Tải bản đầy đủ

SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM THEO LÝ THUYẾT BỘ BA BẤT KHẢ THI

SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT
NAM THEO LÝ THUYẾT BỘ BA BẤT KHẢ THI
ThS. ðặng Thị Huyền Anh
Học viện Ngân hàng
Từ cuối 2008 ñến 2010, ñể ñối phó với suy giảm tăng trưởng kinh tế sau khủng hoảng,
một loạt các “gói kích thích kinh tế” ñược bung ra ở nhiều quốc gia trên thế giới. Các
gói kích cầu này, cùng với các nỗ lực khác của chính phủ, ñã giúp kinh tế thế giới
thoát khỏi giai ñoạn khó khăn nhất của khủng hoảng.
Từ năm 2010, nền kinh tế thế giới về cơ bản ñã vượt qua ñược thời kỳ ñen tối nhất của
cuộc khủng hoảng. Tuy nhiên, nhiều nền kinh tế, trong ñó có Việt Nam, lại ñối mặt với
nguy cơ bất ổn mới, ñó là lạm phát gia tăng. Lạm phát gia tăng ñe dọa sự ổn ñịnh kinh
tế, bóp méo các quan hệ kinh tế- tiền tệ trên thị trường. Vì vậy, kiềm chế lạm phát trở
thành một trong những mục tiêu hàng ñầu trong ñiều hành kinh tế vĩ mô của Chính
phủ Việt Nam trong giai ñoạn hiện nay.
1. Diễn biến và nguyên nhân lạm phát của Việt Nam thời gian vừa qua
Thời gian qua, lạm phát ở Việt Nam biến ñộng khá phức tạp, dấu hiệu lạm phát tăng
cao xuất hiện từ năm 2007, ñặc biệt là năm 2008 với chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng tới
22%. Lạm phát cao trong những năm này chủ yếu do biến ñộng giá thế giới, ñặc biệt là
giá xăng dầu và giá lương thực. Sang năm 2009, thời gian ảnh hưởng của suy thoái
kinh tế toàn cầu ảnh hưởng mạnh tới kinh tế Việt Nam, tốc ñộ gia tăng lạm phát và
tăng trưởng kinh tế giảm khá mạnh (tăng trưởng 5,3%; lạm phát 6,88%). Năm 2010,

lạm phát tăng khá mạnh (11,75%) so với năm 2009. ðặc biệt chỉ trong 4 tháng ñầu
năm 2011, CPI ñã tăng 9,64% so với tháng 12/2010, vượt xa mục tiêu 7% ñặt ra hồi
ñầu năm nay và ñã ở rất gần mức hai con số; so với cùng kỳ ñã tăng 17,51%, trôi khỏi
mốc dự báo ñỉnh lạm phát 16% trong năm nay của Ngân hàng Phát triển Châu Á
(ADB) ñược công bố mới ñây. CPI bình quân 4 tháng ñầu năm cũng ñã tăng 13,95%
so với cùng kỳ.
Có rất nhiều áp lực gây lạm phát tại Việt Nam trong giai ñoạn vừa qua. Nguyên nhân
bên trong là do chính sách tiền tệ và tài khóa mở rộng từ các gói kích thích tăng trưởng
kinh tế khá mạnh trong thời kỳ khủng hoảng nhằm phục hồi kinh tế. Từ cuối tháng
12/2008 và năm 2009, Chính phủ Việt Nam ñã dành một khoản ngân sách tương
ñương 8 tỷ USD cho gói kích cầu ñược chia thành 8 phần có các giá trị khác nhau, bao
gồm: (1) Hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng khoảng 17.000 tỷ ñồng; (2) tạm thu hồi vốn
ñầu tư xây dựng cơ bản ứng trước khoảng 3.400 tỷ ñồng; (3) ứng trước ngân sách nhà
nước ñể thực hiện một số dự án cấp bách khoảng 37.200 tỷ ñồng; (4) chuyển nguồn
vốn ñầu tư kế hoạch năm 2008 sang năm 2009 khoảng 30.200 tỷ ñồng; (5) phát hành
1


thêm trái phiếu Chính phủ khoảng 20.000 tỷ ñồng; (6) thực hiện chính sách giảm thuế
khoảng 28.000 tỷ ñồng; (7) tăng thêm dư nợ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp
khoảng 17.000 tỷ ñồng; (8) các khoản chi kích cầu khác nhằm ngăn chặn suy giảm
kinh tế, ñảm bảo an sinh xã hội khoảng 7.200 tỷ ñồng.
