Tải bản đầy đủ

QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT TRIẾT HỌC

Triết học – duy vật biện chứng

QUY LUẬT CHUYỂN HOÁ TỪ NHỮNG THAY ĐỔI VỀ LƯNG
THÀNH NHỮNG THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯC LẠI.
Luận chứng cho quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng trong tự
nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng duy vật không chỉ dừng lại ở việc
chỉ ra nguồn gốc và khuynh hướng của sự phát triển (thông qua hai quy luật:
quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập và quy luật phủ đònh
của phủ đònh), mà đồng thời còn chỉ ra cách thức của sự phát triển. Cách thức
của sự phát triển của sự vật, hiện tượng được phép biện chứng duy vật trình
bày trong quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những thay
đổi về chất.
Phạm trù Lượng, Chất đã được các nhà triết học đề cập từ lâu trong
lòch sử triết học. Ngay từ thời cổ đại các nhà triết học đã bàn đến phạm trù
chất và lượng. Chẳng hạn, nhiều nhà triết học Hy lạp, do đồng nhất vật chất
với sự vật nên họ đã hiểu sự vật từ phương diện chất của nó. Hay Trường
phái Pitogo cho rằng, đặc trưng về lượng là cơ sở của mọi cái đang tồn tại,
đối với họ con số được đồng nhất với bản thân sự vật. Arixtot là người đầu
tiên đề cập đến một loạt các phạm trù chất, Lượng, độ,.. theo ông, chất là tất
cả những gì có thể phân ra những bộ phận cấu thành. ng cũng là người đầu
tiên nêu ra quan niệm về tính nhiều chất của sự vật. ng cũng chia Lượng

thành hai loại là số lượng và đại lượng. Về phạm trù Độ, ông cũng có quan
niệm đúng đắn khi cho rằng, độ là cái thống nhất không thể phân chia giữa
chất và lượng.
Quan niệm về Chất và Lượng tiếp tục được phát triển trong triết học cổ
điển Đức, mà tiêu biểu là trong triết học của Hêghen. Hêghen đã phân tích
khá sâu sắc sự thống nhất và sự chuyển hoá lẫn nhau giữa Chất và Lượng,
xem xét Chất và Lượng trong quá trình vận động và phát triển không ngừng.
ng cũng xem xét tính độc lập tương đối giữa sự thay đổi về Lượng và thay
đổi về Chất trong một khoảng nhất đònh. Đó là cơ sở để hình thành phạm trù
“Độ”. Hêghen cũng đặc biệt chú ý tới phạm trù bước nhảy. ng cho rằng,
bước nhảy là sự đứt đoạn của tính liên tục. Chính dựa trên những tư tưởng
này mà Lênin đã rút ra một kết luận quan trọng là việc có thừa nhận bước
nhảy hay không là tiêu chí cơ bản để xem đó là người theo quan điểm biện
chứng hay quan điểm siêu hình về sự phát triển. Tuy nhiên, với tư cách là
một nhà triết học duy tâm, Hêghen đã xem phạm trù Lượng, Chất, Độ chỉ
như những nấc thang tự phát triển của “Ý niệm tuyệt đối”.
Kế thừa những thành quả trong lòch sử triết học và thành tựu khoa học
trong thời đại mình, Mác, nghen đã đưa những quan niệm về Lượng, Chất,

