Tải bản đầy đủ

Bồi dưỡng thường xuyên mô đun 20, 28, 34, 41 tiểu học

Bài thu hoạch BDTX (2016-2017)

Trường Tiểu học Cư Pui 1

MÔ ĐUN 20: KIẾN THỨC, KĨ NĂNG TIN HỌC CƠ BẢN
Tin học là ngành khoa học nghiên cứu các phương pháp, công nghệ và quá
trình xử lí thông tin một cách tự động dựa trên các phương tiện kĩ thuật, mà chủ yếu là
máy tính điện tử.
Một trong những ứng dụng của tin học vào giáo dục là ứng dụng phần mềm
soạn thảo văn bản Microsoft Word. Đây là một chương trình soạn thảo văn bản đa
năng cung cấp một lượng lớn các tính năng độc đáo và đa dạng. Các công việc có thể
làm trong phạm vi của Word bao gồm từ việc soạn thảo các tài liệu đơn giản như thư
từ, văn bản đến việc tạo ra các ấn phấm chuyên nghiệp như sách, báo, tạp chí, giáo án,
bài giảng...
1. Khái niệm thông tin và tin học
a) Thông tin
Ngày nay, thuật ngữ thông tin được sử dụng khá phổ biến. Người ta có nhu cầu
đọc báo, xem truyền hình, giao tiếp với người khác,... để có thông tin. Thông tin mang
lại cho con người sự hiểu biết, nhận thức tốt hơn, đúng hơn về những đối tượng trong
tự nhiên, xã hội,...
Thông tin có thể được phát sinh và được lưu lại trong một giá mang tin nào đó.

Thông tin có thể được truyền từ một giá mang tin này sang một giá mang tin khác.
Như vậy, thông tin có thể được nhân bản và khi nhân bản thì ý nghĩa của thông tin
không hề suy giảm.
Thông tin theo nghĩa thông thường là cơ sở để hiểu biết về một đối tượng.
Trong đời sống con người, nhu cầu thông tin là một nhu cầu rất cơ bản, và không
ngừng tăng theo sự gia tăng các mối quan hệ trong xã hội.
Tuy nhiên, thông tin cũng là một khái niệm trừu tượng, tồn tại khách quan và
có liên quan chặt chẽ đến khái niệm về độ bất định. Mỗi đối tượng chưa xác định hoàn
toàn đều có một độ bất định nào đó. Tính bất định này chưa cho phép nhận diện chính
xác và đầy đủ về đối tượng đó. Độ bất định của một đối tượng sẽ giảm đi khi có thêm
thông tin bổ sung.
Dữ liệu (data) là hình thức thể hiện của thông tin trong mục đích lưu trữ và xử lí
nhất định. Thuật ngữ “dữ liệu” chúng ta dùng hiện nay có nguồn gốc từ chữ Hán –
Việt với ý nghĩa là cái đã cho. Về mặt lịch sử, khái niệm dữ liệu xuất hiện cùng lúc với
việc xử lí thông tin bằng máy tính. Vì thế, trong nhiều tài liệu người ta định nghĩa dữ
liệu là đối tượng xử lí của máy tính. Thông tin luôn mang một ý nghĩa xác định nhưng
hình thức thể hiện của thông tin rõ ràng mang tính quy ước.
Tri thức có ý nghĩa khái quát hơn thông tin. Những nhận thức thu nhận được từ
nhiều thông tin trong một lĩnh vực cụ thể nào đó, có tính hướng mục đích mới trở
thành tri thức. Như vậy, tri thức là mục đích của nhận thức trên cơ sở tiếp nhận thông
tin. Quá trình tiếp nhận thông tin chính là quá trình nhận thức để có tri thức.
Ta có thể nhận ra thông tin nhờ giác quan của mình hoặc phương tiện máy móc.
Ta có thể hiểu nghĩa thông tin nhờ khả năng giải thích và suy luận. Ta có thể lưu trữ
thông tin trong não, giấy tờ, băng từ,…
1

Võ Thị Cầm Thi


Bài thu hoạch BDTX (2016-2017)

Trường Tiểu học Cư Pui 1

b) Tin học
Tin học là ngành khoa học nghiên cứu các phương pháp, công nghệ và quá
trình xử lí thông tin một cách tự động dựa trên các phương tiện kĩ thuật mà chủ yếu
hiện nay là máy tính điện tử. Như vậy, khía cạnh khoa học của tin học chính là phương
pháp. Còn khía cạnh kĩ thuật của tin học chính là công nghệ chế tạo máy tính điện tử
cũng như sản xuất các chương trình (phần mềm) hệ thống, tiện ích và ứng dụng.
Hiện nay người ta dùng thuật ngữ Công nghệ thông tin có tính bao quát hơn.

Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kĩ
thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lí, lưu trữ và trao đổi thông tin số.
Thông tin số là thông tin được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số.
Cũng như các ngành khoa học kĩ thuật khác, tin học cũng nhàm mục tiêu tạo ra
giá trị cho xã hội. Tin học thực hiện việc này bằng hai cách:
Cách gián tiếp: Tin học được ứng dụng vào các ngành sản xuất và kinh tế hiện
có làm tăng hiệu quả của các ngành này. Phần tăng thêm đó là giá trị mà tin học tạo
nên cho xã hội. Bất cứ nước nào cũng có những vấn đề cần ứng dụng tin học để giải
quyết: đó là các vấn đề về tổ chức và quản lí, kinh tế, xã hội như tính toán kế hoạch, tổ
chức dịch vụ và kinh doanh. Vấn đề có hay không có thông tin, khai thác tốt hay
không tốt nguồn tin có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế của một đất nước.
Thông tin là của cải và tin học giúp con người khai thác nguồn của cải đó, làm thay
đổi cơ cấu hợp thành của các phần giá trị do các khu vực khác nhau tạo ra trong một
nền kinh tế, phần giá trị do tin học đưa lại ngày càng chiếm một tỉ lệ lớn trong tổng thu
nhập quốc dân.
Cách trực tiếp: Tin học với tư cách là một ngành công nghiệp cũng sản xuất ra
các sản phẩm của mình tức là máy tính điện tử và những chương trình giúp máy hoạt
động. Như vậy, tin học đem lại cho ta những phần giá trị bằng cách ứng dụng ngành
khoa học này vào sản xuất và kinh tế bởi chính sản phẩm của ngành công nghiệp tin
học.
2. Vai trò của thông tin và tin học
Thông tin cần thiết cho mọi hoạt động và nó có các vai trò sau:
Thứ nhất: Thông tin góp phần làm tăng sự hiểu biết
Sự gia tăng hiểu biết của con người, sự gia tăng lượng thông tin cho máy được
thực hiện nhờ việc truyền tin giữa người với người, người với máy, máy với người
hoặc máy với máy.
Thứ hai: Thông tin là căn cứ cho mọi quyết định
Thứ ba: Thông tin góp phần ổn định trật tự xã hội
3. Quá trình xử lí thông tin
Trong hoạt động thực tiễn hằng ngày, con người luôn phải xử lí thông tin để đi
đến những quyết định hợp lí, phù hợp với mục đích sử dụng. Ngoài những việc nhận
và xuất thông tin, con người phải thực hiện những hoạt động với thông tin mà ta gọi là
xử lí thông tin. Hoạt động xử lí thông tin diễn ra hằng ngày, ngay cả khi thực hiện
những việc đơn giản.
Một quá trình xử lí thông tin được biểu diễn bởi sơ đồ sau:
2

Võ Thị Cầm Thi


Bài thu hoạch BDTX (2016-2017)

Đưa tin vào

Trường Tiểu học Cư Pui 1

Xử lí tin:
- Biến đổi tin.
- Điều khiển.
- Ghi nhớ tin.

Đưa tin ra

Năm chức năng của quá trình xử thông tin như trên có thể do con người tự mình
thưc hiện hoàn toàn hoặc với sự trợ giúp của phương tiện máy móc. Trong xã hội hiện
đạu, mối quan hệ giữa các sự vật ngày càng trở nên phức tạp. Một khi sự phức tạp đã
vượt quá khả năng bao quát của bộ óc con người thì nhu cầu sử dụng máy móc tự động
hỗ trợ cho hoạt động xử lí thông tin ngày càng trở nên cần thiết.
Máy tính điện tử ra đời chính là để đáp ứng nhu cầu đó. Nhưng không một máy
nào có thể thực hiện đầy đủ tất cả năm chức năng kể trên nếu không có sự gia công
chuẩn bị trước của con người. Muốn chuyển việc xử lí thông tin cho máy, con người
phải phân tích quá trình điều khiển thành những bước nhỏ, thành từng thao tác theo
một trình tự nhất định sao cho máy có thể theo đó mà thực hiện.
Nói cách khác, con người phải xây dựng chương trình điều khiển, những việc
còn lại thì có thể chuyển giao cho những phương tiện kĩ thuật. Vị trí của máy tính điện
tử chính là ở chỗ này. Với chương trình điều khiển do con người lập nên, máy tính
điện tử có thể thực hiện toàn bộ phần việc còn lại của quá trình xử lí thông tin một
cách tự động. Những thông tin và quá trình xử lí thông tin tự động bằng máy tính điện
tử là đối tượng của ngành khoa học gọi là tin học.
Một số hệ đếm thường được sử dụng trong tin học để biểu diễn thông tin trong
máy tính điện tử như: hệ nhị phân, hệ thập phân, hệ cơ số 8, hệ cơ số 16.
4. Nguyên tắc hoạt động của máy tính điện tử
Điều khiển bằng chương trình: Máy tính điện tử hoạt đông dựa trên nguyên tắc
làm việc theo chương trình. Công việc của máy tính điện tử là thực hiện từng dãy thao
tác xác định bởi bộ xử lí trung ương. Việc thực hiện này được điều khiển bởi chương
trình được lưu trữ trong bộ nhớ. Chương trình gồm những lệnh riêng lẻ quy định cho
bộ xử lí trung ương phải thực hiện những thao tác trên những thông tin ghi trong bộ
nhớ.
Truy nhập theo địa chỉ: Dữ liệu theo nghĩa rộng (dữ liệu vào, kết quả trung
gian, kết quả cuối cùng, chương trình, …) được lưu trữ trong RAM tại những vùng
nhớ được định vị bằng các số thứ tự xác định được gọi là địa chỉ. Dữ liệu được chỉ
định hoặc truy cập theo địa chỉ ô nhớ của chúng.
Hai nội dung trên là cơ sở cho việc điều khiển hoạt động được thực hiện ngay
trong máy, đảm bảo cho máy tính điện tử thực hiện được chức năng xử lí thông tin một
cách tự động.
Máy tính điện tử hoạt động dựa vào hai phần: phần cứng, phần mềm.
Phần cứng: Là toàn bộ các thiết bị vật lí, kĩ thuật của máy tính điện tử như màn
hình, bộ trung tâm, bàn phím, ổ đọc đĩa, máy in,... Thay đổi phần cứng là thay đổi kết
cấu. Người dùng không nhất thiết phải biết phần cứng hoạt động như thế nào.
3

