Tải bản đầy đủ

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH Đầu tư kỹ thuật 4D

CHƯƠNG 1 . CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

1.1.1 Khái quát về doanh nghiệp
Một cỗ máy muốn hoàn thiện và vận hành thì cần rất nhiều bộ phận máy móc cấu
thành. Với nền kinh tế cũng vậy, nếu ta coi nền kinh tế là một cỗ máy, thì mỗi doanh
nghiệp là một bộ phận máy móc. Cỗ máy có vận hành tốt hay không phụ thuộc vào
tình hình hoạt động của các bộ phận máy móc.
Xét theo khía cạnh thực tế, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các
hoạt động sản xuất cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng thông qua thị trường nhằm
mục đích sinh lời.
Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2015 điều 4 mục 7: Doanh nghiệp là một
tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh
doanh. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của
quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ.
Như vậy thuật ngữ doanh nghiệp dùng để chỉ một chủ thể kinh doanh độc lập có
đủ những đặc trưng pháp lý và thỏa mãn những điều kiện do pháp luật quy định. Trên
thực tế, doanh nghiệp được thành lập và hoạt động dưới nhiều mô hình cụ thể với
nhiều tên gọi khác nhau.

Các doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty cổ
phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh, Công ty liên doanh, Doanh
nghiệp tư nhân.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp bao gồm các chủ thể kinh doanh:
Kinh doanh cá thể
Là loại hình được thành lập đơn giản nhất, không cần phải có điều lệ chính thức
và ít sự quản lý của Nhà nước. Không phải trả thuế thu nhập doanh nghiệp, tất cả lợi
nhuận bị tính thuế thu nhập cá nhân. Chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn đối
với các nghĩ vụ và các khoản nợ, không có sự tách biệt giữa tài sản cá nhân và tài sản
của doanh nghiệp. Thời gian hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào tuổi thọ của
người chủ, khả năng thu hút vốn bị hạn chế bởi khả năng của người chủ.
Kinh doanh góp vốn

1


Việc thành lập doanh nghiệp này dễ dàng và chi phí thành lập rất thấp. Đối với
các hợp đồng phức tạp cần phải được viết tay. Một số trường hợp cần có giấy phép
kinh doanh. Các thành viên chính thức có trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ. Mỗi
thành viên có trách nhiệm đối với phần tương ứng với phần vốn góp. Doanh nghiệp
tan vỡ khi một trong các thành viên chính thức „‟chết‟‟ hay rút vốn. Khả năng về vốn
hạn chế và lãi từ hoạt đông kinh doanh của các thành viên phải chịu thuế thu nhập cá
nhân.
Công ty
Công ty là loại hình doanh nghiệp mà ở đó có sự kết hợp ba loại lợi ích: các cổ
đông (chủ sở hữu), của hội đồng quản trị và của các nhà quản lý. Theo truyền thống,
cổ đông kiểm soát toàn bộ phương hướng, chính sách và hoạt động của Công ty. Cổ
đông bầu nên hội đồng quản trị sau đó hội đồng quản trị lựa chọn ban quản lý. Các nhà
quản lý điều hành hoạt động của Công ty theo cách thức mang lại lợi ích tốt nhất cho
các cổ đông. Việc tách rời quyền sở hữu khỏi các nhà quản lý mang lại cho Công ty
các ưu thế so với kinh doanh cá thể góp vốn:
 Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển cho cổ đông mới.
 Sự tồn tại của Công ty không phụ thuộc vào sự thay đổi số lượng cổ đông.
 Trách nhiệm của cổ động chỉ giới hạn ở phần vốn mà cổ đông góp vào Công
ty (tráchnhiệm hữu hạn).
Mỗi loại hình doanh nghiệp có những ưu, nhược điểm riêng và phù hợp với quy
mô, trình độ phát triển nhất định. Hầu hết các doanh nghiệp lớn hoạt động với tư cách
là Công ty - loại hình phát triển nhất của doanh nghiệp.

1.1.2 Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

1.1.2.1 Khái niệm tài sản ngắn hạn
Trong nền kinh tế quốc dân, mỗi doanh nghiệp được coi là một tế bào của nền
kinh tế với nhiệm vụ chính là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra
các sản phẩm hàng hóa, lao động, dịch vụ cung cấp cho xã hội. Để tiến hành các hoạt
động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải có 3 yếu tố đó là: đối tượng lao động,
tư liệu lao động và sức lao động. Bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần
phải có tài sản ngắn hạn, lượng tiền cung ứng trước để thỏa mãn nhu cầu về tài sản
ngắn hạn.
Tài sản ngắn hạn thường được luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được thể hiện ở các bộ

2

Thang Long University Library


phận tiền mặt, các chứng khoán có tinh thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ
tồn kho.
Như vậy tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu
của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong 1 năm hoặc
một chu kỳ kinh doanh. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình
thức tiền tệ, hiện vật (vật tư, hàng hóa) dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ
phải thu ngắn hạn.
1.1.2.2 Đặc điểm tài sản ngắn hạn
Đối với doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thì giá trị các loại tài sản ngắn hạn
chiêm tỷ trọng lớn, thường chiếm từ 25% đến 50% tổng giá trị tài sản của chúng. Việc
quản lý và sử dụng hợp lý các loại tài sản ngắn hạn có ảnh hưởng rất quan trọng đối
với việc hoàn thành các nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động
doanh nghiệp phải biết rõ số lượng, giá trị mỗi loại tài sản ngắn hạn là bao nhiêu cho
hợp lý và đạt hiệu quả sử dụng cao.
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạn của
chu kỳ kinh doanh: dự trữ - sản xuất - lưu thông quá trình này gọi là quá trình tuần
hoàn và chu chuyển của tài sản ngắn hạn. Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh tài
sản ngắn hạn lại thay đổi hình thái biểu hiện. Tài sản ngắn hạn chỉ tham gia vào một
chu kỳ sản xuất mà không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được
chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm với một giá trị lớn hơn giá trị ban
đầu. Như vậy, sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì tài sản ngắn hạn hòa thành 1 vòng chu
chuyển.
Tài sản ngắn hạn được phân bố đủ trong tất cả các khâu, các công đoạn nhằm
đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, ổn định tránh lãng
phí và tổn thất vốn do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán
và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản.
Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất
sang tiền tệ nên đáp ứng được khả năng thanh toán của doanh nghiệp mà không chịu
chi phí lớn. Tuy nhiên, điều này lại gây khó khăn cho quản lý, chống thất thoát.
Không như đầu tư vào tài sản cố định, các khoản đầu tư cho tài sản ngắn hạn
thường có thể hủy bỏ bất cứ thời điểm nào mà không phải chịu chi phí tốn kém. Điều
đó có được là do tài sản ngắn hạn phải đáp ứng nhanh chóng sự biến động của doanh
số và sản xuất. Đổi lại, tài sản ngắn hạn thường chịu sự lệ thuộc khá nhiều vào những
dao động mang tính mùa vụ và chu kỳ trong kinh doanh.