Quy luật Lượng - Chất


Triết học – duy vật biện chứng

Độ lên một bước phát triển mới trong quy luật chuyển hoá từ những thay đổi
về lượng thành những thay đổi về chất.
Quy luật đó chỉ ra rằng, bất cứ sự sự vật, hiện tượng nào cũng bao gồm
mặt chất và mặt Lượng. Hai mặt đó thống nhất hữu cơ với nhau. Chất là
phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy đònh khách quan vốn có của sự vật,
hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính, làm cho nó là nó và
phân biệt nó với cái khác.
Chất là cái khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng. Do đó không thể
tồn tại sự vật, hiện tượng không có chất hay chất nằm ngoài sự vật, hiện
tượng. Chất được tổng hợp từ nhiều thuộc tính của sự vật, hiện tượng nhưng
mỗi sự vật, hiện tượng lại có nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính lại biểu hiện
một chất của sự vật, do đó mỗi sự vật không chỉ có một chất mà có nhiều
chất.
Nhưng không phải bất cứ thuộc tính nào cũng biểu hiện chất của sự
vật. Trong sự vật luôn có những thuộc tính cơ bản và không cơ bản, và chỉ có
những thuộc tính cơ bản mới tạo nên chất của sự vật. Chúng quy đònh sự tồn

tại và phát triển của sự vật. Chỉ khi nào những thuộc tính cơ bản này thay đổi
hay mất đi thì sự vật mới thay đổi hay mất đi.
Sự phân chia những thuộc tính cơ bản và không cơ bản cũng chỉ mang
tính tương đối. Bởi vì khi xét trong những mối liên hệ cụ thể thì những thuộc
tính cơ bản tạo nên chất của sự vật có thể thay đổi. Chẳng hạn, xét trong mối
quan hệ với động vật thì thuộc tính tư duy, chế tạo công cụ,… của con người
được xem là những thuộc tính cơ bản; nhưng khi xét trong mối quan hệ giữa
những con người cụ thể với nhau thì thuộc tính cơ bản đó là nhân dạng, dấu
vân tay,…
Bên cạnh đó, chất của sự vật không những được quy đònh bởi chất của
những yếu tố cấu thành mà còn bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu
thành của chúng, nghóa là bởi kết cấu của sự vật. Trong hiện thực, có những
sự vật được cấu thành bởi những yếu tố như nhau, song chất của chúng lại
khác nhau. Chẳng hạn, Kim cương và Than chì đều có cùng thành phần hoá
học là các nguyên tố Cácbon, nhưng do phương thức liên kết giữa các nguyên
tử Cácbon hoàn toàn khác nhau, vì thế chất của chúng hoàn thoàn khác nhau.
Kim Cương thì rất cứng, trong khi Than chì thì rất mềm. Hay, trong một tập
thể nhất đònh nếu phương thức liên kết giữa các cá nhân biến đổi thì tập thể
đó có thể trở nên vững mạnh, hoặc sẽ trở nên yếu kém, nghóa là chất của tập
thể biến đổi.
Từ đó có thể thấy sự thay đổi về chất của sự vật phụ thuộc vào sự thay
đổi của cả các yếu tố cấu thành sự vật lẫn sự thay đổi phương thức liên kết
giữa các yếu tố ấy.
Quy luật Lượng - Chất


