Tải bản đầy đủ

Bài giảng Tư tưởng Hồ Chí Minh

Chương mở đầu
ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ Ý NGHĨA HỌC TẬP
MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
I. Đối tượng nghiên cứu
1.

Khái niệm tư tưởng và tư tưởng Hồ Chí Minh

a.Khái niệm tư tưởng và nhà tư tưởng
* Khái niệm “ tư tưởng”:
- Nghĩa rộng: tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của
con người với thế giới xung quanh.
- Nghĩa hẹp (trong thuật ngữ tư tưởng Hồ Chí Minh ): là một hệ thống những quan
điểm, quan niệm, luận điểm đựơc xây dựng trên một nền tảng triết học nhất quán, đại
biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc, được hình thành trên cơ sở
thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực.
*Khái niệm “nhà tư tưởng”:
Theo Lênin: đó là người đi trước phong trào tự phát, chỉ đường cho nó, khi họ biết
giải quyết trước người khác tất cả các vấn đề lý luận, chính trị, sách lược, các vấn đề về
tổ chức, về những yếu tố vật chất của phong trào.
Như vậy, theo Lênin, một người xứng đáng là nhà tư tưởng phải hội đủ các yếu tố sau:

- Có sự chuẩn bị đầy đủ về mặt lý luận, có khă năng đi trước, dự báo, chỉ đường cho
phong trào của quần chúng (còn tự phát).
- Có được tầm mắt chính trị rộng lớn để giải quyết thành công mọi vấn đề chiến lược,
sách lược của cách mạng.
- Có khả năng tài ba về tổ chức để có thể sáng lập một chính đảng cách mạng có sức
chiến đấu mạnh mẽ.
- Phải có một nghị lực cách mạng phi thường vượt qua mọi trở lực, khó khăn để thực
hiện tư tưởng của mình.
b. Định nghĩa và hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh
* Định nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh
Quá trình nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh đi từ thấp đến cao ngày
càng hoàn chỉnh, sâu sắc hơn.
- Lần đầu tiên, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2/1951) đã đánh giá rất
cao về ý nghĩa, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thắng lợi của cách mạng
Việt Nam. Đại hội đã đặt vấn đề toàn Đảng phải học tập tấm gương Hồ Chí Minh
1


một cách cơ bản, toàn diện, tương xứng với tầm vóc của nó, bao gồm đường lối, đạo
đức, tác phong... đồng thời nhấn mạnh đó là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho thắng
lợi của cách mạng.
- Đại hội ĐBTQ lần thứ VII của Đảng(6/1991) đánh dấu bước phát triển mới trong
nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội đã trân
trọng ghi vào Cương lĩnh và Điều lệ của mình: Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Văn
kiện của Đại hội định nghĩa: “tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả sự vận dụng
sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta, và trong thực tế
tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả
dân tộc”.
- Đại hội ĐBTQ lần thứ IX của Đảng (4/2001) đã tiến thêm một bước, đưa ra một
khái niệm tương đối hoàn chỉnh về tư tưởng Hồ Chí Minh, nêu lên những nội dung
cơ bản và ý nghĩa giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam: “
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển
sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát
triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân
loại...Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành
thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”.
- Các nhà khoa học đã đưa ra một định nghĩa: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ
thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt

Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là
kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện
cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm
giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
* Hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm về cách mạng Việt Nam:
- về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc
- về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam
- về Đảng Cộng sản Việt Nam
- về đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế
- về dân chủ, Nhà nước của dân, do dân, vì dân
- về văn hóa, đạo đức và con người ...
* Cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh

2


- Tư tưởng về độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng
con người.
2. Đối tượng và nhiệm vụ của môn học tư tưởng Hồ Chí Minh
a. Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống các quan điểm, lý luận của Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam mà
cốt lõi là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
- Sự vận động của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam
b. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu, làm rõ các nội dung sau:
- Cơ sở (khách quan và chủ quan) hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm khẳng định
sự ra đời của tư tưởng Hồ Chí Minh là một tất yếu khách quan.
- Các giai đoạn hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Nội dung, bản chất cách mạng, khoa học, đặc điểm của các quan điểm trong hệ
thống tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Vai trò nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với
cách mạng Việt Nam.
- Quá trình nhận thức, vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh qua các giai đoạn
cách mạng của Đảng và Nhà nước ta.
- Các giá trị tư tưởng, lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với kho tàng tư tưởng , lý
luận cách mạng thế giới của thời đại.
3. Mối quan hệ của môn học này với môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin và môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
a. Mối quan hệ của môn học tư tưởng Hồ Chí Minh với môn học Những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
- Chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận, nguồn gốc tư
tưởng, lý luận trực tiếp quyết định bản chất cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí
Minh.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng Mác – Lênin, là sự vận dụng sáng tạo và
phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.


Hai môn học có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ, thống nhất.

b. Mối quan hệ của môn học tư tưởng Hồ Chí Minh với môn học Đường lối cách
mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

3


- Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, là
người vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn cho dân tộc để đưa cách mạng Việt Nam
đi đến thắng lợi.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng cùng với chủ nghĩa Mác Lênin là cơ sở khoa học để xây dựng đường lối, chiến lược, sách lược cách mạng
đúng đắn.
 Môn học tư tưởng Hồ Chí Minh gắn bó chặt chẽ với môn Đường lối cách mạng
của Đảng Cộng sản Việt Nam: nghiên cứu, giảng dạy, học tập tư tưởng Hồ Chí
Minh trang bị cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học để nắm vững
kiến thức về đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
II. Phương pháp nghiên cứu
1. Cơ sở phương pháp luận
a. Bảo đảm sự thống nhất nguyên tắc tính Đảng và tính khoa học
- Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh phải đứng trên lập trường, quan điểm, phương
pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt
Nam.
- Bảo đảm tính khách quan, trung thực khi phân tích, lý giải và đánh giá tư tưởng Hồ
Chí Minh, tránh áp đặt, cường điệu hóa, hiện đại hóa.
 Tính Đảng và tính khoa học thống nhất: sự phản ánh trung thực, khách quan tư
tưởng Hồ Chí Minh trên cơ sở lập trường, phương pháp luận và định hướng chính
trị.
b. Quan điểm thực tiễn và nguyên tắc lý luận gắn liền với thực tiễn
- Quan điểm thực tiễn: xuất phát từ thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn để nâng cao
trình độ lý luận để lý luận quay trở lại phục vụ cho thực tiễn.
- Gắn lý luận với thực tiễn, nói đi đôi với làm vì :Thực tiễn không có lý luận là thực
tiễn mù quáng, lý luận không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông.
c. Quan điểm lịch sử – cụ thể
-Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của một thời kỳ lịch sử cụ thể. Do đó khi
nghiên cứu, vận dụng một câu nói, hành động của Hồ Chí Minh phải đặt trong bối
cảnh lịch sử cụ thể: trong hoàn cảnh nào, với ai, nhằm mục đích gì...để không dẫn
đế những quy kết lầm lẫn, sai lệch với tư tưởng của Người. Từ đó, nắm vững bản
chất tư tưởng Hồ Chí Minh.
d. Quan điểm toàn diện và hệ thống
- Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về cách
mạng Việt Nam mà hạt nhân cốt lõi là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Mọi tư
tưởng cụ thể đều xuất phát từ đó và phục vụ cho mục tiêu đó. Tách rời một yếu tố
nào ra khỏi hệ thống sẽ hiểu sai tư tưởng Hồ Chí Minh.
4