Một nguyên nhân quan trọng khác gây lạm phát cũng ñược nhiều nhà kinh tế phân
tích, ñề cập, ñó là tình trạng ñầu tư kém hiệu quả và những bất cập về cơ cấu kinh tế
của Việt Nam. Thêm vào ñó là những yếu tố bên ngoài như việc tăng giá các yếu tố
ñầu vào cho sản xuất trên bình diện toàn thế giới như: xăng dầu, than, sắt thép… và sự
biến ñộng giá USD.
Việc tăng giá các yếu tố ñầu vào của sản xuất khiến nền kinh tế thế giới lại phải ñối
mặt với vấn ñề lạm phát gia tăng: Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc, Ấn ñộ, HongKong,
Singapore… Hầu hết các quốc gia ñều ñưa vấn ñề “kiềm chế lạm phát” trở thành một
trong những mục tiêu ñược ưu tiên hàng ñầu trong năm 2011.
ðồ thị 1. Chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam 2009- 2010

Nguồn: Tổng cục Thống kê.
Nhìn vào diễn biến lạm phát hai năm 2009, 2010 ở Sơ ñồ 1 cho thấy, về cơ bản, tốc ñộ
tăng giá năm 2010 cao hơn 2009 khá nhiều, có ñến hơn nửa thời gian trong năm lạm
phát cao hơn mức 1%/tháng. Vì vậy, nếu như tỷ lệ lạm phát năm 2009 chỉ là 6,88% thì
2010 tỷ lệ lạm phát tăng vọt lên mức 11,75% (gần gấp ñôi mục tiêu ñề ra là 6%).
ðiều này một phần do hệ quả của chính sách tiền tệ nới lỏng năm 2009 nay bắt ñầu tác
ñộng ñến tỷ lệ lạm phát. Mặc dù ñến cuối năm 2009, nhận thấy nguy cơ tiềm ẩn lạm

phát cao, NHNN ñã ñiều hành chính sách tiền tệ thận trọng hơn và từ tháng 12/2009,
NHNN ñã bắt ñầu thắt chặt tiền tệ hơn bằng ñiều chỉnh tăng 1%/năm các mức lãi suất
ñiều hành. Tuy nhiên, tốc ñộ tăng trưởng của cung tiền và tín dụng của cả năm 2009
vẫn lên rất cao: 29% ñối với M2 và 38% ñối với tốc ñộ tăng trưởng tín dụng. Ngày
10/2/2010, NHNN ñiều chỉnh tăng tỷ giá giao dịch bình quân Liên Ngân hàng thêm
3%. Ngày 21/2/2010, giá xăng ñược ñiều chỉnh tăng khoảng 3,6%. Ngày 1/3, nhiều
mặt hàng thuộc diện nhà nước quản lý cũng ñồng loạt tăng giá: Giá than bán cho ñiện
2


tăng 47% tùy loại; giá ñiện tăng 6,8%; giá nước sạch tại TP HCM tăng khoảng 50%...
Tiếp theo những diễn biến này, gas, xi măng, sắt thép… cũng ñua nhau tăng giá. So
với tháng 12/2009, CPI của tháng 3/2010 ñã lên mức 4,12%, là một dấu hiệu xấu ñối
với mục tiêu lạm phát, vì thông thường tại Việt Nam, CPI quý 1 sẽ chiếm khoảng một
nửa mức tăng giá cả năm.
Lạm phát tăng cao trong những tháng ñầu năm 2010 ñem lại mối lo ngại về việc ñảm
bảo mục tiêu lạm phát ñặt ra (dưới 5%). Chính vì vậy, trong cuộc họp Chính phủ
thường kỳ tháng 3, một mục tiêu quan trọng ñược ñặt ra là ổn ñịnh kinh tế và tập trung
mạnh vào kiềm chế lạm phát. ðể hướng tới mục tiêu này, NHTW tập trung vào biện
pháp giảm tốc ñộ tăng cung tiền và tốc ñộ tăng trưởng tín dụng, bên cạnh ñó, Bộ Tài
chính và bộ Công thương cũng liên tục sử dụng các quỹ bình ổn giá cả trong những
thời ñiểm có biến ñộng… Chính vì vậy, từ tháng 4 ñến tháng 8/2010, CPI liên tục tăng
rất thấp, về gần sát mức 0% (tháng 7 chỉ tăng 0,06% so với tháng 6).
