Tải bản đầy đủ

CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
*****

Cà Mau, ngày 18 tháng 11 năm 2016


BÀI TẬP MÔN SƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
Nhóm 5, lớp DB16L188:
01. Nguyễn Tấn Tài (124116225)
02. Phan Thành Thạo (124116226)
03. Võ Văn Trọc (124116228)
04. Phạm Thành Trung (124116229)
05. Huỳnh Tân Xuyên (124116231)
1. Bài tập chung:
1.1 Ảnh hưởng của văn hóa đối với việc xây dựng và thực thi pháp luật ở Việt
Nam hiện nay?
* Trả lời:
Văn hóa có một ảnh hưởng không thể phủ nhận đối với xây dựng và thực thi pháp
luật. Văn hóa chính là cuộc sống, do đó, việc xây dựng và thực thi pháp luật, phải dựa
trên những kinh nghiệm văn hóa, tức là pháp luật phải có khả năng biến thành văn hóa

để điều chỉnh cuộc sống. Phải khẳng định ngay rằng, một nền văn hóa phi tự nhiên chắc
chắn sẽ dẫn đến một hệ thống pháp luật phi tự nhiên. Vậy văn hóa ảnh hưởng như thế
nào đến xây dựng và thực thi pháp luật ở Việt Nam hiện nay?
Việt Nam nói riêng và các nước trên thế giới nói chung, văn hóa và phát luật chính
là cuộc sống; do đó, khi làm biến dạng văn hóa, là làm biến dạng cả cuộc sống. Hệ
thống pháp luật, để có thể điều chỉnh được cuộc sống, cũng bị biến dạng theo; nói cách
khác, để tương thích với một cuộc sống đã bị biến dạng thì bản thân pháp luật cũng phải
méo mó và sự méo mó đáng sợ nhất của pháp luật chính là sự không thừa nhận quyền
sở hữu của con người.
Chúng ta đều biết rằng, sở hữu là một trong những dấu hiệu quan trọng nhất của
một xã hội văn minh và là quyền con người căn bản nhất. Ở nơi văn hóa bị thao túng,
người ta không thừa nhận sở hữu tư nhân với hy vọng sẽ biến con người trở nên cao
quý hơn vì không còn những tham vọng vật chất. Nhưng, họ đã lầm; họ đã không nhận
ra rằng, loại bỏ sở hữu tư nhân chính là một trong những hành vi phá hoại mạnh nhất
đời sống văn hóa của con người và rằng, khi tiêu diệt quyền sở hữu hay ý thức sở hữu
của con người đối với tài sản vật chất, thì người ta đã đồng thời tiêu diệt cả ý thức sở
hữu của con người đối với những tài sản tinh thần mà pháp luật là một trong số đó.
Con người không cảm thấy mình là chủ sở hữu của pháp luật; con người ứng xử một
cách thiếu chừng mực với pháp luật và dần dần, con người chà đạp lên cả những tài sản
tinh thần của mình.


Hơn nữa, khuyết tật quan trọng nhất của nền văn hóa phi tự nhiên là tính đơn giản;
chính nó đã tiêu diệt sự đa dạng của đời sống. Chính trong môi trường như vậy, cái chết
về mặt tinh thần của con người đã tạo cơ hội cho sự lộng hành của một khuynh hướng
đã được nhà cầm quyền lựa chọn và thậm chí, còn tạo ra nền văn hóa lộng hành. Sống
trong môi trường đơn khuynh hướng ấy, một số người tưởng rằng mình đang hít thở
bầu không khí tự do mà không nhận ra rằng, mình đang là nạn nhân của sự lộng hành,
nạn nhân của sự độc quyền lẽ phải hay độc quyền chân lý. Một trong những công cụ mà
các nhà cầm quyền dùng để tăng cường, kiểm soát con người trong môi trường ấy chính
là luật pháp. Chỉ có những hệ thống pháp luật méo mó mới bảo đảm cơ sở tồn tại hợp
pháp của sự lộng hành; cũng chỉ có những hệ thống pháp luật méo mó mới bảo trợ cho
những hành vi tham nhũng tinh thần như vậy. Những hệ thống pháp luật như vậy, do bị
cấy những yếu tố không có khả năng biến thành văn hóa, nên không chỉ tự mâu thuẫn
với nhau mà còn mâu thuẫn với quá khứ và mâu thuẫn với năng lực thực hiện của xã
hội.
Những phân tích trên cho thấy ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa đến xay dựng và
thực thi pháp luật. Tuy nhiên, sẽ là rất phiến diện nếu chúng ta không phân tích ảnh
hưởng ngược lại của pháp luật đối với văn hóa. Với tư cách là công cụ điều chỉnh hành
vi của con người, một hệ thống pháp luật méo mó sẽ tạo ra những hành vi méo mó. Tư