e.Quan điểm kế thừa và phát triển
- Tư tưởng Hồ Chí Minh là tinh hoa của tư tưởng – văn hóa Việt Nam, là sự vận
dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam. Bản chất tư tưởng
Hồ Chí Minh là khoa học, cách mạng và sáng tạo nên luôn luôn mới. Do vậy, chúng
ta phải nghiên cứu, học tập, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh
trong điều kiện mới.
g. Kết hợp nghiên cứu các tác phẩm với thực tiễn chỉ đạo cách mạng của Hồ Chí
Minh
- Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ căn cứ vào các tác phẩm, bài viết, bài
nói...mà cần coi trọng hoạt động thực tiễn của Người. Hồ Chí Minh là người nói ít,
làm nhiều, thậm chí làm mà không nói nên sẽ là không đầy đủ nếu chỉ nghiên cứu
các tác phẩm của Người. Chính thông qua hoạt động thực tiễn cách mạng của
Người, kết quả của sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam sẽ thấy được giá trị
tư tưởng Hồ Chí Minh rõ ràng, cụ thể, sinh động.
2. Các phương pháp cụ thể
- Định nghĩa phương pháp: là cách thức đề cập tới hiện thực, cách thức nghiên cứu các
hiện tượng của tự nhiên và của xã hội. Phương pháp là hệ thống các nguyên tắc điều
chỉnh nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn xuất phát từ các quy luật vận động
của khách thể được nhận thức.
- Vận dụng các phương pháp trong nghiên cứu phù hợp nội dung: phương pháp lịch sử
(nghiên cứu sự vật, hiện tượng theo quá trình phát sinh, tồn tại, phát triển), phương
pháp lôgic (nghiên cứu một cách tổng quát nhằm tìm ra được cái bản chất vốn có
của sự vật, hiện tượng và khái quát thành lý luận).
- Vận dụng phương pháp liên ngành trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư
tưởng Hồ Chí Minh bao quát nhiều lĩnh vực. Do vậy, cần phải áp dụng các phương
pháp liên ngành khoa học xã hội – nhân văn, lý luận chính trị để nghiên cứu hệ
thống tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Các phương pháp cụ thể thường được áp dụng: phân tích, tổng hợp, so sánh, đối
chiếu, thống kê trắc lượng, văn bản học, điều tra điền dã, phỏng vấn nhân chứng lịch
sử...Cần phải đổi mới và hiện đại hóa các phương pháp nghiên cứu cụ thể để có kết
quả tốt hơn.
III. Ý nghĩa của việc học tập môn học đối với sinh viên
1. Nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp công tác
- Làm cho sinh viên nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của tư tưởng Hồ Chí Minh
đối với đời sống cách mạng Việt Nam, làm cho tư tưởng của Người giữ vai trò chủ
đạo trong đời sống tinh thần của thế hệ trẻ nước ta.
- Bồi dưỡng, củng cố cho sinh viên, thanh niên lập trường, quan điểm cách mạng trên
nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,; kiên định mục tiêu độc lập
5


dân tộc gắn liền với CNXH; đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, bảo vệ chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng,
Nhà nước ta; biết vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào giải quyết các vấn đề đặt ra
trong cuộc sống.
2. Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng và rèn luyện bản lĩnh chính trị
- Tư tưởng Hồ Chí Minh giáo dục đạo đức, tư cách, phẩm chất cho cán bộ, đảng viên
và toàn dân, củng cố niềm tin, nâng cao lòng tự hào dân tộc, giữ vững lập trường
trước những biến cố, thử thách.
- Sinh viên biết vận dụng những kiến thức đã được học để tu dưỡng, rèn luyện bản
thân, đóng góp thiết thực và hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng của đất nước.

Chương I
CƠ SỞ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
I. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
1. Cơ sở khách quan
a. Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
• Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
- Trước khi Pháp xâm lược, xã hội Việt Nam vẫn là một xã hội phong kiến, nông
nghiệp lạc hậu.
- Chính quyền nhà Nguyễn trong thì sợ nhân dân, ngoài thì bạc nhược trước kẻ thù
nên đã từng bước nhân nhượng, ký kết các hiệp ước đầu hàng để giữ lấy ngai vàng và
lợi ích riêng của hoàng tộc, thừa nhận sự bảo hộ của thực dân Pháp trên toàn cõi Việt
Nam.
 Dân tộc Việt Nam chìm đắm trong cảnh nô lệ dưới ách thống trị của thực dân
Pháp và phong kiến tay sai. Nhu cầu giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho
nhân dân được đặt ra bức thiết.
*Mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội Việt Nam thời kỳ này là gì?
( Gợi ý: giữa toàn thể nhân dân Việt Nam và thực dân Pháp và tay sai).
- Các cuộc khởi nghĩa vũ trang kháng chiến chống Pháp nổ ra rầm rộ:
*Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến:
6


-Phong trào Cần vương( 1885 - !896). 7/1885, vua Hàm Nghi xuống chiếu “Cần
Vương”. Phong trào Cần Vương nhanh chóng lan rộng trong cả nước, dân chúng và sĩ
phu cả nước đứng dậy cầm vũ khí đánh giặc.
- Khởi nghĩa Yên Thế: Phong trào yêu nước của nông dân do Hoàng Hoa Thám
lãnh đạo(1884 – 1913).

Các phong trào yêu nước đều thất bại vì chưa có một đường lối kháng chiến
rõ ràng. Hệ tư tưởng phong kiến đã tỏ ra lỗi thời trước nhiệm vụ lịch sử.
*Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản
- Đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam có sự chuyển biến và phân hóa, giai cấp công nhân,
tầng lớp tiểu tư sản và tư sản bắt đầu xuất hiện tạo tiền đề bên trong cho phong trào
yêu nước giải phóng dân tộc.
- Trào lưu dân chủ tư sản qua các “tân thư”, “tân văn” của Khang Hữu Vy và Lương
Khải Siêu ở Trung Quốc, gương Duy Tân ở Nhật Bản... đã lôi cuốn nhiều sĩ phu yêu
nước. Tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh
- Phan Bội Châu: Phong trào Đông Du(1904), Việt Nam Quang phục hội(1912).
Ông đại diện cho xu hướng bạo động, chủ trương dùng biện pháp bạo động để đánh
đuổi thực dân Pháp, khôi phục nền độc lập cho đất nước. Hạn chế lớn nhất của ông là
dựa vào Nhật để đuổi Pháp, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau” (Trần
Dân Tiên).
- Phan Chu Trinh (phong trào Duy Tân): đại diện cho xu hướng cải cách. Hạn chế của
Phan Chu Trinh là đường lối cải lương, phản đối bạo động(“bạo động tắc tử” ) và
muốn dựa vào Pháp để chống phong kiến, chẳng khác gì “xin giặc rủ lòng
thương”(Trần Dân Tiên).
*Điểm hạn chế giống nhau giữa Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh là gì?
(Gợi ý: Chưa tiếp cận xu thế thời đại mới, chưa biết dựa vào chính nhân dân nên
không tìm ra được con đường giành độc lập dân tộc một cách triệt để).
 Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản thất bại một phần vì chưa
lôi cuốn được các tầng lớp nhân dân, phần khác vì các phong trào đó vẫn do các sỹ
phu phong kiến cựu học truyền bá và dẫn dắt nên không tránh khỏi hạn chế.
Phong trào cứu nước của nhân dân ta muốn giành thắng lợi phải đi theo một con
đường mới.
• Bối cảnh thời đại
- Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền (chủ
nghĩa đế quốc), xác lập sự thống trị của chúng trên phạm vi thế giới. Nhiều mâu thuẫn
thời đại đã nảy sinh, nhất là mâu thuẫn giữa nhân dân thuộc địa và CNĐQ.