Võ Thị Cầm Thi


Bài thu hoạch BDTX (2016-2017)

Trường Tiểu học Cư Pui 1

Phần mềm: Là các chương trình chạy trên máy tính, bao gồm hệ điều hành, các
chương trình ứng dụng, các chương trình tiện ích,... Chúng được gọi là phần mềm vì
các chương trình này có thể được cài đặt, thay đổi hay gỡ bỏ dễ dàng mà không làm
ảnh hưởng đến các thiết bị vật lí.
-------------------------------------------------------------MÔ ĐUN 28: KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ CÁC MÔN HỌC BẰNG ĐIỂM SỐ
KẾT HỢP VỚI NHẬN XÉT
Đổi mới kiểm tra, đánh giá cùng với các thành tố khác (mục tiêu, nội dung,
phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, quản lí, tổ chức thực hiện) tạo nên một
chỉnh thể của đổi mới giáo dục, trong đó đổi mới kiểm tra, đánh giá là một khâu then
chốt của quá trình đổi mới giảo dục phổ thông. Đổi mới kiểm tra, đánh giá tạo động
lực thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục,
đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục.
Chương trình giáo dục phổ thông – cấp Tiểu học (ban hành theo quyết định số
16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 05 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào
tạo) xác định rõ về đánh giá kết quả giáo dục tiểu học như sau:
1. Đánh giá kết quả giáo dục đối với học sinh ở các môn học và hoạt động giáo
dục trong mỗi lớp và cuối cấp nhằm xác định mức độ đạt được mục tiêu giáo dục, làm
căn cứ để điều chỉnh quá trình giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện, động viên, khuyến khích học sinh chăm học và tự tin trong học tập.
2. Đánh giá kết quả giáo dục các môn học, hoạt động giáo dục trong mỗi lớp và
cuối cấp cần phải:
- Đảm bảo tính toàn diện, khoa học, khách quan, trung thực.
- Căn cứ vào Chuẩn kiến thức kĩ năng và yêu cầu về thái độ cảu từng môn học
và hoạt động giáo dục ở từng lớp, từng cấp học để xây dựng công cụ thích hợp.
- Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì; giữa đánh giá của
giáo viên và tự đánh giá của học sinh; giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của
gia đình, cộng đồng.
- Kết hợp giữa hình thức trắc nghiệm khách quan, tự luận và các hình thức đánh
giá khác.
3. Các môn học Tiếng Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử & Địa lí được đánh giá
bằng điểm kết hợp với nhận xét của giáo viên; các môn học và hoạt động giáo dục
khác được đánh giá bằng nhận xét của giáo viên.
Chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học cũng xác định: “Chuẩn kiến thức
kĩ năng là các yêu cầu cơ bản tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của môn học, hoạt động
giáo dục mà học sinh cần phải và có thể đạt được. Chuẩn kiến thức kĩ năng được cụ
thể hóa ở các chủ đề của môn học theo từng lớp và cho cả cấp học. Yêu cầu về thái độ
được xác định cho từng lớp và cho cả cấp học. Chuẩn kiến thức kĩ năng là cơ sở để
biên soạn sách giáo khoa, quản lí dạy học, đánh giá kết quả giáo dục ở từng môn học,
hoạt động giáo dục nhằm đảm bảo tính thống nhất, tính khả thi của chương trình tiểu
học, đảm bảo chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục”.
4

Võ Thị Cầm Thi


Bài thu hoạch BDTX (2016-2017)

