Tải bản đầy đủ

QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP

QUY LUẬT MÂU THUẪN
Triết học Mác ra đời, với phép biện chứng duy vật, đã trở thành
phương pháp luận khoa học cho nhận thức và cải tạo thế giới của con người.
Để tìm hiểu rõ hơn về phép biện chứng duy vật chúng ta đi tìm hiểu “hạt
nhân của phép biện chứng” đó là quy luật thống nhất và đấu tranh của các
mặt đối lập.
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (gọi tắt là quy
luật mâu thuẫn) là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng.
V.I.Lênin gọi quy luật mâu thuẫn là hạt nhân của phép biện chứng vì nó đã
đề cập đến vấn đề quan trọng nhất của phép biện chứng là nguồn gốc của sự
phát triển. Đồng thời là cơ sở để tìm hiểu các quy luật và phạm trù cơ bản
khác của phép biện chứng.
Quan niệm về mâu thuẫn đã xuất hiện từ lâu trong lòch sử.
Ngay từ thời cổ đại đã có những phỏng đoán thiên tài về sự tác động
qua lại của các mặt đối lập và xem sự tác động qua lại đó là cơ sở vận động
của thế giới. Chẳng hạn như nhà triết học Hy Lạp cổ đại, người được xem là
ông tổ của phép biện chứng, cho rằng trong sự vận động biện chứng vónh
viễn của mình, các sự vật đều có khuynh hướng chuyển sang các mặt đối lập.
Hay Platôn, nhà duy tâm khách quan, đã đi tới quan điểm xem phép
biện chứng là học thuyết về sự vận động của khái niệm. Bản chất phép biện
chứng của Platôn là ở chỗ, ông cho rằng khi giải quyết bất kỳ vấn đề nào

cũng phải xuất phát từ hai luận điểm đối lập,…
Còn ở triết học phương Đông, mà tiêu biểu là triết học trung quốc,
quan niệm về mâu thuẫn cũng xuất hiện trong thuyết m – Dương. Thuyết
m – Dương cho rằng, m và dương là hai mặt đối lập cơ bản trong vũ trụ.
m và dương tồn tại không tách rời nhau mà liên hệ với nhau, tương tác lẫn
nhau và chuyển hoá lẫn nhau trong một thể thống nhất là thái cực. Sự tác
động qua lại giữa hai mặt đối lập m và dương là cơ sở của mọi sinh thành
và biến hoá trong vũ trụ.
Tư tưởng mâu thuẫn đạt đến đỉnh cao trong triết học trước Mác là ở
Triết học cổ điển Đức với hai nhà Triết học tiêu biểu là I. Cantơ và G.V.
Hêghen. I. Cantơ là người mở đầu cho triết học cổ điển Đức, ông cho rằng
các mâu thuẫn được tạo thành từ hai mặt đối lập biện chứng và tồn tại dưới
hình thức các atinômi. Tuy nhiên, I. Cantơ chỉ thừa nhận mâu thuẫn trong tư
tưởng và phủ nhận tính khách quan và phổ biến của Mâu thuẫn.
Hêghen, khi nghiên cứu phép biện chứng trong sự vận động và phát
triển của “ý niệm tuyết đối”, đã kòch liệt phê phán quan điểm về sự đồng
nhất tuyệt đối ( tức là sự đồng nhất loại trừ mọi sự khác biệt và mâu thuẫn).