3


1.1.2.3 Phân loại tài sản ngắn hạn
Trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói
chung và quản lý tài chính nói riêng, tùy theo yêu cầu quản lý và dựa trên tính chất vận
động của tài sản ngắn hạn, có thể phân loại tài sản ngắn hạn như sau:
Phân loại theo quá trình tuần hòa và chu chuyển vốn
- Tài sản ngắn hạn dự trữ: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu dự trữ
của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao gồm: tiền mặt
tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường, nguyên vật
liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán.
- Tài sản ngắn hạn lưu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu lưu
thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phần tồn kho, hàng gửi bán và khoản nợ phải
thu của khách hàng.
Theo cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định được
các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của tài sản ngắn hạn để đưa ra biện
pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng một cách cao nhất.
Phân loại theo tính thanh khoản
Đây là cách phân loại dựa trên khả năng huy động cho việc thanh toán. Theo
cách phân loại này thì tài sản ngắn hạn bao gồm: tiền và các khoản tương đương tiền,
đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, các khoản ứng trước, hàng tồn kho và
các tài sản ngắn hạn khác.
- Tiền: bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển và các
khoản tương đương tiền như vàng, đá quý… Đây là tài sản có tính thanh khoản cao
nhất trong doanh nghiệp, chính vì vậy doanh nghiệp cần duy trì một cách hợp lý,
không quá nhỏ để đảm bảo khả năng thanh toán nhưng cũng không quá lớn dẫn đến
lãng phí, ứ đọng vốn của doanh nghiệp.
- Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn bao gồm các chứng khoán ngắn hạn, các
khoản đầu tư ngắn hạn khác, các khoản dự phòng đầu tư ngắn hạn… Đây là khoản vừa
có tính thanh khoản cao, vừa có khả năng sinh lời. Khi có nhu cầu thanh toán mà tiền
không đáp ứng đủ thì doanh nghiệp sẽ bán các chứng khoán này.
- Các khoản phải thu (tín dụng thương mại) bao gồm các khoản phải thu khách
hàng… là một loại tài sản rất quan trọng đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh
nghiệp thương mại. Muốn mở rộng mạng lưới tiêu thụ và tạo dựng mối liên hệ lâu dài,
doanh nghiệp bán chịu cho khách hàng, chính vì vậy đã phát sinh ra các khoản tín
dụng thương mại. Tín dụng thương mại có thể giúp doanh nghiệp nâng cao doanh số,

4

Thang Long University Library


từ đó tăng doanh thu, nhưng cũng có thể đẩy doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn khi
doanh nghiệp không thể hoặc khó thu hồi nợ từ khách hàng.
- Các khoản ứng trước: bao gồm các khoản tiền mà doanh nghiệp đã trả trước
cho người bán, nhà cung cấp hoặc cho các đối tượng khác.
- Hàng tồn kho: “hàng tồn kho” trong khái niệm này không có nghĩa là hàng hóa
bị ứ đọng, không bán được mà nó bao gồm toàn bộ hàng hóa vật liệu, nguyên liệu
đang tồn tại ở các kho, quầy hàng hoặc trong xưởng. Trên thực tế, hàng tồn kho bao
gồm hàng trăm loại khác nhau, tuy nhiên, có thể phân thành các nhóm chính sau:
nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, vật liệu bổ trợ, nhiên liệu, thành phẩm, sản
phẩm dở dang và bán thành phẩm, công cụ dụng cụ…
- Các doanh nghiệp khác nhau thì các khoản mục này có giá trị và tỷ trọng khác
nhau trong tổng tài sản ngắn hạn. Tuy nhiên, doanh nghiệp nào cũng cần phải có một
chế độ quản lý khoa học và hợp lý để vừa đảm bảo hoạt động kinh doanh thông suốt,
vừa giảm được những chi phí không cần thiết, từ đó giúp cho việc quản lý và sử dụng
tài sản ngắn hạn có hiệu quả hơn.
- Tài sản ngắn hạn khác: bao gồm các khoản tạm ứng, chi phí trả trước, chi phí
chờ kết chuyển, tài sản thiếu chờ xử lý, các khoản cầm cố, ký quỹ, ký cược ngắn hạn.
Trên thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ các khoản mục trên trong
bảng cân đối kế toán. Thường thì trong doanh nghiệp chỉ có các khoản chính như: tiền,
khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác... Vậy nếu doanh nghiệp xác
định được cách phân loại phù hợp với mình thì sẽ có ưu thế hơn trong việc bảo tồn,
quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn.
1.1.2.4 Vai trò của tài sản ngắn hạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng không thể không có tài sản ngắn
hạn.Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài tài sản dài hạn như máy móc,
nhà xưởng,… doanh nghiệp còn bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hóa,
nguyên nhiên vật liệu… phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Như vậy tài sản
ngắn hạn là điều kiện để doanh nghiệp đi vào hoạt động. Dù đó là doanh nghiệp sản
xuất hay doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ thì tài sản ngắn
hạn đóng vai trò không thể thiếu đối với các doanh nghiệp.
Tài sản ngắn hạn giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được
vận hành một cách liên tục, không bị gián đoạn. Trong sản xuất, tài sản ngắn hạn giúp
cho doanh nghiệp sản xuất thông suốt, đảm bảo quy trình công nghệ, công đoạn sản
xuất. Trong lưu thông, tài sản ngắn hạn đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng đơn đặt
hàng của khách và nhu cầu tiêu thụ nhịp nhàng.
5


Tài sản ngắn hạn giúp cho doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán, khi
duy trì ở một mức độ hợp lý nó đem lại cho doanh nghiệp những lợi thế nhất định như
được hưởng chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán… Từ đó giúp doanh nghiệp
tiết kiệm được chi phí, làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Tài sản ngắn hạn giúp doanh nghiệp tạo dựng được mối quan hệ mật thiết với
khách hàng, đặc biệt là khách hàng lớn và thân thuộc thông qua chính sách tín dụng
thương mại.
Thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn khiến cho công việc quản lý và sử dụng
tài sản ngắn hạn luôn diễn ra thường xuyên, liên tục. Với vai trò to lớn như vậy, việc
tăng tốc độ luân chuyển tải sản ngắn hạn, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
trong doanh nghiệp là nhu cầu tất yếu.
1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Theo các chuyên gia và các nhà kinh tế đánh giá thì hiệu quả được coi là một
thuật ngữ để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của chủ thể và chi
phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong điều kiện nhất định. Như vậy, hiệu quả
phản ánh kết quả thực hiện các mục tiêu hành động trong quan hệ với chi phí bỏ ra và
hiệu quả được xem xét trong bối cảnh hay điều kiện nhất định, đồng thời cũng được
xem xét dưới quan điểm đánh giá của chủ thể nghiên cứu.
Mục tiêu chung của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều là tối đa hóa lợi nhuận và
tối thiểu hóa chi phí. Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề mà các doanh
nghiệp quan tâm, quản trị kinh doanh sản xuất có hiệu quả thì doanh nghiệp mới có thể
tồn tại trên thị trường. Để đạt được hiệu quả đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có nhiều cố
gắng và có những chiến lược, sách lược hợp lý từ khâu sản xuất cho đến khi sản phẩm
được đến tay người tiêu dùng.
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì vấn đề
sống còn doanh nghiệp cần quan tâm là tính hiệu quả. Hiệu quả kinh tế là kết quả tổng
hợp của một loạt các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các bộ phận, là một phạm trù đánh
giá trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá
trình sản xuất kinh doanh, tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu với tổng chi phí thấp nhất.
Do đó, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là phạm trù kinh tế đánh giá trình độ sử dụng
tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu cao nhất với mức tài sản hợp
lý (tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí). Vì vậy nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản
ngắn hạn là yêu cầu tất yếu, quan trọng của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường.
6

Thang Long University Library


1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
1.2.2.1 Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Do đặc điểm cùa tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, cho nên việc sử dụng
hiệu quả tài sản ngắn hạn là sự lựa chọn đánh đổi giữa khả năng sinh lời với tính thanh
khoản. Do đó, khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp thì người ta thường
sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
- Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn:
Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn
=
Tổng số nợ ngắn hạn

Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là chỉ tiêu cho thấy khả năng đáp ứng các
khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là cao hay thấp. Nợ ngắn hạn là những khoản nợ
mà doanh nghiệp phải thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh.
Nếu trị số của chỉ tiêu này lớn hơn hoặc bằng 1, doanh nghiệp có đủ khả năng thanh
toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính là ổn định hoặc khả quan. Ngược
lại, nếu hệ số này nhỏ hơn 1, doanh nghiệp không bảo đảm đáp ứng được các khoản nợ
ngắn hạn. Trị số này càng nhỏ hơn 1, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh
nghiệp càng thấp.
Hệ số này lớn hay nhỏ hơn còn phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh
của doanh nghiệp. Chẳng hạn đối với doanh nghiệp thương mại, TSNH thường chiếm
tỷ trọng lớn hơn trong tổng tài sản nên hệ số này tương đối cao. Do đó, khi đánh giá
khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cần phải dựa vào hệ số trung bình của doanh nghiệp
cùng ngành. Tuy nhiên, hệ số này chỉ phản ánh một cách tạm thời tình hình thanh toán
của doanh nghiệp vì tài sản ngắn hạn bao gồm cả các khoản phải thu và hàng tồn kho.
Chính vì vậy để đánh giá chính xác hơn về khả năng thanh toán của doanh nghiệp, ta
cần xét thêm một số chỉ tiêu khác.
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
Khả năng thanh toán nhanh

Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho
=
Tổng số nợ ngắn hạn

Khả năng thanh toán nhanh là chỉ tiêu thể hiện khả năng trả nợ ngắn hạn bằng
các tài sản có khả năng chuyển thành tiền một cách nhanh nhất không tính đến hàng
tồn kho vì hàng tồn kho là tài sản không dễ dàng chuyển đổi thành tiền, tức là một
đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn có tính thanh
khoản cao.
7


Đây là chỉ tiêu được các chủ nợ ngắn hạn rất quan tâm vì thông qua các chỉ tiêu
này, các chủ nợ có thể đánh giá được tại thời điểm phân tích doanh nghiệp có khả năng
thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn hay không. Tuy nhiên, trong một số trường
hợp, chỉ tiêu này chưa phản ánh một cách chính xác khả năng thanh toán của doanh
nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có khoản phải thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
TSNH. Do đó, để đánh giá chính xác và chặt chẽ hơn cần xem xét thêm khả năng
thanh toán tức thời của doanh nghiệp.
- Hệ số khả năng thanh toán tức thời:
Khả năng thanh toán tức thời

Tiền và tương đương tiền
=
Tổng số nợ ngắn hạn

Hệ số này cho biết, với lượng tiền và tương đương tiền hiện có, doanh nghiệp
có đủ khả năng trang trải cho các khoản nợ ngắn hạn đến hạn hay không. Trong đó các
khoản tương đương tiền bao gồm các khoản đầu tư ngắn hạn có thời gian thu hồi hoặc
đáo hạn không quá 3 tháng, dễ dàng chuyển đổi thành một lượng tiền xác định mà
không có rủi ro khi chuyển đổi thành tiền kể từ ngày mua khoản đầu tư đó tại thời
điểm báo cáo như kỳ phiếu ngân hàng, tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi,...
Khi trị số của chỉ tiêu này lớn hơn 1, doanh nghiệp bảo đảm và thừa khả năng
thanh toán tức thời và ngược lại, khi trị số của chỉ tiêu này nhỏ hớn 1, doanh nghiệp
không đảm bảo khả năng thanh toán tức thời. Trong thời gian 3 tháng, trị số của chỉ
tiêu khả năng thanh toán tức thời có giá trị cảnh báo cao, nếu doanh nghiệp không đảm
bảo đủ khả năng thanh toán tức thời, nhà quản trị doanh nghiệp sẽ phải áo dụng ngay
các biện pháp tài chính khẩn cấp để tránh cho doanh nghiệp không bị lâm vào tình
trạng phá sản.
1.2.2.2 Các chỉ tiêu hoạt động
Là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp. Để nâng cao hệ số
hoạt động, các nhà quản trị phải biết những tài sản nào chưa sử dụng, không sử dụng
hoặc không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp. Vì thế doanh nghiệp cần phải biết cách
sử dụng chúng sao cho có hiệu quả hoặc loại bỏ chúng đi. Hệ số hoạt động còn được
gọi là hệ số luân chuyển. Do đó, khi phân tích các chỉ tiêu hoạt động thì thường sử
dụng các chỉ tiêu sau:
- Tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn
Doanh thu thuần
Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ

=
Tài sản ngắn hạn bình quân

8

Thang Long University Library


360
Thời gian luân chuyển TSNH

=
Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ

Trong đó:
TSNH đầu kỳ + TSNH cuối kỳ
Tài sản ngắn hạn bình quân

=
2

Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ là chỉ tiêu phản ánh số lần quay của tài sản
ngắn hạn trong một thời kỳ nhất định. Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản
ngắn hạn trên mối quan hệ so sánh giữa doanh thu thuần và số tài sản ngắn hạn bỏ ra
trong kỳ. Nói cách khác, chỉ tiêu này cho biết trong một năm tài sản ngắn hạn của
doanh nghiệp luân chuyển được bao nhiêu vòng hay một đồng tài sản ngắn hạn mang
lại bao nhiêu đồng doanh thu. Số vòng quay càng cao, chứng tỏ tài sản ngắn hạn vận
động càng nhanh, góp phần nâng cao doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Hệ số đảm nhiệm tài sản ngắn hạn (hay còn gọi là hàm lượng TSNH)
Hệ số đảm nhiệm TSNH =

TSNH bình quân trong kỳ
Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thuần cần bao nhiêu đồng tài
sản ngắn hạn. Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt với doanh nghiệp, vì khi đó tỷ suất lợi
nhuận của một đồng tài sản ngắn hạn sẽ tăng lên. Do đó qua chỉ tiêu này, các nhà quản
trị tài chính xây dựng kế hoạch về đầu tư tài sản ngắn hạn một cách hợp lý, góp phần
nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho
Doanh thu thuần

Vòng quay hàng tồn kho =

Hàng tồn kho bình quân
Trong đó hàng tồn kho bình quân là trung bình của vật tư hàng hóa dự trữ đầu và
cuối kỳ. Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho của
doanh nghiệp hiệu quả như thế nào. Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa
tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ.
Chỉ tiêu này thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị
hàng tồn kho là tốt hay xấu. Chỉ tiêu này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa
trong kho là nhanh và ngược lại, nếu nó nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp.
Các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất luôn phải tính đến mức dự trữ bởi doanh
nghiệp không thể nào đến lúc sản xuất mới mua nguyên vật liệu. Để tránh trường hợp
9


bị ứ đọng thì doanh nghiệp phải có trước một lượng vật tư hàng hóa vừa phải bởi nếu
quá nhiều doanh nghiệp sẽ mất khoản chi phí để bảo quản vật liệu. Nếu lượng vật tư
quá ít không đủ cho sản xuất sẽ dẫn đến tình trạng tắc nghẽn ở các khâu tiếp theo.
- Thời gian luân chuyển kho trung bình
360
Thời gian luân chuyển kho trung bình =
Vòng quay hàng tồn kho
Chỉ tiêu này cho biết một vòng quay của hàng tồn kho mất bao nhiêu ngày, chỉ
tiêu này càng thấp, chứng tỏ hàng tồn kho vận động nhanh đó là nhân tố góp phần tăng
doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Thời gian của kỳ phân tích có thể là tháng,
quý, năm tùy theo mục tiêu của việc phân tích.
Tăng đốc độ luân chuyển hàng tồn kho là rút ngắn thời gian hàng tồn kho nằm
trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh như dự trữ, sản xuất và lưu thông.
Đồng thời là điều kiện quan trọng để phát triển sản xuất kinh doanh để doanh nghiệp
có điều kiện mở rộng quy mô của quá trình sản xuất mà không cần tăng thêm vốn đầu
tư. Mặc khác tăng tốc độ luân chuyển hàng tồn kho còn góp phần doanh nghiệp giảm
chi phí, hạ thấp giá thành sản phẩm tạo điều kiện cho doanh nghiệp thỏa mãn các nhu
cầu sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Vòng quay các khoản phải thu
Doanh thu thuần
Vòng quay các khoản phải thu