Trường Tiểu học Cư Pui 1

1. Đổi mới đánh giá kết quả học tập ở tiểu học thông qua đánh giá bằng điểm số
kết hợp với nhận xét
Việc đánh giá kết quả học tập bằng điểm số ở tiểu học có những ưu điểm và hạn
chế sau:
a) Ưu điểm
- Giáo viên đã sử dụng các loại hình đánh giá: thường xuyên, giữa học kì, cuối
học kì, cuối năm học.
- Biết kết hợp các loại hình đánh giá để phân loại học lực của học sinh.
- Nội dung đánh giá đã chú ý tới cả kiến thức, kĩ năng, thái độ.
- Một số giáo viên đã chú ý nhận xét từng bài làm của học sinh bên cạnh việc
cho điểm.
b) Hạn chế
- Nội dung đánh giá: Thiên về đánh giá khả năng ghi nhớ và tái hiện kiến thức.
- Cách đánh giá: Chỉ chú trọng đánh giá bằng điểm số mà thiếu nhận xét cụ thể.
Chưa chú trọng đánh giá từng cá thể. Đề kiểm tra chỉ tập trung vào trọng tâm của
chương trình, thiếu sự phân hóa theo năng lực học sinh.
- Công cụ đánh giá: Đề kiểm tra chủ yếu là kiểm tra viết với hình thức tự luận,
do đó còn thiếu khách quan (đánh giá phụ thuộc vào người chấm) và không thể bao
quát đủ những kiến thức, kĩ năng cơ bản của từng giai đoạn học tập. Các đề kiểm tra
chưa góp phần phân loại học lực học sinh một cách rõ rệt.
- Việc sử dụng kết quả đánh giá còn nhiều hạn chế. GV và nhà trường chỉ dùng
kết quả điểm số để phân loại học lực học sinh và xét thi đua.
- Người đánh giá: Giáo viên giữ độc quyền về đánh giá, học sinh là đối tượng
đánh giá.
c) Cách điều chỉnh
Với mục tiêu giáo dục tiểu học là đào tạo ra con người chủ động, sáng tạo, sớm
thích nghi với lao động, hòa nhập thế giới và góp phần phát triển cộng đồng, việc đánh
giá cần được đổi mới toàn diện và đồng bộ trên những mặt sau:
- Đổi mới mục đích đánh giá kết quả học tập
Thứ nhất, xác nhận kết quả học tập ở từng giai đoạn của quá trình học tập, ở các
môn học trong từng kì, từng năm học ở cấp Tiểu học theo từng lĩnh vực nội dung học
tập đã được quy định trong chuẩn môn học và trong chương trình tiểu học.
Thứ hai, cung cấp những thông tin chính xác, quan trọng về quá trình dạy học
các môn học cho giáo viên và ban giám hiệu nhà trường, cho các cán bộ quản lí môn
học ở những cơ quan quản lí giáo dục (phòng, sở, bộ). Trên cơ sở xử lí những thông
tin này, các cơ quan quản lí giáo dục có những quyết định đúng đắn, kịp thời tác động
tới việc dạy học các môn học nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh.
- Đổi mới nội dung đánh giá kết quả học tập
Nội dung đánh giá kết quả học tập phải bao quát đầy đủ những nội dung học tập
của môn học được quy định trong chương trình tiểu học và trong quy định về trình độ
chuẩn của các môn học. Chương trình có bao nhiêu hợp phần kiến thức và kĩ năng thì
cần đánh giá đủ hợp phần kiến thức và kĩ năng đó. Đề kiểm tra không những phải thể
5

Võ Thị Cầm Thi


Bài thu hoạch BDTX (2016-2017)

Trường Tiểu học Cư Pui 1

hiện đủ các kiến thức và kĩ năng mà còn phải thể hiện đúng mức độ của các kiến thức
kĩ năng thái độ học tập mà trình độ chuẩn quy định.
- Đổi mới cách đánh giá kết quả học tập
Khi đánh giá bằng điểm số, cần chú trọng đánh giá bằng lời và nhận xét cụ thể.
- Đổi mới công cụ đánh giá kết quả học tập
Có nhiều công cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinh. Mỗi công cụ
có những ưu thế riêng trong việc kiểm tra, đánh giá từng lĩnh vực nội dung học tập. Ở
tiêu học sử dụng chủ yếu hai công cụ đánh giá là: đề kiểm tra viết, trong đó sử dụng
các câu hỏi trắc nghiệm khách quan và tự luận; các loại mẫu quan sát thường xuyên
hoặc định kì.
2. Sự khác nhau trong cách đánh giá kết quả học tập các môn học bằng điểm số
trước đây và hiện nay
Đánh giá

Trước đây

Hiện nay

Mục đích

- Đánh giá để nhận định, chứng - Đánh giá để nhận định về kết
minh về kết quả học tập của học quả học tập của học sinh.
sinh.
- Đề xuất những biện pháp nhằm
cải thiện thực trạng, nâng cao
chất lượng học tập của học sinh.

Nội dung
đánh giá

- Đánh giá cả kiến thức, kĩ năng, - Chú trọng tới cả kiến thức, kĩ
thái độ nhưng thiên về khả năng năng, thái độ. Kết hợp giữa đánh
tái hiện kiến thức.
giá khả năng tái hiện kiến thức
và khả năng sáng tạo của học
sinh.