ng cho rằng, sự đồng nhất tuyệt đối là sự đồng nhất trừu tượng, trống rỗng,
không bao hàm một nhân tố chân lý nào. ng quan niệm bất kỳ sự đồng nhất
nào cũng bao hàm sự khác biệt và mâu thuẫn. ng khẳng đònh: “mâu thuẫn
là nguồn gốc của tất cả mọi sự vận động và của tất cả mọi sức sống, chỉ trong
chừng mực một vật chứa đựng trong bản thân nó một mâu thuẫn, thì nó mới
vận động, mới có xung lực và hoạt động” và “tất cả mọi vật đều có tính chất
mâu thuẫn trong bản thân nó”. Song do bò chi phối bởi quan niệm duy tâm và
lợi ích giai cấp mà ông đại diện nên Hêghen đã không thể phát triển học
thuyết mâu thuẫn biện chứng đến độ triệt để.
Kế thừa có phê phán tất cả những thành tựu có giá trò nhất trong toàn
bộ lòch sử hơn 2000 năm của triết học, dựa trên những thành quả mới nhất
của khoa học hiện đại và khái quát thực tiễn thời đại mình, C. Mác và P.
ngghen đã phát triển học thuyết mâu thuẫn lên một tầm cao mới mang tính
khoa học và triệt để. Đó là quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lập.
Để có thể nắm được nội dung quy luật này trước hết chúng ta phải tìm
hiểu các khái niệm cơ bản của nó như mâu thuẫn, mặt đối lập, sự thống
nhất,..
Mặt đối lập là những mặt, những thuộc tính, những yếu tố có xu hướng
biến đổi trái ngược nhau trong cùng một sự vật hay hệ thống sự vật. Sự tồn
tại của các mặt đối lập là khách quan và phổ biến trong tất cả các sự vật.

Chẳng hạn, trong nguyên tử có hạt mang điêïn tích dương, có hạt mang điện
tích âm; Trong cơ thể động vật, có yếu tố di truyền , có yếu tố biến dò; trong
xã hội có đối kháng giai cấp, có giai cấp bóc lột, có giai cấp bò bóc lột,…
Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo
thành mâu thuẫn biện chứng. Mâu thuẫn biện chứng cũng tồn tại khách quan
và phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Đây chính là sự khác biệt giữa
quan điểm biện chứng với quan điểm duy tâm, siêu hình về mâu thuẫn, cũng
như sự khác biệt về chất giữa mâu thuẫn biện chứng với mâu thuẫn lôgic
hình thức. Mâu thuẫn lôgic hình thức chỉ tồn tại trong tư duy, nó xuất hiện do
sai lầm trong tư duy. Mâu thuẫn lôgic hình thức là mâu thuẫn được tạo thành
từ hai phán đoán phủ đònh nhau về cùng một sự vật và cùng một quan hệ tại
cùng một thời điểm; trong hai phán đoán đối lập đó chỉ một cái là chân lý.
Việc giải quyết mâu thuẫn lôgíc hình thức được thực hiện bàng cách loại bỏ
nó khỏi tư duy. Việc thủ tiêu như vậy là điều kiện để có nhận thức đúng đắn
về sự vật.
Trong mâu thuẫn biện chứng, các mặt đối lập của mỗi sự vật hiện
tượng vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau. Sự thống nhất của các mặt đối


lập là sự nương tựa vào nhau, không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự
tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề.
Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ
cũng có những nhân tố giống nhau. Những nhân tố giống nhau đó gọi là
“đồng nhất” của các mặt đối lập. Với ý nghóa đó, “sự thống của các mặt đối
lập” còn bao hàm sự “đồng nhất” của các mặt đó. Do có sự “đồng nhất” của
các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu thuẫn, đến một lúc nào đó, có
thể chuyển hoá lẫn nhau.(ví dụ)
Các mặt đối lập không chỉ thống nhất mà còn luôn luôn “đấu tranh”
với nhau. Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng
bại trừ và phủ đònh lẫn nhau. Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết sức
phong phú, đa dạng, tuỳ thuộc vào tính chất, vào mối quan hệ qua lại giữa
các mặt đối lập và tuỳ điều kiện cụ thể diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng.
Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập không tách rời nhau,
trong quá trình vận động, phát triển của sự vật. Sự thống nhất gắn liền với
đứng im, với sự ổn đònh tạm thời của sự vật. Sự đấu tranh gắn liền với tính
tuyệt đối của sự vận động và phát triển. Điều đó có nghóa là sự thống nhất
của các mặt đối lập là tương đối, tậm thời; sự đấu tranh của các mặt đối lập
là tuyệt đối. V.I. Lênin viết: “sự thống nhất … của các mặt đối lập là có điều
kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài
trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, vận động là tuyệt đối”.
Trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của các mặt
đối lập quy đònh một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động và
làm cho mâu thuẫn phát triển. Lúc đầu mới xuất hiện, mẫu thuẫn chỉ là sự
khác nhau căn bản, nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau. Sự khác nhau
đó càng ngày càng phát triển và đi đến đối lập. Khi hai mặt đối lập xung đột
gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hoá lẫn nhau, mâu thuẫn được giải
quyết. Nhờ đó mà thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới;
sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay thế (ví dụ). V.I. Lênin viết: “sự phát
triển là một cuụoc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập”. Tuy nhiên, không có
thống nhất của các mặt đối lập thì cũng không có đấu tranh giữa chúng.
Thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là không thể tách rời nhau
trong mâu thuẫn biện chứng. Sự vận động và phát triển bao giờ cũng là sự
thống nhất giữa tính ổn đònh và tính thay đổi. Sự thống nhất và đấu tranh của
các mặt đối lập quy đònh tính ổn đònh và tính thay đổi của sự vật. Do đó, mâu
thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển.
Mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các sự vật hiện tượng cũng như trong tất
cả các giai đoạn phát triển của chúng. Do đó, mâu thuẫn hết sức đa dạng và
phong phú. tính đa dạng và phong phú này không chỉ được quy đònh bởi tính


