
vẫn đang được tiến hành tại nhiều quốc gia.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ORT tại Việt Nam
Trong những năm vừa qua tại Việt Nam có rất nhiều tỉnh thấy xuất hiện
các đàn gia cầm chết với những triệu chứng, bệnh tích giống như các mô tả về
bệnh ORT trên thế giới. Tuy nhiên, tại Việt Nam không có nhiều các nghiên cứu
về ORT được công bố. Tháng 6 năm 2014, lần đầu tiên người đã tổng hợp cụ thể
về tình hình nghiên cứu trên thế giới và các đặc điểm quan trọng của ORT làm cơ
sở cho việc chẩn đoán xét nghiệm (Nguyễn Thị Lan và Cs, 2014). Đến tháng 12
năm 2014, người ta đã tiến hành nghiên nhận dạng, phân lập và xác định mức độ
mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale (Võ Thị Trà
An và Cs, 2014). Và cho đến nay vẫn chưa có thêm nghiên cứu nào về sự lưu
hành của vi khuẩn ORT trên gà tại Việt Nam.
1.2. Căn bệnh
1.2.1. Phân loại
ORT nằm trong họ rRNA-V cùng với Cythophaga - Flavobacterrium Bacteroidesphylum và có mối quan hệ mật thiết với hai loại vi khuẩn khác gây bệnh
trên gia cầm là Riemerella anatipestifer và Coenonia anatine. Trước đây, vi khuẩn
này được biết đến với rất nhiều tên như: Pleomorphic Gram Negative Rod (PGNR),
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 6


vi khuẩn dạng Pasteurella, trực khuẩn Gram âm đa hình dạng trước khi có tên gọi
Ornithobacterium rhinotracheale được sử dụng cho đến ngày hôm nay
(Bock, R., 1995; Charlton, B. R., 1993; Hinz, K. H., 1994).
1.2.2. Hình thái cấu trúc của vi khuẩn
ORT là một vi khuẩn Gram âm, đa hình thái, không có khả năng di động,
dạng trực khuẩn nhỏ, không hình thành nha bào. Trên môi trường thạch, chúng
thường có dạng ngắn, trực khuẩn dạng dùi trống, với kích thước đường kính 0,2 0,9µm và dài 0,6 - 5µm. Nhưng trong môi trường dạng lỏng, chúng rất dài, có thể
dài tới 15µm [Charlton, B. R., 1993; Hafez, H. M., 1996; Hinz, K. H. et al., 1994).

Hình 1.1: Hình thái vi khuẩn ORT dưới kính hiển vi
1.2.3. Tính chất nuôi cấy
ORT sinh trưởng trong điều kiện hiếu khí, hiếu khí tùy tiện và yếm khí tùy
tiện. Điều kiện sinh trưởng tối ưu là là ở nhiệt độ 37ºC, CO2 5%, thời gian nuôi
cấy 24 - 72 giờ; tuy nhiên, chúng vẫn sinh trưởng tốt ở nhiệt độ từ 30ºC - 42ºC.
Vi khuẩn này sinh trưởng mạnh trên môi trường thạch máu có 5 - 10% máu cừu
(có bổ sung 10µg/ml Gentamycine), nhưng cũng sinh trưởng được trên môi
trường thạch tryptose soy và môi trường chocolate agar. Vi khuẩn không sinh
trưởng trên các môi trường MacConkey Agar, Endo Agar, Gassner Agar,
Drigalskil Agar hay Simon’s Citrate. Sự phát triển của vi khuẩn trong các môi
trường dạng lỏng cần phải được lọc kỹ, như môi trường BHB (Brain Heart
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 7


