Tải bản đầy đủ

Đề cương môn hệ thống chính trị câu hỏi và trả lời

Câu 1: Trình bày quan niệm về đảng chính trị: Khái niệm, sự ra đời và
chức năng của đảng chính trị?
1. Khái niệm
Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về đảng chính trị, một nha
khoa học chính trị nổi tiếng người Mỹ Anthony Downs có đưa ra định nghĩa: “Một
đảng chính trị la một đội ngũ, gồm nhiều người, tìm kiếm việc kiểm soát chính quyền
một cách chính danh, thông quan việc thực hiện một cuộc bầu cử”.
Một người khác la Neumann thì cho rằng đảng chính trị la : “Một tổ chức công
khai của các nha hoạt động chính trị xã hội có liên quan đến việc kiểm soát quyền lực
của nha nước, những người nay cạnh tranh với nhau trong việc tìm kiếm sự ủng hộ tư
một hay nhiều nhóm khác nhau. Thông thường , đảng chính trị đóng vai trò trung
gian để kết nối giữa các lực lượng trong xã hội với các hệ thống giá trị tư các định
chế nha nước va liên quan đến đảng chính trị đó thông qua các hanh động chính trị
trong một cộng đồng chính trị rộng hơn”.
Nói một cách đơn giản, đảng chính trị la các tổ chức thường trực của các công
dân, bao gồm các đảng viên tham gia một cách tự do, có những chương trình hoạt
động cụ thể nhằm tổ chức thực hiện quyền lực chính trị ma đảng đó nắm giữ, thông
qua các hoạt độg quản lý va giải quyết các vấn đề nha nước va xã hội. Việc thực hiện
việc tổ chức quyền lực của đảng chính trị đó bắt đầu với việc đảng gianh được quyền
lực thông qua những cuộc bầu cử dân chủ.
2. Sự ra đời

Sự xuất hiện của các đảng chính trị theo cách hiểu như của chúng ta về đảng
chính trị hiện nay, chỉ được biết đến sau những năm cuối của thế kỷ XVII. Cho đến
nay, những tai liệu lịch sử không cho chúng ta biết gì về đảng chính trị thời kỳ Hy –
La. Những người Hy lạp cổ xưa la những người tiên phong trong việc phát triển dân
chủ nhưng họ cũng không có tổ chức nao giống như các đảng chính trị hiện nay. Nghị
viện của người La mã cổ đại có hai nhóm đại diện cho lợi ích của hai nhóm dân cư la
Patricians va Plebeians, nhưng cũng không phải la đảng chính trị. Trong nhiều thế kỷ,
sau sự sụp đổ của đế chế La mã ( năm 476 sau Công nguyên), người dân châu Âu
cũng có ban luận về các vấn đề chính trị, nhưng không phải thứ chính trị như bây giờ.
Sự xuất hiện của đảng chính trị đầu tiên trên thế giới có lẽ bắt đầu tư nước
Anh, trong thời kỳ được gọi la Popish Plot năm 1678, với hai đảng đầu tiên được biết
đến với cái tên la đảng Whig va đảng Tory.
Cái tên Whig va Tory bắt đầu xuất hiện ở nước Anh tư cuối những năm
1670[1], Whig la một tư cổ trong tiếng Scotland chỉ những người đối lập với chính
quyền. Còn Tory la chỉ những người Ailen theo Thiên chúa giáo La mã, la những
người ủng hộ nha vua.
Những người theo đảng Whig muốn có một định chế để kiểm soát quyền lực
của Vua Anh, nhưng những người của đảng Tory lại muốn duy trì quyền lực tuyệt đối
của chế độ quân chủ.[2] Đảng Tory thì muốn có một vị vua mạnh mẽ, đầy quyền lực
để cai trị đất nước trong khi đảng Whig thì muốn người dân có nhiều quyền hơn trong
việc kiểm soát các hoạt động của chính quyền.
1


Về sau, Nghị viện Anh đã nắm quyền kiểm soát vương quyền, còn đảng Whig
va đảng Tory đã trở thanh những đảng được tổ chức chặt chẽ. Giai đoạn tư năm 1832
– 1846 la giai đoạn hình thanh hệ thống chính trị lưỡng đảng ở Anh quốc. Năm 1830
đảng Whig đổi tên la đảng Bảo thủ va có một số thay đổi mới[3].
The Polling (Bỏ phiếu), bức tranh nổi tiếng của họa sĩ William Hogarth, nằm
trong bộ bốn bức tranh “The Humours of an Election” (Sự hai hước của một cuộc bầu
cử) khắc họa cuộc bầu cử Hạ viện Anh năm 1754 ở hạt Oxfordshire. Trong bức tranh
nay, các ứng cử viên của đảng Whig va đảng Tory đang lôi kéo cử tri bỏ phiếu cho
mình bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, trong đó có cả việc lôi người bị tâm thần va
người sắp chết đi bỏ phiếu. Ảnh: Wikipedia
Tuy nhiên, một nhánh của đảng Whig đã tách ra va phát triển theo một hướng
khác va hình thanh nên đảng Tự do (Liberal). Đến năm 1918 thì đảng Tự do suy thoái
dần dần. Va một đảng mới xuất hiện thay thế vai trò của đảng Tự do, đó chính la
Công đảng.[4] Hiện nay, hệ thống chính trị Anh quốc có hai đảng thay nhau cầm
quyền (nên các nha nghiên cứu gọi la hệ thống chính trị lưỡng đảng ) la Công đảng
va đảng Bảo thủ.

