Tải bản đầy đủ

giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước của công chức cấp xã huyện kim động, tỉnh hưng yên

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
======

======

DƯƠNG VĂN HIỆP

GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
CỦA CÔNG CHỨC CẤP XÃ HUYỆN KIM ĐỘNG,
TỈNH HƯNG YÊN

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.34.04.10

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN NGUYÊN CỰ


HÀ NỘI, NĂM 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hưng Yên, ngày

tháng 10 năm 2015

Tác giả luận văn

Dương Văn Hiệp

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page ii


LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp, đến nay
tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế với đề tài: “Giải
pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước của công chức cấp xã huyện Kim
Động, tỉnh Hưng Yên”
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Viện đào tạo Sau Đại học, Khoa
Kinh tế và phát triển nông thôn, Bộ môn kinh tế tài nguyên và môi trường, Học
viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
và thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Nguyên Cự –
người đã định hướng, chỉ bảo và hết lòng tận tụy, dìu dắt tôi trong suốt quá trình
học tập và nghiên cứu đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè
và đồng nghiệp đã động viên, cổ vũ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên
cứu khoa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hưng Yên, ngày


tháng 10 năm 2015

Tác giả luận văn

Dương Văn Hiệp

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page iii


MỤC LỤC
Lời cam đoan...................................................................................................... ii
Lời cảm ơn ........................................................................................................ iii
Mục lục ............................................................................................................ iv
Danh mục chữ viết tắt ....................................................................................... vii
Danh mục bảng ............................................................................................... viii
Danh mục biểu đồ.............................................................................................. ix
PHẦN I MỞ ĐẦU.............................................................................................. 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ..................................................................................... 3
1.2.1 Mục tiêu chung .................................................................................... 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể .................................................................................... 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: ................................................................ 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu .......................................................................... 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 3
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ................................................... 5
2.1 Cơ sở lý luận ................................................................................................ 5
2.1.1 Quản lý nhà nước và quản lý nhà nước cấp xã ..................................... 5
2.1.2 Công chức cấp xã, vai trò, vị trí và tiêu chí đánh giá của công chức
cấp xã ................................................................................................... 9
2.1.3 Tiêu chí cơ bản về năng lực quản lý nhà nước của công chức cấp xã ........ 22
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý nhà nước của công chức
cấp xã ................................................................................................. 27
2.2 Cơ sở thực tiễn ........................................................................................... 35
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước về xây dựng đội ngũ công chức cấp ... 35
2.2.2 Kinh nghiệm của Việt Nam về đội ngũ công chức cấp xã .................. 39
2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ cơ sở thực tiễn trong việc nâng cao
năng lực quản lý nhà nước của công chức cấp xã hiện nay ................. 46
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................... 48
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu ...................................................................... 48

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page iv


3.1.1 Đặc điểm tự nhiên. ............................................................................. 48
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội ..................................................................... 50
3.2 Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 61
3.2.1 Phương pháp chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu ............................. 61
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu ............................................................. 62
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................ 65
4.1 Thực trạng năng lực quản lý nhà nước của công chức cấp xã, thị trấn
huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên .............................................................. 65
4.1.1 Số lượng công chức ........................................................................... 65
4.1.2 Năng lực quản lý nhà nước của công chức cấp xã huyện Kim
Động theo các tiêu chí ....................................................................... 70
4.2 Thực trạng năng lực quản lý nhà nước của công chức cấp xã huyện Kim
Động, tỉnh Hưng Yên qua đánh giá ........................................................... 81
4.2.1 Năng lực về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống tác phong và lề
lối làm việc ....................................................................................... 81
4.2.2 Thực trạng năng lực chuyên môn nghiệp vụ của công chức cấp xã
huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ..................................................... 83
4.2.3 Thực trạng về kỹ năng quản lý nhà nước của công chức cấp xã
huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ...................................................... 85
4.2.4 Đánh giá mức độ hài lòng của người dân đối với công chức cấp xã
Huyện Kim Động.............................................................................. 88
4.2.5 Đánh giá chung về năng lực quản lý nhà nước của công chức cấp
xã huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên .................................................. 89
4.3 Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý nhà nước của công chức cấp xã
huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên .............................................................. 93
4.3.1 Chế độ với công chức cấp xã ............................................................. 93
4.3.2 Công tác quy hoạch công chức cấp xã, thị trấn................................. 94
4.3.3 Công tác Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đối với công
chức cấp xã, thị trấn ......................................................................... 95

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page v


4.3.4. Công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ đối với công
chức cấp xã, thị trấn .......................................................................... 97
4.3.5 Điều kiện làm việc của đội ngũ công chức ......................................... 98
4.4 Định hướng và giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước của đội
ngũ cán bộ cấp xã tại huyện Kim Động ...................................................... 99
4.4.1 Định hướng nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ CBCC xã
hiện nay ở huyện Kim Động .............................................................. 99
4.4.2 Giải pháp chủ yếu nâng cao năng lực quản lý nhà nước của công
chức cấp xã huyện Kim Động ......................................................... 100
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................... 110
5.1 Kết luận .................................................................................................... 110
5.2 Kiến nghị .................................................................................................. 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 114