Infusion Broth), PB (Pasteurella Broth), hay Todd Hewitt Broth.
ORT có khuẩn lạc rất nhỏ, không gây dung huyết ra xung quanh, màu xám
tới trắng xám, đôi khi hơi đỏ thẫm, mặt lồi với bờ rõ ràng, sắc nét. Ở những lần
nuôi cấy đầu tiên, khuẩn lạc của ORT đạt kích thước lớn nhất (1 - 3 mm sau 48
giờ nuôi cấy) nhưng ở những lần nuôi cấy tiếp theo, khuẩn lạc thường nhỏ hơn và
biến dạng, không đồng nhất (Hinz, K. H. et al., 1994).
1.2.4. Sức đề kháng
ORT có thể sống 1 ngày ở 37ºC, 6 ngày ở 22ºC, 40 ngày ở 40ºC và ít nhất
là 150 ngày ở -102ºC. Sự tồn tại của ORT ở nhiệt độ thấp có liên quan tới sự
bùng phát các trường hợp bệnh tập trung vào các tháng mùa đông của năm.
Chúng không thể tồn tại quá 24 giờ ở nhiệt độ 42ºC.
Các chủng ORT nhạy cảm với các yếu tố vật lý, hóa học. Vi khuẩn bị vô
hoạt hoàn toàn bởi dung dịch chứa formic và glyoxyl acid 0,5%, dung dịch có
chứa hợp chất của aldehyde-based (20% glutaraldehyde) 0,5% sau 15 phút. Các
dung dịch hỗn hợp 0,5% này cũng có thể vô hoạt O. rhinotrachealeinvitro trong
15 phút (Hinz, K. H. et al, 1994).
1.3. Truyền nhiễm học
1.3.1. Loài vật mắc bệnh
ORT được phân lập ở các quốc gia trên thế giới trên rất nhiều đối tượng
bao gồm gà, gà gô, vịt, gà tây, ngỗng, ngan, chim cút, bồ câu. Ở gà thương phẩm,
tất cả các lứa tuổi đều nhạy cảm với bệnh mặc dù các thể gây bệnh thường gặp ở
gà trưởng thành (Hinz, K. H. et al., 1994).
Bệnh ORT có thể gặp trên gà và gà tây ở mọi lứa tuổi, hay gặp nhất ở lứa
tuổi gà giò và gà lớn. Gà thịt công nghiệp thường mắc ở độ tuổi từ tuần thứ 3 đến
tuần thứ 6; gà lông màu, gà hậu bị, gà đẻ và gà giống thường mắc ở độ tuổi từ
tuần thứ 6 trở đi và trong suốt quá trình đẻ trứng.
Nhiều ca bệnh của ORT thường được phát hiện gây bệnh ghép với các
nguyên nhân gây bệnh hô hấp khác như Escherichia coli, Bordetella avium,
Newcastle

virus,

IB

virus,

Metapneumovirus,

Mycoplasma

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

synoviae,
Page 8


Chlamydophila psittaci và gần đây nhất là với chủng cúm H9N2 ở Trung Quốc.
Hầu hết các thí nghiệm nghiên cứu đều kết luận rằng, khi gây bệnh riêng lẻ do
chính nó gây ra, ORT thường chỉ gây các triệu chứng tối thiểu ở gà và gà tây.
Chúng chỉ thực sự có triệu chứng bệnh nghiêm trọng khi đồng thời kết hợp với
các virus, vi khuẩn gây bệnh hô hấp khác.
Tuy nhiên, cũng có một số nghiên cứu cho rằng các tổn thương nghiêm
trọng tương tự như trong thực địa ở gà và gà tây chỉ xuất hiện khi gây gây nhiễm
thực nghiệm chỉ với ORT.
1.3.2. Chất chứa mầm bệnh
Ở gà bệnh có thể tìm thấy vi khuẩn O.rhinotracheale thường có trong
phổi, túi khí, chất tiết của đường hô hấp như: nước mũi, nước mắt, dịch nhầy khí
quản và ở hai bên phế quản.
1.3.3. Phương thức truyền lây
ORT xuất hiện và truyền ngang thông qua sự tiếp xúc trực tiếp hay gián
tiếp với mầm bệnh có trong không khí hay nước uống. Do đó, các chuồng hở, sự
thông thoáng của chuồng nuôi tạo điều kiện cho quá trình phát tán bệnh trở nên
dễ dàng hơn.
Vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể gà chủ yếu qua đường hô hấp, sinh sôi và
phát triển ở niêm mạc đường hô hấp, sau đó đến cư trú ở cơ quan đích là phổi,
hai phế quản gốc và gây nên bệnh tích đặc trưng của bệnh ORT ở đó.
Bệnh lây truyền từ gà bệnh cho gà khỏe qua tiếp xúc trực tiếp. Gà bệnh
bài thải mần bệnh ra ngoài không khí qua chất tiết đường hô hấp (hắt hơi) và từ
đó lây cho gà khỏe bằng đường hít thở. Ngoài ra, mầm bệnh có thể lây lan theo
đường gió, qua dụng chăn nuôi, xe vận chuyển, động vật mang mầm bệnh và con
người cũng đóng vai trò lớn trong sự truyền lây của bệnh ORT.
Ở những vùng chăn nuôi gà tập trung theo hình thức công nghiệp
nhưng không đảm bảo các điều kiện vệ sinh như môi trường bị ô nhiễm (mùi
phân, độ thông thoáng kém…) hay nuôi gà nhiều độ tuổi khác nhau trong
cùng một khu vực luôn là điều kiện lý tưởng cho bệnh ORT bùng phát và lây
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 9