Còn tại Mỹ, Hamilton va một số người ủng hộ muốn xây dựng một chính
quyền trung ương mạnh, cho nên, năm 1787, họ đã thanh lập một liên minh chính trị
va gọi đó la đảng Người liên bang (the Federalists), đây chính la đảng chính trị đầu
tiên ở Hoa Kỳ.[5] Năm 1796, một nhóm đối lập với quan điểm của Người liên bang
đã tập hợp lại dưới sự lãnh đạo của Thomas Jefferson, họ muốn hạn chế quyền lực
của chính quyền liên bang. Các thanh viên trong nhóm nay đã gọi tên đảng của họ la
đảng Cộng hoa – Dân chủ.
Các doanh nhân, chủ ngân hang, các thương nhân ở phía Bắc thì ủng hộ cho
đảng Người liên bang, còn các chủ trang trại nhỏ, các nông dân va thợ thủ công thì
ủng hộ cho đảng Cộng hoa – Dân chủ. Về chính sách đối ngoại thì đảng Người liên
bang nghiêng về ủng hộ nước Anh, trong khi đảng Cộng hoa – Dân chủ lại ủng hộ
cho cuộc cách mạng Pháp. Lãnh đạo đảng Người liên bang đầu tiên la John Adams,
người đã nối tiếp George Washington giữ chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ. Tuy nhiên, tư
năm 1800 đảng Người Liên bang đã bị gianh mất chính quyền bởi đảng Cộng hoa –
Dân chủ. Đảng Người liên bang đã chỉ còn một số lượng đảng viên ít ỏi trong giai
đoạn tư năm 1800 đến năm 1820.[6]
Kể tư 1820 trở đi, đời sống chính trị Hoa Kỳ đã có những sự thay đổi đáng kể,
xuất hiện thêm nhiều quan điểm đối chọi nhau của các chính khách trên khắp đất
nước. Chính điều đó đã dẫn tới cuộc nội chiến Hoa Kỳ. Các chủ trang trại ở miền
Bắc, các nông dân ở biên giới phía Tây, các chủ ngân hang va các nha buôn ở miền
Bắc muốn chính quyền liên bang thực hiện một số chính sách, trong đó có việc duy
trì chế độ nô lệ.
Năm 1828, một đảng viên của đảng Cộng hoa – Dân chủ la Andrew Jackson đã
tham gia ứng cử Tổng Thống. Ông ta đã thanh lập một đảng của riêng mình, tách ra
tư đảng Cộng hoa – Dân chủ va đặt tên la đảng Dân chủ (Democrats). Những người
thuộc đảng Người Liên bang trước đây đã tập hợp cùng những người chống lại đảng
2


Dân chủ đã thanh lập một liên minh gọi la Quốc gia Cộng hoa. Đảng nay cũng còn
được gọi la đảng Whig.[7]
Năm 1854, sự tranh cãi về vấn đề nô lệ đã phủ một bóng đen lên nền chính trị
Hoa Kỳ. Với sự chia rẽ quan điểm trong vấn đề duy trì hay không duy trì chế độ nô lệ
đã khiến lực lượng của cả hai đảng Cộng hoa va đảng Whig bị phân rã. Cũng trong
năm nay, lực lượng chống lại việc duy trì chế độ nô lệ đã liên minh với lực lượng gọi
la Đất tự do để thanh lập một đảng lấy tên la Đảng Cộng hoa (Republican Party).[8]
Lúc nay Hoa Kỳ gồm rất nhiều đảng chính trị, lịch sử ghi nhận giai đoạn nay
Hoa Kỳ có 6 đảng chính trị khác nhau, tuy nhiên sau cuộc Đại suy thoái 1929 – 1933,
Hoa Kỳ đã chuyển sang giai đoạn lưỡng đảng chi phối toan bộ nền chính trị Hoa Kỳ
dù vẫn còn có những đảng chính trị khác cùng tồn tại. Cho đến nay, mặc dù có nhiều
đảng chính trị cùng tồn tại, nhưng thực chất Hoa Kỳ chỉ la hệ thống chính trị lưỡng
đảng, với hai đảng thay nhau va cạnh tranh với nhau để cầm quyền la đảng Dân chủ
va đảng Cộng hòa.
Còn tại Đức, quá trình xuất hiện đảng chính trị bắt đầu tư thế kỷ XIX[9]. Khởi
đầu, các đảng chính trị ở Đức thuộc về bốn nhóm, bao gồm: Tự do, Bảo thủ, Xã hội
va Thiên chúa giáo. Sau nay cùng với quá trình công nghiệp hóa va phát triển đô thị,
dẫn tới sự lớn mạnh của giai cấp công nhân ở Đức. Dưới sự ảnh hưởng của học
thuyết Marx va bối cảnh ra đời của nhiều đảng xã hội ở các nước châu Âu lúc đó, một
đảng xã hội với tên gọi la Đảng Xã hội Dân chủ của Công nhân (Social Democratic
Workers Party) được thanh lập năm 1869[10], đây la đảng chính trị đầu tiên ở Đức.
Tuy vậy, cho đến nay, hệ thống chính trị của Đức đang có 7 đảng chính trị, bao gồm:
Liên minh Dân chủ Thiên chúa giáo; đảng Dân chủ xã hội; đảng Dân chủ tự do; đảng
Xanh; đảng Cánh tả; Liên minh Xã hội Thiên chúa giáo; đảng Hải tặc[11].
Wilhelm Liebknecht va August Bebel, hai lãnh đạo đầu tiên của Đảng Xã hội
Dân chủ của Công nhân Đức, chính đảng đầu tiên ở nước nay. Họ la những người
chịu ảnh hưởng của học thuyết xã hội chủ nghĩa của người đồng hương Karl Marx.
Tại Pháp, sau cuộc Đại cách mạng Pháp năm 1789, đã dẫn đến việc thanh lập
các đảng chính trị, ở Pháp hiện nay bao gồm 6 đảng chính trị khác nhau[12].
Sau đó, ảnh hưởng của nền dân chủ phương Tây cùng với việc thực hiện các
chương trình bầu cử đã lan rộng đến nhiều nơi trên thế giới. Tư Tây âu cho tới Bắc
Mỹ, cũng như nhiều quốc gia tại châu Mỹ La tinh va châu Á, nền dân chủ được tổ
chức thực hiện dựa trên sự cạnh tranh của các đảng chính trị đã trở thanh một khuôn
mẫu cho các thể chế chính trị khác học tập va xây dựng. Nhưng ở một số nước tại
khu vực Đông Âu cùng với Nga va Trung Quốc đã thay đổi tư một quốc gia quân chủ
tuyệt đối sang một hệ thống chính trị dựa trên một đảng duy nhất cầm quyền.
Trong quá trình công nghiệp hóa va hiện đại hóa phát triển mạnh mẽ trên thế
giới, các hệ thống chính trị độc đảng ở Đông Âu đã thất bại trong việc duy trì phát
triển kinh tế quốc gia, trong khi đó các hệ thống chính trị lưỡng đảng va đa đảng của
các nước phương Tây lại đạt được nhiều thanh tựu lớn trong quá trình phát triển. Cho
đến cuối những năm 1980, trước sự thất bại của mô hình chính trị độc đảng, sau sự
kiện bức tường Berlin sụp đổ năm 1989, nhiều quốc gia Đông Âu đã phải chuyển tư
chế độ độc đảng sang chế độ đa đảng để kiến tạo va phát triển nền dân chủ. Cũng
3


