Tải bản đầy đủ

Bài 1 NHỮNG vấn đề cơ bản của CHỦ NGHĨA DUY vật BIỆN CHỨNG

Bài 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHỦ
NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
1. KHÁI LƯỢC VỀ TRIẾT HỌC
1.1.Vấn đề cơ bản của triết học, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
1.2.Chức năng thế giới quan và phương pháp luật của triết học.
2.CHỦ NGHĨA DUY VẬT MÁCXÍT – CƠ SỞ KHOA HỌC CHO
NHẬN THỨC VÀ
CẢI TẠO HIỆN THỰC.
2.1.Quan điểm duy vật mácxít về vật chất.
2.2. Quan điểm duy vật mácxít về ý thức.
2.3. Quan điểm duy vật mácxít về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
2.4. Ý nghĩa cuả quan điểm duy vật mácxít về mối quan hệ giữa vật chất và
ý thức trong nhận thức và cải tạo hiện thực.
3.NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
3.1.Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
3.1.1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
* Khái niệm mối liên hệ: liên hệ là sự phụ thuộc, sự quy định lẫn nhau và tác
động qua lại lẫn nhau giữa các sự vật hay giữa các nhân tố cấu thành sự vật.
* Khái niệm mối liên hệ phổ biến: là khái niệm nói lên rằng mọi sự vật, hiện
tượng trong thế giới (tự nhiên, xã hội và tư duy) dù đa dạng phong phú,nhưng
đều nằm trong mối liên hệ với các sự vật hiện tượng khác.

* Nội dung nguyên lý: Phép biện chứng duy vật thừa nhận tất cả các sự vật –
hiện tượng đều có mối liện hệ với nhau đều đó được thể hiện ở:
- Tính khách quan: mối liên hệ giữa các sự vật – hiện tượng là vốn có không
phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người cũng như lục lượng siêu nhiên.
- Tính phổ biến:
+ Thứ nhất: không những các sự vật – hiện tượng có mối liên hệ với nhau
mà các mặt, yếu tố, bộ phận cấu thành các sự vật – hiện tượng cũng có mối liên
hệ gắn bó với nhau.
+ Thứ hai: mối liên hệ bao quát và thể hiện ở mọi lĩnh vực của thế giới: tự
nhiên, xã hội và tư duy.


- Tính đa dạng, nhiều vẻ: nghĩa là mối liên hệ bên trong mối liên hệ bên
ngoài; mối liên hệ bản chất – không bản chất; mối liên hệ tất nhiên – mối liên
hệ ngẫu nhiên….
* Ý nghĩa phương pháp luận
- Quan điểm toàn diện: yêu cầu khi xem xét sự vật phải xem xét tất cả các
mặt, các yếu tố của nó, tuy nhiên phải có trọng tâm, trọng điểm; xem xét sự vật
trong mối liên hệ với sự vật, hiên tượng khác.
- Quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác
động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, môi trường cụ
thể trong đó sự vật sinh ra tồn tại và phát triển.
3.1.2. Nguyên lý về sự phát triển.
* Khái niệm sự phát triển: Phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp
đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
* Nội dung nguyên lý: Tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách
quan đều có xu hướng chung là luôn vận động và phát triển, được thể hiện như
sau:
- Tính khách quan , nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự
vật. Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn
tại và vận động của sự vật, nhờ đó sự vật luôn luôn phát triển. Vì thế, sự phát
triển là tiến trình khách quan.
- Tính phổ biến, vì nó diễn ra ở mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy,
ở bất cứ sự vật hiện tượng nào của thế giới khách quan.
- Tính đa dạng, phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, mọi hiện
tượng, song mỗi sự vật hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau
vì tồn tại ở không gian khác nhau, ở thời gian khác nhau và tính đa dạng phong
phú còn được được quy định bởi tính đa dạng phong phú của mối liên hệ phổ
biến.
*Ý nghĩa phương pháp luận:

Trong nhận thức và hành động chúng ta phải có quan điểm phát triển cụ thể:
- Một là, khi xem xét, đánh giá sự vật, phải đặt nó trong sự vận động, phát
triển và phải thấy rõ xu hướng phát triển tất yếu của nó.