7


- Chủ nghĩa Mác - Lênin xâm nhập vào phong trào công nhân, phong trào cách mạng
thế giới cả chiều rộng và chiều sâu, đã trở thành hệ tư tưởng và ngọn cờ của các phong
trào đấu tranh giải phóng giai cấp, dân tộc.
- 1917, Cách mạng Tháng 10 Nga thắng lợi, lập nên nhà nước xô viết đã mở ra thời
đại mới trong lịch sử loài người “thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải
phóng dân tộc”. Thắng lợi của cách mạng Tháng 10 Nga đã tác động sâu sắc đến nhận
thức tư tưởng, việc lựa chọn con đường giải phóng và phát triển dân tộc ở Hồ Chí
Minh.
*Vì sao nói cách mạng Tháng 10 Nga là cuộc cách mạng triệt để, nhân đạo?
(Gợi ý: Nhờ cuộc cách mạng đó mà nhân dân lao động đã làm chủ nước nhà,
những dân tộc nhỏ yếu giành được độc lập, ruộng đất đã về tay người cày).
- 3/1919, V.I.Lênin thành lập Quốc tế III. Sự ra đời của Quốc tế cộng sản có ý nghĩa
thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
b.

Các tiền đề tư tưởng, lý luận



Giá trị truyền thống dân tộc.

*Các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam bao gồm những nội dung gì?
- Chủ nghĩa yêu nước: Chủ nghĩa yêu nước truyền thống giữ vai trò cốt lõi trong
các giá trị truyền thống của dân tộc đối với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Tinh thần tương thân, tương ái, nhân nghĩa
- Truyền thống lạc quan, yêu đời, vươn lên vượt qua mọi khó khăn, thử thách
- Trí thông minh, tài sáng tạo, quý trọng hiền tài, khiêm tốn học hỏi


Tinh hoa văn hóa nhân loại

* Tinh hoa văn hóa phương Đông
Nho giáo:
* Nho giáo và Phật giáo có những mặt tích cực nào?
Hồ Chí Minh tiếp thu những mặt tích cực của Nho giáo:
- Triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời, ước vọng về một xã hội
bình trị, hoà mục, hoà đồng, là triết lý nhân sinh: tu thân dưỡng tính.
- Đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học (về điểm này, Nho giáo hơn
hẳn các học thuyết cổ đại chủ trương ngu dân để dễ cai trị “Chính trị tốt thì dân giàu,
giáo dục tốt thì được lòng dân” (Mạnh Tử)
Phật giáo:
-Tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, thương người như thể thương thân.
- Nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện
8


- Tinh thần bình đẳng, dân chủ, chống phân biệt đẳng cấp. Đức Phật nói: “Ta là Phật
đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”.
- Đề cao lao động, chống lười biếng.
- Khi Phật giáo vào Việt Nam gặp chủ nghĩa yêu nước hình thành nên Thiền phái Trúc
lâm Việt Nam chủ trương không xa lánh việc đời mà gắn bó với dân, với nước, tích
cực tham gia vào cuộc đấu tranh của nhân dân chống kẻ thù dân tộc.
 Hồ Chí Minh đã biết khai thác những yếu tố tích cực của văn hóa phương Đông để
phục vụ cho sự nghiệp cách mạng.
Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn
- Khi đã trở thành người mác xít, Nguyễn Ái Quốc tìm hiểu thêm về chủ nghĩa Tam
dân của Tôn Trung Sơn: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc và tìm
thấy trong đó những điều thích hợp với điều kiện nước ta.
*Tinh hoa văn hóa phương Tây
- Người tiếp thu tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái (Tuyên ngôn nhân quyền và dân
quyền của Đại cách mạng Pháp 1789)
- Người tiếp thu các giá trị về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc
của Tuyên ngôn độc lập ở Mỹ năm 1776.
- Nguyễn Ái Quốc còn được hấp thu tư tưởng dân chủ và hình thành phong cách dân
chủ của mình từ trong cuộc sống thực tiễn.

Tóm lại: Hồ Chí Minh đã tự biết làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ
của thời đại (Đông và Tây), vừa tiếp thu, vừa gạn lọc để từ tầm cao tri thức nhân
loại mà suy nghĩ, lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển.


Chủ nghĩa Mác - Lênin :
Là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh
Con đường Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin:

- Với nền tảng những tri thức văn hoá được chắt lọc, một vốn học vấn chắc chắn,
năng lực trí tuệ sắc sảo, Nguyễn Tất Thành đã phân tích, tổng kết các phong trào yêu
nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và nhận thấy hạn chế của các
phong trào đó.
- Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của
cách mạng Việt Nam. Sau khi đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về
vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin (1920), Người đã tìm ra con đường
giải phóng dân tộc mình: con đường cách mạng vô sản.
- Khi vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã không quá lệ thuộc vào câu
chữ máy móc mà nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất. Người đã vận dụng lập trường,
9


quan điểm, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết những
vấn đề của thực tiễn cách mạng Việt Nam đặt ra.
 Thế giới quan và phương pháp luận Mác – Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tổng kết
kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra con đường cứu nước đúng đắn.
*Sự kiện nào làm cho Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo quốc tế thứ
ba?
( Gợi ý: Khi Người được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề
dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin (1920).
2. Nhân tố chủ quan: phẩm chất cá nhân Hồ Chí Minh
a. Khả năng tư duy và trí tuệ
- Là người thông minh, năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, không ngừng học hỏi,
quan sát, nhận xét, phê phán, năng lực phân tích, so sánh, tổng hợp...làm phong phú
thêm hiểu biết của bản thân:
+/So với nhiều lãnh tụ nổi tiếng trên thế giới, Hồ Chí Minh không được học nhiều
ở trường lớp mà chủ yếu tự nghiên cứu, học tập qua hoạt động thực tiễn, nhưng nhờ
khả năng tư duy và trí tuệ tuyệt vời mà Người có một vốn hiểu biết uyên thâm.
+/Khi nghiên cứu các phong trào yêu nước của các bậc tiền bối, Người đã nhận ra
hạn chế trong đường lối của họ và đi tìm con đường mới để cứu nước.
+/Khi nghiên cứu các cuộc cách mạng Mỹ (1776), Pháp(1789), Người nhận thấy
những tư tưởng tiến bộ, nhưng khi tận mắt chứng kiến cuộc sống của người dân lao
động ở những nước này, Người đã kết luận đó là những cuộc cách mạng “không đến
nơi”.
+/ Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã khám phá ra các quy luật
vận động xã hội, đời sống văn hóa, cuộc đấu tranh của các dân tộc trong hoàn cảnh
cụ thể để khái quát thành lý luận chỉ đạo thực tiễn.
b. Nhân cách, phẩm chất đạo đức
Hồ Chí Minh là người đặt nền móng và sáng tạo ra nền đạo đức mới- đạo đức cách
mạng. Bản thân Người chính là tấm gương đạo đức sáng ngời nhất.
- Có tình yêu thương con người vô bờ, phấn đấu, hy sinh trọn đời vì đất nước, vì dân
tộc, mục tiêu ở đời và làm người của Bác đồng nhất với mục tiêu chung cho cả dân
tộc : “ Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi
muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”, “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn
tột bậc là làm cho cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do,
đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
- Đạo đức trong sáng
- Có lối sống giản dị, khiêm tốn, ham học hỏi
10