-

trong thời gian nay, nhiều quốc gia châu Á cũng như châu Phi đã phải chịu nhiều áp
lực trong việc dân chủ hóa hệ thống chính trị của họ.
3. Chức năng
- Các đảng chính trị la nền tảng cho hoạt động của chính phủ, quốc hội có thể
thực hiện được trên thực tế
Quốc hội hay nghị viện bao gồm các địa diện của nhân dân. Các đảng chính trị
tham gia vao quy trình thanh lập những cơ quan quyền lực nay theo đường lối, chính
sách chung của mình để vận động cử tri ủng hộ. Theo chiều ngược lại, các cử tri chọn
đại diện của họ trên cơ sở tham gia va đặt niềm tin vao một sô đảng ct nhất định.
Chính đnagr ma có được đa số phiếu bầu sẽ thanh lập sẽ thanh lập chính phủ va điều
hanh nha nước, trong khi các đnagr khác trong cơ quan lập pháp tạo thanh phe đối lập
va cố gắng tìm ra các thiếu sót với chính phủ, do đó lam cho chính phủ trở nên có
trách nhiệm hơn. Nếu thiếu vắng sự có mặt của các đảng chính trị, các đại bieu dân
cử có thể lam việc với các mục tiêu chồng chéo tư lợi hay chỉ phục vụ mục tiêu cho
chính đảng của mình. Điều nay lam cho việc hình thanh của một chính phủ hiệu quả
va bị giám sát la không thể thực hiện.
Các đảng chính trị xây dựng các chính sách công cộng
Các đảng chính trị giúp định hướng va hỗ trợ công luận
Các đảng chính trị tạo nên sự ổn định chính trị
Các đảng chính trị giúp chiêu mộ những nha lãnh đạo toan diện
Câu 2 : Trình bày quan niệm về đảng lãnh đạo: Khái niệm, điều kiện xác
lập và duy trì vai trò lãnh đạo của đảng lãnh đạo?
1

Khái niệm

Khái niệm Đảng lãnh đạo có ý nghĩa rộng lớn va sâu sắc. Khái niệm nay không
chỉ biểu đạt vai trò của Đảng - Đảng la lực lượng lãnh đạo, ma còn nói rõ nội dung,
tính chất hoạt động chủ yếu của Đảng - đó la hoạt động lãnh đạo. Nó phân biệt rõ:
Đảng lãnh đạo chứ Đảng không quản lý; Đảng la tổ chức lãnh đạo chứ không phải la
cơ quan quản lý; Đảng không có quyền lực nha nước; Đảng không lam thay công
việc quản lý của cơ quan nha nước; Đảng chỉ thực hiện việc quản lý tổ chức đảng va
đảng viên trong nội bộ Đảng theo Điều lệ Đảng. Khái niệm Đảng lãnh đạo cũng
không giới hạn ở việc Đảng chỉ lãnh đạo Nha nước, ma Đảng lãnh đạo đối với tất cả
các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội va toan xã hội; Đảng
không chỉ lãnh đạo chính trị, ma lãnh đạo cả tư tưởng, tổ chức, cán bộ. Dĩ nhiên,
Đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước xã hội về các quyết định của mình.
Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện ở việc Đảng đề ra cương lĩnh, chiến lược,
đường lối phát triển chung của đất nước để định hướng, tạo cơ sở cho Nha nước thể
chế hóa, cụ thể hóa thanh luật pháp, chính sách, các chương trình, kế hoạch va tổ
chức thực hiện, Mặt trận Tổ quốc va các tổ chức chính trị - xã hội đề ra các chương
trình, kế hoạch công tác va vận động các tầng lớp nhân dân, đoan viên, hội viên thực
hiện; Đảng lãnh đạo nhân dân bầu ra các cơ quan nha nước, kiện toan va nâng cao
chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nha nước; Đảng tiến hanh công tác tuyên
truyền, thuyết phục, vận động đối với các tầng lớp nhân dân; Đảng chuẩn bị va giới
4