- Hai là, phải phát hiện ra cái mới, cái tiến bộ và tạo điều kiện cho nó phát
triển
3.2. Các cặp phạn trù của phép biện chứng duy vật
3.2.1. Cái riêng và cái chung.
3.2.1.1. Khái niệm
- Cái riêng: là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, hiện tượng, một
quá trình hay một hệ thống các sự vật tạo thành một chỉnh thể tồn tại độc lập
tương đối với cái riêng khác.
- Cái chung: là phạm trù triết học dùng để chỉ những cái giống nhau, những
mặt, những thuộc tính giống nhau được lặp lại trong nhiều cái riêng khác.
- Cái đơn nhất: là phạm trù triết học dùng để chỉ những đặc điểm, những
thuộc tính vốn có chỉ của một sự vật, hiện tượng, quá trình mà không lặp lại ở
các cái riêng khác
3.2.1.2. Mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung.
- Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự
tồn tại của mình.
- Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung. Cái riêng là cái toàn
bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc hơn cái
riêng
- Trong những điều kiện nhất định “cái đơn nhất” có thể biến thành “cái
chung” và ngược lại “cái chung” có thể biến thành “cái đơn nhất”
3.2.1.2. Ý nghĩa phương pháp luận.
- Tìm cái chung thì không được xa rời những cái riêng.
- Trong hoạt động nhận thức cũng như thực tiễn, nếu nắm bắt được cái
chung là chìa khoá giải quyết cái riêng
- Không được tuyệt đối hoá cái chung lẫn cái riêng.
3.2.2. Nguyên nhân và kết quả.
3.2.2.1. Khái niệm.
- Nguyên nhân là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tác động qua lại giữa các
mặt, các bộ phận, các thuộc tính, các yếu tố trong một sự vật hoặc giữa các sự
vật với nhau, gây ra sự biến đổi nhất định.
- Kết quả là phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do
nguyên nhân tạo ra.


- Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nhân quả có tính khách
quan, tính phổ biến, tính tất yếu.
3.2.2.2. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả
- Nguyên nhân sinh ra kết quả, xuất hiện trước kết quả về măt thời gian.Tuy
nhiên, không phại mọi sự mối tiếp nhau về thời gian đều là quan hệ nhân quả.
Một nguyên có thể sinh ra nhiều kết quả và ngược lại.
- Nguyên nhân gồm có: nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu;
nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài; nguyên nhân khách quan và
chủ quan.
- Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau. Điều này có nghĩa
là một sự vật, hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này là nguyên nhân nhưng
trong mối quan hệ khác lại là kết quả và ngược lại.
3.2.2.3. Ý nghĩa phương pháp luận về mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết
quả.
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần tôn trọng tính khách quan của
mối liên hệ nhân quả.
- Muốn cho hiện tượng nào đó xuất hiện cần tạo ra những nguyên nhân cùng
những điều kiện cho những nguyên nhân đó phát huy tác dụng. Ngược lại,
muốn cho hiện tượng nào đó mất đi thì phải làm mất nguyên nhân tồn tại của nó
cũng như những điều kiện để các nguyên nhân ấy phát huy tác dụng.
- Phải biết xác định đúng nguyên nhân để giải quyết vấn đề nảy sinh vì các
nguyên nhân có vai trò không như nhau.
3.2.3. Tất nhiên và ngẫu nhiên.
3.2.3.1. Khái niệm.
- Tất nhiên: Là phạm trù triết học dùng để chỉ cái do nguyên nhân chủ yếu
bên trong sự vật quy định và trong những điều kiện nhất định, nó nhất định phải
xảy ra như thế chứ không thể khác.
- Ngẫu nhiên: Là phạm trù triết học chỉ cái không phải do bản chất kết cấu
bên trong kế, mà do những nguyên nhân bên ngoài do sự ngẫu hợp của những
hoàn cảnh bên ngoài
quyết định. Vì vậy, nó có thể xảy ra hoặc không xảy ra, có thể xảy ra dưới
hình thức này hoặc dưới hình thức khác.
3.2.3.2. Mối quan hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên.


- Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan và thống nhất hữu cơ với
nhau thể hiện:
+ Một là: Cái tất nhiên bao giờ cũng vạch đường đi cho mình thông qua vô
số những cái ngẫu nhiên.
+ Hai là: cái ngẫu nhiên là biểu hiện của tất nhiên, bổ sung cho tất nhiên.
+ Ba là: Không có cái tất nhiên thuần tuý tách rời cái ngẫu nhiên có thể
chuyển hóa cho nhau., cũng như không có cái ngẫu nhiên thuần tuý tách rời cái
tất nhiên.
3.2.3.3. Ý nghĩa phương pháp luận về mối quan hệ giữa tất nhiên và ngẫu
nhiên.
- Trong hoạt động thực tiễn chúng ta phải dựa vào cái tất nhiên, mà không
thể dựa vào cái ngẫu nhiên.
- Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hoá cho nhau trong những điều kiện
thích hợp nhất định. Do đó, trong hoạt động thực tiễn, cần tạo ra điều kiện thích
hợp để ngăn cản hoặc thúc đẩy sự chuyển hoá sao cho có lợi cho con người.
3.2.4. Nội dung và hình thức.
3.2.4.1. Khái niệm.
- Nội dung: Là phạm trù triết học chỉ tổng hợp tất cả các mặt, các yếu tố, các
quá trình tạo nên sự vật.
- Hình thức: là phạm trù triết học chỉ phương thức, cách thức tồn tại và phát
triển của sự vật; là cách sắp xếp của nội dung, là hệ thống các mối liên hệ tương
đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật.
3.2.4.2. Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức.
- Nội dung và hình thức có mối quan hệ biện chứng với nhau, thể hiện ở sự
thống nhất hữu cơ giữa chúng. Bởi, bất kỳ sự vật nào cũng bao gồm nội dung
lẫn hình thức. Thống nhất thể hiện ở chổ:
+ Một là: Không có hình thức không chứa nội dung, cũng như không có nội
dung nào mà lại không tồn tại trong một hình thức nhất định.
+ Hai là: Các yếu tố tạo thành sự vật vừa góp phần tạo nên nội dung, và
tham gia tạo nên hình thức. Vì vậy, nội dung, hình thức không tách rời nhau mà
gắn bó chặt chẽ với nhau.


- Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức trong quá trình vận động
phát triển. Sự biến đổi của nội dung quy định sự biến đổi của hình thức.
- Sự tác động trở lại của hình thức đối với nội dung, nếu hình thức phù hợp
với nội dung thì nó sẽ thúc đẩy nội dung phát triển ngược lại nó kìm hãm sự
phát triển của nội dung.
3.2.4.3. Ý nghĩa phương pháp luận về mối quan hệ giữa nội dung và hình
thức.
- Trong hoạt động thực tiễn tránh khuynh hướng tách rời nội dung khỏi hình
thức và ngược lại. Đồng thời cũng phải sử dụng sáng tạo nhiều hình thức khác
nhau.
- Trong hoạt động nhận thức phải bắt dầu từ nhận thức nội dung, nhưng
cũng không được coi nhẹ hình thức, khi hình thức lạc hậu thì phải thay đổi cho
phù hợp với nội dung.
3.2.5. Bản chất và hiện tượng
3.2.5.1. Khái niệm.
- Bản chất: Là phạm trù triết học chỉ sự tổng hợp tất cả các mặt, các mối liên
hệ tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát
triển của sự vật đó.
- Hiện tượng: Là phạm trù triết học chỉ cái là biểu hiện ra “bên ngoài” của
bản chất.
3.2.5.2. Mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng.
- Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng thể hiện:
+ Một là, bản chất bao giờ cũng được bộc lộ qua hiện tượng, còn hiện tượng
bao giờ cũng là sự thể hiện của bản chất.
+ Hai là, không có bản chất thuần tuý tách rời hiện tượng và ngược lại,
không có hiện tượng không thể hiện bản chất.
+ Ba là, bản chất khác nhau bộ lộ ra qua hiện tượng khác nhau.
- Tính chất mâu thuẫn của sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng.
+ Thứ nhất, bản chất sâu sắc hơn hiện tượng, còn hiện tượng phong phú hơn
bản chất.
+ Thứ hai, hiện tượng thể hiện bản chất, nhưng dưới dạng cải biến
+ Thứ ba, bản chất tương đối ổn định còn hiện tượng biến đổi nhanh hơn
bản chất.