Lạm phát thấp trong những tháng giữa năm khiến mục tiêu kiểm soát lạm phát dường
như ñã lơ là hơn, thêm vào ñó là một số yếu tố khách quan tác ñộng không có lợi cho
lạm phát. Những nguyên nhân chủ quan và khách quan này khiến lạm phát tăng vọt
trong 4 tháng cuối năm với tỷ lệ tăng cao hơn hẳn năm 2009. Nhìn lại những nguyên
nhân khiến lạm phát tăng cao vào những tháng này, có thể thấy:
Về chủ quan, thời gian này các chính sách vĩ mô lại có xu hướng chuyển từ kiểm soát
lạm phát sang ưu tiên cho tăng trưởng. Cụ thể là:
+ Chính sách tiền tệ ñược triển khai theo hướng nới lỏng hơn: Từ mức tăng chưa ñầy
13% vào cuối tháng 7, tổng phương tiện thanh toán và tín dụng ñược gia tăng nhanh
chóng, ñến cuối tháng 11/2010 ñã ñạt mức tăng 22,54% với M2 và 26,31% với tín
dụng, so với cuối năm 2009.
+ Ngày 18/8, NHNN ñiều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND với USD
lên mức 18.932 VND (tăng gần 2,1%) và giữ nguyên biên ñộ tỷ giá ±3%.
+ Ngày 9/8, giá xăng dầu sau một thời gian dài ñược giữ cố ñịnh ñã ñiều chỉnh tăng
lên khoảng 2,5%, ñẩy CPI tháng 9 vào vòng thử thách mới.
+ Khi Nghị ñịnh 49/Nð-CP ñược ban hành cho phép ñiều chỉnh học phí có lộ trình,
các tỉnh, thành phố ñã ñồng loạt tăng học phí trong tháng 9, dẫn tới nhóm giáo dục và
ñào tạo góp phần làm cho CPI tháng ñó tăng tới 0,7%.
+ ðại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội kéo dài 10 ngày cũng ảnh hưởng không nhỏ
ñến chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2010.
Về khách quan, rất nhiều yếu tố ảnh hưởng bất lợi ñến giá cả trong nước, ñặc biệt là
những biến ñộng của giá thế giới như giá xăng dầu, gas và khí ñốt. Dưới tác ñộng từ
giá thế giới, gạo xuất khẩu của Việt Nam liên tục lên giá ñẩy mặt bằng giá trong nước
lên theo: Cả năm 2010, giá sàn xuất khẩu gạo ñã ñược ñiều chỉnh tăng ñến 6 lần.
Riêng giai ñoạn cuối năm, giá gạo tăng bình quân khoảng 3-4%/tháng, kéo dài từ
tháng 8 ñến những ngày cuối cùng năm dương lịch. Từ khoảng trung tuần tháng 10, thị
3


trường lại ghi nhận các ñợt leo thang của giá vàng và USD, trong bối cảnh xu hướng
CPI ñã bắt ñầu tăng cao càng làm tăng sức ép lên giá cả giai ñoạn này. Thêm vào ñó,
lũ lụt diễn ra liên miên tại miền Trung kéo dài thêm chuỗi tác ñộng ñến CPI giai ñoạn
cuối năm.
Trước diễn biến bất lợi này, một lần nữa, NHNN lại thắt chặt tiền tệ: Ngày 5/11, các
lãi suất chủ chốt ñược ñiều chỉnh tăng thêm 100 ñiểm cơ bản. Cung tiền và tín dụng
cũng thu hẹp tốc ñộ tăng, chốt lại cả năm M2 còn tăng 23%, tín dụng tăng 27,65% so
với cuối năm 2009.