thiệu các đảng viên ưu tú để nhân dân bầu vao cơ quan lãnh đạo của Nha nước, Mặt
trận Tổ quốc va các tổ chức chính trị - xã hội; Đảng kiểm tra, giám sát hoạt động của
các cơ quan nha nước, Mặt trận Tổ quốc va các tổ chức chính trị - xã hội; Đảng lãnh
đạo Nha nước, Mặt trận Tổ quốc va các tổ chức chính trị - xã hội lam tốt công tác vận
động nhân dân; Đảng giáo dục, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên
công tác trong các cơ quan nha nước, Mặt trận Tổ quốc va các tổ chức chính trị - xã
hội, các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp, các lực lượng vũ trang.
Vị thế lãnh đạo Nha nước va xã hội, la lực lượng duy nhất lãnh đạo Nha nước
va xã hội ma Đảng có được bắt nguồn tư sự tín nhiệm của nhân dân, tư uy tín của
Đảng đối với nhân dân, với dân tộc. Qua thực tiễn cách mạng đầy khó khăn, hy sinh,
gian khổ trong đấu tranh gianh độc lập dân tộc, lật đổ chế độ cũ cũng như thực tiễn
xây dựng CNXH, thực tiễn công cuộc đổi mới, nhân dân ta đã suy tônĐảng Cộng sản
Việt Nam la lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo Nha nước va xã hội
(cũng như nhân dân ủy quyền, trao quyền lực nha nước, quyền lực công cho các cơ
quan nha nước do nhân dân bầu ra để quản lý đất nước).
Chính V.I. Lênin tưng chỉ rõ: sự đồng tình va ủng hộ của đại đa số nhân dân
lao động đối với đảng cộng sản la nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng vô sản,
nhưng “sự đồng tình va ủng hộ đó không thể có ngay được va không phải do những
cuộc bỏ phiếu quyết định, ma phải trải qua một cuộc đấu tranh giai cấp lâu dai, khó
khăn, gian khổ mới gianh được. Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản để gianh
lấysự đồng tình, để gianh lấysự ủng hộ của đa số nhân dân lao động không phải kết
thúc khi giai cấp vô sản đã cướp được chính quyền. Sau khigianh được chính quyền,
cuộc đấu tranh đó vẫn tiếp tụcnhư trước, có điều la với hình thức khácma thôi”(3).
Ngay nay, để giữ vững va xứng đáng với sự tín nhiệm đó, Đảng phải thật sự tiên
phong về trí tuệ, xây dựng Đảng luôn trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng va
tổ chức; có năng lực lãnh đạo va sức chiến đấu cao; liên hệ mật thiết với nhân dân;
v.v., chứ không phải chỉ bằng việc thực hiện các công việc thuộc chức năng, nhiệm
vụ của cơ quan nha nước, của Mặt trận Tổ quốc va các tổ chức chính trị - xã hội.
Chữ “lãnh đạo” trong khái niệm Đảng lãnh đạo vưa có nghĩa rộng, vưa phân
biệt với công việc quản lý. Nghĩa rộngla Đảng không chỉ lãnh đạo Nha nước, ma
Đảng lãnh đạo cả các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội va toan xã hội;
Đảng không chỉ lãnh đạo chính trị, ma Đảng lãnh đạo cả lĩnh vực kinh tế, văn hóa,
quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tức la tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trước
đây V.I. Lênin viết: “trong nước cộng hòa của chúng ta, không có một vấn đề chính
trị hay tổ chức quan trọng nao do một cơ quan nha nước giải quyết ma lại không có
chỉ thị của Ban Chấp hanh Trung ương Đảng”(4). Chữ “lãnh đạo” trong khái niệm
Đảng lãnh đạo còn ham chứa sự phân biệt giữa lãnh đạo với quản lýở chỗ: Đảng định
hướng, xác định quan điểm, chủ trương va chính sách lớn, không thực hiện các công
việc quản lý, điều hanh thay Nha nước, không lam thay Mặt trận Tổ quốc va các tổ
chức chính trị - xã hội. Đại hội đại biểu toan quốc của Đảng có vai trò rất quan trọng
la đề ra đường lối, nhưng - theo V.I. Lênin - “nếu tưởng rằng đại hội nay có thể giải
quyết được vấn đề thì lầm mất. Những quy định về pháp luật của chúng ta sẽ giải
quyết vấn đề ấy, nhiệm vụ của chúng ta chỉ la định đường lối nguyên tắc va nêu ra
khẩu hiệu. Đảng ta la một đảng cầm quyền va những quyết định do đại hội của đảng
5


thông qua la những điều ma toan nước Cộng hòa phải tuân theo; cho nên, ở đây,
chúng ta cần phải giải quyết vấn đề ấy về nguyên tắc”(5). Đối với Nha nước, Đảng
“đưa ra cương lĩnh của Chính quyền xô-viết. Việc nói rõ đặc điểm của kiểu nha nước
mới phải chiếm một địa vị quan trọng trong cương lĩnh của chúng ta”(6). V.I. Lênin
tưng khẳng định: “cần phân định một cách rõ rang hơn nữa những nhiệm vụ của
Đảng (va của Ban Chấp hanh Trung ương của nó) với nhiệm vụ của Chính quyền xôviết; tăng thêm trách nhiệm va tính chủ động cho các cán bộ xô-viết va các cơ quan
xô-viết, còn về đảng thì danh quyền lãnh đạo chung công tác của tất cả các cơ quan
nha nước gộp chung lại, ma không can thiệp một cách quá thường xuyên, không
chính quy va thường la nhỏ nhặt, như hiện nay”(7). Đảng lãnh đạo bằng đường lối,
chủ trương lớn, còn Nha nước quản lý bằng pháp luật, chính sách va các công cụ
khác theo quy định của pháp luật, Mặt trận Tổ quốc va các tổ chức chính trị - xã hội
hoạt động theo điều lệ của tưng tổ chức; Đảng không quản lý cơ quan nha nước, Mặt
trận Tổ quốc va các tổ chức chính trị - xã hội, chỉ quản lý tổ chức đảng va đảng viên
công tác trong các cơ quan, tổ chức đó.
2

Điều kiện xác lập va duy trì vai trò lãnh đạo của đảng lãnh đạo

Lãnh đạo thuộc về vai trò va trọng trách của Đảng, để thực hiện sứ mệnh lịch
sử của Đảng, đối với giai cấp công nhân va nhân dân, dân tộc.
Điều kiện xác lập va duy trì vai trò lãnh đpạ của đnagr lãnh đạo xuất phát tư
bản chất, vai trò, uy tín của đảng, được nhân dân tin tưởng, lựa chọn va ủy thác.
Đảng ra đời va thực hiện vao trò lãnh đạo của mình đối với phong trao cách
mạng la một tất yếu lịch sử. Lãnh đạo của Đảng diễn ra trong cách mạng giải phóng
dân tộc, khi Đảng va nhân dân chưa gianh được chính quyền. Để gianh lấy chính
quyền về tay giai cấp công nhân va nhân dân lao động, Đảng lãnh đạo toan dân đấu
tranh lật đổ chính quyền của đế quốc thực dân va phong kiến. Đó la mục tiêu trực tiếp
của lãnh đạo của Đảng. Khi đó, Đảng lãnh đạo nhưng Đảng chưa cầm quyền.
Đến khi cuộc cách mạng chính trị gianh quyền lực về tay nhân dân do Đảng
lãnh đạo đã thắng lợi, đánh đổ quyền thống trị cũ, xác lập quyền lực của nhân dân
trong một Nha nước kiểu mới thì tư đây, Đảng trở thanh Đảng cầm quyền, đó la Đảng
lãnh đạo trong điều kiện Đảng va nhân dân đã có chính quyền trong tay mình. Đảng
lãnh đạo Nha nước va xã hội. Ở đây Đảng lãnh đạo đồng thời cầm quyền. Lãnh đạo
thống nhất với cầm quyền. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã
khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam la Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nha nước va xã
hội”. Đảng Cộng sản cầm quyền la đảng đã gianh được chính quyền, xây dựng va sử
dụng chính quyền lam công cụ mạnh mẽ, sắc bén của giai cấp công nhân va nhân dân
lao động trong quá trình lãnh đạo xây dựng va bảo vệ Tổ quốc.
Lãnh đạo biểu hiện qua cầm quyền, thông qua cầm quyền để thực thi vai trò
lãnh đạo, thực hiện sứ mệnh, mục tiêu, lý tưởng của Đảng la xây dựng thanh công
chủ nghĩa xã hội, vì Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của nhân dân, dân tộc.
Để có va giữ vững địa vị lãnh đạo, thì ngoai việc Đảng phải thường xuyên
nâng cao năng lực lãnh đạo, Đảng còn phải thường xuyên nâng cao năng lực cầm
quyền của mình, lam tốt công tác tổ chức cán bộ, bảo đảm hiệu quả cao trong quản lý
của Nha nước bởi đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng ở các cơ quan quyền lực nha
6