+ Thứ tư, bản chất dấu bên trong, hiện tượng bộc lộ ra bên ngoài.
3.2.5.3. Ý nghĩa phương pháp luận về mối quan hệ giữa bản chất và hiện
tượng.
- Bản chất tồn tại trong sự vật và biểu hiện ra ở nhiều hiện tượng =>Phải
phân tích nhiều hiện tượng và ưu tiên cho những hiện tượng điển hình để hiểu
bản chất
- Bản chất quy định sự tồn tại và phát triểncủa sự vật, hiện tượng => Phải
dựa vào bản chất để có phương hướng họat động thích hợp
3.2.6. Khả năng và hiện thực.
3.2.6.1. Khái niệm.
- Hiện thực: Là phạm trù triết học chỉ mọi cái đang tồn tại thực sự trong tự
nhiên, xã hội, tư duy.
- Khả năng: Là phạm trù triết học được sử dụng để chỉ những cái có thể xảy
ra trong tương lai khi có điều kiện tương ứng trên cơ sở những mầm mống tiền
đề đã có.
3.2.6.2. Phân loại các khả năng.
- Khả năng tất nhiên (khả năng được hình thành do quy luật vận động nội tại
của sự vật quy định, và khả năng ngẫu nhiên (khả năng được hình thành do các
tương tác ngẫu nhiên quy định)
- Khả năng gần (nghĩa là đã có đủ hoặc gần đủ những điều kiện cần thiết để
biến thành hiện thực) và khả năng xa (nghĩa là chưa đủ điều kiện cần thiết để
biến thành hiện thực còn phải trải qua nhiều giai đoạn quá độ nữa)
3.2.6.3. Mối quan hệ giữa khả năng và hiện thực.
- Cả 2 gắn bó, và chuyển hóa cho nhau. Quá trình này là vô tận làm cho sự
vật, hiện tượng không ngừng phát triển.
- Cùng điều kiện nhất định, ở cùng một sự vật có thể tồn tại nhiều khả năng
chứ không chỉ có một khả năng. Và, khi có những điều kiện mới thì có thể xuất
hiện những khả năng mới và ngược lại khả năng có thể mất đi khi mất những
điều kiện nào đấy.
- Để khả năng biến thành hiện thực cần có sự phối hợp của nhiều điều kiện.
3.2.6.4. Ý nghĩa phương pháp luận về mối quan hệ giữa bản khả năng và
hiện thực.


- Khả năng là khả năng của sự vật, do đó tìm khả năng của sự vật phải tìm ở
chính sự vật, không tìm khả năng của sự vật ở ngoài nó.
- Trong hoạt động thực tiễn, chúng ta cần dựa vào hiện thực không nên dựa
vào khả năng, tất nhiên phải tính tới khả năng. Đồng thời trong hoạt động thực
tiễn cần tính đến mọi khả năng có thể xảy ra để có phương án giải quyết phù
hợp.
- Để thực hiện khả năng phải tạo cho nó các điều kiện cần và đủ. Do đó,
trong hoạt động thực tiễn cần chủ động tạo ra những điều kiện cần và đủ để
thúc đẩy khả năng trở thành hiện thực.
3.3. Những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
3.3.1. Quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những
thay đổi về chất và ngược lại.
3.3.1.1. Khái niệm chất và lượng.
- Chất: Là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có
của sự vật – hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ các những thuộc tính làm cho
sự vật là nó chứ không phải là sự vật khác.
- Lượng: Là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật –
hiện tượng về mặt quy mô, trình độ phát triển, biểu hiện đại lượng con số các
thuộc tính, các yếu tố,v.v…của sự vận động và phát triển của sự vật
3.3.1.2. Nội dung quy luật.
Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng bao gồm hai mặt “chất” và“lượng”. Hai
mặt đó thống nhất hữu cơ với nhau trong sự vật, hiện tượng.
- Những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất Lượng biến đổi
dần dần tới một mức độ nhất định sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất.
 Khái niệm Độ: Là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn, mà
trong đó, sự thay đổi về lượng (tăng lên hoặc giảm xuống)chưa làm chất của sự
vật thay đổi.
 Khái niệm Điểm nút: Là phạm trù triết học dùng để chỉ sự thay đổi về
lượng của sự vật (tăng lên hoặc giảm đi) đến giới hạn nhất định sẽ làm cho chất
của sự vật thay đổi.
 Khái niệm Bước nhảy: Là phạm trù triết học dùng để chỉ khi có sự thay
đổi về chất do sự thay đổi về lượng của sự vật trước gây ra.