đa dạng của các sự vật hiện tượng mà còn được quy đònh bởi đặc điểm của
các mặt đối lập, bởi điều kiện tác động qua lại của chúng, bởi trình độ tổ
chức của hệ thống mà trong đó mâu thuẫn tồn tại.
Dựa vào những căn cứ khác nhau ta có thể chia thành các mâu thuẫn
khác nhau. chẳng hạn, căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, có
thể chia mâu thuẫn thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài. Mâu
thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối
lập của cùng một sự vật, hiện tượng. Còn mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn
diễn ra trong mối quan hệ giữa sự vật đó với sự vật khác. trong mỗi sự vật,
hiện tượng, mâu thuẫn bên trong giữ vai trò quyết đònh trực tiếp đối với quá
trình vận động và phát triển, còn mâu thuẫn bênh trong cũng có vai trò quan
trọng. hai mâu thuẫn này không ngừng tác động qua lại lẫn nhau. việc giải
quyết mâu thuẫn bên trong không thể tách rời việc giải quyết mâu thuẫn bên
ngoài; việc giải quyết mâu thuẫn bên ngoài là điều kiện để giải quyết mâu
thuẫn bên trong. (ví dụ)
Căn cứ vào ý nghóa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật,
có thể chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản. mâu thuẫn
cơ bản là mâu thuẫn quy đònh bản chất của sự vật, quy đònh sự phát triển ở tất
cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật.
Mâu thuẫn cơ bản được giải quyết thì sự vật sẽ thay đổi căn bản về chất. còn
mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một phương diện
nào đó của sự vật, nó không quy đònh bản chất của sự vật. mâu thuẫn đó nảy
sinh hay được giải quyết không làm cho sự vật thay đổi căn bản về chất.
căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự vận động và phát triển của
sự vật, hiện tượng trong một giai đoạn nhất đònh, có thể chia thành mâu thuẫn
chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu. mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên
hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất đònh của sự vật, nó chi phối các
mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó. giải quyết được mâu thuẫn chủ yếu trong
từng giai đoạn là điều kiện cho sự vật chuyển sang giai đoạn phát triển mới.
mâu thuẫn chủ yếu có quan hệ chặt chẽ với mâu thuẫn cơ bản. mâu thuẫn
chủ yếu có thể là một hình thức biểu hiện nổi bật của mâu thuẫn cơ bản hay
là kết quả vận động tổng hợp của các mâu thuẫn cơ bản ở một giai đoạn nhất
đònh. việc giải quyết mâu thuẫn chủ yếu tạo điều kiện giải quyết từng bước
mâu thuẫn cơ bản
Trong lónh vực xã hội, căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích, có
thể chia mâu thuẫn thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối
kháng. mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập
đoàn người có lợi ích cơ bản đối lập nhau. ví dụ như mâu thuẫn giữa giai cấp
nông dân với giai cấp điạn chủ trong xã hội phong kiến; giữa giai cấp vô sản