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page vi


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BQ

Bình quân

CC

Cơ cấu

CBCC

Cán bộ công chức

CT - XH

Chính trị - Xã hội

CNH-HĐH

Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

GTSX

Giá trị sản xuất

HĐND

Hội đồng nhân dân

KH

Kế hoạch

KT-XH

Kinh tế - xã hội

LLLĐ

Lực lượng lao động

LLCT

Lý luận chính trị

NN

Nông nghiệp

LĐNN

Lao động nông nghiệp

QLNN

Quản lý nhà nước

SL

Số lượng

TTCN-DV

Tiểu thủ công nghiệp – Dịch vụ

TM-DV

Thương mại – Dịch vụ

UBND

Ủy ban nhân dân dân

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page vii


DANH MỤC BẢNG
Số bảng

Tên bảng

Trang

3.1

Tình hình sử dụng đất đai của huyện qua 3 năm 2012-2014 ................... 52

3.2

Tình hình dân số và lao động của huyện từ 2012 – 2014 ........................ 55

3.3

Tình hình cơ sở vật chất hạ tầng của huyện Kim Động năm 2014 .......... 57

3.4

Tình hình phát triển kinh tế của huyện qua 3 năm (2012 – 2014) ........... 60

3.5

Đối tượng và số lượng mẫu điều tra ....................................................... 62

4.1

Số lượng công chức cấp xã phân theo chức danh ................................... 66

4.2

Số lượng công chức cấp xã phân theo độ tuổi ........................................ 67

4.3

Số lượng công chức cấp xã phân theo giới tính ...................................... 69

4.4

Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ công chức cấp xã ........................ 72

4.5

Công chức cấp xã của huyện là đảng viên .............................................. 73

4.6

Đánh giá, bình xét công chức cấp xã của huyện Kim Động .................... 75

4.7

Trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức cấp xã năm 2012 – 2014............77

4.8

Trình độ quản lý nhà nước của đội ngũ công chức cấp xã huyện
Kim Động ....................................................................................... 80

4.9

Đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, tác phong và lề lối
làm việc của công chức cấp xã huyện Kim Động ................................... 82

4.10

Đánh giá năng lực chuyên môn nghiệp vụ của công chức cấp xã
huyện Kim Động ................................................................................... 84

4.11

Đánh giá kỹ năng quản lý nhà nước của công chức cấp xã huyện
Kim Động .............................................................................................. 87

4.12

Đánh giá mức độ hài lòng của người dân đối với công chức cấp xã
huyện Kim Động ................................................................................... 89

4.13

Chế độ chính sách với công chức và chất lượng công việc ..................... 93

4.14

Đánh giá công tác quy hoạch công chức ở cấp xã .................................. 95

4.15

Đánh giá của công chức về đào tạo hiện nay .......................................... 96

4.16

Đánh giá về kiểm tra, giám sát công chức .............................................. 97

4.17

Điều kiện làm việc của đội ngũ công chức ............................................. 98

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page viii


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số biểu đồ

Tên biểu đồ

Trang

3.1 Cơ cấu đất đai huyện Kim Động qua 3 năm 2012 - 2014 .......................... 51
3.2 Tổng giá trị sản xuất của huyện Kim Động giai đoạn 2012 – 2014 ........... 58
4.1 Cơ cấu độ tuổi cán bộ công chức cấp xã qua các năm 2012-2014 ............. 68
4.2 Tỷ lệ giới tính trong cán bộ công chức xã huyện Kim Động ..................... 69
4.3 Tỷ trọng cán bộ công chức xã phân theo trình độ chuyên môn đào tạo
các năm 2012-2014 .................................................................................. 78

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page ix


PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng vai trò của đội
ngũ cán bộ, luôn đặt công tác cán bộ lên vị trí hàng đầu trong các công tác của
Đảng và Nhà nước. Người xác định: "Cán bộ là những người đem chính sách của
Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời
đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt
chính sách cho đúng". Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "cán bộ là cái
gốc của mọi công việc" và "huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng".
Cấp xã, phường, thị trấn là một cấp trong hệ thống hành chính bốn cấp của
nhà nước Việt Nam, là nền tảng của hệ thống chính trị, giữ một vai trò, vị trí hết
sức quan trọng, là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chính sách pháp luật và
nhiệm vụ cấp trên giao, là cấp chính quyền chăm lo đến đời sống nhân dân, là
cầu nối giữa nhà nước với nhân dân. Hội nghị thứ ba (khóa VII) Ban chấp hành
Trung ương Đảng khẳng định: “Cán bộ, công chức là nhân tố quyết định sự
thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước của chế
độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”
Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là bộ phận trực tiếp tổ chức, thực hiện
đưa đường lối chủ trương của Đảng và chính sách sách pháp luật của Nhà nước
vào cuộc sống; trực tiếp giải quyết các công việc hàng ngày của nhân dân. Nâng
cao năng lực quản lý nhà nước cho đội ngũ này sẽ góp phần giúp chính quyền
cấp cơ sở hoạt động hiệu lực, hiệu quả củng cố niềm tin vững chắc của nhân dân
đối với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Chính vì vậy Bác Hồ đã
từng nói: “Cấp xã là gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã
làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi”.
Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm và chú trọng đến công tác cán bộ,
đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, công tác cán bộ càng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 1