duy cũng là một loại hành vi, và do đó, hệ thống pháp luật méo mó còn tạo ra cả những
tư duy méo mó. Với thời gian, những hành vi và tư duy méo mó đó trở thành những
thói quen méo mó và củng cố thêm cho nền văn hóa vốn đã méo mó đó. Một dân tộc sở
hữu cả nền văn hóa dị dạng lẫn hệ thống pháp luật méo mó như vậy là một dân tộc đã
chết về mặt văn hóa hay chết về đời sống tinh thần.
Những phân tích về một hệ thống pháp luật méo mó là hệ quả của một nền văn hóa
phi tự nhiên cho thấy, một hệ thống pháp luật tiên tiến phải là một hệ thống pháp luật
lành mạnh và được xây dựng trên một nền văn hóa lành mạnh. Trong bối cảnh hội nhập
và toàn cầu hóa hiện nay, nền văn hóa lành mạnh ấy còn phải là một nền văn hóa mở.
Vậy, làm thế nào để có được một hệ thống pháp luật tiên tiến như vậy?
Xã hội nào cũng cần pháp luật như một công cụ điều chỉnh hành vi của con người
trong các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, nhưng trên thực tế, con người chịu sự điều
chỉnh của văn hóa nhiều hơn là pháp luật vì con người luôn hành động theo tập quán,
theo thói quen... Hơn nữa, ngay cả trong trường hợp pháp luật được sử dụng để áp đặt
hành vi của con người thì con người vẫn hành động theo thói quen, theo những kinh
nghiệm văn hóa của mình, và do đó, họ vi phạm pháp luật. Vấn đề đặt ra là, pháp luật
phải được xây dựng như thế nào để có thể biến thành văn hóa và đi vào cuộc sống của
con người? Nếu pháp luật không biến thành các giá trị văn hóa thì không có tác dụng
điều chỉnh hành vi của con người? Chúng tôi cho rằng, để làm được như vậy trước tiên
cần phải hiểu tinh thần của pháp luật, đó chính là tự do.
Từ thời kỳ Khai sáng, các triết gia đã đi đến kết luận rằng, pháp luật là những khế
ước xã hội, tức là kết quả của hoạt động thỏa thuận giữa con người với nhau và để tham
gia bình đẳng vào quá trình thỏa thuận, con người cần phải có tự do. Nếu không có tự
do thì con người không nhận thức được cuộc sống, do đó, không thỏa thuận được.