*Hãy nêu một vài ví dụ về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh?
c. Năng lực hoạt động, tổng kết thực tiễn
- So với nhiều nhà hoạt động chính trị khác, Hồ Chí Minh có lẽ là người đi nhiều nhất.
Trong 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã đến khoảng 30 nước, làm nhiều
nghề để vừa kiếm sống vừa hoạt động cách mạng.
- Chính hoạt động thực tiễn phong phú cùng với khả năng tư duy, trí tuệ siêu việt, đã
từng bước hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh.
 Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm tổng hòa của những điều kiện khách quan và
chủ quan. Cùng với thực tiễn dân tộc và thời đại được Hồ Chí Minh tổng kết, chuyển
hóa sắc sảo, tinh tế với một phương pháp khoa học biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh
đã trở thành tư tưởng Việt Nam hiện đại.
II. Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
1. Thời kỳ trước năm 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước
• Tiếp thu truyền thống của gia đình, quê hương, đất nước
*Gia đình:
- Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, lớn lên lấy tên là Nguyễn Tất
Thành) sinh ngày 19/5/1890 tại làng Hoàng Trù, thuộc xã Chung cự, tổng Lâm Thịnh
(nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, Nghệ An) trong một gia đình nhà nho yêu
nước, gần gũi với nhân dân.
- Cha: Nguyễn Sinh Sắc (1862 – 1929): là một nhà nho cấp tiến, có lòng yêu nước,
thương dân sâu sắc. Tấm gương lao động cần cù, ý chí kiên cường, vượt khó, đặc biệt
là tư tưởng thân dân, lấy dân làm hậu thuẫn cho các cuộc cải cách chính trị – xã hội
của người cha đã có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình hình thành nhân cách của
Nguyễn Tất Thành.
- Mẹ : Hoàng Thị Loan (1868 -1901) là một người vợ, người mẹ đảm đang, nhân hậu,
hy sinh cả đời mình cho chồng, con. Nhân cách, phẩm chất đạo đức của người mẹ
cũng ảnh hưởng nhiều đến tư tưởng, tình cảm của cậu bé Nguyễn Sinh Cung.
- Anh và chị của Nguyễn Sinh Cung: Đều là những người yêu nước và có tham gia
phong trào yêu nước
*Quê hương
Nghệ Tĩnh là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm, có truyền
thống văn hóa, hiếu học nơi sản sinh ra nhiều anh hùng dân tộc như: Mai Thúc Loan
(722), Nguyễn Biểu, Đặng Dung... các lãnh tụ yêu nước thời cận đại như Phan Đình
Phùng, Phan Bội Châu...những liệt sĩ chống Pháp ở Kim Liên như Vương Thúc Mậu,
Nguyễn Sinh Quyến...Với truyền thống hiếu học, từ năm 1635 đến 1918, qua 96 khoa
thi hương và thi hội thì làng Kim Liên có 53 người đỗ đạt.
11


 Sự yêu thương, chăm sóc của gia đình cùng với truyền thống tốt đẹp của quê
hương đã góp phần bồi đắp nên một nhân cách lớn, người anh hùng giải phóng dân
tộc, nhà tư tưởng, nhà văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh.


Rút ra bài học từ các cuộc đấu tranh chống Pháp

- Nguyễn Sinh Cung chào đời vào lúc thực dân Pháp đã đặt ách cai trị lên toàn cõi
Việt Nam. Từ nhỏ, Anh đã phải chứng kiến cuộc sống nghèo khổ, bị đàn áp, bị bóc lột
đến cùng cực của đồng bào mình. Anh đã có chí muốn đánh đuổi Pháp để đồng bào
thoát khỏi cảnh lầm than, nhưng phải đi theo con đường nào?
- Người đã sớm nhận ra hạn chế trong đường lối cứu nước của các bậc tiền bối như:
Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hoàng Hoa Thám... và tìm hướng đi riêng cho mình.
• Nung nấu ý chí yêu nước và ra đi tìm đường cứu nước
- Cùng với việc nhận ra những hạn chế của những đường lối cứu nước cũ, Người đã
vạch ra cho mình một hướng đi mới : đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác.
Sau khi xem xét họ làm như thế nào, sẽ trở về giúp đồng bào mình.
*Nguyễn Tất Thành đã rút ra được bài học gì từ những thất bại của các phong trào
chống Pháp?
(Gợi ý: đường lối cứu nước không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, không
đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đất nước đặt ra).
2. Thời kỳ từ năm 1911 – 1920: Tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc

Tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới và khảo sát cuộc sống của nhân
dân lao động
- Anh đã làm rất nhiều nghề để kiếm sống, để tìm hiểu đời sống chính trị, văn hóa, xã
hội, nghiên cứu các cuộc cách mạng lớn
+/ Đi qua nhiều nước, sống với những người cùng khổ, anh nhận thấy ở đâu nhân
dân thuộc địa cũng đều khổ cực dưới ách áp bức của thực dân.
+/ Khảo sát các cuộc cách mạng Mỹ (1776), đại cách mạng Pháp (1789), anh rút ra
được nhiều bài học, nhưng điều cơ bản là đó là các cuộc “cách mạng không đến nơi,
tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp
bức thuộc địa”. Do đó, cách mạng Việt Nam không theo con đường này.
- 1919, nhân dịp Hội nghị hoà bình được triệu tập tại Véc-xây, Nguyễn Ái Quốc nhân
danh những người Việt Nam yêu nước gửi tới Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân
An- Nam, đòi các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho Việt Nam. Nhưng bản yêu sách
đã không được chấp nhận. Sự kiện này giúp Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ: “muốn được
giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào bản thân mình”.


Đi theo con đường của Cách mạng Tháng 10 Nga, đi theo Quốc tế Cộng sản

12


- Khi nghiên cứu Cách mạng Tháng 10 Nga, Nguyễn Ái Quốc ngưỡng mộ cuộc cách
mạng đó, kính phục Lênin. Người đánh giá đó là cuộc cách mạng triệt để và nhân đạo,
khác hẳn so với cách mạng dân chủ tư sản.
- 3/1919, Quốc tế III được thành lập có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng thế
giới .
- 1920, khi được đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và
vấn đề thuộc địa của Lênin, Người đã sung sướng trào nước mắt. Luận cương của
Lênin đã giải đáp trúng những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở, tìm hiểu.
Người đã biểu quyết tán thành đứng về Quốc tế III, tham gia thành lập Đảng cộng sản
Pháp và là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Sự kiện này đã đánh dấu bước
chuyển biến về chất trong tư tưởng Nguyễn Ái Quốc, từ chủ nghĩa yêu nước đến với
chủ nghĩa Mác - Lênin, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp, từ người yêu nước
thành người cộng sản.
*Vì sao Nguyễn Ái Quốc lựa chọn cách mạng vô sản là con đường cứu nước?
(Gợi ý: đó là con đường duy nhất đem lại độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho
nhân dân).
3. Thời kỳ năm 1921 - 1930 : Hình thành cơ bản tư tưởng về con đường cách mạng
Việt Nam