được chú trọng. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị quyết, văn bản
quy phạm pháp luật quy định về cán bộ như: Nghị quyết hội nghị lần thứ 8 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, 7 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, Văn kiện đại hội Đảng X, đặc biệt là
Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 khoá IX Ban Chấp hành Trung ương Đảng "về đổi
mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn",
trong đó nhấn mạnh: “Xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và
vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công
tâm, thạo việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không
ức hiếp dân, trẻ hoá đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp
lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở”.
Thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước, nhiều địa phương
trong cả nước đã và đang thực hiện các chương trình quy hoạch đào tạo, nâng cao
kiến thức toàn diện cho cán bộ cũng như công chức cơ sở. Việc làm đó đã góp
phần nâng cao kiến thức toàn diện cho họ nhằm đáp ứng yêu cầu cho thời kỳ đổi
mới. Nghị định số 92/2009/NĐ–CP, về vấn đề đánh giá thực trạng, chất lượng cán
bộ công chức cấp xã, cơ cấu và sử dụng cán bộ, thông tư số 06/2012/TT-BNV về
chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị
trấn.... Việc đánh giá này sẽ làm cơ sở cho các cấp lãnh đạo đưa ra định hướng và
giải pháp cụ thể nhằm bố trí, sử dụng hợp lý, có giải pháp nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức cấp xã, đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ mới.
Hiện nay, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nhằm phát triển đất nước
với mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, thì
những đòi hỏi nêu trên đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn
lại càng trở nên cấp bách. Chỉ có đủ phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực
chuyên môn nghiệp vụ, trình độ hiểu biết văn hóa - xã hội, mới đủ sức thực thi
công vụ, hoàn thành tốt các chức năng, nhiệm vụ được giao, đáp ứng nhanh nhậy
các yêu cầu trong giai đoạn mới. Quá trình này diễn ra nhưng đã bộc lộ nhiều bất
cập. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến những bất cập đó là năng lực
lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của hệ thống chính trị còn chưa đáp ứng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 2


được yêu cầu phát triển. Khả năng tham mưu, đề xuất, cụ thể hóa chủ trương,
chính sách của Đảng, nhà nước và một số cơ sở còn chưa cao. Đội ngũ cán bộ,
công chức cơ sở còn chưa đủ năng lực và chuyên môn.Vấn đề đặt ra lúc này làm
thế nào để nâng cao năng lực quản lý nhà nước, cũng như chất lượng cán bộ, công
chức cơ sở tại địa phương đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới.
Xuất phát từ thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng
cao năng lực quản lý nhà nước của công chức cấp xã huyện Kim Động – tỉnh
Hưng Yên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng năng lực quản lý nhà nước của đội ngũ công chức cấp
xã trên địa bàn huyện Kim Động - tỉnh Hưng Yên, trên cơ sở đó đề xuất định
hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước của đội ngũ công
chức cấp xã tại huyện Kim Động – tỉnh Hưng Yên.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực quản lý nhà nước
của công chức cấp xã.
- Phản ánh thực trạng năng lực quản lý nhà nước của công chức cấp xã tại
huyện Kim Động – tỉnh Hưng Yên.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước của công
chức cấp xã tại Huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước của công chức cấp xã trên
địa bàn Huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Chủ thể là các công chức xã và người dân địa phương.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Tìm hiểu thực trạng và đánh giá năng lực quản lý nhà nước
của chức danh công chức xã huyện Kim Động, phân tích các yếu tố ảnh hưởng từ

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 3


đó đưa ra một số giải pháp nâng cao năng lực quản lý công chức cấp xã tại
Huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu 3 xã, thị trấn, cụ thể là: Thị
trấn Lương Bằng, xã Hiệp Cường, xã Thọ Vinh.
- Về thời gian nghiên cứu: Đề tài thu thập số liệu thứ cấp trong thời gian
từ năm 2012 đến năm 2013 và số liệu điều tra năm 2014.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 4


PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Quản lý nhà nước và quản lý nhà nước cấp xã
2.1.1.1 Khái niệm quản lý
Từ khi xã hội loài người xuất hiện, nhu cầu tổ chức, điều hành xã hội cũng
hình thành như một tất yếu lịch sử. Trong lịch sử, trình độ, tính chất quản lý xã
hội phát triển từ thấp đến cao theo sự phát triển của xã hội. Xã hội được quản lý
tốt bằng những cơ chế, biện pháp tiến bộ thì ổn định, không ngừng phát triển và
ngược lại. Hiện nay có nhiều cách giải thích khác nhau về thuật ngữ quản lý. Có
quan niệm cho rằng quản lý là hành chính, là cai trị. Có quan niệm khác lại cho
rằng quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy. Các cách nói này nhìn chung
không có gì khác nhau về nội dung mà chỉ khác về cách dùng thuật ngữ, khác về
cách diễn giải. Quản lý được hiểu theo hai góc độ: một là góc độ tổng hợp mang
tính chính trị xã hội; góc độ khác mang tính hành động thiết thực. Hai quan niệm
này đều có cơ sở khoa học và thực tế. Nhìn chung, quản lý thể hiện việc tổ chức,
điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện, tài chính… trên cơ sở kết hợp
các yếu tố đó với nhau nhằm đạt được mục tiêu.
Dưới góc độ xã hội học, quản lý là một khái niệm chỉ chức năng của các
hệ thống có tính tổ chức, chức năng này có trong giới sinh học, trong đời sống xã
hội và trong quản lý kĩ thuật. Quản lý nói chung là chức năng nhằm bảo vệ và
duy trì các cơ cấu xác định của một tổ chức, đồng thời duy trì chế độ hoạt động
thực hiện một chương trình và một mục đích của hoạt động đã được ý thức hoá
của một tập đoàn người, của một tổ chức xã hội hoặc của một cá nhân nào đó với
tư cách là một chủ thể của hoạt động quản lý.
Tóm lại, khái niệm quản lý có thể được hiểu là: Sự tác động liên tục, có
tổ chức, có ý thức hướng mục đích của chủ thể vào đối tượng nhằm đạt được
hiệu lực tối ưu so với yêu cầu đặt ra hoặc quản lý là sự tác động có ý thức của
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 5


quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và
phù hợp với quy luật khách quan(Bùi Ngọc Oánh, 1995).
Mô hình hoạt động quản lý
Liên hệ trực tiếp
Lệnh từ cấp trên

Chủ thể

Đối tượng

Liên hệ ngược (thông tin phản hồi) (Bùi Ngọc Oánh, 1995).
Trong khuôn khổ của đề tài, khái niệm quản lý được cụ thể hoá với chủ
thể là đội ngũ công chức cấp xã, đối tượng quản lý là quần chúng nhân dân trên
địa bàn xã.
2.1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà
nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) thực thi quyền lực nhà nước, thông qua
các văn bản quy phạm pháp luật.
Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, sử
dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hoạt động của con
người. Quản lý nhà nước khác với dạng quản lý của các chủ thể khác ở chỗ các
chủ thể này không dùng quyền lực pháp luật của nhà nước để điều chỉnh các quan
hệ quản lý mà chỉ dùng phương thức giáo dục, vận động quần chúng. Quản lý nhà
nước cũng có nội dung như quản lý hành chính nhà nước vì hành chính nhà nước
là một dạng hoạt động tổ chức và điều hành để thực hiện quyền lực nhà nước.
Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động hành chính của các cơ quan
thực thi quyền lực nhà nước (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh
vực của đời sống xã hội theo pháp luật. Đó là Chính phủ và các cơ quan chính
quyền địa phương các cấp, không kể các tổ chức thuộc nhà nước nhưng không
nằm trong cơ cấu quyền lực như các doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 6


Quyền hành pháp có hai nội dung: một là lập quy, được thực hiện bằng việc ra
văn bản pháp quy, quy phạm pháp luật để chấp hành luật, hai là quản lý hành
chính tức là tổ chức, điều hành, phối hợp các hoạt động kinh tế xã hội để đưa luật
pháp vào đời sống.
Hoạt động quản lý nhà nước là điều chỉnh các quá trình xã hội và hoạt
động của con người bằng quyền lực của nhà nước. Hoạt động đó thể hiện bằng
các quyết định của các cơ quan nhà nước dưới hình thức các văn bản pháp lý.
Trong đó, các nguyên tắc, quy tắc, tiêu chuẩn, biện pháp được quy định chặt chẽ
để không ngừng đáp ứng sự phù hợp giữa chủ thể và khách thể quản lý, bảo đảm
sự cân đối hài hoà về sự phát triển của quá trìnhh xã hội (Bùi Ngọc Oánh, 1995).
2.1.1.3 Khái niệm năng lực quản lý nhà nước của công chức cấp xã
Năng lực, hiểu một cách chung nhất, là những phẩm chất giúp con người
thực hiện có kết quả một loạt hoạt động nào đó. Năng lực khi chưa bộc lộ, còn ẩn
giấu, chưa thành hiện thực, được coi là tiềm năng. Khi năng lực có thể xuất hiện
trong những điều kiện nhất định, được gọi là khả năng. Đánh giá về năng lực của
một người không hề đơn giản. Nếu tiềm năng không đạt mức khả năng hoặc khả
năng không phù hợp với môi trường hay điều kiện hoạt động cụ thể, thì khó có
nhận định xác thực về năng lực của người đó. Cách tốt nhất là đánh giá qua kết
quả thực hiện nhiệm vụ cụ thể được giao trong những hoàn cảnh cụ thể. Không
thể chỉ căn cứ vào bằng cấp (tiềm năng) hoặc lời nói hoa mỹ (khả năng) mà đã
vội cho rằng một người nào đó có năng lực. Trong thực tế, có người đạt được kết
quả trong công việc một cách ngẫu nhiên, do nhân tố khách quan phù trợ chẳng
hạn. Nhưng sau đó, tuy làm việc nhiều năm, kết quả vẫn không cao, thì thực chất
của bằng cấp, tiềm năng, có thể có vấn đề.
Thông thường, theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, năng lực bao gồm
ba thành tố cơ bản là kiến thức, kỹ năng và hành vi. Kiến thức là những hiểu biết
chung nhất và những hiểu biết chuyên sâu về một lĩnh vực cụ thể. Kiến thức có
thể có được thông qua đào tạo, bồi dưỡng hoặc tự đào tạo, bồi dưỡng bằng cách
học tập ở các trường, lớp hoặc trải nghiệm qua hoạt động thực tiễn; Kỹ năng là
sự thành thạo trong việc áp dụng các kỹ thuật, phương pháp và công cụ để giải