=
Các khoản phải thu bình quân

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích báo cái các khoản phải thu quay được
bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi tiền hàng kịp
thời, ít bị chiếm dụng vốn. Tuy nhiên nếu chỉ tiêu này quá cao có thể phương thức
thanh toán tiền của doanh nghiệp quá chặt chẽ, khi đó sẽ ảnh hưởng đến sản lượng
hàng hóa tiêu thụ. Chỉ tiêu này còn cho biết mức độ hợp lý các khoản phải thu đối với
từng mặt hàng cụ thể của doanh nghiệp trên thị trường.
- Thời gian thu tiền trung bình
360
Thời gian thu tiền trung bình

=
Vòng quay các khoản phải thu

Thời gian thu tiền trung bình càng ngắn chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng
nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn. Ngược lại thời gian thu tiền càng dài,
chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền càng chậm, số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng nhiều.
Tuy nhiên kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa thể kết luận
10

Thang Long University Library


chắc chắn mà còn phải xem xét lại mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp như mục
tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp.
1.2.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
- Hệ số sinh lời của TSNH ( khả năng sinh lời )
Hệ số sinh lợi của TSNH

Lợi nhuận sau thuế

=

TSNH bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản ngắn hạn có thể tạo ra được bao nhiêu
đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt. Mức doanh thu lợi của tài sản ngắn
hạn càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao.
- Sức sinh lợi kinh tế của tài sản (ROA)
Sức sinh lợi kinh tế của tải sản

Lợi nhuận trước thuế

=

Tổng tài sản
Sức sinh lợi kinh tế của tài sản cho biết 1 đơn vị tài sản đưa vào kinh doanh
đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế. Nếu chỉ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa
doanh nghiệp làm ăn có lãi. Chỉ số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu
quả. Còn nếu chỉ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Mức lãi hay lỗ được
đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản của doanh nghiệp. Chỉ số cho biết
hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp.
Sức sinh lợi kinh tế của tài sản phụ thuộc vào mùa vụ kinh doanh và ngành nghề
kinh doanh. Do đó, khi phân tích tài chính doanh nghiệp thường sử dụng chỉ số này so
sánh với bình quân toàn ngành hoặc với doanh nghiệp khác cùng ngành trong cùng
một thời kỳ.
- Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE)
Lợi nhuận sau thuế
Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu
Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu cho biết 1 đơn vị vốn chủ sở hữu đưa vào kinh
doanh đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế. Nếu chỉ số này mang giá trị dương,
là Công ty làm ăn có lãi, nếu mang giá trị âm là Công ty làm ăn thua lỗ.
Cũng như sức sinh lợi kinh tế của tài sản, chỉ số này phụ thuộc vào thời vụ kinh
doanh. Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào quy mô và mức độ rủi ro của Công ty. Để so
sánh chính xác, cần so sánh chỉ số này của một Công ty cổ phần với chỉ số bình quân
của toàn ngành, hoặc với chỉ số của Công ty tương đương trong cùng ngành. Nếu sức
11


sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE) lớn hơn sức sinh lợi của tài sản (ROA) thì có nghĩa
là Công ty đã thành công trong việc huy động vốn của cổ đông để kiếm lợi nhuận với
tỷ suất cao hơn tỷ lệ tiền lãi mà Công ty phải trả cho các cổ đông.

1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh
nghiệp
1.2.3.1 Nhân tố chủ quan
- Cơ sở vật chất hạ tầng của doanh nghiệp
Đây là nhân tố hết sức quan trọng, bởi ngoài việc nguyên vật liệu tốt thì để có
được những sản phẩm tốt doanh nghiệp cần có hệ thống cơ sở hạ tầng (trụ sở làm việc,
chi nhánh, cơ sở sản xuất, hệ thống bán hàng…) được bố trí hợp lý sẽ giúp cho doanh
nghiệp sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả hơn, làm cho quá trình sản xuất
được diễn ra nhanh chóng. Ngược lại với hệ thống máy móc không tốt sẽ không tận
dụng được hết giá trị của nguyên vật liệu thậm chí còn sản xuất ra những sản phẩm
kém chất lượng, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoải ra
nếu kho chứa hàng tốt sẽ tránh được những hao mòn không đáng có trong công tác bảo
quản hàng tồn kho.
- Mục đích lựa chọn dự án đầu tư
Đầu tư là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở thời điểm hiện tại để đổi lấy khả năng
không chắc chắn giá trị trong tương lai. Khi phân tích xem có nên đầu tư vào dự án
hay không người ta không chỉ xem xét đến mục đích mà còn đến hiệu quả về mặt tài
chính của dự án. Đôi khi nhiều dự án đều có hiệu quả tài chính được đề xuất cùng một
lúc, để lựa chọn dự án cần xem xét nhiều mặt.
Mỗi doanh nghiệp có những lĩnh vực ngành nghề kinh doanh khác nhau do vậy
mà có những doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài, có những doanh nghiệp
có chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn, điều đó ảnh hưởng đến việc ra quyết định của
doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn. Việc thực hiện dự án đầu tư của
mỗi doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến lượng tài sản ngắn hạn, mức dự trữ dành cho các
chu kỳ, và lượng tiền mặt doanh nghiệp cần giữ cũng như kỳ thu tiền dài hay ngắn
hạn. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài thì thời gian thu hồi vốn càng lâu,
nên các doanh nghiệp luôn tìm cách làm cho chu kỳ kinh doanh ngắn hơn như vậy
vòng quay tài sản cũng được rút ngắn lại. Vòng quay tài sản ngắn hạn tăng tức là việc
tiêu thụ hàng hóa cũng tăng lên và như vậy doanh thu cũng tăng lên, làm cho lợi nhuận
doanh nghiệp tăng, điều đó thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tăng.
- Năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh
12

Thang Long University Library


Một quy trình sản xuất – kinh doanh hợp lý sẽ khắc phục được tình trạng chồng
chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các khâu, góp phần tiết kiệm nguồn lực, tăng năng suất
lao động, giảm chi phí bất hợp lý, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng
tài sản ngắn hạn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Ngoài ra, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ cũng đóng vai trò quan trọng
trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Nếu doanh
nghiệp tiếp cận kịp thời với sự tiến bộ của khoa học, công nghệ để đổi mới trang thiết
bị thì sẽ giảm được hao mòn vô hình của tài sản cố định, nâng cao chất lượng, đổi mới
sản phẩm, hạ giá thành và nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.
- Chất lượng công tác quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Quản lý tài sản ngắn hạn một cách khoa học, chặt chẽ sẽ góp phần làm tăng hiệu
quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Chất lượng công tác quản lý tài sản
ngắn hạn của doanh nghiệp được thể hiện chủ yếu qua các nội dung sau:
Quản lý tiền mặt
Tiền mặt là loại tài sản không sinh lời, tự nó không sinh ra lợi nhuận. Việc xác định
lượng tiền mặt dự trữ chính xác giúp cho doanh nghiệp đáp ứng các nhu cầu về: giao
dịch, dự phòng, tận dụng được những cơ hội thuận lợi trong kinh doanh do chủ động
trong hoạt động thanh toán chi trả. Đồng thời doanh nghiệp có thể đưa ra các biện
pháp thích hợp đầu tư những khoản tiền nhàn rỗi nhằm thu lợi nhuận Dựa vào thực
trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp, cùng với khả năng phân tích và phán đoán
những biến động cũng như xu thế của thị trường tài chính.
Trong kinh doanh, doanh nghiệp phải lưu giữ tiền mặt cần thiết cho việc thanh
toán. Khoảng dao động tiền mặt dự kiến phụ thuộc vào ba yếu tố: mức dao động của
thu chi ngân quỹ, chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán và lãi suất.
Khoảng dao động (mô hình Miller):
D = 3.