Chúng ta đều biết rằng, tính phức tạp của cuộc sống chính là nguồn gốc của tính phong
phú về văn hóa và tính thực tế của pháp luật. Người không nhận thức được cuộc sống là
người không lường hết được các tình huống của cuộc sống, do đó, không có đủ kinh
nghiệm để tham gia vào quá trình thỏa thuận, là quá trình mà ở đó, người ta hy sinh
những quyền tự do bản năng của mình và tạo ra những quyền tự do mang tính tự giác.
Mặt khác, nếu không có đủ tự do thì con người sẽ vụng về khi thỏa thuận. Kết quả là,
thay vì được lợi từ việc đóng góp phần tự do quý giá của mình, anh ta sẽ bị thua thiệt.
Cảm giác về sự thua thiệt khi tham gia vào quá trình thỏa thuận sẽ khiến con người cảm
thấy pháp luật, thay vì là công cụ bảo vệ quyền tự do của con người, lại là một thứ nhà
tù vô hình đối với con người, hạn chế tự do của con người. Để tránh tình trạng như vậy,
tự do buộc phải là điểm khởi đầu của mọi quá trình thỏa thuận và cũng chính vì như vậy
mà tự do trở thành tinh thần của pháp luật.
Bản chất của cuộc sống là sự đa dạng, do đó, một hệ thống pháp luật chỉ có giá trị
khi nó mang trong mình tính đa dạng của cuộc sống. Nếu tự do không phải là tinh thần
của pháp luật thì pháp luật không thể chứa đựng trong nó tính đa dạng của cuộc sống.
Điều đó cũng đồng nghĩa rằng, một hệ thống pháp luật sẽ trở nên không tương thích với
cuộc sống khi nó không phải là kết quả của sự thỏa thuận mà là kết quả của việc áp đặt
chủ quan của một người hay một nhóm người. Văn hóa chính là phổ rộng lớn nhất của
pháp luật và không một hệ thống pháp luật nào ngoài văn hóa có đủ năng lực điều
chỉnh tất cả các tình huống của cuộc sống. Chính vì vậy, kinh nghiệm văn hóa là nền
tảng quan trọng nhất để xây dựng pháp luật. Nếu pháp luật được xây dựng trên những
kinh nghiệm văn hóa, tức là thừa nhận cuộc sống chứ không áp đặt lên cuộc sống, thì
tốc độ thâm nhập của pháp luật vào trong cuộc sống sẽ nhanh hơn, khi đó việc tuân thủ
pháp luật trở thành thói quen có chất lượng văn hóa của con người. Kinh nghiệm về
việc xây dựng pháp luật chỉ ra rằng, pháp luật càng gần với tập quán cũng như thói quen
của con người, càng có chất lượng văn hóa bao nhiêu thì pháp luật càng dễ được chấp
nhận bấy nhiêu. Điều đó hoàn toàn có thể lý giải được bởi nếu chúng ta không xây dựng
pháp luật dựa trên những thói quen, thì con người sẽ cảm thấy hẫng hụt khi hành động
ngược với thói quen. Hành động ngược với thói quen sẽ tạo ra thói quen mới, đến lượt
mình, thói quen mới sẽ mâu thuẫn, phá vỡ các thói quen cũ và tạo ra mâu thuẫn trong
các hành vi của con người. Nói cách khác, nếu pháp luật không được xây dựng dựa trên
những kinh nghiệm văn hóa thì nó sẽ chia rẽ con người thông qua việc chia rẽ hành vi
của con người.
Cuối cùng, sở dĩ tự do là tinh thần của pháp luật còn bởi tự do là công cụ duy nhất
có thể điều chỉnh tự do cá nhân trở thành tự do cộng đồng. Tự do cá nhân là phần sở
hữu riêng của từng người còn tự do cộng đồng là quỹ tự do mà mọi người góp vào. Nếu
không có các giá trị văn hóa thì ai điều chỉnh và kiểm soát quá trình góp tự do? Rõ ràng,
góp tự do là kết quả của sự tự giác. Nếu không có sự giác ngộ về mặt văn hóa thì con
người không tôn trọng các khế ước và tạo ra các vùng bất hợp pháp trong cuộc sống.
Các vùng bất hợp pháp trong cuộc sống vẫn tồn tại ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là
ở những nền văn hóa không lành mạnh, nơi pháp luật bất lực trong việc bảo vệ tự do
của con người. Do vậy, cách tốt nhất để khắc phục tình trạng bất lực của pháp luật
chính là mở rộng sự giác ngộ về mặt văn hóa của con người.


