Tải bản đầy đủ

văn 11 vội vàng Xuân Diệu Phân tích

PHÂN TÍCH KHỔ THƠ ĐẦU TRONG BÀI THƠ VỘI VÀNG CỦA XUÂN DIỆU
Khao khát giao cảm với đời, ham muốn sống mãnh liệt trong tuổi trẻ và tình yêu là đặc điểm của
thơ Xuân Diệu. ở mỗi sáng tác, mỗi vần thơ của ông ta đều thấy chất Xuân Diệu ấy. Chẳng thế mà trong
“Thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh đã nhận xét: “ Thơ Xuân Diệu là nguồn sống dạt dào chưa từng có ở
chốn nước non lặng lẽ này”. Vậy nên Xuân Diệu được coi là “ nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”.
Đặc biệt là bài “Vội vàng”-một trong những bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu cũng thể hiện điều đó. Cả
bài thơ là niềm khao khát, giao cảm với đời.Cốt lõi của giao cảm ấy chính là quan niệm về thiên đường
nơi trần thể được thể hiện rõ nét qua khổ thơ:
Cho màu đừng nhạt mất
Ta muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
.......
Tôi khôngchờ nắng hạ mới hoài xuân.
Hoài Thanh là một trong những nhà phê bình văn học xuất sắc nhất của nền văn học Việt Nam hiện
đại. Với công trình nghiên cứu nổi tiếng “Thi nhân Việt Nam”, ông đã để lai trong lòng độc giả những ấn
tượng sâu sắc về những đặc trưng, nổi bật của các nhà thơ mới và phong trào thơ mới. Đối với Xuân Diệu
từ đây ông được biết đến là “ nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” hay chính là người “ xây dựng trên
đất một tấm lòng trần gian” (Nguyễn Đăng Mạnh). Có lẽ đó là bởi Xuân Diệu luôn có khao khát mãnh
liệt với cuộc đời. Chính vì thế mà “ Thơ Xuân Diệu là nguồn sống dạt dào chưa từng có ở chốn nước non
lặng lẽ này”. Trước Xuân Diệu chưa từng có nhà thơ mới nào ca ngợi về cuộc sống hay và nhiêu như thế.
Sau Xuân Diệu cũng chưa có nhà thơ nào viết xuất sắc như thế vê cuộc đời. Đọc thơ Xuân Diệu ta cảm

nhân được một“ nguồn sống dạt dào”, mạnh mẽ, một phong cách sống cuống quýt, vội vàng. Bởi thời
gian thì một đi không trở lại, mà trần gian chính là thiên đường vậy nên “Xuân Diệu đốt cảnh bồng lai
xua ai nấy về hạ giới”.Nhà thơ lãng mạn người Pháp Bô-đơ-le đã từng nói “ Ôi đau đớn! ôi đau đớn! thời
gian ăn cuộc sống”. Đối với ông, sự vận động của thời gian là một niềm đau đớn. Thế nhưng, trước sự
vận động của thời gian Xuân Diệu chỉ thể hiện nỗi cuống quýt, vội vàng trước thời gian không đứng đợi.
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.
Mở đầu bài thơ, Xuân Diệu đã thể hiện một ước muốn kì lạ đến ngông cuồng: tôi muốn tắt năng/ tôimuốn
buộc gió. Đó là những ước muốn kì lạ bởi tắt nắng, buộc gió là công việc của tạo hóa. Đối với Chế Lan
Viên “ tất cả cuộc đời chỉ là vô nghĩa”, là khổ đau. Không thích mùa xuân, người thanh niên này muốn
ngăn bước chân của nó bằng những gì sót lại của mùa thu trước. Những lá vàng rơi, muôn cánh hoa
tàn...với cả “ý thu góp lại” tạo lên hàng rào tâm tưởng để “chắn nẻo xuân sang”.Thế nhưng ở bài “vội
vàng” Xuân Diệu dường như có thái độ khác hẳn.Thi sĩ muốn tước đoạt quyền của tạo hóa. Là bởi tắt
nắng “cho màu đừng nhạt”, buộc gió”cho hương đừng bay đi”. Hóa ra trong niềm ước hết sức ngộ
nghĩnh, ngông cuồng ấy nhà thơ muốn bất tử hóa cái đẹp, giữ cho cái đẹp mãi mãi lên hương tỏa sắc giữa
cuộc đời này. Niềm ước muốn mang một vẻ đẹp nhân văn của một tâm hồn nghệ sĩ.Sở dĩ có khát vọng kì
lạ đó là bởi lẽ dưới con mắt của thi sĩ mùa xuân đầy sức hấp dẫn và quyến rũ:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật
....
Của yến anh này đây khúc tình si


Với thi sĩ một năm chỉ có hai mùa: mùa thu và mùa xuân. Là vì “thu và xuân là hai bình minh của một
năm, sự thay đổi hệ trọng nhất của tâm hồn. Và bởi vậy thu cũng là một mùa xuân” (Trường ca).Mùa
xuân-mùa của tình yêu, của sự sống đã đi vào trong thơ từ hàng ngàn năm nhưng trước Xuân Diệu có lẽ
chưa có tứ thơ lời thơ nào tương tự. Khu vườn mùa xuân mà thi sĩ đã dựng lên trong bầu trời tâm tưởng
như muốn vẽ ra trước măt mỗi người có đầy đủ thế giới tự nhiên. Ở đó có ong bướm rộn ràng, có muôn
hoa đua sắc với đông cỏ xanh rì. Mùa xuân mùa của cành tơ phơ phất, của những khúc tình si rộn rã... Thi
sĩ đã tạo lên một bức tranh tràn đầy ánh sáng tinh khôi, đầy âm thanh tình tứ , rộn ràng. Tất cả như đang ở
độ xuân thì của nó. Ngây ngât giữa khu vườn mùa xuân , nhà thơ hạnh phúc như đang lạc vào giữa vườn
hồng. Hạnh phúc hơn thế nữa là những vẻ đẹp ấy không phải ở chốn xa xăm , mộng ảo mà ngay chốn trần
gian, mọi vật đều đang sẵn sàng dâng hiến, mời chào, ban tặng cho nhà thơ. Điệp từ này đây và nhịp điệu
liên tục cũng cho ta thấy cảnh sắcvà vẻ đẹp của khu vườn. Để rồi trong khoảnh khắc của mùa xuân thi
nhân đã hóa thành tình nhân.Chính cái nhìn của”cặp mắt xanh non biếc rờn” luôn lấy con người giữa mùa
xuân, tuổi trẻ và tình yêu làm chuẩn mực cho cái đẹp đã tạo nên vẻ riêng độc đáo trong bức tranh mùa
xuân của thi sĩ. Chúng ta có thể nhận thấy nhà thơ miêu tả bướm ong đang sống trong tuần tháng mật,
cành xuân thì thành cành tơ đầy sức sống, tiếng hát của yến anh cũng thành điệu tình si rộn ràng. Tất cả
vạn vật đều đang trong trạng thái hạnh phúc. Và táo bạo nhất là cách so sánh “Tháng giêng ngon như một