Cách
đánh giá

- Đánh giá bằng điểm.
- Đánh giá bằng điểm (Tiếng
- Đánh giá mang nặng tính đồng Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử &
Địa lí) và đánh giá bằng nhận xét
loạt.
(các môn còn lại).
- Chú ý tới việc đánh giá từng cá
nhân.

Công cụ
đánh giá

- Đề kiểm tra viết và chủ yếu - Đề kiểm tra viết có kết hợp
bằng câu hỏi tự luận.
giữa câu hỏi tự luận và câu hỏi
trắc nghiệm khách quan.

Người
đánh giá

- Giáo viên đánh giá học sinh

- Giáo viên đánh giá học sinh
- Học sinh đánh giá học sinh.
-------------------------------------------------------------MÔ ĐUN 34: CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TIÊU HỌC
1. Mục tiêu
Nắm được những vấn đề lí luận cơ bản về công tác chủ nhiệm lớp và yêu cầu đối
với người giáo viên chủ nhiệm lớp ở tiểu học trong giai đoạn hiện nay.
Có kĩ năng lập hồ sơ chủ nhiệm lớp, có mối quan hệ tốt với Ban giám hiệu, đồng
nghiệp, phụ huynh, Ban đại diện cha mẹ học sinh và cộng đồng.
6

Võ Thị Cầm Thi


Bài thu hoạch BDTX (2016-2017)

Trường Tiểu học Cư Pui 1

2. Nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm ở tiểu học hiện nay
Nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm (GVCN) là những công việc người làm chủ
nhiệm lớp phải thực hiện nhằm thay mặt hiệu trưởng quản lí quá trình giáo dục toàn
diện một lớp học. Người GVCN phải làm tất cả những công việc để phối hợp, tổ chức
tốt việc khai thác tiềm năng trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu giáo
dục toàn diện học sinh một lớp học. Những công việc phải làm để thực hiện tốt quản lí
và phối hợp thực hiện quá trình giáo dục toàn diện học sinh một lớp học chính là
nhiệm vụ của công tác chủ nhiệm.
Để thực hiện mục tiêu quản lí giáo dục toàn diện một lớp học, GVCN phải thực
hiện việc điều tra nắm vững đối tượng giáo dục là từng học sinh và những đặc điểm
của một tập thể lớp học. Phải xây dựng kế hoạch thực hiện các mặt giáo dục toàn diện.
Phải triển khai các hoạt động theo dõi sự tiến bộ của từng em theo mục tiêu kế hoạch
chủ nhiệm đặt ra. GVCN phải nắm vững quy luật của hoạt động giáo dục, hoạt động
của công tác chủ nhiệm. Đó là những yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng trực
tiếp tới việc tổ chức quá trình hoạt động của GVCN nhằm thực hiện kế hoạch hoạt
động giáo dục của lớp chủ nhiệm như: Mục tiêu giáo dục, các lực lượng xã hội, năng
lực của GVCN, nội dung hoạt động của lớp chủ nhiệm, điều kiện của xã hội, gia đình.
Đối với người GVCN muốn lớp đạt kết quả cao thì trước hết người đó phái có
tâm huyết với nghề, phải có lòng yêu nghề, mến trẻ, phải thường xuyên học hỏi, tự tìm
hiểu những vấn đề bất cập xảy có thể xảy ra trong lớp. Đối với bản thân tôi qua thời
gian học tập cũng như đúc rút kinh nghiệm từ các năm trước, để làm tốt công tác chủ
nhiệm tôi cần những điều sau:
a) Nghiên cứu, nắm vững tình hình học sinh của lớp chủ nhiệm
Để làm tốt công tác giáo dục học sinh, nhiệm vụ đầu tiên của giáo viên chủ
nhiệm lớp là nghiên cứu để Tìm hiểu nắm vững tình hình chung của lớp và của từng
học sinh. Nghiên cứu tình hình địa phương, tình hình gia đình học sinh như trình độ
học vấn, nghề nghiệp của cha mẹ học sinh. Nghiên cứu học sinh, đặc điểm lứa tuổi,
đặc điểm cá biệt, quá trình học tập, tu dưỡng đạo đức, tinh thần đoàn kết. Nắm được
năng lực của từng em. Sắp xếp chỗ ngồi, cho học sinh học nội quy lớp. Họp phụ huynh
bàn bạc trao đổi ý kiến. Lắng nghe nguyện vọng của phụ huynh. Thường xuyên theo
dõi - động viên khuyến khích học sinh.
Cuối tuần đánh giá nhận xét kịp thời.
b) Xây dựng bộ máy tổ chức tự quản của lớp
Từ những thông tin trên, người giáo viên chủ nhiệm chọn ra những học sinh có
năng lực học tập, năng lực hoạt động, gương mẫu trong hành vi đạo đức giới thiệu vào
đội cán bộ của lớp. Xây dựng bộ máy cán sự của lớp: Phân lớp thành các tổ/ nhóm học
sinh có cơ cấu học sinh nam, nữ, trình độ học tập tương đối đồng đều. Phân công trách
7