Bước sang năm 2011, Chính phủ ñặt mục tiêu kiểm soát lạm phát ñồng thời ổn ñịnh
tăng trưởng kinh tế nên trở thành mục tiêu ưu tiên số 1. Chính phủ ñã thể hiện quyết
tâm kiềm chế lạm phát thông qua gói giải pháp 7 nhóm, ñược Chính phủ công bố cuối
tháng 2/2011 trong nghị quyết số 11/NQ-CP, trong ñó tập trung vào thắt chặt tiền tệ,
giảm chi và bội chi ngân sách, hạn chế nhập siêu, tăng cường sản xuất và thực hiện giá
thị trường... Tuy nhiên, liên tiếp trong những ngày cuối tháng 2, một loạt ñòn bẩy tăng
giá ñầu vào của nền kinh tế như tỷ giá, ñiện, xăng dầu, cũng như các chính sách kiểm
soát thị trường ngoại tệ và vàng miếng tự do của NHNN ñược khởi ñộng. Những ñộng
thái này khiến CPI những tháng ñầu năm 2011 liên tục ñạt những con số kỷ lục. Chỉ
trong 4 tháng ñầu năm 2011, CPI ñã tăng 9,64% so với tháng 12/2010, dự báo chỉ
tháng 5 là CPI ñã vượt mốc 2 con số.
Việc NHNN ñiều chỉnh tăng tỷ giá liên ngân hàng thêm 9,3% vào ngày 11/2/2011 và
quyết ñịnh tăng giá xăng dầu, giá ñiện dường như là một ñộng thái ñi ngược với mục
tiêu kiểm soát lạm phát. Tuy nhiên, theo chúng tôi, việc ñiều chỉnh này là phù hợp với
diễn biến thị trường, tuy làm tăng giá trong giai ñoạn trước mắt nhưng sẽ giúp phá vỡ
tâm lý lạm phát kỳ vọng, vốn tồn tại dai dẳng trong nền kinh tế, bởi trước ñó tỷ giá
giao dịch trên thị trường tự do ñã cao hơn rất nhiều so với tỷ giá liên ngân hàng ñược
NHNN công bố. Dù vậy, ñể kiểm soát lạm phát, vẫn cần thêm rất nhiều nỗ lực của cơ
quan quản lý cũng như phụ thuộc không nhỏ vào thị trường thế giới, ñặc biệt trong
ñiều kiện lạm phát toàn cầu ñang có dấu hiệu tăng cao như hiện nay.
Xem xét các ñộng thái trong ñiều hành chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ nhằm
kiềm chế lạm phát thời gian vừa qua, có thể thấy chính sách tiền tệ tỏ ra nỗ lực hơn,
trong khi chính sách tài khóa thì dường như chưa ñồng hành cùng chính sách tiền tệ.
Vấn ñề này ñã ñược ñiều chỉnh trong ñầu năm 2011, khi Chính phủ cũng thể hiện rõ
quyết tâm kiềm chế lạm phát bằng cách cắt giảm 10% chi tiêu công và thắt chặt chính
sách thuế thông qua Nghị quyết số 11/NQ-CP, ngày 24/2/2011.
2. Lý thuyết “Bộ ba bất khả thi” và những kịch bản trong ñiều hành chính sách
tiền tệ của Việt Nam
Theo lý thuyết “Bộ ba bất khả thi”, NHTW một nước không thể ñồng thời duy trì ba
mục tiêu: Chế ñộ tỷ giá hối ñoái cố ñịnh, chính sách tiền tệ ñộc lập, và tự do lưu
chuyển vốn. Chỉ có thể thực hiện ñồng thời hai trong ba chính sách này mà thôi. “Bạn
không thể có ñồng thời tất cả: một quốc gia chỉ có thể chọn tối ña 2 trong 3. Nó có thể
4


chọn một chính sách ổn ñịnh tỷ giá nhưng phải hi sinh tự do hóa dòng vốn tức là tiếp
tục kiếm soát vốn (giống như Trung Quốc ngày nay), nó có thể chọn một chính sách tự
do hóa dòng vốn nhưng vẫn tự chủ về tiền tệ, song phải ñể tỷ giá thả nổi (giống như
Anh hoặc Canada), hoặc nó có thể chọn kiểm soát vốn và ổn ñịnh chính sách tiền tệ,
nhưng phải thả nổi lãi suất ñể chống lạm phát hoặc suy thoái (giống như Achentina
hoặc hầu hết Châu Âu)"- trích lời ñề tặng Robert Mundell- Paul Krugman, 1999.