với tư sản trong xã hội tư bản,… Còn mâu thuẫn không đối kháng là mâu
thuẫn giữa những lực lượng xã hội có lợi ích cơ bản thống nhất với nhau, chỉ
đối lập về những lợi ích không cơ bản, cục bộ, tạm thời. ví dụ như mâu thuẫn
giữa lao động trí óc với lao động chân tay; mâu thuẫn giữa thành thò với nông
thôn,… việc phân biệt hai loại mâu thuẫn này sẽ giúp tìm ra phương pháp để
giải quyết mâu thuẫn. mâu thuẫn đối kháng phải giải quyết bằng phương
pháp đối kháng, còn mâu thuẫn không đối kháng thì giải quyết bằng phương
pháp trong nội bộ nhân dân.
như vâïy từ những nội dung trên ta có thể rút ra nội dung quy luật mâu
thuẫn là mọi sự vật đều chứa đựng những mặt có khuynh hướng biến đổi
ngược chiều nhau gọi là những mặt đối lập. mối liên hệ của hai mặt đối lập
tạo nên mâu thuẫn. các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau và chuyển hoá
lẫn nhau làm cho mâu thuẫn được giải quyết, sự vật biến đổi và phát triển,
cái mới ra đời thay thế cái cũ.
nghiên cứu quy luật mâu thuẫn có một ý nghóa rất quan trọng trong
nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn.
……………………..
Trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, việc nhận thức và vận
dụng sáng tạo quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, có ý
nghóa cực kỳ quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Trước hết, vì mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan, phổ biến; mâu
thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và phát triển. Thực chất của hoạt động
thực tiễn là nhằm biến đổi sự vật, là quá trình giải quyết mâu thuẫn. Sự đi
lên, phát triển của lòch sử xã hội loài người, chẳng qua cũng chỉ là những kết
quả của việc giải quyết những mâu thuẫn. Quá trình đổi mới ở nước ta hiện
nay cũng thế. Vì vậy, chúng ta không được né tránh mâu thuẫn, phải chấp
nhận mâu thuẫn; Phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực
tiễn với tinh thần cách mạng, khoa học; nhằm phát hiện, tìm tòi, xác đònh
đúng và đủ các loại mâu thuẫn hiện có trong nước và trên thế giới; cùng
những trạng thái, biểu hiện của các loại mâu thuẫn ấy. Đây chính là cơ sở
khoa học đặc biệt quan trọng cho việc Đảng và Nhà nước ta, các cấp, các
ngành đònh ra các quyết sách chính trò sáng suốt, cùng các giải pháp… tích cực
nhằm giải quyết các mâu thuẫn thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển theo
đúng đònh hướng xã hội chủ nghóa.
Thậm chí đối với những mâu thuẫn đã được Đảng ta xác đònh lâu nay,
nhưng trong tình hình mới, vẫn phải được nghiên cứu, phân tích kỹ lưỡng để
xác đònh trạng thái, cùng những biểu hiện phong phú của nó.