lan với tốc độ nhanh.
Ngoài ra, vi khuẩn này có những bằng chứng cho thấy chúng có khả năng
chuyền dọc. Thêm nữa, ORT cũng được phân lập từ buồng trứng, ống dẫn trứng,
trứng nở, trứng đã thụ tinh, trứng không được thụ tinh, trứng chết phôi và chết
bệnh trong vỏ của gà và gà tây. Tuy nhiên, khi tiêm ORT vào trứng gà có phôi,
phôi được giết ở ngày thứ 9 và không phân lập được ORT từ trứng đó. Như vậy,
có thể thấy rằng ORT không truyền qua trứng trong quá trình ấp (Nguyễn Thị
Lan và cs, 2014; Hinz, K. H. et al., 1994).
1.3.4. Định serotype và phân loại chủng
Sử dụng boiled extract antigens (BEAs) và kháng huyết thanh đơn trong
agar gel precipitation (GAP) và kit ELISA để định type, 18 serotype (từ A tới R)
của ORT đã được định rõ. Serotype A là serotype phổ biến nhất trong số các
chủng phân lập từ gà (97%) và từ gà tây (61%). Dường như có sự tương quan về
mối quan hệ giữa nguồn gốc địa lý của ORT phân lập với các serotype của chúng.
Serotype C có thể phân lập được chỉ từ gà và gà tây ở Nam Mỹ và Mỹ. Không
thấy dấu hiệu đặc trưng của các serotype ở các vật chủ.
Hafez và Sting so sánh hiệu quả của việc sử dụng các kháng nguyên tách
chiết từ các chủng (heat-stable, proteinnase K-stable và sodium dodecyl sulfate)
trong định type ORT bằng xét nghiệm AGP và ELISA. Kết quả chỉ ra rằng với
các xét nghiệm AGP với kháng nguyên các chủng bằng heat-stable hay
proteinnase K-stable là phương pháp thích hợp cho định type.
Sử dụng một phương pháp thực nghiệm mới kết hợp với sự suy giảm miễn
dịch và vận chuyển thụ động của hệ miễn dịch trong cùng một cơ thể, Schuijffel
và cộng sự thấy rằng kháng thể trung gian gây miễn dịch ở gà là một thành phân
quan trọng trong việc bảo vệ giúp chống lại ORT.
1.3.5. Khả năng miễn dịch
Có rất ít thông tin nói về khả năng miễn dịch của O.rhinotracheale. Khả
năng miễn dịch chủ động được tạo ra khi tiêm văc xin vô hoạt được xác định ở
các serotype cụ thể, còn văc xin sống có thể tạo ra miễn dịch chéo giữa một vài
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 10