cặp môi gần” thật gần gũi và gợi cảm. Dưới con mắt “xanh non” của thi sĩ, mùa xuân tựa như một cô gái
kiều diễm, hồng hào,tình tứ đầy hấp dẫn.Nếu trong “Một thời đại thi ca” Thế Lữ,Tản Đà nuôi giấc mộng
lên tiên thì Xuân Diệu - nhà trí thức Tây học trẻ lại “ đốt cảnh bông lai xua ai nấy về hạ giới”. Bởi trần thế
mới là nơi đẹp nhất. Khu vườn mùa xuân này giống như một thiên đường mà ai cũng mong muốn được
tận hưởng. Cái hấp dẫn, cái lãng mạn của thơ Xuân Diệu chính là ở chỗ đó. Như vậy, ở phần đầu bài thơ,
bằng cặp mắt”xanh non biếc rờn”, Xuân Diệu đã nhìn cuộc đời và vạn vật có nhiều điểm khác biệt so với
các nhà thơ cũ. Thi sĩ đã phát hiện cuộc đời trần thế đẹp đẽ và hấp dẫn biết bao. Thế nhưng không ai có
thể sống mãi để tận hưởng mọi lạc thú, năm tháng chảy trôi tuổi xuân thì một đi không trở lại.
Như vậy ,Xuân Diệu đã vẽ lên trước măt người đọc cả thế giới sống động, thể hiện “nguồn sống dạt dào”.
Bởi thể, nhận định của Hoài Thanh là hoàn toàn đúng đắn khi đã đánh giá chính xác một trong những đặc
điểm nổi bật của thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám. Đó là tấm lòng của con người nặng tình với
cuộc đời, luôn khao khát gắn bó với đời. Khổ thơ đâu tiên này là điểm xuất phát để từ đó nhà thƠ những
quan niệm về thời gian và triết lí sống vội vàng ở khổ 2 và 3.Xuân Diệu là một hồn thơ yêu đời và tài hoa.
Thi sĩ đã vẽ lên trong tâm tưởng người đọc một bức tranh thiên nhiên nơi trần thế tuyệt đẹp. Đó chính là
“nguồn sống dạt dào” mà nhà thơ đã truyền cho mỗi chúng ta. Đọc thơ Xuân Diệu giúp ta có cái nhìn mới
mẻ về cuộc đời, cho ta niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống. Chính thế đã làm nên những giá trị lớn lao trong
thơ Xuân Diệu.

Phân tích bài thơ “Vội vàng”
I. MỞ BÀI
“Vội vàng” là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước cách mạng tháng tám. Tác
phẩm được rút ra từ tập “Thơ thơ” (1938). Đây là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng
nhiệt. Nhưng đằng sau những tình cảm ấy có một quan niệm nhân sinh mới chưa từng thấy trong thơ ca
truyền thống.
II. THÂN BÀI:
1. Thiên đƣờng ngay trên mặt đất.


Trong lời giới thiệu tập thơ đầu tay của Xuân Diệu, Thế Lữ đã khẳng định: “Xuân Diệu là một người của
đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian, ông
không trốn tránh mà lại còn quyến luyến cõi đời và lời nguyện ước của ông có bao nhiêu sức mạnh”:
“Ta ôm bó, cánh tay ta làm rắn
Làm dây da quấn quýt cả mình xuân
Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần
Chân hoá rễ để hút mùa dưới đất”
(Thanh niên – Xuân Diệu)
Còn Hoài Thanh đã nhận xét: Thế Lữ xui mọi người lên tiên nhưng Xuân Diệu lại đốt cảnh bồng lai xua
mọi người về với hạ giới. Đối với Xuân Diệu, mặt đất này là vườn trần tươi tốt, là một thiên đường trong
tầm tay với người bình thường quanh chúng ta. Này đây hoa thơm, trái ngọt của mùa xuân tươi thắm đang
chào mời chúng ta thật hấp dẫn:
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;”
Với tâm hồn khát sống, khát yêu, tận hiến, tận hưởng và khát khao giao cảm mãnh liệt, Xuân Diệu đã
khám phá ra vẻ xuân tươi phơi phới, rất quyến rũ, đầy tình tứ và ngon lành ở những cảnh vật thiên nhiên
quen thuộc quanh ta: cảnh ong đưa và bướm lượn dập dìu bỗng chốc trở thành “tuần tháng mật” của tình
vợ chồng. “Hoa của đồng nội” cũng trở nên thắm sắc, ngát hương hơn. Cành cây bình thường cũng hoá
thành “cành tơ” căng tràn nhựa sống với những chiếc lá phơ phất bay đầy tình tứ. Và tiếng hót đắm say
của chim yến, chim oanh bỗng chốc cũng hoá thành điệu tình si, mê đắm lòng người. Thi sĩ như muốn nói
với chúng ta: sao người ta cứ đi tìm Bồng lai Tiên cảnh, cõi Niết bàn cực lạc ở mãi chốn mông lung hão
huyền, viễn vông nào kia. Nó ở ngay giữa cuộc sống quanh ta đây, ngay trong giây phút hiện tại đây. Nó
là cái có thực, luôn luôn diễn ra sinh động trước mắt ta. Hàng loạt từ “này đây” vừa như liệt kê những của
ngon vật lạ phong phú, đa dạng, muôn màu muôn vẻ của trần gian, vừa như mời mọc thiết tha, vừa tạo
cho đoạn thơ một nhịp điệu thúc giục hối hả. Vậy còn chờ gì nữa, hãy yêu mến, hãy gắn bó và sống hết
mình với cuộc sống thực tại đầy tươi vui này. Thực ra, cái thế giới tươi đẹp đó, vườn xuân mơn mởn xanh
tươi đó đâu phải bây giờ mới có. Nhưng xưa nay, ta chưa có con mắt nhìn, chưa chịu nhìn nên không
thấy. Nhà thơ Xuân Diệu không tạo ra thế giới mới nhưng có con mắt nhìn mới. Thi sĩ gọi đó là con mắt
“xanh non”. Thoát hỏi hệ thống ước lệ có tính chất phi cá thể của văn chương cổ điển, cặp mắt “xanh
non” của thơ Mới tiêu biểu hơn hết là Xuân Diệu ngơ ngác, vui sướng như lần đầu tiên trông thấy trời
xanh hoá lá, cái gì cũng lạ, cũng đẹp, cũng non tươi; cái gì cũng mê, cũng say.
2. Đẹp nhất là con ngƣời giữa tuổi trẻ và tình yêu.
Nhưng đối với Xuân Diệu, thế giới trần gian này đẹp nhất, hấp dẫn nhất vẫn là vì có con người, đặc biệt
là con người giữa tuổi trẻ và tình yêu. Thơ ca cổ điển thường lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho cái đẹp
của con người: “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”. Ở đây, Xuân Diệu đã đưa ra một tiêu chuẩn
khác: con người hồng hào mơn mởn xinh đẹp giữa tuổi yêu đương là đẹp nhất. Ấy mới là chuẩn mực của
mọi vẻ đẹp trên thế giới này. Con người là thước đo thẩm mỹ của vũ trụ. Vẻ đẹp của con người trần thế là
tác phẩm kỳ diệu nhất của tạo hoá. Đó là ý nghĩa nhân bản mỹ học Xuân Diệu. Nó cũng đã tiếp nối được
truyền thống nhân đạo của nhân dân ta khi cho rằng “người ta là hoa đất”. Tư tưởng thẩm mĩ ấy đã giúp
Xuân Diệu sáng tạo nên được những hình ảnh mới mẻ, đẹp đẽ gây cảm xúc đặc biệt cho người đọc.
Chẳng bạn, hình ảnh “và này đây ánh sáng chớp hàng mi”, ánh sáng buổi sớm mai như phát ra từ cặp mắt
đẹp vô cùng của nàng công chúa có tên là Bình Minh. Nàng vừa tỉnh giấc nồng suốt một đêm qua, mắt