Hoạt động thực tiễn và lý luận cực kỳ sôi nổi, phong phú, chuẩn bị thành lập
chính đảng ở Việt Nam
- Hoạt động trên nhiều địa bàn: ở Pháp (1921 -1923), Liên Xô (1923 – 1924), Trung
Quốc (1924 – 1927), Thái Lan (1928 – 1929)
- Hoạt động tích cực trong Ban Nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp, tham
gia sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa(1921), xuất bản báo Người cùng khổ (Le paria)
nhằm tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin vào các nước thuộc địa.
- Dự Hội nghị quốc tế nông dân (ở Matxcơva -1923), tham dự Đại hội quốc tế Cộng
sản lần thứ V, Đại hội quốc tế Thanh niên, Quốc tế cứu tế đỏ, quốc tế công hội đỏ...
- Cuối năm 1924: Về Quảng Châu, tổ chức ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, ra
báo Thanh niên, mở các lớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ đưa về nước hoạt
động.
- 2/1930, chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước, thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam
- Viết nhiều bài báo tố cáo chủ nghĩa thực dân, đề cập đến mối quan hệ mật thiết giữa
cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc.
- Viết các tác phẩm : Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường kách mệnh (1927),
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (1930) và nhiều bài viết khác của Người là sự
phát triển và tiếp tục hoàn thiện tư tưởng cách mạng về giải phóng dân tộc.
13




Nội dung cơ bản của các tác phẩm trong giai đoạn này

- Kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa, của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động toàn thế giới là chủ nghĩa thực dân.
- Con đường giải phóng dân tộc trong thời đại mới là cách mạng vô sản và là một bộ
phận của cách mạng vô sản thế giới. Giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng
nhân dân lao động, giải phóng giai cấp công nhân.
- Cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có mối
liên hệ khăng khít nhưng không phụ thuộc vào nhau. Cách mạng giải phóng dân tộc
có thể bùng nổ và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.
- Mục tiêu, nhiệm vụ: Cách mạng thuộc địa trước hết là một cuộc “dân tộc cách
mệnh”, đánh đuổi bọn ngoại xâm, giành độc lập, tự do.
- Lực lượng cách mạng: xây dựng khối liên minh công nông, đồng thời thu hút, tập
hợp rộng rãi các giai cấp xã hội khác.
- Vai trò của Đảng: quyết định thành công của cách mạng
- Phương pháp cách mạng: tập hợp, giác ngộ, tổ chức quần chúng đấu tranh từ thấp
đến cao.
 Đó là những quan điểm cách mạng, khoa học và sáng tạo phù hợp với nhu cầu thực
tiễn khách quan của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam, phù hợp với xu
thế của thời đại. Các văn kiện thể hiện rõ mối quan hệ và kết hợp nhuần nhuyễn quan
điểm dân tộc với quan điểm giai cấp, quốc gia và quốc tế, trong đó thể hiện đậm nét
yếu tố dân tộc theo lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, yếu tố thể hiện sự độc đáo
của cách mạng Việt Nam: độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội.
*Tư tưởng của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc có những điểm gì tiến
bộ so với tư tưởng của các bậc tiền bối cách mạng?
(Gợi ý: so sánh về lực lượng cách mạng, phương pháp cách mạng, đoàn kết quốc
tế...).
4. Thời kỳ 1930-1945: Vượt qua thử thách, kiên trì giữ vững lập trường cách mạng


Thử thách bản lĩnh

- Quốc tế cộng sản đã chỉ trích và phê phán đường lối mà Nguyễn Ái Quốc vạch ra
trong hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản (1930): cho rằng Nguyễn Ái Quốc coi
nhẹ đấu tranh giai cấp, dân tộc chủ nghĩa, cải lương...
*Vì sao Quốc tế cộng sản phê phán đường lối mà Nguyễn Ái Quốc đã đề ra trong Hội
nghị hợp nhất?
+/ Nguyên nhân:- Do không sát tình hình thực tế các thuộc địa ở phương Đông
và Việt Nam.
14


- Do nhận thức giáo điều, máy móc về vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng ở
thuộc địa, lại bị chi phối bởi khuynh hướng “tả”
- Hội nghị Trung ương tháng 10/1930 của Đảng ta, theo sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng
sản, đã ra nghị quyết thủ tiêu chánh cương, sách lược vắn tắt.
- Nguyễn Ái Quốc đã kiên trì bảo vệ quan điểm của mình về vấn đề dân tộc, vấn đề
giai cấp, về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa và cách mạng vô sản, chống
khuynh hướng “tả” trong Đảng.
- 7/1935: Đại hội VII Quốc tế Cộng sản sửa chữa tư tưởng giáo điều, tả khuynh.
- Ở Việt Nam, Đảng ta đã chuyển hướng đấu tranh thời kỳ 1936 -1939, từ 1939 đặt
vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu.


Trở về Tổ quốc lãnh đạo cách mạng giành thắng lợi

- 1941: Trở về Tổ quốc, chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ tám của Đảng, hoàn
chỉnh việc chuyển hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam: tạm gác khẩu hiệu
ruộng đất, xoá bỏ vấn đề liên bang Đông Dương, thành lập mặt trận Việt Minh, đoàn
kết toàn dân tộc.
- Cách mạng tháng 8/1945 thắng lợi, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời là nhà
nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một kỷ nguyên mới: độc lập
dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội.
- Là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin được vận dụng và phát triển sáng tạo ở Việt
Nam, thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn do Hồ Chí Minh đề ra từ năm
1930.
5. Thời kỳ từ 1945 – 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, hoàn thiện

Củng cố, xây dựng và bảo vệ chính quyền, lãnh đạo kháng chiến chống Pháp
thắng lợi
- 9/1945, thực dân Pháp núp bóng quân Anh đánh chiếm Sài Gòn rồi Nam Bộ. Ở miền
Bắc, quân Tưởng kéo vào hòng âm mưu tiêu diệt Đảng ta.
- Hồ Chí Minh đã thực hiện đối nội, đối ngoại khéo léo:
+/ Đối nội: củng cố chính quyền, chống giặc đói, giặc dốt, vận động nhân dân tăng gia
sản xuất...
+/ Đối ngoại: mềm dẻo, linh hoạt, thêm bạn, bớt thù: hoà với Tưởng để tập trung lực
lượng chống Pháp, hoà với Pháp để đuổi Tưởng về nước.
- 12/1946, Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến với đường lối: toàn
dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh.
- 1954: kháng chiến chống Pháp thắng lợi

Lãnh đạo xây dựng CNXH ở Miền Bắc, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân ở miền Nam, kháng chiến chống Mỹ cứu nước
15


-Sau năm 1954, trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới, Chủ
tịch Hồ Chí Minh và trung ương Đảng đã đề ra nhiệm vụ cho từng miền:
- Miền Bắc được giải phóng, từng bước khôi phục kinh tế tiến lên xây dựng CNXH, là
hậu phương vững chắc cho miền Nam.
- Miền Nam: Giữ gìn lực lượng, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc
dân chủ, thống nhất đất nước.
Nhiệm vụ giữa hai miền có quan hệ chặt chẽ với nhau.

Tư tưởng Hồ Chí Minh được bổ sung, phát triển và hoàn thiện hợp thành một
hệ thống những quan điểm lý luận của cách mạng Việt Nam:
- Tư tưởng về CNXH và con đường quá độ đi lên CNXH
- Xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân
- Tư tưởng và chiến lược về con người Hồ Chí Minh
- Xây dựng Đảng Cộng sản với tư cách một đảng cầm quyền
- Về quan hệ quốc tế và đường lối đối ngoại...
III. Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh
1.Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường giải phóng và phát triển dân tộc
a. Tài sản tinh thần vô giá của dân tộc
• Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của dân tộc và thời đại, nó trường tồn,
bất diệt, là tài sản vô giá của dân tộc:
- Hồ Chí Minh tiếp thu, kế thừa tinh hoa văn hoá của dân tộc, nhân loại, chủ nghĩa
Mác - Lênin
- Đáp ứng nhiều vấn đề của thời đại, của cách mạng Việt Nam và thế giới.
- Không những trung thành với những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin
mà còn vận dụng, phát triển sáng tạo những nguyên lý đó cho phù hợp điều kiện cụ
thể của Việt Nam.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được thực tiễn kiểm nghiệm và cho đến ngày nay vẫn còn
nguyên giá trị, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho hành động cách mạng.