Triết học – duy vật biện chứng

Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy đònh vốn có của sự
vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhòp điệu của sự vận động và phát
triển cũng như các thuộc tính của sự vật.
Lượng của sự vật là cái vốn có của sự vật, quy đònh sự vật là nó, nhưng
chưa làm cho nó khác với cái khác. Lượng cũng tồn tại khách quan như chất
của sự vật.
Lượng của sự vật biểu thò kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay
ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhòp điệu nhanh hay chậm,…
trong thực tế, có những Lượng biểu thò yếu tố quy đònh kết cấu bên trong của
sự vật, chẳn hạn như một phân tử nước bao gồm 2 nguyên tử Hydro liên kết
với 1 nguyên tử xy,… có những Lượng vạch ra yếu tố quy đònh bên ngoài
của sự vật, chẳng hạn như vận tốc ánh sáng là 300.000 km/h, … Tuy nhiên, có
những Lượng của sự vật được xác đònh bởi những đơn vò đo lường cụ thể,
nhưng cũng có những Lượng chỉ có thể biểu thò dưới dạng trừu tượng, khái
quát như trình độ nhận thức tri thức khoa học của con người, ý thức trách
nhiệm cao hay thấp của công dân,… trong trường hợp đó chúng ta chỉ có thể
nhận thức được Lượng của sự vật bằng con đường trừu tượng và khái quát
hoá.
Sự phân biệt Chất và Lượng của sự vật chỉ mang tính tương đối. …
Chất và Lượng của sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất quy đònh
lẫn nhau. Trong quá trình vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng, Chất
và Lượng cũng biến đổi. Sự thay đổi của Chất và Lượng không diễn ra độc
lập với nhau mà trái lại chũng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự thay đổi về
Lượng có ảnh hưởng tới sự thay đổi về Chất của sự vật, nhưng không phải bất
kỳ sự thay đổi nào của Lượng cũng ngay lập tức làm thay đổi ngay lập tức
Chất của sự vật đó. Ví dụ, ở nhiệt độ 0 0 C thì nước chuyển sang thể rắn, ở
1000 C nước chuyển sang thể hơi. Trong khoảng từ 0 0C đến 1000C, mặc dù có
sự thay đổi về Lượng nhưng Nước vẫn chưa có sự thay đổi về chất (trạng
thái).
Khuôn khổ mà trong đó, sự thay đổi về Lượng chưa làm thay đổi về
chất của sự vật, được gọi là Độ. Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự
thống nhất giữa Lượng và Chất, nó là khoảng giới hạn, mà trong đó, sự thay
đổi về Lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật.
Trong ví dụ trên, có thể thấy độ của nước ở trạng thái lỏng, tức là từ
0
0 C đến 1000C (với điều kiện nước nguyên chất và áp suất là 1 atm) nước
chưa chuyển thành chất mới.
điểm giới hạn, mà ở đó sự vật chuyển thành chất mới gọi là điểm
nút. Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ điểm giới hạn mà tại đó sự
thay đổi về lượng đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật.
Quy luật Lượng - Chất


Triết học – duy vật biện chứng

Sự thay đổi về Lượng khi đạt tới điểm nút sẽ dẫn đến sự ra đời của
chất mới. Sự thống nhất giữa chất và Lượng mới tạo thành độ và điểm nút
mới. Vì vậy, có thể hình dung sự phát triển dưới dạng một đường nút của
những quan hệ về độ.
Khi lượng đã đủ, tại điểm nút, chất mới ra đời gọi là bước nhảy. Bước
nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hoá về chất của sự vật do
sự thay đổi về lượng của sự vật trước đó gây nên.
Trong lòch sử triết học, do tuyệt đối hoá tính tiệm tiến, tính dần dần của
sự thay đổi về lượng nên các nhà siêu hình đã phủ nhận sự tồn tại trong thực
tế của bước nhảy. Hêghen đã kòch liệt phê phán quan điểm đó và cho rằng
tính tiệm tiến chỉ là sự thay đổi về lượng, chỉ bằng phạm trù tính tiệm tiến thì
không thể giải thích được sự xuất hiện của chất mới. Ông cho rằng bất kỳ sự
thay đổi nào về chất cũng là sự đứt đoạn của tính tiệm tiến về lượng, đó là
bước nhảy. Lênin cũng nhấn mạnh: “tính tiệm tiến mà không có bước nhảy,
thì không giải thích được gì cả”.
Có rất nhiều hình thức bước nhảy, nó được quyết đònh bởi bản thân sự
vật và bởi những điều kiện cụ thể trong đó sự vật thực hiện bước nhảy.
Chẳng hạn, dựa vào nhòp điệu thực hiện bước nhảy của bản thân sự vật có
thể phân chia thành bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần.
Bước nhảy đột biến là bước nhảy được thực hiện trong một thời gian
rất ngắn làm thay đổi toàn bộ kết cấu cơ bản của sự vật. Ví dụ như …
Bước nhảy dần dần là bước nhảy được thực hiện từ từ, từng bước bằng
cách tích luỹ dần dần những nhân tố của chất mới và những nhân tố của chất
cũ dần dần mất đi. Chẳng hạn, ….
Quá trình thực hiện bước nhảy dần dần của sự vật là một quá trình
phức tạp, trong đó có cả sự tuần tự lẫn những bước nhảy diễn ra ở từng bộ
phận của sự vật. Nhưng cần phải phân biệt bước nhảy dần dần với sự thay
đổi dần dần vê lượng của sự vật. Bước nhảy dần dần là sự chuyển hoá dần
dần từ chất này sang chất khác, còn sự thay đổi dần dần về lượng chỉ là sự
tích luỹ liên tục về lượng để đến một giới hạn nhất đònh sẽ chuyển hoá vê
chất.
Căn cứ vào quy mô thực hiện bước nhảy của sự vật có bước nhảy toàn
bộ và bước nhảy cục bộ. Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi chất
của toàn bộ các mặt, các yếu tố cấu thành sự vật. Còn bước nhảy cục bộ là
bước nhảy làm thay đổi chất của những mặt, những yếu tố riêng lẻ của sự
vật.
Trong hiện thực, có những sự vật đa dạng và phức tạp về tính chất, về
yếu tố cấu trúc, về những bộ phận cấu thành thì bước nhảy thường diẽn ra
bằng con đường thực hiện bước nhảy cục bộ dẫn đến bước nhảy toàn bộ.
Quy luật Lượng - Chất