Mô hình Mundell- Fleming chỉ ra quan hệ giữa chính sách tiền tệ và tỷ giá hối ñoái
ñược xây dựng trên giả ñịnh là vốn ñược tự do lưu chuyển qua biên giới quốc gia: Khi
NHTW thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng thì tỷ giá hối ñoái sẽ tăng lên; khi thực
hiện chính sách tiền tệ thắt chặt thì tỷ giá giảm ñi. Như thế, nếu thực hiện một chế ñộ
tỷ giá cố ñịnh, thì chính sách tiền tệ không thể thay ñổi linh hoạt ñược. Giả sử một
nước cố gắng thực hiện cả ba chính sách trên ñồng thời, thực hiện chính sách tiền tệ
thắt chặt ñể kiềm chế lạm phát, ñiều này dẫn ñến tăng lãi suất và vốn nước ngoài sẽ
chảy vào trong nước gây ra áp lực tăng giá nội tệ. Khi ñó, NHTW muốn bảo vệ chế ñộ
tỷ giá cố ñịnh thì phải thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng. Song ñiều này có thể làm
tăng lượng cung tiền trong lưu thông dẫn ñến tăng tốc lạm phát. Như vậy, không thể
ñạt ñược ñồng thời ba mục tiêu. Lý thuyết bộ ba bất khả thi ñặc biệt phù hợp với một
nền kinh tế nhỏ, mở cửa, khi lãi suất trong nước khó có thể tác ñộng ñến mặt bằng
chung của lãi suất thế giới
Vận dụng lý thuyết “bộ ba bất khả thi”, với mục tiêu kiềm chế lạm phát hiện nay, có
thể xây dựng 3 kịch bản cho Việt Nam:
Kịch bản thứ nhất
Việt Nam lựa chọn 2 mục tiêu: Kiểm soát lạm phát bằng một chính sách tiền tệ thắt
chặt, kết hợp với neo giữ tỷ giá hối ñoái nhằm có lợi cho hoạt ñộng xuất khẩu. Như
vậy, Việt Nam sẽ phải tiến hành kiểm soát dòng lưu chuyển vốn ra vào quốc gia. ðây
là “kịch bản” ñược một số quốc gia như ðài Loan, Trung Quốc… lựa chọn
Thực tế, dòng vốn ñầu tư nước ngoài, ñặc biệt là ñầu tư gián tiếp vào lĩnh vực bất ñộng
sản và chứng khoán, là dòng vốn năng ñộng và linh hoạt nhất, nhưng cũng nguy hiểm
và dễ ñảo chiều nhất. Nền kinh tế của rất nhiều quốc gia ñã bị phá hủy bởi sự ñảo
chiều của dòng vốn này khi có biến ñộng bất lợi, ñặc biệt là trong hai cuộc khủng
hoảng 1997- 1998, và 2007- 2009. Tuy nhiên, song song với sự phát triển tài chính,
thương mại và dịch vụ trong thế giới hiện ñại, kiểm soát vốn rất dễ bị lãng quên và rất
khó ñể một quốc gia có ñược một hệ thống kiểm soát vốn thật sự hiệu quả. Hơn nữa,
kiểm soát vốn ñầu tư nước ngoài vào dường như phù hợp hơn với những nước có tích
lũy cao, Việt Nam ñang trong quá trình ñầu thu hút vốn, cần vốn cho thị trường chứng
khoán và cần ngoại tệ cho cân ñối tài khoản vãng lai thì kiểm soát vốn nước ngoài
cũng còn là vấn ñề cần cân nhắc, ñặc biệt trong hoàn cảnh dự trữ ngoại hối của Việt
Nam vẫn ở mức thấp nhất khu vực, và cán cân thương mại thì chưa thể ñạt thặng dư
trong tương lai gần. Do ñó, với vấn ñề kiểm soát vốn, nên có quan ñiểm là không quá
lạm dụng và mở cửa hoàn toàn với dòng vốn này, chú trọng kiểm soát vốn ñầu tư gián
5


tiếp hơn là FDI và ODA. Tốt nhất nên có cơ chế tạo ñiều kiện thu hút thêm và nắm bắt
ñược lượng vốn FDI, ODA vào ra, vì ñây là nguồn vốn ổn ñịnh và hiệu quả hơn. ðồng
thời, Chính phủ cần xây dựng các cơ chế quản lý, giám sát vốn ñầu tư gián tiếp; có các
biện pháp quản lý dòng tiền vào ra trên tài khoản vốn và có dự báo chính xác, có thể
sử dụng biện pháp ñiều chỉnh chính sách thuế ñối với luồng vốn ñầu tư vào thị trường
chứng khoán và bất ñộng sản sao cho nguồn vốn này chảy vào ñúng mạch, ñúng chỗ,
ñúng nơi mình muốn. Thêm vào ñó, cần duy trì tốt quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia ñể
kịp thời can thiệp khi thị trường có biến ñộng.