Võ Thị Cầm Thi


Bài thu hoạch BDTX (2016-2017)

Trường Tiểu học Cư Pui 1

nhiệm cho ban cán sự và các tổ/nhóm trưởng để quản lý học sinh. Nhiệt tình, tích cực
tham gia vào các hoạt động tập thể. Có năng khiếu văn nghệ. Biết quản lý tập thể. Có
tinh thần gương mẫu, được đa số học sinh bầu chọn.
c) Tổ chức các hoạt động đa dạng cho tập thể học sinh
Trong trường tiểu học cần tổ chức tốt Hoạt động học tập là hoạt động quan trọng
nhất của học sinh, để giúp cho lớp học tập tốt, giáo viên chủ nhiệm lớp phải chú ý:
Rèn cho học sinh thói quen đi học đầy đủ, đúng giờ. Giáo viên chủ nhiệm có mặt
thường xuyên tại lớp ôn bài đầu giờ học mỗi ngày. Ôn bài là biện pháp giúp nhau ôn
tập nhanh, chuẩn bị sẵn sàng cho ngày học mới. Truy bài đầu giờ còn là biện pháp
khắc phục tình trạng đi học muộn, cho nên cần được tổ chức tốt và duy trì lâu dài. Tổ
chức thi đua giữa các tổ/nhóm trong lớp, ghi lại số lần tham gia phát biểu ý kiến trong
các giờ học. Tổ chức cho học sinh chuẩn bị trước các bài học trong ngày. Nêu gương
những học sinh có phương pháp học tập tốt, đặc biệt những học sinh nghèo học giỏi.
Tổ chức cho học sinh học nhóm, đôi bạn cùng học để hỗ trợ nhau học. Ở mỗi lớp học
có chi đội thiếu niên, để chi đội thiếu niên trong lớp hoạt động có hiệu quả, giáo viên
chủ nhiệm lớp cùng phối hợp với tổng phụ trách đội.
d) Thiết lập tốt các mối quan hệ trong tập thể
Tập thể là một tập hợp đông người với nhiều mối quan hệ, khi tập thể đã hình
thành những mối quan hệ tốt đẹp, bền vững thì lúc đó là tập thể sẽ vững mạnh. Quan
hệ tình cảm là quan hệ bạn bè đoàn kết thân ái tương trợ, động viên khích lệ nhau
trong học tập, tu dưỡng và cả những mối quan hệ tình cảm khác.
e) Phối kết hợp với BGH nhà trường và các cơ quan đoàn thể
Thường xuyên phối hợp với nhà trường đoàn thể để thực hiện tốt mọi hoạt động
có liên quan. Nếu ngay từ đầu năm học giáo viên biết đầu tư thời gian công sức cho
công tác chủ nhiệm lớp thì chắc chắn nề nếp lớp được hình thành. Giáo viên có tổ
chức lớp thật tốt, hoạt động có hiệu quả.
-------------------------------------------------------------MÔ ĐUN 41: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
QUA CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
1. Một số vấn đề chung về giáo dục kĩ năng sống qua các hoạt động giáo dục
"Kỹ năng sống" là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử
phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình
huống của cuộc sống. Có thể nói kỹ năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến
kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Người có kỹ năng
sống phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng ứng xử,
giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp; họ thường thành công hơn trong cuộc
sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình. Ngược lại người thiếu kỹ
năng sống thường bị vấp váp, dễ bị thất bại trong cuộc sống.
8

Võ Thị Cầm Thi


Bài thu hoạch BDTX (2016-2017)