serotype. Miễn dịch thụ động có thể kéo dài từ 3 - 4 tuần do các kháng thể truyền
từ mẹ sang con (Hinz, K. H., 1994).
1.4. Triệu chứng và bệnh tích
1.4.1. Triệu chứng của gà mắc ORT
Triệu chứng lâm sàng, trong suốt giai đoạn bệnh và tỷ lệ chết do ORT ở các
ổ dịch bùng phát diễn biến khá đa dạng. Chúng thường chịu ảnh hưởng bởi rất
nhiều các nhân tố môi trường như quản lý chăm sóc kém, độ thông thoáng kém,
mật độ nuôi cao, hàm lượng NH3 cao, chất lót nền kém, vệ sinh kém, ghép bệnh
và chủng loại mầm bệnh thứ phát (Charlton, B. R et al, 1993; Hinz, K. H., 1994).
Triệu chứng lâm sàng ở gà thịt thương phẩm thường xuất hiện ở 3 - 6 tuần
tuổi với tỷ lệ chết vào khoảng 2 - 10% với các triệu chứng ủ rũ, giảm ăn, giảm
tăng trọng và tăng dịch tiết và vảy mỏ, kèm theo có hiện tượng phù mặt [16,19].
ORT có thể là nguyên nhân gây chết đột ngột (dưới 20% trong 2 ngày) ở gà con
với sự nhiễm trùng não và xương sọ kèm theo hoặc không kèm theo các triệu
chứng hô hấp.
Ở gà giống bố mẹ, bệnh thường xảy ra ở giai đoạn đang đẻ trứng, giai
đoạn đầu của gà đang đẻ đạt đỉnh hay ngay trước khi đưa gà lên chuồng đẻ. Có
sự tăng nhẹ tỷ lệ chết, giảm ăn và các triệu chứng hô hấp nhẹ. Tỷ lệ chết thừơng
biến động và ít có liên hệ ở các ca không bị ghép bệnh. Có thể gặp các biểu hiện
giảm đẻ, giảm kích thước trứng và chất lượng vỏ trứng kém. Tỷ lệ có phôi và khả
năng ấp nở cũng có thể bị ảnh hưởng.
Ở gà đẻ thương phẩm, giảm đẻ, tăng trứng méo và tăng tỷ lệ chết có liên
hệ tới sự nhiễm ORT.
Roepke đã tìm ra rằng các triệu chứng bệnh và tỷ lệ chết cao hơn ở các gà
tây trưởng thành và ở các gà non chủ yếu chỉ có các triệu chứng bệnh thông
thường. Ở một số trường hợp, gà non mắc bệnh từ 2 đến 8 tuần tuổi. Tỷ lệ chết
thường trong khoảng 1 - 15% trong pha cấp tính (8 ngày), nhưng tỷ lệ nhiễm có
thể tăng cao với tỷ lệ chết tới 50%.
Các triệu chứng ban đầu bao gồm ho, vảy mỏ và kèm theo dịch nhày; ở
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 11


một số trường hợp có hiện tượng trụy hô hấp nặng, khó thở, vươn cổ và viêm
xoang mũi (Charlton, B. R et al, 1993). Các triệu chứng sẽ kéo theo các triệu
chứng giảm ăn và giảm uống nước. Ở đàn gà tây giống, cũng thấy có hiện tượng
giảm đẻ và tăng tỷ lệ trứng ấp nở không đạt tiêu chuẩn.
ORT được báo cáo là nguyên nhân gây ra các triệu chứng thần kinh hoặc
liệt do viêm màng não, viêm xương và viêm xương tủy ở gà và gà tây.

1.4.2. Bệnh tích của gà mắc ORT
Bệnh tích đại thể
Ở gà thịt thương phẩm, các tổn thương đại thể thường gặp bao gồm: viêm
phổi, viêm màng phổi và viêm túi khí. Khi giết thịt hoặc kiểm tra sau giết mổ sẽ thấy
dịch dạng bọt, màu trắng, chất dịch tiết này có màu giống sữa chua và có thể thấy rõ
trong các túi khí (thùy túi bụng trước), hầu hết các tổn thương chỉ tiến triển ở một bên
thùy phổi. Các tổn thương do ORT có thể làm tỷ lệ chết tăng cao tới 50% hoặc hơn.
Thêm nữa, phù thũng dưới da mặt, tại các điểm tiếp giáp có sụn gây viêm đầu, viêm
xương, viêm xương tủy và viêm màng não được báo cáo thấy ở gà.
Ở gà tây, có hiện tượng phù và viêm một bên phổi hoặc đối xứng 2 bên
với các tơ huyết trên màng phổi. Ngoài ra, có thể có các hiện tượng viêm mủ
tơ huyết gây viêm túi khí, ngoại tâm mạc, màng bao tim và khí quản. Trong
một số trường hợp, gan và lách có thể sưng cũng như có sự biến đổi ở cơ tim
có thể quan sát được. Hiện tượng nhiễm khuẩn tại khớp, xương sống có thể
bắt gặp ở gà lớn (Hinz, K. H. et al, 1994; Sprenger, S. et al, 1998).
Bệnh tích vi thể
Hầu hết các tổn thương vi thể được gặp tại phổi, màng phổi và túi khí.
Trong các ca bệnh thực địa, phổi có hiện tượng sung huyết, trong tất cả nhu mô
có một lượng lớn hỗn hợp các fibrin lẫn với đại thực bào và tế bào heterophil
nằm tự do trong lòng các mao mạch, phế nang và đoạn cuống phổi. Sự khuếch
tán và thâm nhiễm các đại thực bào với số lượng ít hơn các tế bào heterophil.
Các ổ hoại tử lan rộng ở trung tâm các lòng cuống phổi và nhu mô lân
cận. Ổ hoại tử thường chứa đầy chặt hỗn hợp của các tế bào hoại tử, heterophil
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 12