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 7


quyết công việc. Một năng lực bao gồm nhiều kỹ năng và kỹ năng có thể lĩnh hội
được thông qua các tình huống thực tế hoặc mô phỏng thực tế. Điều đó có nghĩa
là kỹ năng chỉ có thể được hình thành thông qua thực tế làm việc với ý đồ chủ
động áp dụng các phương pháp và công cụ cụ thể; Hành vi là toàn bộ những phản
ứng, thái độ, cách cư xử của con người trong một hoàn cảnh cụ thể. Cũng như kỹ
năng, chúng được hình thành và bộc lộ trong quá trình làm việc, giao tiếp. Muốn
có hành vi đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi mỗi người phải có nhận thức đúng đắn
về tầm quan trọng của công việc được giao đảm nhiệm.
Muốn nâng cao năng lực, nếu chỉ được trang bị kiến thức và rèn luyện kỹ
năng thì chưa đủ, mà cần phải có hành vi phù hợp.
Quản lý, theo cách hiểu chung nhất, bao gồm các thành tố kế hoạch hóa,
tổ chức, công tác nhân sự, lãnh đạo và kiểm tra. Kế hoạch hóa là xây dựng các
mục tiêu, tiêu chuẩn, các yêu cầu và các trình tự thực hiện kế hoạch, cũng như dự
báo hướng phát triển; Tổ chức là giao nhiệm vụ cho cấp dưới quyền; thành lập
các bộ phận; quyết định và bố trí người lãnh đạo đối với cấp dưới quyền; hình
thành các kênh lãnh đạo và giao tiếp; phối hợp công việc với người dưới quyền;
Công tác nhân sự (hay quản lý nguồn nhân lực) là xác định loại người cần sử
dụng; lưu giữ những người có triển vọng; lựa chọn nhân sự; xây dựng bộ tiêu
chuẩn nhân sự; trả công/lương; đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ; tư vấn về
nhân sự; đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nhân sự; Lãnh đạo là yêu cầu người
khác hoàn thành công việc được giao; duy trì đạo đức, phẩm hạnh trong đơn vị;
động viên, khích lệ cấp dưới quyền; Kiểm tra là so sánh, đối chiếu kết quả thực
hiện công việc với các tiêu chuẩn đã được chấp nhận (về hoàn thành một nhiệm
vụ chẳng hạn); đề xuất những chỉnh sửa (nếu cần).
Như vậy, năng lực quản lý có thể được xem là năng lực về kế hoạch hóa,
tổ chức, công tác nhân sự, lãnh đạo và kiểm tra. Song do tính đặc thù của cấp xã,
phường, thị trấn (gần dân, trình độ hiểu biết của người dân khác nhau, không gì
có thể qua mắt người dân, v.v.), nên yêu cầu về từng mặt trong năng lực quản lý
của công chức xã có khác nhau về mức độ yêu cầu (Đỗ Ngọc Ninh, 2004).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 8


2.1.2 Công chức cấp xã, vai trò, vị trí và tiêu chí đánh giá của công chức cấp xã
2.1.2.1 Công chức cấp xã
- Công chức: Ở nước ta, ngay từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thành
công, Hiến pháp năm 1946 ra đời là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng chế độ
công chức mới. Ngày 20 - 5 - 1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh
76/ SL về thực hiện quy chế công chức.
Sắc lệnh đã chỉ rõ: “Công chức là những công dân Việt Nam được chính
quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính
phủ ở trong hay ở ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ trường
hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”(Hồ Chí Minh toàn tập, 1950).
Sau 1954 miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam tiếp tục tiến
hành cách mạng giải phóng dân tộc. Thời kỳ này tuy không có văn bản nào bãi
bỏ sắc lệnh 76/SL về quy chế công chức Việt Nam, nhưng thuật ngữ công chức
được thay thế bằng thuật ngữ cán bộ, công nhân, viên chức.
Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số
169/HĐBT quy định về công chức Nhà nước như sau: “Công chức là công dân
Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một
công sở Nhà nước ở trung ương, địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã
được xếp vào một ngạch, bậc, hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp” (Hội
đồng Bộ trưởng, 1991).
Điều 4 Luật cán bộ, công chức quy định: Công chức là công dân Việt
Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan
của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức CT-XH ở Trung ương, cấp
tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải
là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn
vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp
và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức CT - XH, trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn
vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp
công lập theo quy định của pháp luật (Luật Cán bộ công chức, 2008).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 9