Nét đặc sắc nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh là những vấn đề xung quanh việc
giải phóng dân tộc và định hướng cho sự phát triển của dân tộc.
- Ngay từ những năm 30 của thế kỷ XX, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng,
Hồ Chí Minh đã xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là: làm
tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Đường
lối đó đã định hướng cho sự phát triển của tiến trình cách mạng Việt Nam
b. Nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam
16


-Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn cờ tập hợp, dẫn dắt cách mạng Việt
Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác: cách mạng tháng 8/1945, thắng lợi của 2
cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới.
- Ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục soi đường cho Đảng ta và nhân dân ta
trên con đường thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh
*Cần phải làm gì để tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành kim chỉ nam cho hành
động của toàn Đảng, toàn dân?
(Gợi ý: phải đẩy mạnh nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh một cách cơ bản, hệ thống,
tổ chức học tập tư tưởng Hồ Chí Minh một cách thiết thực, bằng nhiều hình thức đưa
tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống..)
2.Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự phát triển thế giới
a. Phản ánh khát vọng thời đại
- Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử vĩ đại, không chỉ là sản phẩm của dân tộc,
của giai cấp công nhân Việt Nam mà là sản phẩm của thời đại, của nhân loại tiến bộ.
- Nguyễn Ái Quốc là một người dân thuộc địa, người dân mất nước ra đi tìm đường
cứu nước nên Người thấu hiểu nỗi nhục mất nước và khát vọng giải phóng dân tộc của
hàng trăm triệu con người bị áp bức trong các nước thuộc địa và lạc hậu.
- Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã có những cống hiến xuất sắc
về lý luận cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa.
 Hồ Chí Minh đã hình thành một hệ thống các luận điểm chính xác và đúng đắn về
vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, góp phần làm phong
phú thêm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin.
 Ngày nay, việc xác định đúng đắn những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam
trong tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị to lớn về mặt lý luận và đang trở thành hiện
thực của nhiều vấn đề quốc tế.
b.Tìm ra các giải pháp đấu tranh giải phóng loài người
- Đóng góp lớn nhất của Hồ Chí Minh đối với thời đại là việc tìm được con đường
cứu nước cho dân tộc, thức tỉnh nhân dân bị áp bức đứng lên đấu tranh giành tự do,
xây dựng cuộc đời ấm no, hạnh phúc.
- Để giải phóng các dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh đã xác định kẻ thù lớn nhất của
các dân tộc bị áp bức là CNĐQ và để chiến thắng thì cần phải thực hiện “đại đoàn kết,
đại hòa hợp”. Đây là đóng góp to lớn của Người vào kho tàng kinh nghiệm cách mạng
thế giới.
- Ngày từ rất sớm Người đã nhận thức đúng sự biến chuyển của thời đại, nắm vững
đặc điểm của thời đại, đặt cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa trong phạm trù
cách mạng vô sản, bảo vệ và phát triển quan điểm của Lênin về khả năng to lớn và vai
17


trò chiến lược của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa đối với cách mạng vô
sản.
- Nắm bắt chính xác xu thế phát triển của thời đại, Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối
chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng đúng đắn cho cách mạng giải phóng
dân tộc Việt Nam.
 Những tư tưởng của Người đã, đang và sẽ góp phần vào sự kiến tạo và phát
triển của nhân loại.
c. Cổ vũ các dân tộc đấu tranh vì những mục tiêu cao cả
- Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân giành được
những thắng lợi vĩ đại.
- Hồ Chí Minh suốt đời chiến đấu, hy sinh quên mình vì độc lập, tự do của đất nước,
vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân, vì hoà bình, tiến bộ trên thế giới. Tư tưởng Hồ Chí
Minh góp phần cổ vũ các dân tộc đấu tranh vì hoà bình, ổn định, phát triển và tiến bộ
trên thế giới.
*Đóng góp lớn nhất của Hồ Chí Minh đối với thời đại là gì?
(Gợi ý: Tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc, thức tỉnh nhân dân các nước thuộc
địa).

Chương II
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc
1. Vấn đề dân tộc thuộc địa
a. Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa


Đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc


Về vấn đề dân tộc: các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cơ bản chỉ xem
xét, nghiên cứu và giải quyết trong điều kiện các nước tư bản chủ nghĩa.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do
cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Các nước đế quốc thi hành chính sách
vũ trang xâm lược, cướp bóc, nô dịch các dân tộc nhỏ yếu, vấn đề dân tộc trở nên gay
gắt. Từ đó, xuất hiện vấn đề dân tộc thuộc địa.

Hồ Chí Minh không bàn về vấn đề dân tộc nói chung, mà Người tập trung vào
vấn đề dân tộc thuộc địa.
18


*Vì sao Hồ Chí Minh tập trung vào vấn đề dân tộc thuộc địa?
(Gợi ý: xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của Việt Nam và đặc điểm thời đại)

Người cho rằng: Thực chất của vấn đề dân tộc ở thuộc địa là vấn đề đấu tranh
chống chủ nghĩa thực dân, xoá bỏ ách thống trị, áp bức, bóc lột của nước ngoài, giải
phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập Nhà
nước dân tộc độc lập.


Lựa chọn con đường phát triển của dân tộc

- Qua nghiên cứu các cuộc cách mạng trên thế giới, Người nhận thấy chỉ cách mạng
Tháng 10 Nga là “thành công đến nơi” và lựa chọn con đường đi theo cách mạng
tháng 10 Nga để giải phóng dân tộc mình.
- Đối với Việt Nam, một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, trong
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khắng
định: làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản.
Đó là con đường kết hợp trong đó cả nội dung dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội,
thực chất đó chính là con đường độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội.
- Con đường phát triển đó quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đoàn kết các
lực lượng, thực hiện chống đế quốc và phong kiến triệt để.

Con đường đó phù hợp với hoàn cảnh lịch sử ở thuộc địa và đó cũng là sự sáng
tạo của Hồ Chí Minh.
b. Độc lập dân tộc – nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa


Phương thức tiếp cận – từ quyền con người


Xuất phát từ nhân cách, phẩm chất cá nhân con người Hồ Chí Minh: yêu nước,
thương yêu con người, trân trọng con người: “bốn phương vô sản đều là anh em”, thể
hiện ở ham muốn tột bậc là làm cho đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, mọi
người được ấm no, hạnh phúc. Người còn căn dặn trong Di chúc: phải có tình đồng
chí thương yêu lẫn nhau...

Người đã tìm hiểu và tiếp nhận những nhân tố về quyền con người trong Tuyên
ngôn độc lập 1776 của Mỹ, Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền 1791 của Pháp:
quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Từ đó, Người đã khái quát về quyền dân tộc: Tất cả các dân tộc trên thế giới
đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự
do.