Từ những phân tích trên, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng, chính nền văn hóa đậm
đà bản sắc dân tộc của Việt Nam, là công cụ điều chỉnh hành vi của con người Việt
Nam mạnh hơn cả hệ thống pháp luật của Việt Nam. Do đó, pháp luật phải được xây
dựng dựa trên những kinh nghiệm văn hóa. Để xây dựng một hệ thống pháp luật với
tinh thần như vậy, chúng phải thừa nhận tính đa dạng tự nhiên của cuộc sống và đảm
bảo tính đa khuynh hướng của văn hóa. Đó là một nền văn hóa lành mạnh - nền tảng
của một hệ thống pháp luật lành mạnh. Nhưng, trên hết thảy, cần phải ý thức được
rằng, văn hóa và pháp luật lành mạnh đều phải hướng tới bảo vệ các giá trị tự do của
con người. Và chúng ta cần nâng cao sự hiểu biết pháp luật và khả năng ứng xử trước
các tình huống pháp luật thực tế một cách hài hòa với bản sắc văn hóa dân tộc của lối
sống mới-lối sống theo pháp luật. Đồng thời gạt bỏ tư tưởng coi trọng lối sống đức trị,
nhân trị hạ thấp vai trò của pháp luật trong quản lý xã hội hiện nay.Chỉ khi làm được
như vậy, con người mới đạt đến trạng thái phát triển thực sự.
1.2. Vùng văn hóa/văn hóa vùng là gì? Một số quan niệm về phân vùng văn
hóa ở Việt Nam?
* Trả lời:
- Vùng văn hóa là một không gian văn hóa nhất định, được tạo thành bởi các đơn
vị dân cư trên một phạm vi địa lý của một hay nhiều tộc người, sáng tạo ra một hệ thống
các dạng thức văn hóa mang đậm sắc thái tâm lý cộng đồng, thể hiện trong môi trường
xã hội nhân văn thông qua các hình thức ứng xử của con người với tự nhiên, xã hội và
ứng xử với nhau trên một tiến trình lịch sử phát triển lâu dài.
- Có hai yếu tố tạo bản sắc văn hóa vùng:
+ Yếu tố về môi trường sinh thái - tự nhiên mà từ đó sinh ra/quy định cách thức cư
trú, canh tác, đấu tranh sinh tồn và phát triển.
+ Yếu tố chứa đựng các hình thức biểu hiện văn hóa của con người, tạo ra cung
cách nhận thức - hoạt động riêng, tạo ra nếp sống, phong tục tập quán, văn học nghệ
thuật, ngôn ngữ và các quan hệ giao lưu kinh tế - văn hóa,… giữa nội bộ cộng đồng hay
với cư dân của các vùng đất/ địa phương khác.
- Một số quan niệm về phân vùng văn hóa ở Việt Nam:
Xét về mặt từ nguyên “Vùng” - Region, được hiểu là một khu vực địa lý, như vùng
đất, vùng trời, vùng biển, không gắn với một cấp hành chính nhà nước. Trong khi đó,
thuật ngữ “lãnh thổ” - Territoire, được hiểu là một vùng hay khu vực địa lý thuộc một
cấp quản lý hành chính nhà nước. Do đó trong một vùng có thể có nhiều lãnh thổ.
Thuật ngữ “khu vực” được hiểu, được sử dụng với những biến thái khác nhau: có
thể nhỏ hơn vùng như khu Tả ngạn, Hữu ngạn sông Hồng, khu vực Hồ Gươm, Hồ Tây
ở Hà Nội..., hoặc tương đương vùng, ví dụ khu vực (hay vùng) Tây Bắc; cũng có thể
lớn hơn vùng và tương đương miền, ví dụ khu vực (hay miền) Bắc, Trung, Nam. Thuật
ngữ “miền” thì rõ ràng là lớn hơn “vùng”.