Chẳng hạn khi bàn đến những mâu thuẫn cơ bản của thời đại ngày nay:
mâu thuẫn giữa chủ nghóa xã hội và chủ nghóa tư bản, mâu thuẫn giữa giai
cấp tư sản với giai cấp công nhân trong các nước tư bản chủ nghóa, mâu thuẫn
giữa chủ nghóa đế quốc với các dân tộc, mâu thuẫn giữa các nước tư bản với
các nước tư bản, Đảng ta đã khẳng đònh: “Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới
biểu hiện với những hình thức và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển;
Có mặt sâu sắc hơn”.
Đối với những mâu thuẫn cơ bản ở nước ta trong thời kỳ quá độ về thực
chất đó chính là mâu thuẫn giữa hai con đường, hai xu hướng phát triển (xu
hướng tự phát tư bản chủ nghóa và xu hướng tự giác xã hội chủ nghóa) nhưng
để tránh lập lại những sai lầm cũ do hiểu đơn giản về đấu tranh giữa hai con
đường, cùng với những biến động phức tạp trong nước và trên thế giới. Đại
hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng cộng sản Việt Nam đã nhất trí,
không dùng thuật ngữ mâu thuẫn cơ bản và đề nghò trình bày như sau: “Để
thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh theo con đường xã hội chủ nghóa,
điều quan trọng nhất là phải cải biến căn bản tình trạng kinh tế - xã hội kém
phát triển, chiến thắng những lực lượng cản trở việc thực hiện mục tiêu đó,
trước hết là các thế lực thù đòch chống độc lập dân tộc và chủ nghóa xã hội ”.
Cách trình bày này đã bao hàm được cả hai mặt độc lập dân tộc và chủ nghóa
xã hội. Đây chính là cơ sở khoa học để Đảng ta xây dựng, hoạch đònh đường
lối, chiến lược cách mạng trong thời kỳ đổi mới.
Thứ hai, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập đã chỉ ra
rằng hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng trong sự thống nhất với
nhau. Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, đòi hỏi có
nhau của các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt
kia làm tiền đề. Giữa hai mặt đối lập bao giờ cũng có những nhân tố giống
nhau, “đồng nhất” với nhau. Quan điểm lý luận cơ bản này đã được Đảng ta
vận dụng sáng tạo vào trong quá trình đổi mới. Điều đó, thể hiện trong một
loạt các chủ trương về việc phát triển kinh tế nhiều thành phần; Kết hợp kế
hoạch với thò trường, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế; khuyến khích đầu
tư nước ngoài, kể cả với các nước tư bản thậm chí có những nước trùc đây
vốn là kẻ thù của dân tộc; Chính sách phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân… như vậy chính chúng ta đã chủ động vượt lên trên sự khác biệt về kinh
tế, chính trò, văn hóa, tôn giáo, quá khứ… giữa các dân tộc, cộng đồng, giai
cấp… để tìm thấy ở đó những điểm tương đồng, mẫu số chung - những sự
“đồng nhất” qúy giá, nhằm phát huy được sức mạnh của cả cộng đồng, dân
tộc; Kết hợp được sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, sức mạnh
của những yếu tố nội sinh để thâu biến những yếu tố ngoại sinh; Thực hiện
được mục tiêu của sự nghiệp đổi mới đất nước.


Đề cập tới vấn đề trên, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
đã khẳng đònh: “Thực hiện đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng
lớp, thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người
trong Đảng và người ngoài Đảng, người đang công tác và người đã nghỉ hưu,
mọi thành viên trong đại gia đình Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước
ngoài phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước, ý
chí tự lực tự cường và lòng tự hào dân tộc, lấy mục tiêu giữ vững độc lập,
thống nhất, vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm
điểm tương đồng; Tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích
chung của dân tộc, xóa bỏ mặc cảm, đònh kiến, phân biệt đối xử về quá khứ,
giai cấp, thành phần, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng tới
tương lai”.
Thứ ba, song song sự tồn tại của những nhân tố giống nhau, đồng nhất
với nhau là những nhân tố trái ngược nhau giữa các mặt đối lập trong mâu
thuẫn biện chứng. Việc đònh lượng và đònh tính các nhân tố giống nhau và
trái ngược giữa các mặt đối lập là cơ sở để chúng ta xác đònh các loại mâu
thuẫn cụ thể. Đặc biệt việc xác đònh đó đối với những mâu thuẫn đang tồn tại
trong xã hội ta và trên thế giới còn có ý nghóa giúp chúng ta lựa chọn những
hình thức, mức độ hợp tác và đấu tranh sao cho phù hợp, có hiệu quả.
Sẽ là “hữu khuynh” khi chúng ta chỉ thấy mặt “hợp tác” không thấy
mặt “ đấu tranh” trong bối cảnh trong nước và quốc tế vẫn còn tồn tại những
tư tưởng, thế lực thù đòch luôn tìm mọi cách phá hoại nền độc lập, công cuộc
đổi mới của đất nước. Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã khẳng
đònh: “Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng
nhiều nước tham gia; Xu thế này đang bò một số nước phát triển và các tập
đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn,
vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh”.
Vừa “thống nhất” vừa “đấu tranh” của các mặt đối lập trong mâu
thuẫn biện chứng là hai mặt không thể tách rời. Trong sự nhận thức và vận
dụng tuyệt đối hóa mặt này, phủ nhận mặt kia là tước đi tinh thần cơ bản của
phép biện chứng duy vật - mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và phát
triển.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×