Nội dung của độc lập dân tộc

- Độc lập tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc:
+/Độc lập, tự do là mục tiêu cao cả, là khát vọng lớn nhất của các dân tộc thuộc
địa. Hồ Chí Minh đã thể hiện khát vọng cháy bỏng đó một cách giản dị: “ tự do cho
19


đồng bào tôi, độc lập cho tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả
những điều tôi hiểu”.
+/1919, vận dụng nguyên tắc dân tộc tự quyết đã được các đồng minh thắng trận
long trọng thừa nhận, thay mặt những người Việt Nam yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đã
gửi đến Hội nghị hoà bình ở Véc – xây bản Yêu sách của nhân dân An – Nam, đòi các
quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam, nhưng đã không được chấp nhận.
+/Từ khi Đảng ta ra đời, Người đã khẳng định rõ mục tiêu chính trị của Đảng là:
“ đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”. Hồ
Chí Minh đã đúc kết ý chí đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân ta trong câu nói bất
hủ: “ dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho kỳ được
độc lập” (1945).
+/Cách mạng Tháng 8 thành công, trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã
tuyên bố với thế giới : “ Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật
đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh
thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
+/ Luận điểm đó lại tiếp tục được khẳng định trong cuộc kháng chiến chống Pháp:
“chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô
lệ” và trong kháng chiến chống Mỹ : “ Không có gì quý hơn độc lập tự do”.
- Độc lập dân tộc phải là một nền độc lập triệt để và mang tính cách mạng sâu sắc:
+/Đó là nền độc lập thật sự bao gồm đầy đủ chủ quyền quốc gia về chính trị, kinh
tế, an ninh, toàn vẹn lãnh thổ. Mọi sự can thiệp, áp đặt, xâm phạm chủ quyền đều sẽ bị
lên án.
+/ Độc lập dân tộc bao gồm cả nội dung dân tộc và dân chủ, độc lập dân tộc phải
gắn với hạnh phúc, tự do của nhân dân. Tự do, hạnh phúc của nhân dân là chân giá trị
của độc lập dân tộc.

Độc lập tự do là mục tiêu chiến đấu, là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng
của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, một tư tưởng lớn trong thời đại giải phóng dân
tộc.
c. Chủ nghĩa dân tộc - Một động lực lớn của đất nước
- Từ những năm 20 của thế kỷ XX, sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc đối với
các dân tộc thuộc địa càng nặng nề và do đó, phản ứng của dân tộc bị áp bức càng gay
gắt, quyết liệt.
- Năm 1924, trong bản Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ, Nguyễn Ái Quốc đã
cho rằng ở các nước thuộc địa ở phương Đông“chủ nghĩa dân tộc là một động lực
lớn”.
*Vì sao Nguyễn Ái Quốc cho rằng: chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn?
20


- Nguyên nhân: xuất phát từ thực tiễn xã hội ở các nước thuộc địa, về mặt cấu trúc
kinh tế-xã hội không giống xã hội phương Tây thời Trung cổ, cũng như thời Cận đại
và đấu tranh giai cấp ở đây không quyết liệt như ở phương Tây, trong khi đó, tinh thần
dân tộc chân chính ở các nước này diễn ra rất mạnh mẽ.
- Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa dân tộc chân chính là một bộ phận của tinh
thần quốc tế.
- Hồ Chí Minh thấy rõ sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc với tư cách là chủ nghĩa yêu
nước chân chính của các dân tộc thuộc địa. Vì vậy, những người cộng sản phải biết
nắm lấy ngọn cờ dân tộc để giải quyết vấn đề dân tộc trên lập trường của giai cấp vô
sản.
2. Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp
a.

Vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có quan hệ chặt chẽ với nhau


Trong lịch sử, vấn đề dân tộc bao giờ cũng được nhận thức và giải quyết trên
lập trường của một giai cấp nhất định. Theo học thuyết Mác – Lênin, chỉ đứng vững
trên lập trường của giai cấp vô sản và cách mạng vô sản mới giải quyết được đúng dắn
vấn đề dân tộc.

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã nêu ra những quan điểm cơ
bản về mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp. Tuy nhiên,
xuất phát từ mục tiêu và yêu cầu của cách mạng vô sản ở châu Âu, học thuyết Mác –
Lênin vẫn tập trung nhiều vào vấn đề giai cấp.

Hồ Chí Minh xuất phát từ một người dân thuộc địa, từ thực tiễn các dân tộc
thuộc địa châu Á và Việt Nam, khẳng định: trước hết phải tiến hành dân tộc cách
mạng, cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi rồi mới tiến lên làm giai cấp cách mạng
(cách mạng vô sản, cách mạng xã hội chủ nghĩa). Như vậy, lộ trình cách mạng ở các
nước thuộc địa đi từ: giải phóng dân tộc – giải phóng giai cấp – giải phóng con người.
*Theo quan điểm trên của Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam phải trải qua mấy giai
đoạn và là những giai đoạn nào?
(Gợi ý: 2 giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; cách mạng xã hội chủ
nghĩa)

Hồ Chí Minh coi trọng vấn đề dân tộc, coi chủ nghĩa dân tộc là một động lực
lớn của đất nước, nhưng Người luôn đứng trên quan điểm giai cấp để nhận thức và
giải quyết vấn đề dân tộc.

Biểu hiện của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc
theo tư tưởng Hồ Chí Minh:
+/ Khẳng định vai trò lịch sử của giai cấp công nhân và quyền lãnh đạo duy nhất
của Đảng Cộng sản trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
21


+/ Chủ trương đại đoàn kết dân tộc rộng rãi trên nền tảng liên minh công – nông –
trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng
+/ Sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để chống lại bạo lực phản cách
mạng của kẻ thù
+/ Thiết lập chính quyền nhà nước của dân, do dân và vì dân
+/ Gắn kết mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
b.
Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết; độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội

Từ thực tiễn các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề giải phóng dân tộc
lên trên hêt, trước hết.

Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ở đây, thực
chất là sự gắn bó, thống nhất giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp. Độc lập dân tộc
là mục tiêu trước mắt, là tiền đề để tiến lên thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Xây
dựng chủ nghĩa xã hội là bước phát triển tất yếu, là điều kiện vững chắc để bảo vệ và
củng cố nền độc lập dân tộc.
 Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giải
phóng dân tộc trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít
giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng giai cấp và giải phóng con
người.
*Theo quan điểm của Hồ Chí Minh vì sao độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội?
(Độc lập dân tộc là mục tiêu trước mắt, là tiền đề để tiến lên thực hiện mục tiêu xã hội
chủ nghĩa. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là bước phát triển tất yếu, là điều kiện vững
chắc để bảo vệ và củng cố nền độc lập dân tộc).
c.

Giải phóng dân tộc tạo tiền đề giải phóng giai cấp

*Thế nào là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp?
(Gợi ý: giải phóng dân tộc: dánh đổ ách thống trị, áp bức, xâm lược của đế quốc, thực
dân, giành độc lập dân tộc, hình thành Nhà nước dân tộc độc lập...; giải phóng giai
cấp: xoá bỏ các giai cấp bóc lột với tính cách là giai cấp thống trị...)

Hồ Chí Minh giải quyết vấn đề dân tộc theo quan điểm giai cấp, nhưng đồng
thời đặt vấn đề giai cấp trong vấn đề dân tộc. Giải phóng dân tộc và giải phóng giai
cấp có quan hệ chi phối biện chứng, tạo tiền đề, điều kiện cho nhau, vừa kết hợp chặt
chẽ với nhau, lại vừa kế tục, nối tiếp nhau trong tiến trình cách mạng Việt Nam.
d.Giữ vững độc lập dân tộc mình đồng thời tôn trọng độc lập của các dân tộc khác

Hồ Chí Minh khẳng định: quyền tự do, độc lập là quyền thiêng liêng bất khả
xâm phạm của mỗi dân tộc. Đây chính là sự gắn bó giữa tinh thần dân tộc tự quyết với
22


nghĩa vụ quốc tế; giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong
sáng.