thâm nhiễm hoặc chất tiết, và có thể có sự phân tán thành các cụm nhỏ của vi
khuẩn. Nhiều mao mạch bị căng phồng do các cục huyết khối. Màng phổi và túi
khí có thể dày lên nghiêm trọng và phù nề do lắng đọng tơ huyết ở các kẽ
(Charlton, B. R et al, 1993).
1.5. Chẩn đoán
1.5.1. Chẩn đoán lâm sàng
Dựa trên các triệu chứng lâm sàng: ủ rũ, giảm ăn, giảm uống nước, ở gà
đẻ có hiện tượng giảm đẻ, tỷ lệ trứng ấp nở không đạt tiêu chuẩn
Các triệu chứng điển hình của bệnh hô hấp phức hợp trên gia cầm như: ho,
vảy mỏ kèm theo dịch nhầy, một số trường hợp có hiện tượng trụy hô hấp, khó
thở, vươn cổ và viêm xoang mũi
Bệnh tích điển hình như viêm phổi hóa mủ, viêm màng phổi, viêm túi khí,
túi khí dày lên gan lách có thể sưng.
Tuy nhiên, rất khó để có thể chẩn đoán chính xác dựa trên các dấu hiệu
lâm sàng do dễ nhầm lẫn với các bệnh về hô hấp khác. Để chẩn đoán chính xác
phải dựa vào các chẩn đoán phòng thí nghiệm như phân lập vi khuẩn, phát hiện
kháng nguyên...
1.5.2. Chẩn đoán phòng thí nghiệm
Phân lập, nuôi cấy vi khuẩn
Các mô, cơ quan như phổi, khí quản, túi khí được xem là tối ưu nhất khi
sử dụng để phân lập được ORT. Ngoài ra, xoang dưới hốc mắt và hốc mũi cũng là
những vị trí phù hợp phục vụ cho việc nuôi cấy. Nhưng, ORT dễ dàng bị bao phủ
bởi sự phát triển quá nhanh của các vi khuẩn khác. Nuôi cấy vi khuẩn từ máu tim
và mô của gan dưới các điều kiện thực tế cho kết quả âm tính, mặc dù trước đó vi
khuẩn đã được phân lập từ các cơ quan cũng như ở các khớp xương, não, buồng
trứng và ống dẫn trứng sau khi gây bệnh thực nghiệm (Karrimi, V. et al, 2010).
ORT cũng có thể được phân lập một cách thông thường, trên thạch máu
thường hoặc thạch chocolate (Charlton, B. R et al, 1993). Khuẩn lạc phát triển tốt
trong 24 giờ, nhưng tốt nhất nên giữ các đĩa gấy nhiễm từ 48 - 72 giờ trong điều
kiện không khí làm giàu từ 7,5 - 10% CO2. Khuẩn lạc sẽ xuất hiện có kích thước
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 13