3.C bVb
4i

Trong đó:
D: khoảng dao động tiền mặt (khoảng cách giữa giới hạn trên và giới hạn dưới
của lượng tiền mặt dự trữ).
C b : Chi phí của mỗi lần giao dịch mua bán chứng khoán thanh khoản.

V b : Phương sai của thu chi ngân quỹ

i : lãi suất
13


Mức tiền mặt theo thiết kế được xác định như sau:
Mức tiền mặt
theo thiết kế

=

Mức tiền mặt
giới hạn dưới

Khoảng dao động tiền mặt
+
3

Đây là mô hình mà thực tế được rất nhiều doanh nghiệp áp dụng. Khi áp dụng
mô hình này, mức tiền mặt giới hạn dưới thường được lấy là mức tiền mặt tối thiểu.
Phương sai của thu chi ngân quỹ được xác định bằng cách dựa vào số liệu thực tế cửa
một quỹ trước đó để tính toán.
Quản lý dự trữ, tồn kho (hàng tồn kho)
Đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thì dự trữ là yếu tố quan
trọng quyết định việc doanh nghiệp có sản xuất được ổn định hay không. Do vậy việc
quản lý tồn kho dự trữ đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài
sản ngắn hạn.
Quản lý khoản phải thu
Với nền kinh tế thị trường hiện nay, để thắng lợi trong cạnh tranh, các doanh
nghiệp có thể áp dụng các chiến lược về sản phẩm, về quảng cáo, về giá cả, và các
dịch vụ mới…trong đó, chính sách tín dụng thương mại là một công cụ hữu hiệu và
không thể thiếu đối với các doanh nghiệp. Tín dụng thương mại như con dao 2 lưỡi, có
thể đem đến cho doanh nghiệp nhiều lợi thế nhưng cũng có thể gặp nhiều rủi ro trong
kinh doanh. Do đó, các doanh nghiệp cần phải đưa ra những phân tích về khả năng tín
dụng của khách hàng, từ đó quyết định có nên cấp tín dụng thương mại hay không.
Đây là nội dung chính của quản lý các khoản phải thu. Chính sách tín dụng thương
mại có những tác động cơ bản sau:
 Do thực hiện chính sách bán chịu nên khách hàng mua nhiều hàng hóa hơn, do
đó làm tăng doanh thu và giản chi phí hàng tồn kho.
 Tín dụng thương mại làm tăng lượng hàng hóa sản xuất ra, do đó góp phần
làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản.
 Khi cấp tín dụng thương mại cho khách hàng có thể làm tăng thêm chi phí đòi
nợ, chi phí trả cho nguồn tài trợ để bù đắp cho thiếu hụt ngân quỹ.
 Nếu thời hạn cấp tín dụng càng dài thì rủi ro càng cao và làm cho lợi nhuận bị
giảm.
Trước khi doanh nghiệp cấp tín dụng cho khách hàng thì công việc đầu tiên phải
làm là phân tích tín dụng khách hàng. Khi phân tích tín dụng khách hàng người ta
14

Thang Long University Library


thường đề ra các tiêu chuẩn, nếu khách hàng đáp ứng được các tiêu chuẩn đó thì có thể
được mua chịu. Các tiêu chuẩn người ta sử dụng để phân tích tín dụng khách hàng là:
 Phẩm chất, tư cách tín dụng: Tiêu chuẩn này nói lên tinh thần trách nhiêm của
khách hàng trong việc trả nợ. Điều này được phán đoán trên cơ sở việc thanh toán các
khoản nợ trước đây đối với doanh nghiệp hoặc đối với các doanh nghiệp khác.
 Năng lực trả nợ: Dựa vào các chỉ tiêu về khả năng thanh toán nhanh, dự trữ
ngân quỹ của doanh nghiệp…
 Vốn của khách hàng: Đánh giá sức mạnh tài chính dài hạn của khách hàng.
 Thế chấp: Xem xét khả năng tín dụng của khách hàng trên cơ sở các tài sản
riêng mà họ sử dụng để đảm bảo các khoản nợ.
 Điều kiện kinh tế: Tiêu chuẩn này đánh giá đến khả năng phát triển của khách
hàng trong hiện tại và tương lai.
Sau khi phân tích năng lực tín dụng của khách hàng, doanh nghiệp tiến hành việc
phân tích đánh giá các khoản tín dụng thương mại được đề nghị. Việc đánh giá khoản
tín dụng thương mại được đề nghị để quyết định có nên cấp hay không được dựa vào
việc tính NPV của luồng tiền.
NPV  -P.Q  V.Q'-Q  C.P'.Q' 

1 - r .P'.Q'
1 R

Trong đó:
NPV : Giá trị hiện tại ròng của việc chuyển từ chính sách bán trả
ngay sang chính sách bán chịu.
Q, P : Sản lượng hàng bán được trong một tháng và giá bán đơn vị
nếu khách hàng trả tiền ngay.
Q‟, P‟ : Sản lượng và giá bán đơn vị nếu bán chịu.
C
: Chi phí cho việc đòi nợ và tài trợ bù đắp cho khoản phải thu.
V
: Chi phí biến đổi cho một đơn vị sản phẩm.
R
: Doanh lợi yêu cầu thu được hàng tháng.
r
: Tỷ lệ phần trăm của hàng bán chịu không thu được tiền.
Nếu NPV > 0, chứng tỏ việc bán hàng trả chậm mang lại hiệu quả cao hơn việc
thanh toán ngay, có lợi cho doanh nghiệp. Do đó khoản tín dụng được chấp nhận.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần quan tâm đến việc theo dõi khoản phải thu, đây
là một nội dung quan trọng trong quản lý các khoản phải thu. Thực hiện tốt công việc
này sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể kịp thời thay đổi các chính sách tín dụng thương
mại phù hợp với tình hình thực tế. Thông thường, để theo dõi các khoản phải thu, ta
dùng các chỉ tiêu, phương pháp, mô hình sau:
15