Năm 1930, khi chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, Người đề nghị
đặt tên Đảng là Đảng cộng sản Việt Nam bởi vì mỗi Đảng cộng sản thuộc về một dân
tộc, trước hết phải chịu trách nhiệm trước dân tộc mình.

Hồ Chí Minh không chỉ đấu tranh cho độc lập của dân tộc mình mà còn đấu
tranh cho tất cả các dân tộc bị áp bức: Người đã giúp đỡ thành lập các Đảng cộng sản
anh em ở một số nước Đông Nam Á( ĐCS Xiêm, ĐCS Malaixia...), ủng hộ các cuộc
kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc, chống thực dân Pháp và đế quôc
Mỹ của nhân dân Lào và Campuchia, đề ra khẩu hiệu:giúp bạn là tự giúp mình
 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc mang tính khoa học và cách mạng sâu
sắc, thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc và giai cấp, chủ nghĩa yêu nước
chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.
*Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ
giữa dân tộc và giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa được thể hiện
như thế nào?
(Gợi ý: chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước, cách mạng giải phóng
dân tộc ở các nước thuộc địa đi theo lộ trình: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp,
giải phóng con người).
II. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc
1. Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc
a.

Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng thuộc địa


Căn cứ vào thực tiễn xã hội thuộc địa, Hồ Chí Minh nhận thấy sự phân hóa giai
cấp ở các nước thuộc địa phương Đông không giống như ở các nước tư bản phương
Tây. Các giai cấp ở thuộc địa có sự khác nhau nhưng đều có điểm chung: đều là người
dân mất nước.

Mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội thuộc địa phương Đông là mâu thuẫn giữa dân
tộc bị áp bức với chủ nghĩa thực dân (mâu thuẫn chủ yếu của các nước tư bản là mâu
thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản).


Đối tượng của cách mạng thuộc địa: là chủ nghĩa thực dân và tay sai



Yêu cầu bức thiết của nhân dân các nước thuộc địa: là độc lập dân tộc
• Tính chất và nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng ở thuộc địa là giải phóng dân
tộc. Theo quan niệm của Hồ Chí Minh giải phóng dân tộc đã bao hàm một phần giải
phóng giai cấp và giải phóng con người.
*Căn cứ nào để xác định tính chất và nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng ở thuộc địa
là giải phóng dân tộc?
23


(gợi ý: mâu thuẫn chủ yếu)
b.

Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc

• Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc: lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa
đế quốc, giành độc lập dân tộc, thiết lập chính quyền của nhân dân.
• Mục tiêu cấp thiết của cách mạng ở thuộc địa chưa phải là giành quyền lợi riêng
biệt của mỗi giai cấp mà là quyền lợi chung của toàn dân tộc. Mục tiêu đó phù hợp
xu thế thời đại cách mạng chống đế quốc, giải phóng dân tộc, phù hợp với nguyện
vọng của quần chúng nhân dân.
• Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) của Đảng chủ trương thay đổi chiến lược,
nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng là giải phóng dân tộc, tạm gác lại khẩu
hiệu “cách mạng ruộng đất”.
• Thắng lợi của Cách mạng Tháng 8, kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã
khẳng định sự đúng đắn của đường lối cách mạng giải phóng dân tộc.
2. Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách
mạng vô sản
a.

Rút ra bài học từ sự thất bại của các con đường cứu nước trước đó

• Hồ Chí Minh đã nghiên cứu các phong trào yêu nước và giải phóng dân tộc
Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX: phong trào theo hệ tư tưởng phong kiến
(Cần vương, nông dân Yên Thế), phong trào theo hệ tư tưởng tư sản (Đông Du, Duy
Tân, Việt Nam Quang phục hội).
• Người đã nhận thấy nguyên nhân thất bại của các phong trào là do chưa có
đường lối và phương pháp đấu tranh đúng đắn.
• Trước nhu cầu của thực tiễn đất nước, rút kinh nghiệm của các bậc tiền bối,
Người đã ra đi tìm đường cứu nước.
b. Cách mạng tư sản là không triệt để
Gần 10 năm đầu, Người đã làm rất nhiều nghề để kiếm sống, để tìm hiểu đời sống
chính trị, văn hóa, xã hội, nghiên cứu các cuộc cách mạng lớn
+/ Đi qua nhiều nước, sống với những người cùng khổ, anh nhận thấy ở đâu nhân
dân thuộc địa cũng đều khổ cực dưới ách áp bức của thực dân. Anh đã rút ra nhận
xét : CNTB, đế quốc ở đâu cũng tàn bạo, độc ác, bất công, người lao động ở đâu
cũng bị áp bức, đọa đầy và không có quyền sống.
+/ Khảo sát các cuộc cách mạng Mỹ (1776), đại cách mạng Pháp (1789), anh rút ra
được nhiều bài học, nhưng điều cơ bản là đó là các cuộc “cách mạng không đến nơi,
tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó
áp bức thuộc địa”. Do đó, cách mạng Việt Nam không theo con đường này.
*Vì sao, Hồ Chí Minh cho rằng cách mạng tư sản là không triệt để?
24


(Gợi ý: do bản chất của cách mạng tư sản là bóc lột, đại bộ phận người lao động vẫn
sống cực khổ)
c. Con đường giải phóng dân tộc
• Khi nghiên cứu cách mạng Tháng 10 Nga, Người nhận thấy cách mạng Tháng
10 Nga không chỉ là một cuộc cách mạng vô sản mà còn là cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc. Đó là cuộc cách mạng triệt để.
• Năm 1920, được tiếp xúc với bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về
vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, Người đã tìm ra con đường giải
phóng dân tộc mình: con đường cách mạng vô sản. Từ đây, Người hoàn toàn tin
theo Lênin, tin theo Quốc tế III.
• Người đã khẳng định: “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con
đường nào khác con đường cách mạng vô sản” .
*Vì sao Hồ Chí Minh lựa chọn con đường cách mạng vô sản là con đường giải
phóng dân tộc Việt Nam?
(Gợi ý: đó là con đường duy nhất đem lại độc lập cho đất nước, tự do, hạnh phúc cho
nhân dân).
3. Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do Đảng Cộng sản lãnh
đạo
a. Cách mạng trước hết phải có Đảng
• Trong các phong trào cứu nước, giải phóng dân tộc trước 1930, các hội, đoàn
thể, đảng đã xuất hiện. Những đảng này do thiếu một đường lối chính trị đúng đắn,
thiếu tổ chức chặt chẽ, thiếu một cơ sở rộng rãi trong quần chúng nên đã thất bại.
• Hồ Chí Minh đã nhận thức được rằng cách mạng muốn thành công thì phải có
Đảng lãnh đạo. Đó phải là đảng cách mạng, đảng chân chính “để trong thì vận
động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản
giai cấp mọi nơi. Đảng có vững thì cách mệnh mới thành công, cũng như người
cầm lái có vững thì thuyền mới chạy”.
*Dựa trên cơ sở nào, Hồ Chí Minh cho rằng Đảng có vai trò lãnh đạo cách mạng?
(Gợi ý: Đảng Cộng sản được dẫn dắt bởi lý luận tiên phong là chủ nghĩa Mác Lênin và có đội ngũ đảng viên ưu tú).
b.

Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất

- Xuân năm 1930, Hồ Chí Minh sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, chính đảng
của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin “làm cốt”.
- Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, là Đảng của giai cấp
công nhân, của nhân dân và của dân tộc Việt Nam.
4. Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân tộc
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×