Kịch bản thứ hai
Việt Nam lựa chọn 2 mục tiêu: Kiểm soát lạm phát bằng một chính sách tiền tệ thắt
chặt kết hợp với tự do luân chuyển dòng vốn ñầu tư ra vào quốc gia, hy sinh mục tiêu
neo giữ tỷ giá.
Việc lựa chọn mục tiêu tự do tài khoản vốn là một kịch bản có lợi cho Việt Nam, vì
ñối với những quốc gia nhỏ, mở cửa như Việt Nam, sẽ là có lợi nếu ñược tiếp cận với
thị trường vốn quốc tế, do ñầu tư sẽ không còn bị giới hạn bởi các nguồn tiết kiệm
trong nước. Theo kịch bản này, NHNN cần ñể tỷ giá thả nổi theo cung cầu thị trường,
hay một cách khác, tỷ giá liên ngân hàng nên bám sát theo tỷ giá trên thị trường tự do.
Một số quốc gia ñã rất thành công với “kịch bản” này như Australia, Chile, Colombia,
Israel, Thụy ðiển,… Tại các nước này, lạm phát thấp tồn tại song song với mức ñộ
ngày càng tăng tính linh hoạt của chính sách tỷ giá.
Kịch bản thứ ba
Kịch bản này chỉ có thể áp dụng trong ngắn hạn, ñó là vẫn thu hút vốn ñầu tư nước
ngoài, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát, ñồng thời vẫn
ñiều tiết tỷ giá hối ñoái bằng cách can thiệp trên thị trường ngoại hối. ðể ñạt ñược cả
ba mục tiêu này, khi NHNN Việt Nam tiến hành can thiệp mua bán ngoại tệ nhằm ñiều
chỉnh tỷ giá cần thực hiện kết hợp với hành vi bán- mua trái phiếu trên thị trường mở
nhằm trung hòa lượng tiền vừa can thiệp trên thị trường ngoại hối. ðây là biện pháp
tạm thời vì ñòi hỏi dự trữ ngoại hối lớn, nếu sử dụng lâu dài có thể làm tăng nợ của
quốc gia, ñồng thời dẫn ñến tình huống NHTW không còn trái phiếu ñể bán.
3. Khuyến nghị về ñiều hành chính sách của Ngân hàng Nhà nước nhằm kiềm chế
lạm phát
Trong những tháng ñầu năm 2011, Chính phủ và NHNN thực hiện một loạt những
biện pháp nhằm kiểm soát lạm phát và thị trường ngoại hối, trong ñó ñáng lưu ý là hai
chính sách sau:
+ Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu
tập trung kiềm chế lạm phát, ổn ñịnh kinh tế vĩ mô, bảo ñảm an sinh xã hội, theo ñó,
chủ trương thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ thắt chặt. Theo ñó, NHNN ñiều
hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, phối hợp hài hòa giữa chính sách tiền tệ
và chính sách tài khóa ñể kiềm chế lạm phát; ñiều hành và kiểm soát ñể bảo ñảm tốc
6


ñộ tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán khoảng 1516%; tập trung ưu tiên vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, nông
nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa; giảm tốc
ñộ và tỷ trọng vay vốn tín dụng của khu vực phi sản xuất, nhất là lĩnh vực bất ñộng
sản, chứng khoán.
+ Ngày 11/2/2011, NHNN ñã tăng tỉ giá giao dịch bình quân liên NH thêm 9,3%, lên
20.693 ñồng/USD và thu hẹp biên ñộ giao dịch từ ± 3% xuống ±1%. Việc ñiều chỉnh
tỷ giá lần này của NHNN là một bước ñi hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của thị trường
nhằm ñưa tỷ giá chính thức về sát tỷ giá trên thị trường tự do, chấm dứt hiện tượng
“hai tỷ giá”.