từ đầu đinh ghim tới nhỏ (đường kính khoảng 1 - 2 mm), màu xám tới trắng, mặt
lồi với cạnh sắc nét. Nhuộm Gram cho kết quả vi khuẩn Gram âm đa hình thái
đặc trưng. Khuẩn lạc âm tính với catalase và dương tính với oxidase. Nuôi cấy
ORT thuần khiết có mùi riêng biệt, tương tự như mùi acid butyric. Các thử
nghiệm bổ sung là rất cần thiết để xác định các đặc tính của ORT (Charlton, B. R
et al, 1993; Karrimi, V. et al, 2010).
Trong các mẫu bị tạp nhiễm với sự phát triển nhanh của các vi khuẩn khác
như E.coli, Proteus sp hoặc Pseudomonas sp, khuẩn lạc của ORT có thể phát
triển quá mức và rất khó để xác định khi kiểm tra thường xuyên. Vì đã chứng
minh được rằng hầu hết các ORT đều kháng Gentamycin, nên khuyến khích sử
dụng 10µg Gentamycin cho mỗi ml môi trường thạch máu để có thể phân lập
được ORT từ các mẫu bị tạp nhiễm. Thạch máu có chứa 5µg/ml gentamicin và
polymixin B cũng cho hiệu quả tốt (Charlton, B. R et al, 1993.
Kiểm tra ngưng kết nhanh trên phiến kính cũng được sử dụng cho mục
đích chẩn đoán. Trong một nghiên cứu với 112 mẫu phân lập, tuy nhiên hiện
tượng tự ngưng kết thường xuất hiện (Ferreri, M., 2013; Charlton, B. R et al,
1993; Soriano, V. E. et al, 2002).
Kiểm tra Accelerated Graphics Port (AGP) sử dụng kháng huyết thanh dương
tính đã biết có thể được sử dụng để xác định và định typ ORT đã phân lập (Charlton,
B. R et al, 1993).
Một phương pháp khác được sử dụng để phát hiện các chủng phân lập
nghi ngờ là PCR.
Phát hiện kháng nguyên
PCR được sử dụng để phát hiện các ORT trong mẫu dịch khí quản được lấy
từ các gà mắc bệnh nặng. Ngoài ra, xét nghiệm bằng miễn dịch huỳnh quang cũng
đã được sử dụng để phát hiện ORT trên gà .Sau đó, Van Veen và cộng sự đã thấy
rằng các xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang và kỹ thuật peroxidase - anti peroxidase
(PAP) nhạy cảm như nhau. Sử dụng các xét nghiệm này có thể xác định một tỷ lệ
nhiễm ORT cao ở đàn gà thịt sau giết mổ khi so sánh với các phương pháp chẩn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 14


đoán thông thường như huyết thanh học hoặc vi khuẩn học (Charlton, B. R et al,
1993; Karrimi, V. et al, 2010).
Huyết thanh học
Huyết thanh học rất hữu dụng trong việc giám sát cũng như hỗ trợ chẩn
đoán bệnh do ORT .
Các phản ứng kiểm tra ngưng kết huyết thanh trên tấm (SPAT) được sử
dụng như một xét nghiệm nhanh cho việc phát hiện các kháng thể chống lại
ORT. SPAT được phát triển bằng cách sử dụng một chủng của ORT phân lập từ
Minnesota và báo cáo là có độ nhạy đặc biệt cao. Tuy nhiên, trong một nghiên
cứu khác, SPAT chỉ phát hiện được 65% gia cầm bị nhiễm bệnh trong hai tuần
đầu gây nhiễm và giảm đáng kể ở các thời gian tiếp theo. Điều này cho thấy
SPAT chỉ phát hiện được kháng thể IgM, loại chỉ có khả năng gây ngưng kết với
một kháng nguyên đặc hiệu. Hầu hết các SPTA chỉ phản ứng với một serotype
nhất định, dù cho phản ứng chéo xảy ra.
ELISA đã được phát triển bằng sử dụng các serotype khác nhau và chiết
tách kháng nguyên của ORT. Kháng nguyên cô đặc được sử dụng cho việc định
type, có khả năng cho những kết quả chính xác nhất cho các serotype cụ thể.
Ngược lại kháng thể SDS chiết tách và dịch tiết từ lớp màng protein của ORT sẽ
cho kết quả nhiều phản ứng kháng chéo, cho phép phát hiện các kháng thể chống
lại của nhiều serotype khác nhau trong cùng một lần xét nghiệm.
Điều tra thực địa sử dụng các kỹ thuật ELISA hoặc bộ kit ELISA thương
mại (VDPro ® CSFV AB C-ELISA) rất hữu dụng khi theo dõi đàn gia cầm và
chẩn đoán mắc ORT.
Erganis và Cs. phát triển phương pháp DIA (Dot Immunobinding Assay),
một xét nghiệm dường như ít nhạy hơn so với các xét nghiệm ngưng kết khác.
Popp và Hafez đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng Amoxicillin
trong điều trị tới động học kháng thể sau khi gây bệnh thực nghiệm. Họ nhận
thấy rằng việc điều trị tức thì không ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch, trong khi
điều trị sau 7 ngày gây nhiễm sẽ cho một đáp ứng kháng thể thấp hơn (Nguyễn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 15


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×