nước va trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc
phòng, an ninh, đối ngoại... Việc thực hiện tốt các mặt hoạt động nêu trên sẽ la điều
kiện tiên quyết để Đảng luôn giữ vững được lòng tin yêu của nhân dân đối với Đảng,
tư đó nhân dân mới danh nhiều lá phiếu tiến cử các cán bộ thay mặt Đảng vao các cơ
quan quyền lực nha nước tư trung ương đến địa phương trong những đợt bầu cử,
trưng cầu ý kiến nhân dân.
Một trong những vấn đề căn bản nhất để thực hiện vai trò lãnh đạo va cầm
quyền của Đảng la lam thế nao để không ngưng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của Đảng đồng thời nâng cao cả năng lực va bản lĩnh cầm quyền của Đảng
trong điều kiện đã có chính quyền, trong bước chuyển của tình hình, nhiệm vụ mới
với những yêu cầu mới xuất hiện, với những vấn đề mới đặt ra trên con đường phát
triển của cách mạng, thuận lợi đan xen cùng khó khăn, thời cơ đi liền với thách thức

Câu 3: Trình bày quan niệm về đảng cầm quyền, ĐCS cầm quyền và tính
chính đáng của ĐCS cầm quyền?
1

Đảng cầm quyền

“Đảng cầm quyền” la khái niệm dùng trong khoa học chính trị, chỉ một đảng
chính trị đại diện cho một giai cấp đang nắm giữ va lãnh đạo chính quyền để điều
hanh, quản lý đất nước nhằm thực hiện lợi ích của giai cấp mình. Đối với Đảng ta,
khái niệm “Đảng cầm quyền” la để chỉ vai trò của Đảng khi đã gianh được chính
quyền; cũng có nghĩa la Đảng lãnh đạo khi đã có chính quyền; Đảng lãnh đạo toan xã
hội bằng chính quyền, thông qua chính quyền va các đoan thể nhân dân.
Đảng cầm quyền bao giờ cũng giữ vai trò lãnh đạo, chi phối toan bộ hệ thống
chính trị, đặc biệt va trực tiếp nhất la nha nước; bằng nha nước va thông qua nha
nước để thực hiện mục tiêu, chiến lược của mình. Gianh, giữ va thực thi quyền lực
nha nước la một hoạt động cơ bản của các đảng chính trị. Tùy theo điều kiện kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội của tưng nước cũng như mục tiêu theo đuổi ma mỗi đảng
cầm quyền có những phương thức tổ chức va hoạt động khác nhau, song đều nhằm
tới một hướng đích la gianh, thực thi va chi phối quyền lực nha nước, tư đó chi phối
va thực thi quyền lực của đảng mình đối với các đảng khác va với toan xã hội.
Các đảng chính trị khi đã cầm quyền đều tuân theo những nguyên tắc chung la
lãnh đạo, chi phối, sử dụng quyền lực nha nước, sử dụng sức mạnh, các phương tiện
vật chất đã được thiết chế hóa của nha nước để thực hiện mục tiêu của đảng mình,
của giai cấp mình. Song, mỗi đảng chính trị khác nhau đều có những phương thức
lãnh đạo va cách thức tổ chức thực hiện khác nhau tùy thuộc vao quan điểm, tư
tưởng, tương quan lực lượng trong hệ thống chính trị, tùy thuộc vao điều kiện khách
quan của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước va cả nhân tố chủ quan của
chính đảng cầm quyền. Vì thế, đảng cầm quyền la vấn đề quan trọng của hệ thống
chính trị của tất cả các quốc gia.
2