Cũng theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, tại khoản 3 Điều 4 quy
định: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức
danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách Nhà nước (Luật Cán bộ công chức, 2008).
Theo Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chế
độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn thì công chức chính
quyền xã, thị trấn gồm các chức danh sau:
+ Trưởng Công an
+ Chỉ huy trưởng Quân sự;
+ Văn phòng - Thống kê;
+ Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị
trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã);
+ Tài chính - Kế toán;
+ Tư pháp - hộ tịch;
+ Văn hoá – xã hội.
2.1.2.2 Vai trò, vị trí của công chức cấp xã
Tổng kết những năm đầu của cách mạng (1917-1922), V.I. Lênin đã khẳng
định: “Nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh. Hiện nay đó là then
chốt; nếu không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định chỉ là mớ giấy lộn”.
“Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị,
nếu nó không đào tạo ra hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại
biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến cán bộ, coi đây là vấn đề
then chốt. Người đánh giá: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Công việc
thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”.
Đảng ta luôn coi cán bộ có vai trò quyết định đối với sự nghiệp cách
mạng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa VII) khẳng định trong công cuộc
đổi mới đất nước thì: “Cán bộ hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới.
Cán bộ nói chung có vai trò rất quan trọng, cán bộ cơ sở nói riêng có vị trí nền
tảng cơ sở. Cấp cơ sở là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương đường lối

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 10


của Đảng và pháp luật của nhà nước. Chất lượng và hiệu quả thực thi pháp luật
nột phần được quyết định bởi sự triển khai ở cơ sở. Cấp cơ sở là cấp trực tiếp gắn
với quần chúng; tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng. Cơ sở xã, phường,
thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chât lượng đội ngũ
cán bộ xã, phường, thị trấn.
Đội ngũ cán bộ, công chức có vị trí, vai trò quan trọng đối với cơ quan, tổ
chức. Trong đó công chức là thành viên, là phần tử cấu thành của tổ chức bộ
máy. Cán bộ, công chức có quan hệ mật thiết với tổ chức và quyết định mọi sự
hoạt động của tổ chức. Hiệu quả hoạt động trong tổ chức và quyết định mọi sự
hoạt động của tổ chức. Hiệu quả hoạt động trong tổ chức, bộ máy phụ thuộc vào
cán bộ, công chức. Cán bộ công chức có trình độ, có đạo đức nghề nghiệp, tâm
huyết, có trách nhiệm với công việc được giao sẽ làm cho cơ quan, đơn vị mình
hoạt động tốt, dẫn đến bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng; cán bộ, công
chức trình độ quản lý yếu kém, năng lực hạn chế, quan liêu, cửa quyền… sẽ làm
cho bộ máy tê liệt: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền
không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt” (Hồ
Chí Minh toàn tập, 2000).
Cán bộ, công chức nói chung có vai trò rất quan trọng, cán bộ, công chức
cấp xã nói riêng, có vị trí nền tảng cơ sở. Cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức thực
hiện mọi chủ trương đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Chất lượng
và hiệu quả thực thi pháp luật một phần được quyết định bởi sự triển khai ở cơ
sở. Cấp xã là cấp trực tiếp gắn với quần chúng tạo dựng phong trào cách mạng
quần chúng. Vì vậy, cơ sở xã, phường mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ
thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ xã, phường.
Những năm vừa qua cũng đã chỉ ra rằng sự thành công hay thất bại của
Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế xã hội ở cơ sở phụ thuộc rất lớn
vào đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, phường (gọi chung là cán bộ, công chức
cấp xã). Tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức này quyết định khả năng
hiện thực hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước vì cán
bộ, công chức xã, phường vừa là người đại diện cho Đảng và Nhà nước trong
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 11