- Có bước nhảy đột biến chất của sự vật biến đổi một cách nhanh chóng ở tất
cả các bộ phận cơ bản, cấu thành sự vật.
- Bước nhảy dần dần là quá trình thay đổi về chất diễn ra bằng con đường
tích luỹ dần dần những nhân tố của chất mới và mất đi dần dần những nhân tố
của chất cũ.
- Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi về chất tất cả các mặt, các bộ
phận, các yếu tố cấu thành sự vật.
- Bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay đổi một số mặt, một số yếu tố, bộ
phận của sự vật đó.
- Như vậy, sự phát triển của bất cứ sự vật nào cũng bắt đầu từ sự tích luỹ về
lượng trong độ nhất định cho tới điểm nút để thực hiện bước nhảy về chất. Chất
cũ bị phá vỡ, chất mới ra đời cùng với độ mới.
- Sau khi ra đời, chất mới lại tác động trở lại lượng mới. Sự tác động của
chất mới tới lượng mới thể hiện ở chổ tác động tới quy mô, nhịp độ, tốc độ…
của lượng mới. Như vậy, sự vật phát triển theo cách thức: đức đoạn trong liên
tục.
3.3.1.3. Ý nghĩa phương pháp luận.
- Trong nhận thức, phải nhận thức của hai mặt chất và lượng của sự vật,
muốn thay đổi chất phải thay đổi về lượng tránh chủ quan, nống vội. Khi tích
luỹ đủ về lượng thì phải kiên quyết thực hiện bước nhảy; chống tư tưởng bảo
thủ, trì trệ.
- Trong hoạt động thực tiễn cần tránh hai khuynh hướng “tả khuynh” và
“hữu
khuynh”.
3.3.2. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (quy luật
mâu thuẫn).
3.3.2.1. Khái niệm.
- Những mặt đối lập là những mặt có khuynh hướng, thuộc tính biến đổi,
phát triển trái ngược nhau trong cùng sự vật – hiện tượng hay hệ thống sự vật
hiện tượng.
- Mâu thuẫn biện chứng là sự tác động lẫn nhau của các mặt đối lập.