chớp chớp hàng mi rồi bừng nở ra muôn vàn hào quang. Nhưng “Vội vàng” còn có một hình ảnh rất độc
đáo và táo bạo, rất trần gian nhưng cũng thật tuyệt mĩ, tuyệt vời, chỉ có Tạo hoá – bà mẹ toàn năng đầy
phép lạ mới có thể sáng tác nên được. Đó là hình ảnh “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. “Tháng
giêng” thanh tân, diễm lệ, đầy ánh sáng, màu sắc, âm thanh và hương thơm trở thành “cặp môi gần” rất
“ngon”, ngọt của người tình nhân. Thật là một hình ảnh rất gợi cảm, giàu hình tượng, rất thanh tao, trong
sáng không thoáng gợn một chút nhục cảm.
3. Hãy sống cao độ mỗi giây phút của tuổi thanh xuân.
Nhưng tạo hoá có sinh ra con người để mãi mãi hưởng lạc thú ở chốn địa đàng trần gian này đâu! Đời
người có hạn, tuổi xuân ngắn ngủi và thời gian trôi đi vĩnh viễn không trở lại. Thực ra, từ ngàn đời nay,
văn chương cũng đã từng than thở về sự ngắn ngủi của kiếp người. Các thi sĩ xem “cuộc đời như ánh
chớp có rồi không”. Một nhà thơ đầy bản lĩnh như Nguyễn Công Trứ mà cũng phải thốt lên “Ôi! Nhân
sinh là thế. Như bóng đèn. Như mây nổi. Như gió thổi. Như chiêm bao!” Nhưng ngày xưa, các thi nhân
chưa tách khỏi cộng đồng, con người còn gắn làm một với vũ trụ cho nên chết chưa hẳn đã là hết, là hư
vô, vẫn có thể cùng cộng đồng , cùng trời đất mà tuần hoàn. Song niềm tin ấy đâu còn nữa ở các nhà thơ
Mới đã thức tỉnh được ý thức cá nhân. Vũ trụ luôn luôn biến đồi, thời gian luôn luôn chảy trôi, có cái gì
bền vững đâu, nhất là ngày xuân, tuổi xuân:
“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.”
Cái nghịch lý éo le giữa quy luật nghiệt ngã của thời gian qua nhanh chóng không gì có thể níu kéo được
với khát vọng được tận hưởng cuộc sống hạnh phúc giữa mùa xuân và tuổi trẻ được tô đậm bằng những
cặp từ ngữ, hình ảnh tương phản: “đương tới” - “đương qua”, “còn non”- “sẽ già”, “lòng tôi rộng” –
“lượng trời cứ chật”…và song hành “xuân hết” // “cũng mất”. Vũ trụ có thể vĩnh viễn, mùa xuân đất trời
có thể tuần hoàn, nhưng “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại; còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi”. Ở đây,
Xuân Diệu đã lấy cá nhân, đặc biệt là lấy “tuổi trẻ” - khoảng thời gian ngắn ngủi nhất nhưng có ý nghĩa
nhất của đời người làm thước đo thời gian. Vậy thì làm thế nào bây giờ? Than khóc chăng? Không! Nhà
thơ Xuân Diệu đã có một ý muốn, một khát vọng thật táo bạo, một khát vọng rất thanh niên và cũng rất
Xuân Diệu:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi”
Nhưng không thể được! Làm sao có thể cưỡng lại được quy luật sinh sôi vĩnh hằng nghiệt ngã của vũ trụ?
Vậy chỉ còn một cách thôi, hãy “mau lên” hãy “vội vàng lên”, hãy chạy đua với thời gian và sống cao độ,
hết mình cho từng giây, từng phút tuổi trẻ của mình giữa mùa xuân cuộc đời và vũ trụ.

PHÂN TÍCH ĐOẠN CUỐI (10 CÂU CUỐI) BÀI THƠ VỘI VÀNG CỦA XUÂN DIỆU
I. MỞ BÀI
Ngày Xuân Diệu mới xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nhà phê bình Hoài Thanh đã có một đánh giá rất
xác đáng "Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời sống vội vàng". Có lẽ cái nét đặc sắc ấy của


hồn thơ Xuân Diệu được biểu hiện đầy đủ nhất trong bài thơ Vội vàng, mà đoạn bình giảng dưới đây là
đoạn hay nhất của bài thơ.
“Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng
Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”
II. THÂN BÀI
Bài thơ Vội vàng nằm trong tập Thơ thơ, xuất bản năm 1938, là bài thơ tiêu hiểu của tập thơ nói riêng,
của hồn thơ xuân Diệu nói chung. Cả bài thơ thể hiện một nhân sinh quan mang ý nghĩa nhân bản sâu sắc.
Thiên đường là ở ngay trên mặt đất chúng ta với biết bao điều hấp dẫn và quyến rũ. Vì vậy, hãy yêu mến,
hãy gắn bó và sống hết mình với cuộc sống thực tại đầy tươi vui này. Nó bộc lộ niềm ham sống, khát
sống, tận hưởng đến vô biên và tuyệt đích của thi nhân. Nó làm ta nhớ tới câu thơ nổi tiếng của Tago "Ta
muốn uống cạn cái ly tràn đầy sự sống". Ở phần trên của bài thơ, thi sĩ luận giải cho người đọc thấy được
tạo hoá có sinh ra con người để mãi mãi hưởng lạc thú ở chốn trần gian này đâu. Đời người ngắn ngủi,
tuổi xuân có hạn và thời gian trôi đi vĩnh viễn không trở lại "giục giã" chúng ta phải "nhanh lên", "vội
vàng lên" để tận hưởng bữa tiệc của trần gian khi mà "mùa chưa ngả chiều hôm", khi mà xuân đang non.
xuân chưa già:
"Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn"
"Ở trên, tác giả xưng "tôi" để đối thoại với đồng loại, ở dưới lại xưng "ta" để đối diện với sự sống" (Chu
Văn Sơn). Giữa những câu thơ dài, đột ngột xen vào một câu thơ rất ngắn, chỉ có ba chữ "ta muốn ôm".
Câu thơ như thắt ngang giữa bài làm ta liên tưởng đến vòng tay đang ôm bó, níu giữ, quấn quýt "cả sự
sống mới bắt đầu mơn mởn", non tơ của nhà thơ. "Mơn mởn" là từ láy rất gợi cảm và giàu ý nghĩa diễn tả.
Nó gợi cảm giác sự vật, cây cối đang ở độ non mướt, tươi tốt đầy sức sống:
"Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn
Làm dây da quấn quýt cả vườn xuân
Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần
Chân hoá rễ để hút mùa dưới đất"
(Thanh niên)
Lần theo bước chân "vội vàng", cuống quýt và trái tim "say đắm", "nồng nàn", "tha thiết" với sự sống của
thi nhân, ta bước vào một thế giới đầy ắp những hình ảnh sinh động, đẹp đẽ của mùa xuân và cuộc đời:


"Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
… cắn vào ngươi"
Một đoạn thơ ngắn mà có tới bốn, năm từ "ta muốn" được lặp đi lặp lại như nhịp điệu hối hả, như hơi thở
gấp gáp của thi nhân. Nó đã nói lên được cái ham muốn khát thèm đến hăm hở, cuồng nhiệt của nhà thơ.
Nhất là mỗi lần điệp, lại đi liền với một động từ chỉ trạng thái yêu đương mỗi lúc một mạnh mẽ, nồng nàn
hơn “ôm" - "riết" - "say" - "thâu", để cuối cùng là một tiếng kêu của sự cuồng nhiệt, đắm say thể hiện
niềm yêu đời, khát sống chưa từng có trong thơ ca Việt Nam “Hỡi xuân hồng! Ta muốn cắn vào ngươi".
Dưới ngòi bút của Xuân Diệu và trong ánh mắt "xanh non", "biếc rờn" của thi sĩ, mùa xuân hiện lên
rõ rệt và sống động như có hình có dáng, có hồn có sắc. Mùa xuân như môi, như má của một người thiếu
nữ trẻ trung, tràn trề nhựa sống và đẹp xinh, trinh nguyên đang rạo rực yêu đương, hay như một quả chín
ngọt thơm trong vườn. Đứng trước cái hấp dẫn của mùa xuân, cuộc sống, thi sĩ hình như không nén nổi
lòng yêu đã đi đến một cử chỉ cũng thật đáng yêu:
"Ta muốn cắn vào ngươi"
Hay:
"Mặt trăng của mẹ
Mẹ nâng trên tay
Mặt trăng tươi thế?
Mẹ cắn vào đây"
(Hôn con - Anh Thơ).
Có lẽ trong các bài thơ của Xuân Diệu trước Cách mạng thì đây là những vần thơ Xuân Diệu nhất. Vì
mỗi câu, mỗi chữ đều mang hơi thở nồng nàn, đắm say, ham sống của "một nhà thơ mới nhất trong các
nhà thơ mới". Mới từ điệu tâm hồn, cách cảm, cách nghĩ đến cách đặt câu, dùng từ. Ngay cả liên từ "và"
được dùng có vẻ thừa thãi nhưng cũng đã thể hiện được một cách đậm nét cái "tôi" của Xuân Diệu. Nghĩa
là làm nổi rõ được cái cảm xúc tham lam, ham hố đang trào lên mãnh liệt trong trái tim yêu đời của Xuân
Diệu. Câu thơ :
"Cho chuếnh choáng mùi thơm
… Cho non nê thanh sắc của thời tươi",
mới đọc qua tưởng như là một câu văn xuôi tầm thường, nhưng thực ra lại rất thơ. Điệp từ "cho" với nhịp
độ tăng tiến nhấn mạnh các cấp độ khát vọng hưởng thụ đạt đến độ thoả thuê, sung mãn, trọn vẹn. Và với
chữ "hồng" độc đáo rất gợi hình, gợi cảm, với một loạt từ láy tính từ "chuếnh choáng", "đã đầy", "no nê",
chỉ cảm giác về hưởng thụ vật chất cụ thể trong nghệ thuật ẩm thực kèm theo trong câu thơ trên, nhà thơ
không chỉ đã diễn tả được ý thơ ấy (thoả thuê, sung mãn) mà còn gợi cho ta ý nghĩ: thế giới này vừa hiện
ra như một người tình hồng hào sức xuân mà thi sĩ là một tình nhân đắm say, vừa được bày ra như một
bữa tiệc lớn với những thực đơn đầy của ngon vật lạ và thi nhân là một thực khách đang trong trạng thái
khát thèm đến cháy lòng.
3. Kết bài: Xuân Diệu đã có lần viết: "Tôi gửi tâm hồn tôi cho những người trẻ tuổi và nhất là trẻ long,
những "Thơ thơ"' cũng là những cái bỏng lưỡi hay những cơn buốt môi, vì đã uống tham vào suối của mặt
trời, đã ăn hàm hồ vào suối xuân... Và khi người ta đã xua tan không còn khát them, là lúc người ta không
còn vui sống nữa".Và vì vui sống mà Xuân Diệu "say đắm với tình yêu và hăng say với mùa xuân, thả
mình bơi trong nắng, rung động với bướm chim, chất trong tim mấy trời thanh sắc" (Thế Lữ).


CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG BÀI THƠ VỘI VÀNG CỦA XUÂN DIỆU

"Vội vàng" (1938) là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của hồn thơ Xuân Diệu (1916 - 1985) trước
cách mạng. Qua bài thơ này, chúng ta thấy cái tôi trữ tình của Xuân Diệu được thể hiện một cách khá rõ
nét và rất độc đáo, hấp dẫn.
1. Trước hết đó là một cái tôi có ý thức cá nhân mạnh mẽ: ham sống, yêu đời, khát khao giao cảm với đời
mãnh liệt. Điều đó được thể hiện rõ nhất ở đoạn thơ sau đây:
"Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
...Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!"
2. Đó là một cái tôi tràn đầy cảm xúc lãng mạn
3. Cái tôi của Xuân Diệu được bộc lộ trong bài thơ này là một cái tôi rất mới mẻ trong quan niệm thẩm
mỹ, thời gian, tuổi trẻ, hạnh phúc, nhân sinh.
(Với Xuân Diệu, con người, nhất là con người giữa tuổi trẻ và tình yêu là chuẩn mực cho cái đẹp nơi trần
thế này. Xuân Diệu đã lấy tuổi trẻ để làm thước đo của thời gian và thời gian một đi không trở lại. Do đó
cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu một cảm nhận đầy mất mát. Theo ông, thời gian quý giá nhất của
đời người là tuổi trẻ, mà hạnh phúc lớn nhất của tuổi trẻ là được sống, được yêu. Qua cặp mắt "xanh non"
của Xuân Diệu, thiên đường không ở đâu xa mà ở ngay trên mặt đất này, trong tầm tay với của mỗi chúng
ta. Vậy còn chở gì nữa mà hãy biết hưởng thụ chính đáng những gì mà cuộc sống trần thế này ban tặng
cho mình, hãy sống mãnh liệt, sống hết mình với cuộc sống, nhất là cuộc sống giữa tuổi trẻ và tình yêu.
Đó là một quan niệm mới mẻ, tích cực về nhân sinh thấm đậm tinh thần nhân văn)
4. Đây còn là một cái tôi rất độc đáo thể hiện qua hình thức nghệ thuật: thể thơ, giọng điệu, hình ảnh, từ
ngữ....(hình ảnh thơ mới mẻ, đầy cảm giác, dùng nhiều từ ngữ táo bạo, nhiều điệp từ, điệp ngữ, điệp cú
pháp tạo nên một giọng điệu dồn dập, sôi nổi, hối hả, cuồng nhiệt).

Phân Tích vội vàng
Bài 1
Nhà thơ Thế Lữ, trong lời Tựa cho tập Thơ Thơ của Xuân Diệu, đã có nhận xét khá tinh tế:
“Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của
một tấm lòng trần gian” . Đã hơn hai mươi năm Xuân Diệu giã từ chúng ta vào cõi hư vô, nhưng “tấm
lòng trần gian” của ông dường như vẫn còn ở lại. Cứ mỗi lần xuân tới, những trái tim non trẻ của các thế
hệ học sinh lại rung lên những cảm xúc mãnh liệt trước tâm tình của Xuân Diệu gửi gắm với đời trong bài
thơ Vội vàng, gắn với niềm khát khao giao cảm với đất trời, con người tràn mê đắm của thi nhân, trong
mùa xuân diệu kì!
Làm thơ xuân vốn là một truyền thống của thi ca Việt Nam, bao nét xuân đi vào thi ca đều mang một dấu
ấn cảm xúc riêng. Đặc biệt, trong thơ lãng mạn Việt Nam 1932 – 1945, mùa xuân còn gắn với cái tôi cá
nhân cá thể giàu cảm xúc của các nhà thơ mới. Có thể kể đến một Hàn Mặc Tử với “khách xa gặp lúc
mùa xuân chín…”, một Nguyễn Bính với “mùaxuân là cả một mùa xanh…”. Nhưng có lẽ Xuân Diệu
chính là người đã đem vào trong cảm xúc mùa xuân tất cả cái rạo rực đắm say của tình yêu. Vội vàng là
lời tâm tình với mùa xuân của trái tim thơ tuổi hai mươi căng nhựa sống.
Cái động thái bộc lộ đầy đủ nhất thần thái của Xuân Diệu có lẽ là vội vàng. Ngay từ hồi viết Thi nhân
Việt Nam, Hoài Thanh đã thấy “Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống


cuốn quýt”. Cho nên, đặt cho bài thơ rất đặc trưng của mình cái tên Vội vàng, hẳn đó phải là một cách tự
bạch, tự họa của Xuân Diệu. Nó cho thấy thi sĩ rất hiểu mình.
Thực ra, cái điệu sống vội vàng, cuống quýt của Xuân Diệu bắt nguồn sâu xa từ ý thức về thời gian, về sự
ngắn ngủi của kiếp người, về cái chết như là một kết cục không tránh khỏi mai hậu. Sống là cả một hạnh
phúc lớn lao diệu kỳ. Mà sống là phải tận hiến và tận hưởng! Đời người là ngắn ngủi, cần tranh thủ sống.
Sống hết mình, sống đã đầy. Thế nên phải chớp lấy từng khoảnh khắc, phải chạy đua với thời gian. Ý thức
ấy luôn giục giã, gấp gáp. Bài thơ này được viết ra từ cảm niệm triết học ấy.
Thông thường, yếu tố chính luận đi cùng thơ rất khó nhuần nhuyễn. Nhất là lối thơ nghiêng về cảm xúc
rất “ngại” đi cùng chính luận. Ấy thế nhưng nhu cầu phô bày tư tưởng, nhu cầu lập thuyết lại không thể
không dùng đến chính luận. Thơ Xuân Diệu hiển nhiên là loại thơ xúc cảm. Nhưng đọc kỹ sẽ thấy rằng
thơ Xuân Diệu cũng rất giàu chính luận. Nếu như cảm xúc làm nên cái nội dung hình ảnh, hình tượng
sống động như mây trôi, nước chảy trên bề mặt của văn bản thơ, thì dường như yếu tố chính luận lại ẩn
mình, lặn xuống bề sâu, làm nên cái tứ của thi phẩm. Cho nên mạch thơ luôn có được vẻ tự nhiên, nhuần
nhị. Vội vàng cũng thế. Nó là một dòng cảm xúc dào dạt, bồng bột cuốn theo bao hình ảnh thi ca như gấm
như thêu của cảnh sắc trần gian. Nhưng nó cũng là một bản tuyên ngôn bằng thơ, trình bày cả một quan
niệm nhân sinh về lẽ sống vội vàng. Có lẽ không phải thơ đang minh họa cho triết học. Mà đó chính là
minh triết của một hồn thơ.
Mục đích lập thuyết, dạng thức tuyên ngôn đã quyết định đến bố cục của Vội vàng. Thi phẩm khá dài
nhưng tự nó hình thành hai phần khá rõ rệt. Cái cột mốc ranh giới giữa hai phần đặt vào ba chữ “Ta muốn
ôm”. Phần trên nghiêng về luận giải cái lí do vì sao cần sống vội vàng. Phần dưới là bộc lộ cái hành động
vội vàng ấy. Nói một cách vui vẻ: trên là lý thuyết, dưới là thực hành! Điều rất dễ thấy là thi sĩ chọn cách
xưng hô cho từng phần. Ở trên, xưng “tôi”, lập thuyết đối thoại với đồng loại. Ở dưới, xưng “ta”, đối diện
với sự sống. Phần luận lí có xu hướng cắt xẻ bài thơ. Nhưng hơi thơ bồng bột, giọng thơ dào dạt, sôi nổi
đã xóa mọi cách ngăn, khiến thi phẩm vẫn luôn là một chỉnh thể sống động, tươi tắn và truyền cảm.
Mở đầu bài thơ là một khổ ngũ ngôn thể hiện một ước muốn kì lạ của thi sĩ. Ấy là cái ước muốn quay
ngược quy luật tự nhiên – một ước muốn không thể:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.
Muốn “tắt nắng”, muốn “buộc gió”, thật là những ham muốn kỳ dị, chỉ có ở thi sĩ. Nhưng làm sao cưỡng
được quy luật, làm sao có thể vĩnh viễn hóa được những thứ vốn ngắn ngủi mong manh ấy? Cái ham
muốn lạ lùng kia đã hé mở cho chúng ta một lòng yêu bồng bột vô bờ đối với cái thế giới thắm sắc đượm
hương này.
Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận theo một cách riêng. Nó bày ra như một thiên đường trên mặt
đất, như một bữa tiệc lớn của trần gian. Được cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham
muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân tình. Cái thiên đường sắc hương đó hiện ra
trong Vội vàng vừa như một mảnh vườn tình ái, vạn vật đương lúc lên hương, vừa như một mâm tiệc với
một thực đơn quyến rũ, lại vừa như một người tình đầy đắm say. Xuân Diệu cũng hưởng thụ theo một
cách riêng. Ấy là hưởng thụ thiên nhiên như hưởng thụ ái tình. Yêu thiên nhiên mà thực chất là tình tự với
thiên nhiên.
Hãy xem cách diễn tả vồ vập về thiên nhiên ở thì xuân sắc, một thiên nhiên rạo rực xuân tình:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật,
Này đây hoa của đồng nội xanh rì,


Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si,
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.
Mỗi sáng sớm thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Có lẽ trước Xuân Diệu trong thơ Việt Nam chưa có cảm giác “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”.
Nó là cảm giác của ái ân tình tự. Cảm giác ấy đã làm cho người ta thấy tháng giêng mơn mởn non tơ đầy
một sức sống thanh tân kia mà sao quyến rũ – tháng giêng mang trong nó sức quyến rũ không thể cưỡng
được của một người tình rạo rực, đắm say.
Hai mảng thơ đầu kế tiếp nhau đã được liên kết bằng cái logic luận lí ngầm của nó. Thi sĩ muốn “tắt
nắng”, “buộc gió” chính vì muốn giữ mãi hương sắc cho trần thế này đây. Hương sắc là cái sinh khí của
nó, là cái vẻ đẹp, cái nhan sắc của nó. Tất cả chỉ rực rỡ trong độ xuân thì. Mà xuân lại vô cùng ngắn ngủi.
Và thế là mảng thơ thứ ba của phần luận giải đã hình thành để nói về cái ngắn ngủi đến tàn nhẫn của xuân
thì đối với sự sống và cái xuân thì của con người. Phải, cái thế giới này lộng lẫy nhất, “ngon” nhất là ở độ
xuân; còn con người cũng chỉ hưởng thụ được cái “ngon” kia khi còn trẻ thôi. Mà cả hai đều vô cùng
ngắn ngủi, thời gian sẽ cướp đi hết thảy. Có lẽ cũng lần đầu tiên, thơ ca Việt Nam có được cái quan niệm
này:
Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn no nghĩa là xuân sẽ già.
Con người thời trung đại hình như yên trí với quan niệm thời gian tuần hoàn với cái chu kỳ bốn mùa,
cũng như cái chu kì ba vạn sáu ngàn ngày của kiếp người. Con người hiện đại sống với quan niệm thời
gian tuyến tính, thời gian như một dòng chảy mà mỗi một khoảnh khắc qua là mất đi vĩnh viễn. Cho nên
Xuân Diệu đã nồng nhiệt phủ định:
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại !
Thước đo thời gian của thi sĩ là tuổi trẻ. Tuổi trẻ một đi không trở lại thì làm chi có sự tuần hoàn !
Trong cái mênh mông của đất trời, cái vô tận của thời gian, sự có mặt của con người thật là ngắn ngủi,
hữu hạn. Nghĩ về tính hạn chế của kiếp người, Xuân Diệu đã đem đến một nỗi ngậm ngùi thật mới mẻ:
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Và đem đến một cảm nhận đầy tính lạ hóa về thời gian và không gian:
Mùi tháng năm đền rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…
Là người đã tiếp thu ở mức nhuần nhuyễn phép “tương giao” của lối thơ tượng trưng, Xuân Diệu đã phát
huy triệt để sự tương giao về cảm giác để cảm nhận và mô tả thế giới. Thời gian được cảm nhận bằng
khứu giác: “Mùi tháng năm” – thời gian của Xuân Diệu được làm bằng hương – chẳng thế mà thi sĩ cứ
muốn buộc gió lại ư? Một chữ “rớm” cho thấy khứu giác đã chuyển thành thị giác. Nó nhắc ta nhớ đến
hình ảnh giọt lệ. Chữ “vị” liền đó, lại cho thấy cảm giác thơ đã chuyển qua vị giác. Và đây là một vị hoàn
toàn phi vật chất: “vị chia phôi” ! Thì ra chữ “rớm” và chữ “vị” này đều từ một hình ảnh ẩn hiện là giọt lệ
chia phôi đó. Vì sao thời gian lại mang cái hương vị – hình thể của chia phôi? Ấy là những cảm giác chân
thực hay chỉ là trò diễn của ngôn ngữ theo kịch bản của phép “tương giao”? Cái tinh tế của Xuân Diệu