Như vậy, có thể thấy, dường như Việt Nam ñang lựa chọn hai mục tiêu: Chính sách
tiền tệ chủ ñộng và tự do hóa dòng vốn, ñồng thời duy trì một chính sách tỷ giá hối
ñoái linh hoạt, biến ñộng phù hợp với cung- cầu thị trường. Vì vậy, tác giả ñề xuất một
số giải pháp nhằm tiếp tục theo ñuổi “kịch bản” này, góp phần kiềm chế lạm phát và
duy trì tăng trưởng kinh tế.
Thứ nhất, thực hiện chính sách tiền tệ và tài khóa và chính sách tiền tệ thắt chặt
Nghị ñịnh số 19- Nð/CP ban hành tháng 2/2011, cùng một số chính sách gần ñây của
Chính phủ và NHNN ñã ñưa ra khá ñầy ñủ các biện pháp ñể thực thi chính sách tiền tệ
và tài khóa thắt chặt. Các giải pháp ñưa ra khá ñầy ñủ, vì vậy, vấn ñề ở chỗ tổ chức
triển khai thực hiện các giải pháp này một cách hiệu quả. Cụ thể là:
- ðối với chính sách tài khóa
+ Tăng cường tính công khai, minh bạch trong các khoản thu, chi của NSNN nhằm
ñảm bảo cho việc quản lý tài chính công ñược thực hiện thống nhất và hiệu quả. Theo
khuyến nghị của IMF, ñể thực hiện chính sách tài khóa một cách công khai, minh
bạch, Chính phủ cần xây dựng những quy tắc, quy chế hoạt ñộng cởi mở nhưng rõ
ràng trong việc quản lý tài khóa, bởi vì, kể cả khi xây dựng và ban hành ñược những
ñạo luật hoàn chỉnh thì việc thực hiện chính sách tài khóa ñòi hỏi Chính phủ có các
biện pháp, công cụ ñể ñưa các chính sách trong luật vào cuộc sống, giảm bớt thủ tục
hành chính, chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp ñể doanh nghiệp "dễ thở hơn", có ñiều
kiện kinh doanh thuận lợi hơn.
+ Minh bạch trong các khoản bảo lãnh của Chính phủ ñối với các ñơn vị sự nghiệp,
doanh nghiệp nhà nước, xác ñịnh ñúng giá trị và sử dụng ñúng mục ñích tài sản công.
Các quy ñịnh này càng minh bạch, càng phân ñịnh rõ thẩm quyền và trách nhiệm thì
hiệu quả kinh tế càng cao, giảm thiểu tham nhũng, lãng phí.
- ðối với chính sách tiền tệ
+ NHNN tiếp tục thực thi các biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng; củng cố, sắp
xếp lại các TCTD phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, tăng cường tính công
khai minh bạch trong hoạt ñộng ngân hàng; tăng cường thanh tra, giám sát, ñặc biệt là
giám sát từ xa, phát hiện, cảnh báo sớm rủi ro trong hoạt ñộng ngân hàng.
7


+ ðộ trễ của các tác ñộng chính sách rất khác nhau giữa chính sách tiền tệ và tài khóa.
Thay ñổi chính sách tài khóa, ở nước nào cũng vậy, ñều phải tuân thủ những quy trình
khá phức tạp, mất thời gian. Tuy nhiên, tác ñộng trên thực tế của chính sách tài khóa
lại nhanh, mạnh hơn so với chính sách tiền tệ (thường có ñộ trễ từ 6 tháng ñến 1 năm).
Vì vậy, trong ñiều hành chính sách tiền tệ, cần tính toán ñến ñộ trễ này ñể xác ñịnh
thời ñiểm, liều lượng và mức ñộ tác ñộng hợp lý.
- Trong vấn ñề phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ thắt chặt giai ñoạn này, cũng
cần lưu ý hai vấn ñề:
+ Việt Nam chỉ vừa vượt qua giai ñoạn khó khăn nhất của suy thoái kinh tế toàn cầu.