- Thống nhất của các mặt đối lập: các mặt đối lập làm điều kiện, tiền đề tồn
tại cho nhau, không mặt này thì không có mặt kia và ngược lại; các mặt đối lập
tác động ngang
nhau, cân bằng nhau; giữa hai mặt đối lập có điểm chung nhau, tương đồng
nhau.
- Sự đấu tranh của các mặt đối lập là sự bài trừ, phủ định nhau, là sự triển
khai của các mặt đối lập.
3.3.2.2. Nội dung quy luật.
- Mọi sự vật đều chứa đựng những khuynh hướng biến đổi ngược chiều nhau
gọi là những mặt đối lập. Mối liên hệ của hai mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn.
- Các mặt đối lập vừa thống nhất vừa chuyển hoá lẫn nhau làm cho mâu
thuẫn được giải quyết, sự vật biến đổi và phát triển, cái mới ra đời thay thế cái
cũ, mâu thuẫn mới lại xuất hiện. Mâu mới đựơc giải quyết, cứ như vậy mà sự
vật vận động và phát triển.
- Như vậy, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có vai trò là
nguồn gốc của quá trình vận động, phát triển của sự vật.
3.3.2.3. Ý nghĩa phương pháp luật.
* Các loại mâu thuẫn
- Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật nó tồn tại từ
khi sự vật ra đời đến khi sự vật mất đi.
- Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn không quy định bản chất của sự vật.
- Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát
triển nhất định của sự vật.
- Mâu thuẫn không chủ yếu là mâu thuẫn mà việc giải quyết nó không quyết
định việc giải quyết các mâu thuẫn khác ở giai đoạn đó của sự vật.
- Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, tập đoàn người,
những nhóm xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau không thể điều hoà.
- Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng, khuynh
hướng xã hội có đối lập về lợi ích nhưng đó không phải là lợi ích cơ bản, mà chỉ
là lợi ích cục bộ, tạm thời.
* ý nghĩa phương pháp luận


- Vì phát triển là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, nên trong hoạt động nhận
thức và thực tiễn cần phải phát hiện mâu thuẫn, tôn trọng, phân tích mâu thuẫn
để nắm được khuynh hướng của sự vận động và phát triển của sự vật.
- Theo tình hình cụ thể, sự vật khác nhau, cách giải quyết mâu thuẫn cũng
khác nhau, tránh rập khuôn, máy móc.
- Muốn thay đổi bản chất sự vật thì phải giải quyết mâu thuẫn, tránh chủ
quan, thoả hiệp.
3.3.3. Quy luật phủ định của phủ định.
3.3.3.1. Khái niệm phủ định.
- Phủ định, là sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác trong quá trình vận
động và phát triển
- Phủ định siêu hình, là sự phủ định sạch trơn, sự phủ định không tạo tiền đề
cho sự phát triển tiếp theo, không tạo cho cái mới ra đời, lực lượng phủ định là
ở bên ngoài sự vật.
- Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tự phủ định, sự
phủ định tạo tiền đề cho sự phát triển tiếp theo của sự vật, sự phủ định tạo tiền
đề cho cái mới ra đời thay thế cái cũ. lực lượng phủ định là ở ngay bên trong
bản thân sự vật
- Phủ định biện chứng mang tính khách quan, phổ biến, mang tính kế thừa.
3.3.3.2. Nội dung quy luật.
- Phủ định của phủ định nói lên rằng một chu kỳ phủ định biện chứng có ít
nhất là từ hai phủ định trở lên, số lần phủ định phụ thuộc vào từng trường hợp
cụ thể, và sự vật dường như quay trở lại điểm xuất phát ban đầu nhưng trên cơ
sở cao hơn. Cụ thể như sao:
- Khi phủ định lần thứ nhất xảy ra sự vật trở thành cái đối lập với chính
nó(phủ định lần1), phủ định lần thứ hai xảy ra sự vật mới ra đời (phủ định lần2)
gần như cái (xuất phát) ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn.
- Trong thực tế, có sự vật có thể trải qua ba đến bốn lần phủ định mới kết
thúc chu kỳ của mình, nên số lần phủ định phụ thuộc vào từng trường hợp cụ
thể.
- Nhờ tính chu kỳ phủ định biện chứng là sự phủ định có tính chất tiến lên
theo đường xoáy ốc. Đường xoáy ốc biểu thị rõ ràng, đầy đủ các đặc trưng của
quá trình phát triển biện chứng như tính kế thừa, tính lặp lại, tính tiến lên.