Trường Tiểu học Cư Pui 1

Giáo dục kĩ năng sống là một quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế
hoạch nhằm hình thành năng lực hành động tích cực, có liên quan tới kiến thức và thái
độ, giúp cá nhân có ý thức về bản thân, giao tiếp, quan hệ xã hội, thực hiện công việc,
ứng phó hiệu quả với các yêu cầu thchs thức của cuộc sống hàng ngày.
Kĩ năng sống được hình thành theo nhiều cách khác nhau, tùy vào môi trường
sống và giáo dục. Giáo dục kĩ năng sống là rất quan trọng và cần thiết cho trẻ nhỏ.
Giáo dục kĩ năng sống giúp cho trẻ phát triển nhân cách, thể chất, tình cảm, giao tiếp,
ngôn ngữ, tư duy một cách toàn diện, là nền tảng để trẻ tự tin bước vào giai đoạn tiểu
học. Vậy, làm thế nào để chúng ta giáo dục kỹ năng sống cho học sinh?
* Mục đích
Thông qua những hoạt động trên, rèn luyện cho các em học sinh tính đoàn kết
tập thể, khả năng làm việc theo nhóm. Đồng thời xây dựng tinh thần chia sẻ, ý thức
trách nhiệm cho các em.
Chính nhờ việc chú trọng giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp của nhà trường đã tạo tinh thần đoàn kết, gắn bó, quan tâm giúp đỡ
lẫn nhau trong học tập. học sinh nỗ lực tiếp thu bài giảng và tìm tòi những kiến thức
liên quan đến bài học để liên hệ áp dụng vào thực tiễn, qua đó phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh. Các em cảm thấy rất vui và biết thêm nhiều kiến
thức. Nhờ đó em biết tự chăm sóc bản thân như là tự sắp xếp góc học tập thật ngăn
nắp, tự giặt quần áo cho mình. Ngoài ra, em còn giúp bố mẹ nhiều việc nhà .Đây được
xem là bước tiến quan trọng trong việc đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục xem
học sinh là trung tâm, góp phần tạo điều kiện cho việc hoàn thiện nhân cách học sinh
ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
2. Các nội dung kĩ năng sống có thể tích hợp lồng ghép trong các hoạt động văn
nghệ, các hoạt động thể dục thể thao, các sinh hoạt tập thể, các hình thức ngoại
khóa dã ngoại…
* Nội dung
Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường, ngoài việc lồng
ghép vào các môn học hàng ngày, chúng tôi hoạt động ngoài giờ lên lớp là một trong
những con đường giáo dục có hiệu quả trong việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Chính vì thế ngoài việc xây dựng và hoàn thiện các quy tắc ứng xử văn hóa trong nhà
trường, bằng nhiều hình thức khác nhau nhà trường thường xuyên tổ chức những buổi
sinh hoạt ngoại khóa với các cuộc thi như lồng ghép trong các hoạt động văn nghệ, các
hoạt động thể dục thể thao, các sinh hoạt tập thể, trò chơi dân gian, các hình thức ngoại
khóa dã ngoại,…Ngoài ra việc tổ chức sân chơi như: Hội khỏe Phù Đổng, Học sinh kể
chuyện tấm gương đạo đức, cho các em đi thăm quan các di tích lịch sử ở địa phương,
thăm quan thắng cảnh; tham gia các hoạt động dọn vệ sinh bảo vệ môi trường, dọn vệ
sinh khu tượng đài liệt sĩ, tổ chức các hoạt động quyên góp ủng hộ bạn nghèo, bạn bị
bệnh tật hiểm nghèo...là những nội dung rất thiết thực để giáo dục KNS cho học sinh.
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh cũng như các quá trình hoạt động giáo dục
khác trong nhà trường đều có cấu trúc xác định. Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh tập trung vào các kỹ năng tâm lý - xã hội là những kỹ năng được vận dụng
9

Võ Thị Cầm Thi


Bài thu hoạch BDTX (2016-2017)

Trường Tiểu học Cư Pui 1

trong những tình huống hàng ngày để tương tác với người khác và giải quyết có hiệu
quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống. Những nội dung này hết sức đơn
giản, gần gũi với trẻ em, là những kiến thức tối thiểu để các em có thể tự lập... Và mục
đích quan trọng nhất là giúp các em tự tin hơn, tự lập hơn trong cuộc sống”. Vì vậy khi
tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tăng cường giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh cấn:
- Bám sát vào nội dung của giáo dục kỹ năng sống và vận dụng linh hoạt các
nội dung của giáo dục kỹ năng sống tuỳ theo từng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp và điều kiện cụ thể.
- Xác định rõ các nội dung giáo dục kỹ năng sống (xác định rõ các kỹ năng
sống cần hình thành và phát triển cho học sinh) để tích hợp vào nội dung của hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
- Tạo ra động lực cho học sinh, làm cho học sinh tham gia một cách tích cực
vào quá trình hình thành kỹ năng sống nói chung và kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ
năng ra quyết định, kỹ năng tự nhận thức về bản thân, kỹ năng ứng phó với cảm xúc...
3. Phương pháp và kĩ thuật tích hợp lồng ghép các nội dung kĩ năng sống trong
các hoạt động giáo dục
- Đảm bảo thực hiện tốt các nguyên tắc giáo dục kỹ năng sống
Kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại
và thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều
thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại… Kỹ năng sống đơn giản là tất cả
điều cần thiết chúng ta phải biết để có được khả năng thích ứng với những thay đổi
diễn ra hằng ngày trong cuộc sống.
Vì thế giáo viên cần nắm rõ nắm rõ 5 nguyên tắc về giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh:
+ Tương tác: các kĩ năng thương lượng, kĩ năng giải quyết vấn đề … được hình
thành tốt trong quá trình HS tương tác với bạn bè và những người xung quanh. Tạo
điều kiện để các em có dịp thể hiện ý kiến của mình và xem xét ý kiến của người
khác... Do vậy GV cần tổ chức các hoạt động có tính chất tương tác trong các hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp để giáo dục kỹ năng sống cho các em.
+ Trải nghiệm: Cần phải có thiết kế và tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp cho HS được hoạt động thực, có cơ hội thể hiện ý tưởng, có cơ hội xử lí các
tình huống cũng như phản biện…Kỹ năng sống chỉ được hình thành khi người học trải
nghiệm qua thực tế và nó có kĩ năng khi các em được làm việc đó.
+ Nguyên tắc tiến trình và nguyên tắc thay đổi hành vi: Giáo viên không thể
giáo dục kỹ năng sống trong một lần mà kỹ năng sống là một quá trình từ nhận thứchình thành thái độ - thay đổi hành vi. Thay đổi hành vi của một con người đặc biệt
hành vi tốt là quá trình khó khăn. Do vậy giáo dục kỹ năng sống không thể là ngày
một ngày hai mà phải là một quá trình và cần duy trì nó không thể là cú nhát, nửa vời
được.
+ Thời gian và môi trường giáo dục: Giáo dục giáo dục kỹ năng sống được
thực hiện mọi lúc mọi nơi; giáo dục kỹ năng sống được giáo dục trong mọi môi trường
10