Triết học – duy vật biện chứng

Chẳng hạn, sự quá độ lên chủ nghóa xã hội ở nước ta diễn ra những bước
nhảy cục bộ để thực hiện bước nhảy toàn bộ. Chúng ta thực hiện những bước
nhảy cục bộ ở lónh vực kinh tế, chính trò, xã hội,… để đi đến bước nhảy toàn
bộ là xây dựng thành công chủ nghóa xã hội trên đất nước ta.
Khi xem xét sự thay đổi về chất của xã hội người ta còn phân chia sự
thay đổi đó thành thay đổi có tính chất cách mạng và thay đổi có tính chất
tiến hoá. Cách mạng là sự thay đổi trong đó chất của sự vật biến đổi căn bản,
không phụ thuộc vào hình thức biến đổi của nó. Tiến hoá là sự thay đổi về
lượng với những biến đổi nhất đònh về chất không cơ bản của sự vật. Tuy
nhiên, chỉ những sự thay đổi căn bản về chất có tính chất tiến bộ mới là cách
mạng còn những sự thay đổi về chất mà làm cho xã hội thụt lùi là phản cách
mạng.
Sau khi thực hiện bước nhảy, chất mới ra đời không phải đã kết thức
quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Chất mới ra đời sẽ tác
động trở lại lượng của sự vật. Chất mới có thể làm thay đổi kết cấu, quy mô,
trình độ, nhòp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật. Chẳng hạn, sau
khi qua điểm nút là kỳ thi tốt nghiệp, tức là thực hiện bước nhảy, sinh viên đã
trở thành Cử nhân. Trình độ văn hoá của họ sẽ cao hơn trước và sẽ tạo điều
kiện cho hò thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ tri thức, giúp họ tiến lên trình
độ cao hơn.
Từ những sự phân tích trên đây, chúng ta có thể rút ra nội dung của
quy luật này như sau: mọi sự vật đều là sự thống nhất giữa Lượng và Chất, sự
thay đổi dần dần về lượng tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất của sự
vật thông qua bước nhảy; Chất mới ra đời tác động trở lại tới sự thay đổi của
lượng mới. Quá trình tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không
ngừng phát triển, biến đổi.
Nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa thay đổi về Lượng
và thay đổi về Chất chúng ta sẽ rút ra được ý nghóa phương pháp luận quan
trọng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Thứ nhất, mọi sự vật, hiện tượng đều là thể thống nhất hữu cơ giữa
Chất và Lượng. Do đó, để có tri thức đầy đủ về sự vật ta phải nhận thức được
cả hai mặt Chất và Lượng của nó.
Thứ hai,

Quy luật Lượng - Chất



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×