chính là ở đấy ! Thi sĩ cảm thấy thật hiển hiện mỗi khoảnh khắc đang lìa bỏ hiện tại để trở thành quá khứ
thật sự là một cuộc ra đi vĩnh viễn. Trên mỗi thời khắc đều đang diễn ra một cuộc chia tay của thời gian
với con người, với không gian và với cả chính thời gian. Cho nên thi sĩ nghe thấy một lời than luôn âm
vang khắp núi sông này, một lời than vĩnh viễn: than thầm tiễn biệt. Không gian đang tiễn biệt thời gian !
Và thời gian trôi đi sẽ khiến cho cái nhan sắc thiên nhiên diệu kỳ này bước vào độ tàn phai. Một sự tàn
phai không thể nào tránh khỏi !
Thế đấy, không thể buộc gió, không thể tắt nắng, cũng không thể cầm giữ được thời gian, thì chỉ có cách
thực tế nhất là chạy đua với thời gian, là phải tranh thủ sống:
Chẳng bao giờ, ôi ! Chẳng bao giờ nữa…
Mau đi thôi ! Mùa chưa ngả chiều hôm
Đến đây phần luận giải của tuyên ngôn vội vàng đã đủ đầy luận lý !
Bài thơ được kết thúc bằng những cảm xúc mãnh liệt, bằng những tham muốn mỗi lúc một cuồng nhiệt ,
vồ vập. Đó là cả một cuộc tình tự với thiên nhiên, ái ân cùng sự sống. Chỉ có thể diễn tả như thế, Xuân
Diệu mới phô diễn được cái lòng ham sống, khát sống sung mãn của mình:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
Nếu chọn một đoạn thơ trong đó cái giọng sôi nổi bồng bột của Xuân Diệu thể hiện đầy đủ nhất, thì đó
phải là đoạn thơ này. Ta có thể nghe thấy giọng nói, nghe thấy cả nhịp đập của con tim Xuân Diệu trong
đoạn thơ ấy. Nó hiện ra trong những làm sóng ngôn từ đan chéo nhau, giao thoa và song song vỗ vào tâm
hồn người đọc. Cái điệp ngữ “ta muốn” được lặp đi lặp lại với mật độ thật dày và cũng thật đích đáng.
Nhất là mỗi lần điệp lại đi liền với một động thái yêu đương mỗi lúc một mạnh mẽ, mãnh liệt, nồng nàn:
ôm – riết – say – thâu – cắn. Có thể nói câu thơ “Và non nước, và cây, và cỏ rạng” là không thể có đối với
thư pháp trung đại vốn coi trọng những chữ đúc. Thậm chí, đối với thơ xưa, đó sẽ là câu thơ vụng. Tại sao
lại thừa thãi liên từ “và” đến thế ? Vậy mà, đó lại là sáng tạo của nhà thơ hiện đại Xuân Diệu. Những chữ
“và” hiện diện cần cho sự thể hiện nguyên trạng cái giọng nói, cái khẩu khí của thi sĩ. Nó thể hiện đậm
nét sắc thái riêng của cái tôi Xuân Diệu. Nghĩa là thể hiện một cách trực tiếp, tươi sống cái cảm xúc tham
lam đang trào lên mãnh liệt trong lòng ngực yêu đời của thi sĩ !
Câu thơ:
Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
cũng tràn đầy những làn sóng ngôn từ như vậy. Từ “cho” điệp lại với mức độ tăng tiến nhấn mạnh các
động thái hưởng thụ thỏa thuê: chuếnh choáng – đã đầy – no nê. Sóng cứ càng lúc càng dâng cao, càng vỗ
mạnh, đẩy cảm xúc lên tột đỉnh:


Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !
Ta thấy Xuân Diệu như một con ong hút nhụy đã no nê đang lảo đảo bay đi. Lại thấy thi sĩ như một tình
lang trong cuộc tình chuếnh choáng men say.
Có thể nói Xuân Diệu qua bài thơ này không chỉ “sống” hay “ham sống” mà ông “say sống”. Sống mãnh
liệt, hối hả kẻo nữa lại tiếc nuối – Đó là một nhân sinh quan lành mạnh. Nó khác với sự nguội lạnh, hờ
hững, lạt lẽo. Bài thơ là nhịp đập gấp gáp trước “thanh sắc trần gian” một ngày xuân của một trái tim
chưa bao giờ chán sống.
Sống là hạnh phúc. Muốn đạt tới hạnh phúc phải sống vội vàng. Thế là, vội vàng là cách đến với hạnh
phúc, là chính hạnh phúc, và hình như cũng là cái giá phải trả cho hạnh phúc vậy ! Ta hiểu vì sao khi
Xuân Diệu xuất hiện, lập tức thi sĩ đã thuộc về tuổi trẻ !