Đcs cầm quyền
7


Đảng Cộng sản cầm quyền la khái niệm chỉ thời kỳ Đảng đã gianh được chính
quyền, thiết lập hệ thống chính trị mới, thực hiện quyền lam chủ của nhân dân, tiến
hanh xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đảng Cộng sản cầm quyền mới chỉ bắt đầu tư sau thắng lợi của cách mạng
Tháng Mười Nga, năm 1917 với sự ra đời của nước Nga Xô Viết va sau đó la một
loạt nước Đông Âu va châu Á tư sau chiến tranh thế giới thứ II.
Sau hơn 7 thập kỷ xây dựng chủ nghĩa xã hội, vao thập kỷ cuối cùng của thế kỷ
XX, chính biến đã xảy ra ở Liên Xô va hang loạt các nước xã hội chủ nghĩa, nhất la ở
Đông Âu. Đảng Cộng sản mất vai trò cam quyền, thể chế Nha nước va chế độ xã hội
chủ nghĩa đổ vỡ, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới không còn tồn tại, trật tự thế giới
hai cực đối đầu Xô - Mỹ thay đổi, trở thanh đa cực, đa trung tâm với vai trò thao túng
của Mỹ. Chủ nghĩa xã hội hiện thực lâm vao một cuôc khủng hoảng trầm trọng,
phong trao cách mạng thế giới lâm vao thoái trao, dù la tạm thời nhưng diễn biến
phức tạp, đầy khó khăn, thử thách. Tư thời điểm đó cho đến nay, trên thế giới chỉ còn
một số ít các nước xã hội chủ nghĩa va các đảng cộng sản cầm quyền. Các nước, các
đảng nay đều phải thông qua cải cách, đổi mới để tồn tại va phát triển.
Thời của Mác va Ăngghen, Đảng Cộng sản còn tồn tại dưới hình thức Liên
đoan, các ông đã soạn thảo tác phẩm nổi tiếng “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”
(1948) được đánh giá la Cương lĩnh chính trị của phong trao công nhân nhưng Đảng
Cộng sản chưa gianh được chính quyền va chưa cầm quyền. Mác va Ăngghen chỉ
duy nhất chứng kiến sự kiện công xã Pari, nhưng công xã- hình thái chính quyền đầu
tiên, của giai cấp công nhân cách mạng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn 72 ngay
rồi thất bại. Các ông chưa có va cũng không thể có những dữ kiện thực tế để ban tới
lý luận Đảng Cộng sản cầm quyền. Đến cách mạng tháng Mười Nga, năm 1917, với
sự ra đời của nước Nga Xô Viết, Đảng Cộng sản đã cầm quyền nhưng Lênin chỉ trực
tiếp lãnh đạo Đảng va Nha nước Xô viết trong một thời gian ngắn, được 7 năm
(1917–1924) thì qua đời. Những kiến giải của Lênin về bản chất của Đảng, về
nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, về Đảng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo Nha
nước đã đặt nền móng cho việc xây dựng lý luận về Đảng cầm quyền ma Ông gọi la
Đảng chấp chính. Tư thực tiễn cải cách kinh tế, xây dựng Đảng lãnh đạo va cầm
quyền trong bối cảnh của NEP, Lênin đã có những chỉ dẫn quan trọng về tổ chức
Đảng, phẩm cách đảng viên, mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng, công tác kiểm
tra, giám sát của Đảng… Ông cũng cảnh báo nghiêm khắc về những kẻ thù nguy
hiểm: bệnh kiêu ngạo cộng sản, tệ quan liêu nha nước va nạn hối lộ như những độc tố
có thể giết chết sự sống của Đảng, lam cho chủ nghĩa xã hội như một mầm non mới
nhú, còn yếu ớt, có thể thất bại. Những kẻ thù nguy hiểm đó, đặt Đảng va sự nghiệp
chủ nghĩa xã hội do Đảng lãnh đạo trước những nguy cơ lớn. sau khi Lênin mất va
trong thời gian dai mấy thập kỷ, trong đời sống của chủ nghĩa xã hội hiện thực, trong
nội bộ các Đảng Cộng sản cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa sau nay, những
cảnh báo va nguy cơ do Lênin đưa ra đã không được khắc phục, tư đó góp phần cùng
với nhiều nguyên nhân khác dẫn đến lam sụp đổ cả chế độ, lam tan rã cả hệ thống.
Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh la người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Đảng
cầm quyền”. “Trong Di chúc”, Người viết: “Đảng ta la một đảng cầm quyền. Mỗi cán
bộ va đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm
8


chính, chí công vô tư. Phải gìn giữ Đảng ta thật sự trong sạch, phải xứng đáng la
người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thanh của nhân dân”. Người nhấn mạnh Đảng
cầm quyền có trách nhiệm rất lớn đối với đất nước, với cuộc sống vật chất, tinh thần
của nhân dân. Đảng phải lo tư việc lớn như phát triển kinh tế, văn hóa… đến những
việc nhỏ như tương, ca, mắm, muối cần thiết cho đời sống hang ngay của nhân dân.
3

Tính chính đáng của ĐCS cầm quyền

Theo V.I. Lenin, đảng cộng sản muốn xây dựng được tính chính đáng của
mình cần phải chú ý đến cả giai đoạn trước va sau khi đã có chính quyền. Muốn có
được vai trò cầm quyền, đảng cộng sản phải xây dựng cho mình tính chính đáng tư
trước đó – tức giai đoạn chưa cầm quyền. Theo ông, hoạt động lãnh đạo của đảng
cộng sản la một hoạt động gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp cả trước va sau khi
giai cấp vô sản lãnh đạo nhân dân gianh được chính quyền, nhằm gianh lấy sự ủng hộ
của đông đảo nhân dân lao động đối với đảng – tức la đảng cộng sản phải chứng
minh được tính ưu vượt trội của mình so với các lực lượng khác trong xã hội để tạo
được sự ủng hộ của đại đa số nhân dân trong xã hội. V.I. Lenin cho rằng: “Không có
sự đồng tình va ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiên phong của
mình, tức la đối với giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được.
Nhưng sự đồng tình va ủng hộ đó không thể có ngay được va không phải do những
cuộc bỏ phiếu quyết định, ma phải trải qua một cuộc đấu tranh giai cấp lâu dai, khó
khăn, gian khổ mới gianh được. Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản để gianh
lấy sự đồng tình, để gianh lấy sự ủng hộ của đa số nhân dân lao động không phải kết
thúc khi giai cấp vô sản đã cướp được chính quyền. Sau khi gianh được chính quyền,
cuộc đấu tranh đó vẫn tiếp tục như trước, có điều la với hình thức khác ma thôi”.
Khi đã có chính quyền trong tay, theo V.I. Lenin, phương thức lãnh đạo của
đảng nói chung va của người đảng viên cộng sản nói riêng phải chủ yếu bằng thuyết
phục chứ không phải bằng các mệnh lệnh hanh chính. Ông rất quan tâm đến tính tiên
phong trong đường lối lãnh đạo của đảng. Chỉ khi nao đảng có được đường lối đúng
đắn, khi đó nhân dân mới tin tưởng va đi theo đảng va coi đây la nhiệm vụ đầu tiên,
kiên quyết để đảng cộng sản có tính chính đáng. V.I. Lenin cho rằng: “Nhiệm vụ thứ
nhất của bất cứ một chính đảng nao có trọng trách đối với tương lai la thuyết phục
cho đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn cảu cương lĩnh va sách lược của mình”.
Trong quá trình cầm quyền, phương thức lãnh đạo của Đảng không được gắn
với quyền lực. Theo V.I. Lenin, trong hoạt động lãnh đạo, người đảng viên không
được sử dụng quyền lực mang tính áp đặt, cưỡng bức. Hoạt động lãnh đạo của người
đảng viên có nội dung la “giúp đỡ những tầng lớp nhân dân”, đồng thời tuyên truyền,
vận động nhân dân đi theo đảng. V.I. Lenin đã phê phán nhiều đảng viên chưa biết
cách lãnh đạo. Bởi khi lãnh đạo, họ hay sử dụng các phương pháp, hình thức như: chỉ
đạo, ra các chỉ thị, mệnh lệnh…, tức la đã dùng quyền lực trong lãnh đạo. Cách lam
như vậy trong lãnh đạo đã bị V.I. Lenin phê phán nghiêm khắc, bởi chỉ đạo , chỉ thị la
những khái niệm tương đồng với điều hanh, quản lý va gắn với quyền lực. V.I. Lenin
đã tưng nhắc nhở những đảng viên cộng sản không biết cách lãnh đạo rằng, với tư
cách la một chủ thể thực hiện chức năng lãnh đạo thì không được ra những chỉ thị va
sắc lệnh.
9