Thứ nhất, theo dõi kỳ thu tiền bình quân.
Thứ hai, sắp xếp “tuổi‟‟ của các khoản phải thu theo độ dài thời gian, qua đó các
nhà quản lý doanh nghiệp có thể theo dõi và có biện pháp thu hồi nợ khi đến hạn trả.
Thứ ba, xác định số dư khoản phải thu: bằng phương pháp này, doanh nghiệp có
thể thấy được nợ tồn đọng của khách hàng nợ doanh nghiệp. Cùng với các biện pháp
theo dõi và quản lý khác, doanh nghiệp có thể thấy được ảnh hưởng của chính sách tín
dụng thương mại và có những điều chỉnh kịp thời, hợp lý, phù hợp với từng đối tượng
khách hàng, từng khoản mục cụ thể
- Trình độ cán bộ công nhân viên
Con người là nhân tố quan trọng nhất trong bất kỳ hoạt động nào. Đây là yếu tố
quyết định, có ảnh hưởng to lớn đến việc quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp.
Để việc sử dụng tài sản ngắn hạn đạt hiệu quả cao đòi hỏi các doanh nghiệp phải có
những cán bộ quản lý giỏi, công nhân viên có trình độ tay nghề cao. Người quản lý
phải nắm bắt rõ tình hình hoạt động của doanh nghiệp, sau mỗi chu kỳ hoạt động phảo
phân tích đánh giá xem hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ra sao, từ đó đưa ra các kế
hoạch trong những chu kỳ tiếp theo. Trong quá trình sản xuất để tận dụng hết nguyên
vật liệu thì người công nhân phải có chuyên môn giỏi, đặc biệt việc sử dụng máy móc
thiết bị hết sức quan trọng, máy móc thiết bị ngày càng hiện đại đòi hỏi đội ngũ sử
dụng những loại máy móc thiết bị đó cũng phải chuyên nghiệp.
1.2.3.2 Nhân tố khách quan
- Sự quản lý của nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng. Trên cơ
sở luật pháp và các chính sách kinh tế vĩ mô, Nhà nước tạo môi trường và hành lang
cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh. Bất kì một sự thay đổi nào trong
chính sách hiện hành đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của doanh
nghiệp. Những chính sách mà Nhà nước tác động ảnh hưởng đến các doanh nghiệp
như chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng, chính sách thuế, chính
sách khuyến khích đầu tư, chính sách tài chính. Khi một trong những chính sách này
thay đổi dù ít hay nhiều đều ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô, đồng thời ảnh hưởng
không nhỏ đến các doanh nghiệp trong nước.
Chính vì thế, doanh nghiệp cần dự đoán trước được sự thay đổi của các chính
sách kinh tế và đánh giá lại ảnh hưởng của các yếu tố này đến hoạt động của doanh
nghiệp trong tương lai, tận dụng cơ hội từ các chính sách khuyến khích.
- Khoa học – Công nghệ

16

Thang Long University Library


Khoa học – Công nghệ đã chiếm một vị trí quan trọng, trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp, là động lực cơ bản cho phát triển kinh tế xã hội, góp phần mở rộng khả
năng sản xuất, thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Không
những thế nó còn tác động trực tiếp và thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá, hướng tới xã
hội thông tin và nền kinh tế tri thức. Đối với nước ta, với một xuất phát điểm thấp,
công nghệ thiết bị lạc hậu trong khi cuộc cách mạng Khoa học – Công nghệ trên thế
giới đang diễn ra với tốc đọ hết sức nhanh chóng và sâu rộng, quá trình toàn cầu hoá
đang ngày một gia tăng thì việc phát triển Khoa học – Công nghệ cùng với giáo dục và
đào tạo là quốc sách hàng đầu để phát triển kinh tế xã hội, nâng cao trình độ quản lý
của Nhà nước và tiềm lực lãnh đạo của Đảng.
Nhận tức rõ tầm quan trọng của Khoa học – Công nghệ trong thời gian qua chính
sách về Khoa học – Công nghệ nước ta có những chuyển biến tích cực góp phần quan
trọng trong việc nâng cao chất lượng, năg lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá, đào
tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy kinh tế xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân
tộc.
- Các đối thủ cạnh tranh
Trong quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay, điều kiện cạnh tranh
đang ngày càng trở nên gây gắt. Để doanh nghiệp có thể quản trị tốt thị trường, khách
hàng và mục tiêu kinh doanh, doanh nghiệp cần xác định được đối thủ cạnh tranh của
chúng ta một cách cụ thể và chính xác.
Đa số các doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường cạnh tranh. Trong nhiều
thị trường mức độ cạnh tranh đã và đang gia tăng trong những năm gần đây theo sau
sự xâm nhập của các doanh nghiệp khác. Một kết quả của sự gia tăng trong cạnh tranh
đã tạo ra sự tăng trưởng trong nhận thức và nhận biết rằng điều cơ bản để kinh doanh
thành công thì không chỉ phân tích thị trường và khách hàng một cách cẩn thận mà còn
phải bao gồm cả phân tích chi tiết các đối thủ cạnh tranh.
Quan tâm đến khả năng của đối thủ cạnh tranh và các sản phẩm thay thế cho các
sản phẩm của doanh nghiệp là một bước quan trọng giúp doanh nghiệp không bị lạc
lõng trong điều kiện thị trường luôn biến đổi, các doanh nghiệp luôn tự làm mới mình.
Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng.
- Nhu cầu của khách hàng
Nhu cầu khách hàng là nhân tố ảnh hưởng lớn tới việc ra quyết định của doanh
nghiệp trong việc sản xuất ra loại sản phầm gì, chất lượng ra sao, mẫu mã như thế nào.
Nhu cầu của con người ngày càng cao, để đáp ứng nhu cầu đó thì doanh nghiệp
luôn phải tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm. Những doanh nghiệp mà đội ngũ
nhân viên khéo léo, tận tình cộng với công tác xúc tiến thương mại quảng bá sản phẩm
17


của mình để thâm nhập vào thị trường mới sé giúp doanh nghiệp bán được nhiều sản
phẩm làm doanh thu của doanh nghiệp tăng nhanh.
- Sự phát triển của thị trường
Thị trường là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là thị trường đầu vào, thị trường đầu ra và thị trường
tài chính.Khi thị trường đầu vào biến động, giá cả nguyên vật liệu tăng lên sẽ làm tăng
chi phí đầu vào của doanh nghiệp và do đó làm tăng giá bán gây khó khăn cho việc
tiêu thụ sản phẩm. Nếu giá bán không tăng lên theo một tỷ lệ tương ứng với tỷ lệ tăng
của giá cả nguyên vật liệu đầu vào cùng với sự sụt giảm về số lượng sản phẩm tiêu thụ
sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
Nếu thị trường đầu ra sôi động, nhu cầu lớn kết hợp với sản phẩm của doanh
nghiệp có chất lượng cao, giá bán hợp lý, khối lượng đáp ứng nhu cầu thị trường thì sẽ
làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Thị trường tài chính là kênh phân phối vốn từ nơi thừa vốn đến nơi có nhu cầu.
Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Thị trường tiền tệ là
thị trường tài chính chỉ có các công cụ ngắn hạn (kỳ hạn thanh toán dưới 1 năm) còn
thị trường vốn là thị trường diễn ra việc mua bán các công cụ nợ dài hạn như cổ phiếu,
trái phiếu.
- Yếu tố thiên nhiên
Thiên nhiên có ảnh hưởng sâu sắc tới cuộc sống con người, về nếp sống sinh hoạt
dẫn đến sự thay đổi trong nhu cầu hàng hóa. Thiên nhiên có tác động rất lớn đến doanh
nghiệp, nó thường có những tác động bất lợi với các doanh nghiệp, vì vậy để chủ động
đối phó với các tác động của yếu tố tự nhiên các doanh nghiệp cần phần tích, dự báo,
đánh giá tình hình thông qua các cơ quan chuyên môn, phải có biện pháp đề phòng để
giảm thiểu rủi ro tới mức có thể.