Ở nước ta, do yếu tố lịch sử để lại, cho đến nay dưới lãnh thổ quốc gia là các cấp
độ: “miền” - tương đương với khu vực, dưới “vùng” có thuật ngữ “tiểu vùng”, “tiểu
khu” với biến thái khá lớn tương tự như biến thái của thuật ngữ “khu vực”. Ngoài ra
còn thuật ngữ “xứ” trong lịch sử, và được dùng ở mọi cấp độ khác nhau, từ miền, vùng
đến tiểu vùng, như “xứ Bắc Kỳ”, “xứ Quảng”, “xứ Huế”, v.v...
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các nhà khoa học ở Việt Nam đều có chung
quan niệm về kết quả phân vùng văn hóa. Chẳng hạn, tác giả Ngô Đức Thịnh (năm
1993) cho rằng ở nước ta có 7 vùng văn hóa là: Việt Bắc, Tây Bắc, Trung du và đồng
bằng Bắc Bộ, Duyên hải Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung và Nam Trung Bộ, Trường
Sơn - Tây Nguyên và Nam Bộ. Các tác giả Đinh Gia Khánh và Cù Huy Cận năm 1995
xác đinh nước ta có 10 vùng văn hóa: Việt Bắc, Tây Bắc, đồng bằng miền Bắc, Vùng
Nghệ - Tĩnh, Thuận Hóa - Phú Xuân, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, đồng bằng miền
Nam, Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Các tác giả Huỳnh Khái Vinh, Nguyễn Thanh
Tuấn (năm 1995) xem xét văn hóa Việt Nam là tổng hòa các vùng văn hóa: Việt Bắc,
Tây Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Trường Sơn Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long. Tác giả Trần Quốc Vượng
(năm 1997) phân văn hóa Việt Nam thành 6 vùng: Tây Bắc, Việt Bắc, Bắc Bộ, Trung
Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ. Đây có thể là cách phân chia hợp lý về văn hóa nói chung.
Nhưng nếu chú ý đến sự khác biệt về mặt kinh tế và từ đó cũng có sự khác biệt nhất
định về mặt văn hóa thì nên tiếp tục chia Trung Bộ thành 2 vùng: Bắc Trung Bộ và
Duyên hải Nam Trung Bộ; và cũng tiếp tục chia Nam Bộ thành 2 vùng: Đông Nam Bộ
và đồng bằng sông Cửu Long. Như vậy sẽ có 8 vùng kinh tế - văn hóa: Tây Bắc, Đông
Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông
Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long.
Hiện nay quan niệm về 8 vùng kinh tế - văn hóa được thừa nhận rộng rãi. Chỉ có
một bất cập là dùng thuật ngữ “Đồng bằng sông Hồng” để chỉ cả lưu vực châu thổ sông
Hồng và sông Thái Bình, là chưa chính xác. Đúng ra phải dùng thuật ngữ “Đồng bằng
Bắc Bộ” để định danh cho cả vùng châu thổ này.
Cuối cùng, có thể quan niệm “vùng văn hóa” là một thực thể văn hóa, bao gồm
những đặc điểm về cảnh quan - lãnh thổ, trình độ và cách thức hoạt động kinh tế, và các
đặc điểm về văn hóa vật thể (nhà cửa, y phục, ăn uống...), về văn hóa phi vật thể (phong
tục, tập quán, lối sống, tín ngưỡng - tôn giáo...); trong đó có một số đặc trưng điển hình
so với các vùng khác.(7)
Các vùng văn hóa dẫu sao cũng không phải là những “ốc đảo”. Các đặc điểm, kể
cả những đặc trưng điển hình của vùng, như thực tế trong và ngoài nước đều cho thấy,
chủ yếu là kết quả tiếp biến từ hai, ba vùng khác nhau liền kề vùng đó. Trong quá trình
phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với sự tác động của kinh tế thị


trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, những đặc điểm, kể cả
những đặc trưng điển hình, có thể đã và sẽ mai một ở mức độ nào đó. Tính thống nhất
của các vùng văn hóa đã và sẽ được tăng cường, đồng thời ngày càng bộc lộ rõ trên
nhiều phương diện. Vì thế, vấn đề đặt ra hiện nay là phải chú trọng bảo tồn, phát triển
những đặc điểm, đặc trưng điển hình với tính cách là những lợi thế so sánh, nhằm thúc
đẩy các vùng văn hóa phát triển nhanh, ổn định trong nền văn hóa Việt Nam thống nhất
mà đa dạng.
2. Bài tập riêng
* Trình bày vùng văn hóa Tây nguyên.
Vùng văn hóa Tây Nguyên gồm phần đất các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc,
Lâm Đồng và rẻo cao các tỉnh từ Quảng Nam đến Bình Thuận. Đây là vùng sơn nguyên
xen cài giữa các dãy núi cao trung bình với các cao nguyên đất đỏ, quê hương của hơn
20 sắc tộc thuộc hai gia đình ngôn ngữ là Môn-Khmer và Mã Lai-Đa Đào.
Cũng như ở Trường Sơn Bắc, nếp sống chủ đạo ở vùng Trường Sơn Nam – Tây
Nguyên là nếp sống nương rẫy, nó qui định tất cả các sắc thái văn hóa lớn của vùng, nó
sản sinh ra quan niệm vạn vật hữu linh: Mọi vật chung quanh con người đều có hồn, có
thần linh che chở, phù hộ.
Nếp sống nương rẫy để lại dấu ấn trong luật tục, trong văn học nghệ thuật truyền
thống, từ huyền thoại, huyền tích, dân ca đến cổ tích, truyện cười và nhất là sử thi anh
hùng, một sáng tạo văn hóa lớn. Đó là những trường ca mà người Ê Đê gọi là Khan,
người Gia Rai gọi là Hơri, người Ba Na gọi là Hơmôn, người Mạ gọi là Nôtông, người
Mơ Nông gọi là Ót Nrông. Kho tàng sử thi anh hùng ấy, với hơn một trăm tác phẩm lớn
nhỏ: Đăm San, Đăm Di, Đăm Noi, Xinh Nhã, Ghàng Tiăng, Hơbia Đơrang, Đăm Ktech
Mlan… nay đã thuộc về kho tàng văn hóa của nhân loại.
Bên cạnh các sử thi anh hùng là những đóng góp của văn hóa Tây Nguyên: Những
nhạc cụ độc đáo như các dàn cồng chiêng, đàn kôk, klong put, đàn t’rưng, t’rưng nước,
t’rưng gió, chinh krên (chiêng gió), đinh goong… những điệu múa: khiêng chim grứ (Ê
Đê), brim, xơ goa (Ba Na)… những con rối trong lễ hội bỏ mạ…
Nghiên cứu các sắc tộc của vùng văn hóa Tây Nguyên trên thực địa, một nhà văn
hóa học đã đi đến kết luận sâu sắc: “Tất cả những thứ như khố hai vạt với khăn quấn
đầu có cắm lông chim, dàn chiêng cồng và cái trống lớn, cối giã gạo hình thuyền và
chày đứng, kiểu mái nhà trên nở dưới thót, thuyền độc mộc hình thoi với trang trí ở mũi
và mạn… tất cả những thứ ấy dường như mới từ những hình khắc trên mặt trống đồng
Ngọc Lũ I trở về với hiện thực. Đến Tây Nguyên ít nhiều người có cảm giác như đang


sống trong không gian văn hóa Đông Sơn vậy. Vùng văn hóa Tây Nguyên là vùng hậu
duệ rõ nét nhất của văn hóa Đông Sơn.

____Hết___



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×