Bài 2
Ngay từ buổi đầu bước chân vào làng thơ, Xuân Diệu dường như đã tự chọn cho mình một lẽ
sống: sống để yêu và tôn thờ Tình yêu! Phụng sự bằng trái tim yêu nồng cháy, bằng cuộc sống say mê và
bằng việc “hăm hở” làm thơ tình! Nhắc đến Xuân Diệu, sẽ thật là thiếu sót nếu không kể tên “Vội vàng”,
“Đây mùa thu tới”, và “Thơ duyên” trong tuyển tập “Thơ thơ” – đứa con đầu lòng mà “ông hoàng thơ
tình” đã ban tặng cho nhân gian. Như một cái chạm tay khẽ nhẹ vào tâm hồn những người yêu thơ, thơ
Xuân Diệu nhẹ nhàng và tinh tế như chính tác giả của nó, để lại trong tâm hồn người đọc một ấn tượng
đậm nết và thật khó phôi pha về sự phóng túng, giàu có mà hết sức tinh tế trong đời sống nội tâm, tâm của
hồn của cái “TÔI” trữ tình Xuân Diệu. Thơ Xuân Diệu như một khúc tình si say đắm ngọt ngào…thật đến
từng hơi thở!
Những vẻ đẹp của mùa xuân đâu chỉ của riêng Xuân Diệu. Từ nghìn năm tước, các bậc tiền bối đã có
những vần thơ tràn trề về tình yêu đói với mùa xuân và cuộc sống. Nhưng yêu đến mức có những ham
muốn táo bạo và khác thường như Xuân Diệu, đó là điều thật mới mẻ, thật mãnh liệt. Đặc biệt là cái cách
nói của nhà thơ. Trong thơ ca trung đại, nét nổi bật là tính phi ngã, cái tôi trữ tình thường ẩn náu sau
những hình tượng thiên nhiên. Trong khi đó, Xuân Diệu bộc lộ ý thức về cái tôi trữ tình thật táo bạo:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất,
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.”
Nói Xuân Diệu là một nhà thơ mới, quả không sai! Nếu như trong thơ ca của những thi sĩ lãng mạn ngày
xưa, thiên đường là chốn bồng lai tiên cảnh, là nơi mây gió trăng hoa, thì trong quan niệm thơ của Xuân
Diệu, cuộc sống trần gian mới thực là nơi hạnh phúc nhất, là nơi xinh đẹp và căng mọng nhựa sống nhất!
Thơ lãng mạn của ông luôn có một niềm say mê ngoại giới, khác giới, một niềm khát khao giao cảm với
đời, một lòng ham sống mãnh liệt đến tràn đầy. Dường như lòng yêu đời, yêu cuộc sống của ông đã biến
cái ham muốn “tắt nắng”, “buộc gió” trở nên quá táo bạo, đến độ lo âu trước sự thay đổi của đất trời, cảnh
vật…muốn ôm tất cả, muốn giữ lại tất cả thiên nhiên với vẻ đẹp vốn có của nó. Ước muốn níu giữ thời
gian, chặn vòng quay của vũ trụ,đảo ngược quy luật tự nhiên, phải chăng là ông đang muốn đoạt quyền
tạo hóa. Nhưng trong cái phi lí đó, vẫn có sự đáng yêu của một tâm hồn lãng mạn yêu cuộc sống. Với
ông, sống là cả một hạnh phúc lớn lao, kỳ diệu, sống là để tận hưởng và tận hiến. Thế giới này được Xuân
Diệu cảm nhận như một thiên đường trên mặt đất, một bữa tiệc lớn của trần gian. Nhà thơ đã cảm nhận
bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy
xuân tình. Cái thiên đường sắc hương đó hiện ra trong “Vột vàng” vừa như một mảnh vườn tình ái, vạn


vật đương lúc lên hương, vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến rũ, lại vừa như một người tình
đầy khêu gợi.
Có ai đó đã nói rằng: “Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân, thả mình bơi trong ánh
nắng, rung động với bướm chim, chất đầy trong tim mây trời thanh sắc”:
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si.”
Đó là niềm vui sướng của trái tim thi sĩ trẻ lần đầu tiên phát hiện ra 1 thiên dường trên mặt đất.Nếu thơ
xưa, các nhà thơ chỉ sử dung thính giác và thị giác để cảm nhận vẻ đẹp của ngoại giới thì các thi sĩ thời
Thơ mới lại huy động tất cả các giác quan từ nhiều góc độ để cảm nhân vẻ đẹp và sự quyến rũ đắm say
hồn người của cảnh vật và đất trời lúc xuân sang. Trong đoạn thơ, điệp ngữ “này đây” được sử dụng 5 lần
kết hợp với lối kiệt kê khiến nhịp thơ trở nên dồn dập, là một sự chỉ trỏ ngơ ngác, ngạc nhiên, lạ lẫm, như
một tiếng reo vui sướng tột cùng để rồi chìm ngập đắm say trước trùng trùng điệp: Của ong bướm tuần
tháng “mật” ngọt ngào, nào là hoa của đồng nội xanh “rì”, nào là lá của cành tơ “phơ phất”, của yến anh
là khúc tình “si”; thể hiện sự phong phú bất tận của thiên nhiên. Tất cả mọi giác quan của thi sĩ như rung
lên, căng ra mà đón nhận tất cả, cảm nhận tất cả. Sự sống ngồn ngột đang phơi bày, thiên nhiên hữu tình
xinh đẹp thật đáng yêu như một sự gợi mở hấp dẫn đến lạ kì, một sự mời mọc mà thiên nhiên là những
“món ăn” có sẵn. Những vẻ đẹp được liệt kê bằng những tính từ đậm nhạt khác nhau để thể hiện tài năng
sử dụng từ ngữ của Xuân Diệu – cảnh vật trong thơ ông đã trở nên cuộn trào sắc màu, cuộn trào sức sống.
Sự vật bình thường ở ngoài đời cũng được đặt cho một dáng vẻ rất kiêu, rất hãnh diện, được trực tiếp
nhận ánh sáng rực rỡ của lòng yêu cuộc sống từ hồn thơ Xuân Diệu đã trở nên lung linh, đẹp đẽ, là biểu
tượng của mùa xuân và tuổi trẻ ở giữa cuộc đời! Thi pháp hiện đại đã chắp cánh cho những cảm giác mới
mẻ của Xuân Diệu, giúp nhà thơ diễn tả trạng thái hồn nhiên, bồng bột trước cái sắc xuân trong cảnh vật,
trong đất trời và của muôn loài. Cách ngắt nhịp trong đoạn thơ đầy linh hoạt, biến hoá (3/2/3 và 3/5). Đặc
biệt là những hình ảnh, những khung cảnh được miêu tả thật cụ thể, in đậm phong cách XD: tuần tháng
mật, đồng nội xanh rì… tất cả tràn trề sự sống và thật đắm say!
"Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa
Tôi không chờ nắng hạ mới hòai xuân.”
Chưa bao giờ trong thơ Việt Nam hình ảnh mặt trời – vầng thái dương lại hiện ra dịu dàng, tình tứ và lãng
mạn đến thế. Với Xuân Diệu, mỗi ngày được sống, được nhìn thấy mặt trời, được tận hưởng sắc hương
của vạn vật là một ngày vui. Hình ảnh “thần vui hằng gõ cửa” gợi những liên tưởng gần gũi với hình
tượng mặt trời trong thần thoại hy lạp xưa. Niềm vui sướng trong tâm hồn nhà thơ dâng tràn khiến ngòi
bút của Xuân Diệu thật sự xuất thần và thi sĩ đã sáng tạo nên 1 câu thơ tuyệt bút:”Tháng giêng ngon như
một cặp môi gần”. Một chữ “ngon” chuyển đổi cảm giác thần tình, một cách so sánh vừa lạ vừa táo bạo.
Đây là câu thơ hay nhất, mới nhất cho thấy màu sắc cảm giác và tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống đến
cuồng nhiệt của thi sĩ Xuân Diệu. Nhà thơ đem lại một khái niệm vốn trừu tượng thuộc về thời gian
“tháng giêng” so sánh với một hình ảnh vốn cụ thể, mang tính nhục cảm. Nhưng sao câu thơ Xuân Diệu
vẫn tinh khôi, vẹn nguyên, trong sáng, lại gần gũi và trẻ trung đến thế. Cái mới trong thơ tình Xuân Diệu
là thế! Đó là sư kết hợp hài hoà giữa tâm hồn và thể xác khiến tình yêu thăng hoa. Đang ở đỉnh điểm của
hạnh phúc, tâm hồn nhà thơ trỗi lên nỗi âu lo trước cái mong manh của xuân sắc sẽ phai tàn, sự đan xen