18

Thang Long University Library


CHƯƠNG 2 . THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN
TẠI CÔNG TY THNN ĐẦU TƢ KỸ THUẬT 4D
2.1 Giới thiệu chung về Công ty TNHH đầu tƣ kỹ thuật 4D

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH đầu tư kỹ thuật 4D
Tên công ty: Công ty TNHH đầu tư kỹ thuật 4D
Tên giao dịch quốc tế: 4D Technology Investment Company Limited
Địa chỉ: Số 90, đường Cù Chính Lan, phường Khương Mai – Thanh Xuân – TP Hà
Nội.
Số điện thoại: (84-4) 35658890
Fax: (84-4) 35658890
Email: 4dtech@fpt.vn
Mã số thuế: 0102204669
Vốn điều lệ: 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng Việt Nam)
Khái quát về ngành nghề:
Công ty TNHH đầu tư kỹ thuật 4D là công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất,
cung ứng dịch vụ và thiết bị điện.
 Hoạt động chủ yếu của công ty bao gồm:


Sản xuất, kinh doanh các loại vật tư, thiết bị, nguyên vật liệu của ngành điện

như dây điện, cáp bọc điện.


Sửa chữa các thiết bị điện trong công nghiệp và dân dụng, lắp đặt điện nội thất.



Hoàn thiện, lắp đặt hệ thống điện, lò sưởi và hệ thống điều hòa.

 Các mặt hàng và sản phẩm chủ yếu của công ty bao gồm:


Quạt các loại, biến thế điện, phích và ổ cắm điện, dụng cụ gia đình.

 Sản phẩm sản xuất: tủ điện, thang và máng cáp, tủ điện viễn thông và công
nghiệp, tủ cứu hỏa.
 Sản phẩm phân phối như các thiết bị điện công nghiệp, thiết bị điện của
Mitsubishi, Autoni.
 Tư vấn các thiết bị điện và dụng cụ:
 Tư vấn đầu tư, tư vấn đấu thầu, đánh giá hồ sơ thầu công trình xây dựng các
thiết bị điện. Thiết kế kỹ thuật, lập dự toán công trình, kiểm định chất lượng công
trình xây dựng các thiết bị điện, thí nghiệm vật liệu.


Thẩm định hồ sơ thiết kế, dự toán công trình xây dựng các thiết bị điện.
Công ty TNHH đầu tư kỹ thuật 4D là doanh nghiệp chính thức được thành lập
và hoạt động kinh doanh theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cấp lần đầu số

19


0102204618 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư thành phố Hà Nội cấp ngày 22 tháng 09 năm
2005 và thay đổi lần thứ nhất ngày 16 tháng 05 năm 2006.
Công ty được thành lập với các hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực
sản xuất, cung ứng dịch vụ và các thiết bị điện. Với đội ngũ cán bộ công nhân lành
nghề có uy tín và kinh nghiệm trong việc triển khai, lắp đặt điện công nghiệp và dân
dụng, đảm bảo thực thiện trong thời gian nhanh nhất với chất lượng và thẩm mỹ cao.
Hiện nay, Công ty đang nỗ lực phát triển trên nhiều lĩnh vực, phát huy những
lợi thế cạnh tranh riêng để có những bước đi vững chắc, lớn mạnh trong ngành điện –
dụng cụ - thiết bị và các lĩnh vực khác. Đồng thời , Công ty đang cố gắng hoàn thiện
công tác tổ chức quản lý và đặc biệt chú trọng trong việc tuyển chọn, đào tạo công
nhân lành nghề, có kĩ thuật và trình độ chuyên môn cao hơn nữa; đảm bảo an toàn lao
động, tạo dựng một vị trí vững chắc trong môi trường cạnh tranh đầy khốc liệt. Công
ty mong muốn sẽ mang đến cho khác hàng và đối tác những sản phẩm, dịch vụ có chất
lượng tốt, cạnh tranh nhất có thể và hơn hết đó là những kinh nghiệm mà công ty tích
lũy được theo thời gian.

2.1.2 Bộ máy tổ chức của Công ty TNHH đầu tư kỹ thuật 4D
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH đầu tƣ kỹ thuật 4D
Giám đốc

Kế toán trưởng

Các phó giám đốc

Phòng Tổ
chức –
Hành chính

Phòng Tài
vụ - Kế
toán

Phòng nhân
sự

Phòng kế
hoạch

Đội thi
công

Phòng Tư
vấn giám
sát

Phòng
Quản lý –
Kỹ thuật

Đội khảo
sát thiết kế
(Nguồn: Phòng Tổ chức – Hành chính)

20

Thang Long University Library


Giám đốc
Điều hành, quản lý, quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày
của Công ty. Định hướng chiến lược và từng bước thực hiện xây dựng Công ty ổn
định, phát triển lâu dài.
Các Phó giám đốc
Là người hỗ trợ cho Giám đốc và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về phần
việc được phân công, chủ động giải quyết những công việc được Giám đốc ủy quyền
và phân công theo đúng chế độ chính sách của Nhà nước và Điều lệ của công ty.
Kế toán trưởng
Điều hành, tổ chức công việc trong phòng tài chính kế toán, hướng dẫn hạch
toán, kiểm tra việc tính toán, ghi chép tình hình hoạt động của công ty trên chế đô,
chính sách kế toán tài chính cho các cán bộ kế toán trong công ty, chú ý nâng cao trình
độ cán bộ nhân viên kế toán.
Ngoài ra cũng chịu trách nhiệm trực tiếp về tính trung thực, chính xác của số
liệu báo cáo, phân tích hoạt động và đề xuất ý kiến ham mưu cho các bộ phận chức
năng khác, cho Giám đốc về công tác tài chính, các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
SXKD.
Phòng Tổ chức – Hành chính
Thực hiện công tác tổng hợp, hành chính, văn thư, lưu trữ. Tiếp nhận, phân loại
văn bản đi và đến; tham mưu cho ban giám đốc xử lý các văn bản hành chính nhanh
chóng, kịp thời. Quản lý con dấu, chữ ký theo quy định. Cấp giấy công tác, giấy giới
thiệu, sao lục các văn bản do công ty ban hành và văn bản của cấp trên theo quy định
của Giám đốc.
Phòng Tài vụ - Kế toán
Tổ chức công tác kế toán, công tác thống kê và bộ máy tài chính phù hợp với tổ
chức sản xuất kinh doanh của Công ty cũng như ghi chép, tính toan kịp thời, đầy đủ
toàn bộ tài sản của DN và trích nộp đầy đủ các khoản nộp ngân sách, các khoản nộp
cấp trên; lập đầy đủ báo cáo thống kê tài chính theo quy định. Kiểm tra các chứng từ
thu, chi, bán hàng, làm các thủ tục quyết toán đồng thời chỉ đạo các bộ phận sử dụng
đúng mục đích mang lại hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh.
Phòng Kế hoạch
Có nhiệm vụ tổ chức, điều hành, giám sát tiến độ thi công, lập các thủ tục về
hợp đồng, dự toán, thiết kế, quyết toán của các công trình và đảm bảo cho các hoạt
động SXDK của Công ty đạt hiệu quả cao nhất.
Phòng Tư vấn giám sát
21


Là đơn vị sản xuất giúp Giám đốc công ty thực hiện đúng hợp đồng với khách
hàng về tư vấn giám sát, tư vấn đấu thầu các công trình lắp đặt và các thiết bị điện,
dụng cụ. Thực hiện công tác giám sát công trình lắp đặt các thiết bị đảm bảo đúng chất
lượng, tiến độ, giá thành theo đúng cơ chế quản lý đầu tư.
Phòng Quản lý – Kỹ thuật
Quản lý về phương diện kỹ thuật, chất lượng sản phẩm tư vấn, tham mưu, giúp
việc cho ban lãnh đạo công ty trong công tac quản lý và điều hành hoạt động của các
toàn nhà cao tầng. Kiểm tra việc thực hiện quy trình, quy phạm trong việc khảo sát
thiết kế việc sử dụng định mức vật tư lao đông xây dựng công trình.
Thẩm định hồ sơ thiết kế công trình xây dựng các thiết bị điện, đối chiếu hồ sơ
khảo sát thiết kế với thực tế hiện trường.
Phòng Nhân sự
Với chiến lược “Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp” thì việc xây dựng hệ
thống nhân sự luôn chiếm nhiều sự quan tâm từ phía Công ty. Công ty TNHH đầu tư
kỹ thuật 4D luôn tìm kiếm những ứng viên có nhiều kinh nghiệm chuyên môn, có hoài
bão phát triển công việc ở mọi vị trí.
Đội thi công
Thực hiện thi công xây lắp các công trình được giao, đảm bảo chất lượng và
tiến độ cũng như an toàn lao động trong thời gian thi công.
Đội khảo sát thiết kế
Là bộ phận trực tiếp sản xuất, sản phẩm là các hồ sơ về khảo sát, thiết kế, dự
toán, thiết kế công trình về các thiết bị dụng cụ, thiết bị điện, các công trình xây dựng
khác, thực hiện theo hợp đồng kinh tế và tham gia nghiên cứu khoa học.