Trong điều kiện đảng đã có chính quyền, V.I. Lenin đã cảnh báo các nguy cơ
lam giảm hoặc mất tính chính đáng trong cầm quyền của đảng. Theo ông, trong quá
trình lãnh đạo đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, để tránh tự mình lam suy yếu mình,
để luôn vững mạnh va lam tròn vai trò người lãnh đạo, đảng cần phải hết sức tránh
hai nguy cơ sau: Một la, sai lầm về đường lối; Hai la, quan liêu, thoái hóa biến chất
trong đảng. Theo ông, khi bước vao giai đoạn cách mạng mới, với tư cách đảng cầm
quyền, dễ xuất hiện trong đảng tâm lý chủ quan, lạc quan quá mức dẫn tới đơn giản
hóa trong công tác lãnh đạo mới, tư đó dẫn tới bệnh trì trệ, lười biếng không chịu học
hỏi, trau dồi lý luận khoa học va tổng kết thực tiễn lam giảm sút năng lực lãnh đạo
của đảng. Mặt khác, cũng do thái độ ngủ quên trên chiến thắng trong quá khứ, cộng
với sự tác động tiêu cực của xã hội lam xuất hiện trong đội ngũ đảng căn bệnh “kiêu
ngạo cộng sản”, bệnh quan liêu, xa rời quần chúng nhân dân. Thực tế cho thấy, trong
điều kiện đảng cầm quyền, lãnh đạo xây dựng phát triển kinh tế trong thời bình dễ
xảy ra sự sa ngã, thoái hóa biến chất trong đội ngũ đảng viên. Không ít trường hợp,
có những đảng viên trong đấu tranh gianh chính quyền thể hiện phẩm chất kiên trung,
trung thanh với đảng, gần gũi với nhân dân, song trong hòa bình lại biến chất, đánh
mất bản chất cộng sản của mình. Vì thế, V.I. Lenin luôn nhắc nhở rằng, không ai có
thể hạ uy tín của người cộng sản nếu người cộng sản không tự hạ uy tín của mình.
Đối với ông, sự dốt nát, tham nhũng, hối lộ, quan liêu xa rời quần chúng la những kẻ
đồng hanh, la kẻ thù nguy hiểm của cách mạng.
Sau nay, Hồ Chí Minh cũng luôn nhấn mạnh tới hai phẩm chất tuyệt đối cần có
ở một đảng cầm quyền, đó la phẩm chất đạo đức va phẩm chất tai năng. Ở một góc
nhìn khác, chúng ta cũng có thể nói, cả hai điều nêu lên hai nguy cơ ma một đảng
cầm quyền có thể mắc phải trong công tác lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội: nguy
cơ quan liêu hóa, xa rời quần chúng nhân dân va nguy cơ sai lầm trong việc xây dựng
đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước.

Câu 4: Trình bày sứ mệnh lịch sử và những nguy cơ của ĐCS cầm quyền?
1 Sứ mệnh lịch sử
Đảng cộng sản la tổ chức chính trị cao nhất của giai cấp công nhân, đại biểu
cho lợi ích va trí tuệ của giai cấp công nhân va toan thể nhân dân lao động.
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác va Ph.Ăngghen đã chỉ
rõ: "Những người cộng sản không phải la một đảng riêng biệt, đối lập với các đảng
10


công nhân khác. Họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nao tách khỏi lợi ích của toan
thể giai cấp vô sản" .
Giai cấp công nhân la cơ sở xã hội của đảng cộng sản, la nguồn bổ sung lực
lượng phong phú cho đảng cộng sản. Những đảng viên của đảng la những người công
nhân giác ngộ lý tưởng cách mạng, được trang bị lý luận cách mạng, tự giác gia nhập
đảng va được các tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân giới thiệu cho
đảng. Trong hang ngũ của đảng có những đảng viên không phải la công nhân, nhưng
phải la người giác ngộ về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân va luôn luôn phải
đứng trên lập trường, trên lợi ích của giai cấp công nhân.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản la tất yếu để đảm bảo cho giai cấp vô sản hoan
thanh sứ mệnh lịch sử.
Những cuộc đấu tranh đã tạo điều kiện cho giai cấp vô sản đoan kết thanh tổ
chức. Sự tổ chức như vậy thanh chính Đảng. Sự tồn tại, phát triển của Đảng vì sứ
mệnh của giai cấp vô sản. Đảng kết thúc vai trò khi sứ mệnh lịch sử thế giới của giai
cấp vô sản hoan thanh.
Trong cuộc đấu tranh, Đảng Cộng sản không chỉ tập hợp trong hang ngũ của
mình giai cấp vô sản ma cả các tầng lớp trung gian, những nha tiểu công nghiệp, tiểu
thương, thợ thủ công, nông dân. Song, khi sắp rơi vao hang ngũ vô sản họ đã tự
nguyện tư bỏ quan điểm của chính họ để đứng trên quan điểm của giai cấp vô sản,
bảo vệ lợi ích tương lai của họ. Hơn nữa, khi cuộc đấu tranh giai cấp tiến gần tới giờ
quyết định, giai cấp thống trị bị phân hóa, một bộ phận nhỏ tách ra khỏi giai cấp nay
đi theo giai cấp vô sản. Đó la bộ phận những nha tư tưởng tư sản vươn lên nhận thức
được về mặt lý luận toan bộ cuộc vận động. Thực tiễn đó đã khẳng định rằng, các
tầng lớp trung gian va cả giai cấp thống trị (tầng lớp) trên của xã hội cũng có thể tư
bỏ lập trường giai cấp của mình để tham gia hang ngũ của giai cấp vô sản.
Với một đảng cộng sản chân chính thi sự lãnh đạo của đảng cũng chính la sự
lãnh đạo của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân thực hiện vai trò lãnh đạo của
mình thông qua đảng cộng sản. Tuy nhiên, không thể đồng nhất đảng cộng sản với
giai cấp công nhân. Đảng la một tổ chức chính trị chỉ tập trung những công nhân tiên
tiến, giác ngộ lý tưởng cách mạng, được trang bị lý luận cách mạng, do vậy đảng trở
thanh đội tiên phong chiến đấu, lãnh tụ chính trị va bộ tham mưu chiến đấu của giai
cấp công nhân.
La đội tiên phong chiến đấu của giai cấp công nhân va nhân dân lao động,
đảng cộng sản có sự tiên phong về lý luận va hanh động. Trên cơ sơ lý luận chủ nghĩa
Mác - Lênin, căn cứ vao thực tiễn của đất nước trong mỗi giai đoạn cách mạng, đảng
cộng sản phải đưa ra được cương tĩnh, đường lối cách mạng phù hợp với mỗi giai
đoạn cách mạng. Cán bộ, đảng viên phải nắm được quan điểm, đường lối của đảng để
phổ biến tuyên truyền tới quần chúng nhân dân, phải thông qua hanh động tiên phong
gương mẫu ma lôi kéo quần chúng va các phong trao cách mạng.
Đảng cộng sản la lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân va nhân dân lao
động. Đảng viên la những người được trang bị lý luận, nắm được quan điểm, đường
lối của đảng, do vậy "họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ la họ hiểu rõ
những điều kiện, tiến trình va kết quả chung của phong trao vô sản" . Cán bộ, đảng
viên phải tuyên truyền phổ biến quan điểm, đường lối của đảng tới các tầng lớp nhân
11