Võ Thị Cầm Thi


Bài thu hoạch BDTX (2016-2017)

Trường Tiểu học Cư Pui 1

như gia đình, nhà trường, xã hội; cần phải tạo điều kiện tối đa cho HS tham gia vào
các tình huống thật trong cuộc sống.
Trong quá trình tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tăng cường giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh phải đảm bảo thực hiện tốt các nguyên tắc giáo dục kỹ
năng sống.
- Phát huy vai trò tác dụng và hiệu quả của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là hoạt động được tổ chức theo mục tiêu,
nội dung, chương trình dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Bản chất của hoạt động này
là thông qua các loại hình hoạt động, các mối quan hệ nhiều mặt, nhằm giúp người học
chuyển hoá một cách tự giác, tích cực tri thức thành niềm tin, kiến thức thành hành
động, biến yêu cầu của nhà trường thành chương trình hành động của tập thể lớp học
sinh và của cá nhân học sinh,tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm tri thức, thái độ, quan
điểm và hành vi ứng xử của mình trong môi trường an toàn, thân thiện có định hướng
giáo dục.
Thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp có thể giúp học sinh sống một cách an
toàn, khoẻ mạnh có khả năng thích ứng với biến đổi của cuộc sống hàng ngày. Rèn
luyện cho học sinh các kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi như : kỹ năng giao tiếp
ứng xử có văn hoá; kỹ năng tổ chức quản lý và tham gia các hoạt động tập thể với tư
cách là chủ thể của hoạt động; kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn
luyện; củng cố, phát triển các hành vi, thói quen tốt trong học tập, lao động và công tác
xã hội.
Bồi dưỡng thái độ tự giác tích cực tham gia các hoạt động tập thể và hoạt động
xã hội; hình thành tình cảm chân thành, niềm tin trong sáng với cuộc sống, với quê
hương đất nước; có thái độ đúng đắn đối với các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Như
vậy, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp thực sự cần thiết và có nhiều khả năng giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh. Do đó cần phát huy tối đa vai trò, tác dụng và hiệu quả
của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp để tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh.
- Một số biện pháp cụ thể
Thiết kế các chủ đề giáo dục kỹ năng sống phù hợp với nội dung các hoạt động
thực hiện chủ đề của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Tạo ra nội dung giáo dục mang tính trọn vẹn, thống nhất giữa nội dung giáo dục
kỹ năng sống và nội dung của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Việc thiết kế các chủ đề giáo dục kỹ năng sống phù hợp với chủ đề của hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp được thực hiện qua các bước sau:
- Giáo viên phải nắm vững chương trình, phân phối chương trình hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp của từng khối lớp, đặc biệt là khối lớp giảng dạy và thực
hiện hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
- Giáo viên nắm được nội dung của các kỹ năng sống cơ bản cần giáo dục cho
học sinh.
11

Võ Thị Cầm Thi


Bài thu hoạch BDTX (2016-2017)

Trường Tiểu học Cư Pui 1

- Phân tích chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp để xác định
những chủ đề nào của chương trình có thể thiết kế được các chủ đề về giáo dục kỹ
năng sống.
- Vận dụng linh hoạt các loại hình hoạt động, các hình thức tổ chức hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp để thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
- Luôn "làm mới" các hình thức thực hiện từng chủ đề của hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp.
- Đa dạng hoá các loại hình hoạt động của hoạt động GD ngoài giờ lên lớp.
- Tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp để thu hút học sinh tích cực
tham gia.
Sự mới lạ bao giờ cũng có sức hấp dẫn đối với học sinh khiến các em say mê
khám phá. Các hoạt động mà nội dung đơn điệu, hình thức không phong phú học sinh
dễ chán nản hoặc thờ ơ. Vì vậy cần sử dụng linh hoạt các loại hình hoạt động, các hình
thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp để thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh.
Cư Pui, ngày 06 tháng 01 năm 2017
Người thực hiện
Võ Thị Cầm Thi

12

Võ Thị Cầm Thi



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×