3.3.3.3. Ý nghĩa phương pháp luận.
- Cái mới tất yếu xuất hiện và chiến thắng, nên trong hoạt động thực tiễn
phải có thái độ ủng hộ cái mới, cái tiến bộ.
- Sự phát triển luôn có tính kế thừa vì vậy không được phủ định sạch trơn.
Thái độ bảo thủ không chịu đổi mới cho phù hợp với thực tiễn mới
- Phát triển không theo con đường thẳng mà quanh co phức tạp, nên cũng
không quá bi quan, mà phải tin tưởng xu thế phát triển của cái mới hợp quy
luật.
4. LÝ LUẬN NHẬN THỨC DUY VẬT BIỆN CHỨNG
Lý luận nhận thức là một bộ phận quan trọng cuả TH Mác lênin
4.1. Bản chất nhận thức
4.1.1. Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm.
- Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: Nhận thức là “Sự tổng hợp của những cảm
giác”
- Chủ nghĩa duy tâm khách quan: Nhận thức là do Ý niệm, tư tưởng, thần
linh mách bảo
- Chủ nghĩa duy vật trước Mác: Nhận thức là sự phản ánh hiện thực KQ vào
trong óc người, do ảnh hưởng của tính trực quan, siêu hình, máy móc =>
không thấy được tính năng động, sáng tạo, cũng như vai trò của TT đối với
nhận thức.
4.1.2. Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
- Thứ nhất, Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng nhận thức là quá trình
phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn.
Điều này có nghĩa là chủ nghĩa duy vật biện chứng thừa nhận thế giới vật chất
tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con người.
- Thứ hai, Chủ nghĩa duy vật biện chứng công nhận khả năng nhận thức thế
giới của con người, về nguyên tắc là không có gì mà con người không nhận
thức được, chỉ có cái con người chưa nhận thức được mà thôi.
- Thứ ba, nhận thức là quá trình biện chứng, đi từ chưa biết đến biết, từ biết
ít đến nhiều, từ chưa đầy đủ đến đầy đủ hơn nhưng không có giới hạn cuối
cùng.
- Thứ tư, nhận thức phải dựa trên cơ sở thực tiễn, lấy thực tiễn làm mục đích
nhận thức, tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.


Như vậy, theo triết học duy vật biện chứng, nhận thức là quá trình phản ánh
tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người trên cơ sở
thực tiễn mang tính lịch sử - xã hội cụ thể.
4.2. Quan hệ giữa thực tiễn và lý luận
4.2.1. Khái niệm thực tiễn.
- Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì thực tiễn: Là những
hoạt động vật chất – cảm tính, mang tinh lịch sử, có mục đích của con người
nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
- Thực tiễn có những đặc trưng:
+ Thực tiễn là hoạt động vật chất – cảm tính.
+ Thực tiễn có tính lịch sử - xã hộ.
+ Thực tiễn là hoạt động có mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
- Những hình thức của thực tiễn:
+ Thực tiễn là hoạt động sản xuất vật chất.
+ Thực tiễn là hoạt động chính trị - Xã hội.
+ Thực tiễn là hoạt động thực nghiệm khoa học.
4.2.2. Khái niệm lý luận.
- Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực
tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các
sự vật hiện tượng trong thế giới và được biểu đạt bằng hệ thống các nguyên lý,
quy luật, phạm trù.
Lý luận có những đặc trưng:
+ Thứ nhất, lý luận có tính hệ thống, tính khái quát, tính lôgíc chặt chẽ.
+ Thứ hai, cơ sở lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn.
+ Thứ ba, LL xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất sự vật – hiện
tượng.
4.2.3. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
4.2.3.1. Vai trò của thực tiễn đối với lý luận.
+ Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức, lý luận
+ Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận
+ Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của nhận thức, lý luận
4.2.3.2. Vai trò của lý luận đối với thực tiễn.
- Lý luận đóng vai trò soi dường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn


- Lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tập hợp quần
chúng
- Lý luận đóng vai trò định hướng, dự báo cho hoạt động thực tiễn.
4.2.3.3. Ý nghĩa phương pháp luận.
- Một là, nhận thức phải gắn với nhu cầu thực tiễn của con người , xuất phát
từ thực tiễn địa phương, nghành, đất nước.
- Hai là, nghiên cứu lý luận phải gắn với thực tiễn, học phải gắn với hành.
- Ba là, phải chú trọng công tác tổng kết thực tiễn , bổ sung, hoàn thiện phát
triển lý luận cũng như chủ trương, đường lối, chính sách.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×