việc quản lý, điều hành mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh
ở cơ sở; là người trực tiếp lãnh đạo, tổ chức thực hiện các chủ trương đường lối
của Đảng, thực thi quyền hành pháp cũng như tiến hành tổ chức, triển khai các
chương trình kinh tế xã hội ở địa phương. Mặt khác cán bộ, công chức xã,
phường cũng là người thường xuyên chăm lo đến mọi mặt trong đời sống, cả vật
chất và tinh thần tới mọi người dân; là người đại diện cho ý chí, quyền lợi của
nhân dân địa phương, luôn đấu tranh và bảo vệ mọi quyền lợi chính đáng của
người dân khi bị vi phạm. Như Hồ Chủ tịch đã từng nói: Cán bộ vừa là người
lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Cán bộ, công chức xã là
đội ngũ thể hiện cụ thể và trực tiếp nhất nội dung này.
Ngoài những vị trí, vai trò trên cán bộ, công chức cấp xã còn có vị trí, vai
trò thể hiện những phương diện sau đây: Cán bộ, công chức cấp xã là người am
hiểu các phong tục tập quán truyền thống của địa phương, là nơi tập hợp được
khối đại đoàn kết toàn dân ở cơ sở, là nơi phát huy tính tự quản cộng đồng dân
cư. Như Nguyễn Trãi đã đúc kết: Người đẩy thuyền cũng là dân, người lật thuyền
cũng là dân… Vì vậy, việc tập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân ở cơ sở là rất
quan trọng, quyết định đến hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở; Cán bộ,
công chức cấp xã vừa là người đại diện cho Nhà nước, vừa là người đại diện
cộng đồng, vừa là người cùng làng, cùng họ, vừa là người dân, là người gần dân
nhất nên thực tế cho thấy, ở đâu cán bộ, công chức cấp xã hiểu dân, nắm bắt kịp
thời tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của dân, giải quyết kịp thời những vướng
mắc, đề nghị của nhân dân; cán bộ, công chức cấp xã gương mẫu, không quan
liêu, hách dịch, cửa quyền thì ở đó tình hình an ninh - chính trị, kinh tế - xã hội sẽ
ổn định; Cán bộ, công chức cấp xã là người trực tiếp giải quyết những yêu cầu,
những thắc mắc chính đáng của nhân dân.
Tóm lại, cán bộ, công chức cấp xã là người có vị trí, vai trò quan trọng
trong việc ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội ở cấp cơ sở, tăng cường
khối đại đoàn kết toàn dân, tạo điều kiện phát huy tính tự quản trong cộng đồng
dân cư.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 12


2.1.2.3 Tiêu chí đánh giá công chức cấp xã
Thứ nhất, Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước: Người công chức luôn chấp hành tốt đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước. Tuyệt đối trung thành
với mục tiêu lý tưởng cách mạng của Đảng, nói và làm theo hiến pháp và pháp
luật của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Là người trực tiếp đưa các
chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Người công chức
phải thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có tinh
thần cương quyết đầu tranh chống lại các quan điểm lệch lạc, sai trái hoặc chống
đối những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các hành
vi xâm phạm quyền lợi chính đáng của nhân dân.
Thứ hai, về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm
việc là tiêu chí là yêu cầu cơ bản nhất đối với cán bộ, công chức. Phẩm chất
chính trị là lòng nhiệt tình cách mạng, lòng trung thành tuyệt đối với lý tưởng của
Đảng, với Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh thần tận tụy với
công việc, hết lòng hết sức vì sự nghiệp của nhân dân; là bản lĩnh chính trị vững
vàng, kiên định với mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta đã
đề ra.
Phẩm chất chính trị của công chức cấp xã được biểu hiện trước hết là sự
tin tưởng tuyệt đối đối với lý tưởng cách mạng, kiên định với mục tiêu độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng
ta đã lựa chọn, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước, không dao động trước những khó khăn, thử thách, trước
những cám dỗ. Đồng thời phải có biện pháp để đường lối đó đi vào thực tiễn
cuộc sống của nhân dân địa phương.
Công chức cấp xã có phẩm chất chính trị tốt là người gương mẫu chấp
hành tốt những chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà
nước; tích cực tuyên truyền, vận động gia đình và nhân dân cùng thực hiện theo.
Là người luôn có trách nhiệm với công việc mà mình được giao; luôn tìm tòi cái

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 13


mới, cái sáng tạo, tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn ở cơ sở, từng bước nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, một lòng phục vụ Nhà nước, phục
vụ nhân dân; Phẩm chất chính trị của công chức cấp xã còn biểu hiện thông qua thái
độ phục vụ nhân dân, tinh thần gương mẫu trong công tác, tinh thần trách nhiệm đối
với đời sống của nhân dân tại địa phương (Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2011).
Về phẩm chất đạo đức, lối sống: Công chức cấp xã là người trực tiếp làm
việc và sinh hoạt cùng với người dân. Cho nên đạo đức của người công chức sẽ
có tác động rất lớn đối với người dân, có ảnh hưởng rất lớn đối với hiệu quả quản
lý nhà nước của chính quyền xã, thị trấn. Nếu công chức có đầy đủ các phẩm
chất: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư thì nhân dân sẽ tin tưởng họ, tin
tưởng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, từ đó nhân dân tự giác thực hiện
đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước. Ngược
lại, nếu công chức không có đủ các phẩm chất trên thì sẽ bị mất niềm tin của
nhân dân, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, họ trở thành sâu mọt của dân.
Công chức cấp xã không chỉ tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước mà còn phải là người gương mẫu,
tiên phong trong việc chấp hành các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật
đó, họ phải nói đi đôi với làm, họ phải là tấm gương sáng để nhân dân noi theo
như Bác Hồ đã dạy: Một tấm gương sáng còn giá trị hơn một triệu bài diễn văn
tuyên truyền.
Người công chức có đạo đức cách mạng là người phải tích cực đấu tranh
chống lại các tiêu cực của xã hội như: tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hóa,
sa sút về đạo đức, lối sống chạy theo địa vị danh lợi, tranh giành kèn cựa lẫn
nhau mất đoàn kết nội bộ, dối trá, lười biếng, suy thoái về tư tưởng chính trị, phai
nhạt lý tưởng cách mạng.
Công chức cấp xã muốn được dân tin yêu (nói dân nghe, làm dân tin)
ngoài phải tu dưỡng về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thì phải thường xuyên
rèn luyện tu dưỡng đạo đức trong mọi lúc, mọi nơi như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
từng nói: “đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó đấu tranh rèn
luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng
sáng, càng luyện càng trong” (Hồ Chí Minh toàn tập, 1995)