Việc thực hiện ñồng thời chính sách tài khóa và tiền tệ thắt chặt thể hiện quyết tâm
kiềm chế lạm phát của Chính phủ, tuy nhiên hai chính sách này sẽ làm giảm sản lượng,
do ñó cần chú trọng liều lượng tác ñộng và có các hệ thống giải pháp hỗ trợ nhằm hạn
chế ảnh hưởng ñến tăng trưởng kinh tế, ñặc biệt là vấn ñề nâng cao chất lượng và hiệu
quả của các khoản ñầu tư và các giải pháp tác ñộng về phía cung.
+ Việc thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ làm tăng lãi suất thị trường. Các nhà
hoạch ñịnh chính sách nên lường trước mặt trái của các chính sách kinh tế vĩ mô cũng
như ñộ trễ của nó và có những giải pháp dự phòng, tránh tình trạng các chính sách liên
tục ñảo chiều và không nhất quán như những năm vừa qua. Với mặt bằng lãi suất ñang
khá cao như hiện nay, cần cân nhắc trước mỗi hành ñộng ñiều chỉnh trong chính sách
tiền tệ; ñồng thời nên kết hợp sử dụng chính sách tài khóa một cách hữu hiệu và quyết
liệt hơn, ñặc biệt là trong vấn ñề giảm chi tiêu công.
Thứ hai, duy trì chính sách tỷ giá hối ñoái linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường
- Quyết ñịnh giảm giá ñồng VND của NHNN Việt Nam vào tháng 2/2011 là một quyết
ñịnh hoàn toàn phù hợp với diễn biến thị trường. Tuy nhiên, việc NHNN ñã thu hẹp
biên ñộ dao ñộng của tỷ giá từ ± 3% xuống còn ± 1% phần nào lại tăng mức ñộ kiểm
soát sự biến ñộng của tỷ giá. Nếu vậy, có thể rơi vào tình huống của lý thuyết “bộ ba
bất khả thi”: cố ñịnh tỷ giá, tự do hóa chu chuyển vốn và chính sách tiền tệ ñộc lập.
Tất nhiên cũng có một số giải pháp ñối phó, nhưng ñôi khi biện pháp ñối phó lại trái
chiều với chính sách tiền tệ thắt chặt, gây mâu thuẫn chính sách. Việc cố gắng thực
hiện ñồng thời cả ba mục tiêu về lâu dài có thể hủy hoạt hệ thống tài chính. Do ñó,
theo quan ñiểm của một số chuyên gia kinh tế của WB, ñể ñảm bảo tính linh hoạt và
khả năng tương thích với diễn biến thị trường của tỷ giá hối ñoái, Việt Nam nên nới
rộng biên ñộ dao ñộng của tỷ giá. Ví dụ, tại Philippines, tỉ giá peso/USD ñược duy trì
linh hoạt ở mức 16%, với Việt Nam, WB cho rằng, biên ñộ dao ñộng ở mức 5-6% sẽ
hạn chế ñược sự can thiệp của NHTW trên thị trường ngoại hối, góp phần kiềm chế
lạm phát. Vì vậy, với ñiều kiện trước mắt, NHNN có thể nới dần biên ñộ dao ñộng,
bước ñầu ở mức ± 2% sẽ phù hợp hơn.
- Việt Nam cần giảm dần sự phụ thuộc vào USD trong thanh toán quốc tế, sử dụng
"gói ngoại tệ" bao gồm cả các ngoại tệ khác tham gia vào trao ñổi ngoại thương.
8


- Hoàn thiện và ñưa vào sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá như nghiệp vụ
Swap, Forward, Options…
- Tiếp tục giảm tình trạng ñô la hóa trong nền kinh tế, theo WB, có thể “luật hóa” các
biện pháp hạn chế tình trạng này.
Tài liệu tham khảo
- Tài liệu hội thảo về NHTW và chính sách tiền tệ của NHTW Thụy ðiển tháng 3/2011
- Tài liệu hội thảo về Kinh tế học vĩ mô và ñiều hành chính sách tiền tệ, 4th SEACENCCBS/BOE tháng 3/2011
- Lla paknaik, Ajay Shah – National institute of Finance and Policy, New Delhi: ASIA
confronts impossible trinity, 2010
- TS. Nguyễn Minh Phong: Lạm phát 2010 và những nhân tố chính
- http://dautunuocngoai.vn/Lam-phat-2010-va-nhung-nhan-to-chinh_tc_272_276_590.html

9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×