2.1.3 Đặc điểm ngành nghề hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH
đầu tư kỹ thuật 4D
Trong cơ chế thị trường cạnh tranh khắc nghiệt và ngày một biến động như hiện
nay thì thông tin thị trường rất quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh vật tư
ngành điện. Ban lãnh đạo công ty đã luôn khảo sát, nắm bắt thông tin thị trường để
phân tích thông tin về khách hàng, thông tin về công trình xây dựng và các thiết bị
điện, thông tin các dự án,.. để có thể đưa ra quyết định tư vấn xây dựng và tham gia
xây dựng cũng như thiết kế các công trình xây dựng thiết bị điện đúng đắn và đạt hiệu
quả. Việc kinh doanh của công ty được thực hiện qua sơ đồ chung sau:

22

Thang Long University Library


Sơ đồ 2.2. Quy trình sản xuất kinh doanh chung
Bước 1: Tìm kiếm
thông tin về hợp
đồng xây dựng
các thiết bị điện

Bước 2: Xem xét,
nghiên cứu, phân
tích thông tin và
tham gia đấu thầu

Bước 5: Nghiệm
thu và bàn giao
công trình.

Bước 3: Kí kết
hợp đồng xây
dựng, lắp đặt

Bước 4: Tiến hành
thi công công
trình

(Nguồn: Phòng quản lý – Kỹ thuật)
Bƣớc 1: Tìm kiếm, thu nhập thông tin về hợp đồng xây dựng, lắp đặt các thiết bị
điện:
 Tìm kiếm những thông tin mời thầu qua các phương tiện truyền thông như: báo chí,
truyền hình.., các giấy mời thầu.
 Sau khi tiếp nhận thông tin, Công ty sẽ phân đơn vị, người có trách nhệm sẽ liên hệ
tới các nhà thầu để thu thập những thông tin đến hồ sơ mời thầu.
Bƣớc 2: Xem xét, nghiên cứu phân tích thông tin và tham gia đấu thầu:
 Mua, tiếp nhận hồ sơ dự thầu và lặp phương án sản xuất với từng sản phẩm, từng
công trình để tham gia đấu thầu, lập hồ sơ dự thầu công ty.
 Nộp hồ sơ và tham gia dự thầu, khi nhận được thông báo trúng thầy từ nhà đầu tư
thì công ty chuẩn bị hồ sơ, giấy tờ liên quan cho đến việc kí kết hợp đồng.
Bƣớc 3: Kí kết hợp đồng xây dựng, lắp đặt:
 Sau khi kí kết hợp đồng, Công ty tiến hành lâp kế hoạch thi công, bố trí nhân công,
giao nhận mặt bằng xây dựng các thiết bị và dụng cụ điện.
Bƣớc 4: Tiến hành thi công công trình:
 Tổ chức các tổ đội thi công tiến hành thực hiện xây dựng như: thi công và nghiệm
thu các công tác lắp đặt, hoàn thiện.
 Tổ chức quản lý hoạt động xây lắp chặt chẽ đảm bảo chất lượng công trình phù hợp
và đúng với thiết kế đã xây dựng.
Bƣớc 5: Nghiệm thu và bàn giao công trình:
 Ban chỉ huy công trường tổ chức nghiệm thu khối lượng và chất lượng công trình,
sau đó lập bản nghiệm thu thanh toán chờ phê duyệt.
 Công trình hoàn thành phù hợp và đảm bảo đúng thiết kế công ty tổ chức bàn giao
công trình cho chủ đầu tư và đưa vào sử dụng.
23


2.1.4 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH đầu tư kỹ
thuật 4D
Tình hình hoạt động của một Công ty được thể hiện rõ nhất trong hệ thống bảng
khai, sổ sách và báo cáo tài chính của nó. Đặc biệt, qua các báo cáo tài chính, những
người quan tâm (như nhà đầu tư hay nhà quản lý) có thể dễ dàng tìm thấy được những
thông tin tài chính quan trọng bên trong doanh nghiệp.
Qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và biểu đồ mức biến động phía
dưới tổng doanh thu của Công ty TNHH đầu tư kỹ thuật 4D trong 3 năm 2011, 2012
và 2013 ta thấy, năm 2012 tình hình doanh thu vẫn tương đối ổn định so với năm 2011
chỉ tăng ở mức nhỏ tương ứng doanh thu tăng 3,95%. Tiếp đến năm 2013, doan thu
tăng xấp xỉ 5,8 tỷ so với năm 2012, mức tăng này tương ứng 38,73%, sự tăng lên đáng
kể này là do tình hình kinh tế vĩ mô đã ổn định hơn, lạm phát được kiềm chế, lãi suất
cho vay đã giảm so với cuối năm 2012, đồng thời số lượng đơn hàng của Công ty tăng
lên do đã có uy tín cũng như tạo nền tảng tin tưởng ở khách hàng nên số hợp đồng đã
gia tăng đang kể trong năm 2012 và 2013, điều này tác động không nhỏ đến tổng
doanh thu của Công ty trong một năm.

24

Thang Long University Library


Bảng 2.1. Báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty năm 2011 – 2013
(Đơn vị tính: đồng)
Chênh lệch
Chỉ tiêu

Doanh thu BH và CCDV

Năm 2013

Năm 2012

Năm 2011

2013 so với 2012

2012 so với 2011

Số tiền

Số tiền

(%)
38,73

562.755.070

3,95

-

-

-

-

Doanh thu thuần

20.538.520.509 14.804.764.956 14.242.009.886 5.733.755.553

38,73

562.755.070

3,95

GVHB

18.956.425.300 13.243.361.902 11.638.241.588 5.713.063.398

43,14

1.605.120.314

13,79

Các khoản giảm trừ

Lợi nhuận gộp
Doanh thu tài chính

20.538.520.509 14.804.764.956 14.242.009.886 5.733.755.553

(%)

-

-

-

1.582.095.209

1.561.403.054

2.603.768.298

8.592.390

15.303.774

24.328.067

53.192.824

29.452.047

(53.192.824)

(100)

23.740.777

80,61

Chi phí tài chính

20.692.155

1,33 (1.042.365.244) (40,03)

(6.711.384) (43,85)

(9.024.293) (37,09)

Trong đó: Chi phí lãi vay

-

-

-

-

-

-

-

Chi phí bán hàng

-

-

-

-

-

-

-

1.205.642.500

1.165.742.065

1.951.085.750

39.900.435

3,42

(785.343.685) (40,25)

385.045.099

357.771.939

647.558.567

27.273.160

7,62

(289.786.628) (44,75)

Chi phí quản lý
Lợi nhuận thuần

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×