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 14


Đây là phẩm chất rất quan trọng đối với công chức cấp xã, nó là cái gốc của
người cán bộ. Người cán bộ, công chức phải có đầy đủ đạo đức cách mạng thì mới
có đủ điều kiện để phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, phục vụ Đảng. Nếu thiếu
hoặc yếu kém đạo đức cách mạng sẽ không thể làm tốt công việc được giao và nó
là nguyên nhân của tệ quan liêu, tham nhũng tạo nên nguy cơ đe dọa đến sự tồn
vong của Đảng, sự sống còn của chế độ. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh rất coi trọng
đạo đức cách mạng. Người viết: Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không
có nguồn thì cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng
phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được
nhân dân.” Người cũng giải thích rõ “Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng
cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn
bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì? (X.Y.Z, 2008).
Người công chức có tinh thần đạo đức cách mạng là người cán bộ hội tụ
đủ năm đức tính, đó là: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm. Những đức tính tốt đẹp
đó phải thể hiện ra bên ngoài trong công việc hàng ngày của người cán bộ, công
chức, thể hiện qua công tác điều hành, quản lý, qua thái độ tiếp xúc với dân,
trong quan hệ đồng chí, đồng nghiệp, thể hiện trong năng lực, trách nhiệm đối
với công việc mình được giao, trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ, không
tham địa vị, tiền tài, và luôn trau dồi kiến thức, ham làm, ham tiến bộ…
Ngoài ra, công chức phải luôn có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần tập
thể, khiêm tốn, giản dị, trung thực, không cơ hội, có nếp sống văn minh, nêu
gương cho quần chúng. Như vậy, mới tạo lòng tin cho nhân dân, thuyết phục
được nhân dân tin tưởng đi theo đường lối mà Đảng ta đã đề ra.
- Về tác phong và lề lối làm việc, Cán bộ, công chức phải có tác phong
nhanh gon, làm việc khoa học, logic, phải luôn gần gũi với nhân dân; có tác
phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn
mực, rõ ràng, mạch lạc, không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền
hà cho nhân dân khi thi hành công vụ.
Thứ ba, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ (năng lực lãnh đạo, quản
lý; trình độ học vấn; trình độ chính trị; trình độ chuyên môn nghiệp vụ; trình độ
quản lý hành chính nhà nước; trình độ tin học) (Nguyễn Kim Diện,2006).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 15


Năng lực lãnh đạo, quản lý là tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng của
đội ngũ cán bộ, công chức. Năng lực đầu tiên mà Hồ Chủ tịch đòi hỏi ở người
cán bộ cách mạng là năng lực lãnh đạo quản lý, là khả năng tổ chức động viên
quần chúng thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước. Vì cán bộ là cầu nối, là người đem chính sách của Đảng, của Nhà
nước đến với dân, nên đòi hỏi cán bộ phải có năng lực này. Và để tuyên truyền
thực hiện tốt đường lối của Đảng và Nhà nước trong quần chúng, đòi hỏi cán bộ
phải có năng lực thực hành dân chủ, nghĩa là phải có mối quan hệ mật thiết với
quần chúng, tin ở quần chúng và học hỏi ở chính quần chúng, “không học hỏi thì
không lãnh đạo được dân” và phải cần có sự giúp đỡ của dân, vì “dân chúng
đồng lòng việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng
không nên”.
Theo Hồ Chí Minh, năng lực tổ chức thực hành của người cán bộ thể hiện
ở những điểm là: quyết định vấn đề một cách cho đúng, tổ chức thi hành cho
đúng và tổ chức kiểm soát cho đúng. Để quyết định vấn đề một cách cho đúng
cần phải có năng lực, trí tuệ, nắm được thông tin và xử lý thông tin, đưa ra
phương án để lựa chọn, quyết định.
Trình độ học vấn (trình độ văn hóa) là một trong những yếu tố quyết định
hiệu quả hoạt động của cán bộ, công chức cơ sở vì nó sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt
động quản lý của đội ngũ cán bộ. Trình độ học vấn là nền tảng cho việc nhận
thức, là nền tảng cho việc đào tạo trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý
luận chính trị… Hạn chế về trình độ học vấn sẽ hạn chế về khả năng nhận thức
dẫn đến năng lực tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, các quy định của
pháp luật hạn chế, việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, công chức cấp
xã, thị trấn cũng bị cản trở. Do đó trình độ học vấn là tiêu chí quan trọng để đánh
giá năng lực quản lý nhà nước của cán bộ, công chức cấp xã.
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ được
hiểu là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nhất định được biểu hiện qua
những cấp độ: Sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sĩ. Đây là những
kiến thức mà cán bộ, công chức cấp xã cần được đào tạo để giải quyết công việc

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 16


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×