hai luồng cảm xúc trái ngược là điều thường gặp trong thơ tình Xuân Diệu. Nó dẫn nhà thơ đến những
suy tư và quan niệm nhân sinh mang tính triết lý. Thi nhân nhận ra cái quy luật khắc nghiệt của dòng chảy
thời gian: “tất cả sẽ qua đi, tất cả sẽ lụi tàn …” Hai tâm trạng trái ngược nhưng dồn nén trong dòng thơ
“Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa”. Về hình thức, đây là một cấu trúc độc đáo bởi nó ngắt thành
2 câu chứa đựng 2 tâm trạng, 2 cảm xúc trái ngược nhau: sung sướng-vội vàng. Nhưng điều mà Xuân
Diệu muốn diễn tả là “vội vàng một nửa”. Thường thì con người ở tuổi trung niên mới tiếc tuổi xuân. Ở
đây Xuân Diệu đang xuân, đang quá đỗi trẻ trung mà đã nuối tiếc, đã vội càng “Tôi không chờ nắng hạ
mới hòai xuân.” Vì sao vậy? Bởi với Xuân Diệu:
“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua.
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già.
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hòan,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt.
Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa.
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,”
Nhưng quan niệm của Xuân Diệu vừa phi lí, vừa hợp lí, vừa quen lại vừa lạ. Quen vì người xưa đã từng
thở dài “xuất thì bất tái lai”. Và là bởi đó là tiếng nói của một cái tôi ham sống, coi mùa xuân, tuổi trẻ và
tình yêu là tất cả sự sống của mình. Biết rằng mùa xuân của đất trời vẫn tuần hoàn nhưng tuổi trẻ chẳng
hai lần thắm lại, thi sĩ bâng khuâng, tiếc nuối … Mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật
hình như cũng mang theo nỗi buồn “chia phôi”, hoặc “tiễn biệt”, phải “hờn” vì xa cách, phải “sợ” vì “độ
phai tàn sắp sửa”. Cũng là “gió”, là “chim”… nhưng gió khẽ “thì thào” vì “hờn”, còn “chim” thì bỗng
ngừng hót, ngừng reo vì “sợ”! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật cái nghịch lý giữa mùa xuân
– tuổi trẻ và thời gian: “Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?” Con người hiện đại sống với quan niệm thời
gian tuyến tính, thời gian như một dòng chảy mà mỗi mộy khoảnh khắc qua là mất đi vĩng viễn… Trái
tim Xuân Diệu đa cảm quá và tâm hồn nhà thơ quá đỗi tinh tế trước bước đi của thời gian. Con người ấy
lúc nào cũng “chẳng bao giờ nữa…” Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hoá làm nổi bật nỗi lòng vừa
lo lắng băn khoăn vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng khuâng:
Trong đoạn thơ này, cái giọng điệu sôi nổi, bồng bột, đắm say của Xuân Diệu thời “thơ thơ” thể hiện đầy
đủ nhất. Những câu thơ chứa đựng cả giọng nói háo hức và nhịp đập của một con tim vồ vập muốn sống
hết mình. Con tim ấy của một cái tôi trữ tình từng bộc bạch một cách chân thành. “Tôi chỉ là một cây kim
bé nhỏ – mà vạn vật là muôn đá nam châm.” Từng làn sóng ngôn từ lúc đan chéo nhau, lúc lại song song


thành những đợt sóng ào ạt vỗ mãi vào tâm hồn người đọc. So với đoạn thơ trên, cách tự xưng của nhân
vật trữ tình thay đổi. Phần đầu bài thơ, thi sĩ xưng “tôi” – cái tôi đơn lẻ đang đối thoại với đồng loại. Đến
đây, thi sĩ xưng ta một cách đầy tự tin nhưng đã có thêm rất nhiều đồng minh cùng đứng lên đối diện với
sự sống:”Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa. –
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,”
“Ta muốn ôm.
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chuếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”
Hình thức trình bày đoạn thơ rất đặc biệt, thể hiện dụng ý nghệ thuật của tác giả. Ba chữ “Ta muốn ôm”
được đặt ở giữa dòng thơ mô phỏng hình ảnh nhân vật trữ tình đang dang rộng vòng tay để ôm tất cả sự
sống lúc xuân thì – sự sống giữa thời tươi vào lòng. Đó là chân dung của một cái tôi đầy tham lam, ham
hố đang dứng giữa trần gian, cuộc đời, dòng đời để ôm cho hết, riết cho chặt, cho say, cho chếnh choáng,
thâu cho đã đầy, cho no nê, cho tới tận cùng những hương sắc của đất trời giữa mùa xuân… Tất thảy đều
vồ vập, khát khao đến cháy bỏng với các mong muốn được giao hoà, giao cảm mãnh liệt với vạn vật, với
cuộc đời. Đây quả là một khát khao vô biên, tuyệt đích, rất tiêu biểu cho cảm xúc thơ Xuân Diệu. Điệp từ,
điệp ngữ được sử dụng bới tần số dày đặc trong cả đoạn thơ tiêu biểu cho nhịp điệu dồn dập, đầy bồng
bột, đắm say. Chính những câu thơ đó lưu lại trong ta ấn tượng về một dòng sông cảm xúc cứ dâng trào,
ào ạt từ câu mở đầu cho đến câu cuối cùng bài thơ. Chỉ riêng điệp ngữ ta muốn được điệp tới bốn lần, mỗi
lần điệp đi điệp lại liền với một động từ diễn tả một trạng trái yêu thương mỗi lúc một nồng nàn, say đắm:
ôm, riết, say, thâu. Đó chính là đỉnh điểm của cảm xúc bồng bột, sôi nổi và đắm say khiến nhà thơ phá
tung những quan niệm của thi pháp trung đại để biểu lộ tâm hồn mình trong một cách nói tưởng như vô
nghĩa mà hoá ra rất sáng tạo “Và non nước, và cây, và cỏ rạng.” Một trạng thái tham lam, ham hố kô có
điểm tận cùng trong tâm hồn nhà thơ. Tròn cảm nhận của thi nhân, cuộc đời trần thế như bày ra cả một
bàn tiệc với tất cả hình ảnh của cuộc sống tươi non, đầy hương sắc. Nhà thơ diễn tả thiên nhiên bằng các
mĩ từ, lại nhân hoá khiến nó hiện ra như con người có hình hài và mang dang dấp của tuổi xuân. Câu cuối
cùng kết thúc cả bài thơ:” Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi.” Đây là lời gọi thiết tha với sự cuồng
nhiệt cao độ của 1 trái tim khao khát tình yêu và cuộc sống. Trong hồn thơ Xuân Diệu, mùa xuân – tuổi
xuân ngon lành và quyến rũ như một trái chín ửng hồng, như mời mọc. Trong câu thơ này, hình ảnh xuân
hồng với từ “cắn” khiến câu thơ thật gợi cảm xen chút giật mình trước tứ thơ thật độc đáo, diễn tả niềm
khao khát giao cảm mãnh liệt, sự ham hố cuồng nhiệt của Xuân Diệu mãi mãi là khát vọng, là ham muốn
không có giới hạn.
Với bài thơ “Vội vàng”, Xuân Diệu đã phả vào nền thi ca Việt Nam một trào lưu “Thơ mới”. Mới lạ
nhưng táo bạo, độc dáo ở giọng điệu và cách dùng từ, ngắt nhịp, nhất là cách cảm nhận cuọc sống bằng
tất cả các giác quan, với một trái tim chan chứa tình yêu. “Vội vàng” đã thể hiện một cảm quan nghệ thuật
rất đẹp, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó là lòng yêu con người, yêu cuộc đời. Đó là tình yêu cảnh vật,
yêu mùa xuân và tuổi trẻ… Và là ham muốn mãnh liệt muốn nĩu giữ thời gian, muốn tận hưởng vị ngọt
ngào của cảnh sắc đất trời “tươi non mơn mởn”. Phải chăng trời đất sinh ra thi sĩ Xuân Diệu trên xứ sở


hữu tình này, là để ca hát về tình yêu, để nhảy múa trong những điệu nhạc tình si?! Thơ Xuân Diệu – vội
vã với nhịp đập của thời gian



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×