dân lam cho quần chúng nhân dân hiểu va phải bằng hanh động gương mẫu của mình
để tập hợp, lôi cuốn quần chúng nhân dân vao các phong trao cách mạng.
Đảng cộng sản có những lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích của giai cấp công
nhân va quần chúng nhân dân lao động, vì thế đảng có thể thực hiện giác ngộ quần
chúng nhân dân, đưa họ tham gia các phong trao cách mạng. Có tập hợp được quần
chúng nhân dân, huy động được quần chúng tham gia các phong trao cách mạng thì
những chủ trương, đường lối của đảng mới được thực hiện va khi đó đảng mới có sức
mạnh, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mới thực hiện được.
Đảng cộng sản la bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân va cả dân tộc.
Khi nói tới vai trò tham mưu chiến đầu của đảng la muốn nói tới vai trò đưa ra những
quyết định của đảng, nhất la trong những thời điểm lịch sử quan trọng. Những quyết
định đúng đắn sẽ tạo điều kiện đưa phong trao cách mạng tiên lên, ngược lại có thể
gây ra những tổn thất cho cách mạng. Sở dĩ đảng cộng sản trở thanh đội tham mưu
chiến đấu của giai cấp công nhân vì đảng bao gồm những người tiên tiến trong giai
cấp công nhân, được trang bị lý luận khoa học, cách mạng va la những người được
tôi luyện tư trong thực tiễn phong trao cách mạng.
Đảng cộng sản muốn hoan thanh sứ mệnh lãnh đạo cách mạng thì trước hết
phải luôn luôn chăm lo xây dựng về tư tưởng va tổ chức, phải luôn luôn lam cho đảng
vững mạnh về chính trị, không ngưng nâng cao về trí tuệ, gắn bó với quần chúng
nhân dân, có năng lực lãnh đạo va hoạt động thực tiễn.
2 Nguy cơ của ĐCS cầm quyền
Một la nguy cơ sai lầm về đường lối; hai la, nguy cơ quan liêu, thoái hóa
biến chất trong đội ngũ Đảng.
Hai nguy cơ trên có nguyên nhân khách quan va chủ quan của nó. Về mặt
khách quan, những nguy cơ trên bắt nguồn tư sự thay đổi của phong trao: tư giai đoạn
gianh chính quyền chuyển sang giai đoạn xây dựng trật tự xã hội mới. Trong sự thay
đổi to lớn, có tính bước ngoặt nay, mọi thứ đều thay đổi theo: tư nhiệm vụ cách
mạng, đối tượng cách mạng cho tới phương thức thực hiện cách mạng. Nếu giai đoạn
trước, nhiệm vụ chủ yếu la gianh chính quyền, “xóa” cái cũ thì trong giai đoạn mới,
nhiệm vụ la củng cố, hoan thiện chính quyền, “xây” cái mới, la xây dựng, phát triển
kinh tế nhằm đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Nếu ở giai đoạn cách
mạng trước, đối tượng cách mạng la giai cấp thống trị, bóc lột thì ở giai đoạn cách
mạng mới đối tượng cách mạng phức tạp hơn rất nhiều, không đơn thuần la giai cấp
bóc lột ma còn bao ham tất cả lực lượng cản trở con đường tiến lên CNXH. Về
phương thức thực hiện nhiệm vụ cách mạng cũng thay đổi căn bản, không phải đơn
thuần chỉ đấu tranh ma còn có cả hợp tác, trong đấu tranh có hợp tác, hợp tác song
vẫn phải đấu tranh.
Trong giai đoạn mới, hơn lúc nao hết Đảng cầm quyền phải chịu trách
nhiệm lịch sử trước vận mệnh cách mạng, vận mệnh dân tộc va chế độ, phải đủ tai,
đức để đưa con thuyền cách mạng tiếp tục đi lên. Tuy nhiên, sự đổi thay to lớn đó
chắc chắn gây ra sự bỡ ngỡ, khó khăn cho sự lãnh đạo của Đảng. Thực tế cho thấy,
việc chưa quen với công tác lãnh đạo xây dựng, phát triển kinh tế trong thời bình,
cũng như việc đưa thói quen lãnh đạo cũ, vốn chỉ phù hợp với giai đoạn trước kia vao
lãnh đạo đất nước trong thời kỳ xây dựng, phát triển kinh tế dễ dẫn Đảng tới những
vấp váp, sai lầm. Đúng như Lênin nhận định: “sự xuất hiện của một giai cấp mới trên
12


vũ đai lịch sử, với tư cách la người lãnh tụ va lãnh đạo xã hội, không bao giờ diễn ra
ma lại không có một thời kỳ “tròng tranh” hết sức dữ dội, một thời kỳ chấn động, đấu
tranh bão táp, đó la một mặt; mặt khác, không bao giờ diễn ra ma không có một thời
kỳ mò mẫm, thí nghiệm, do dự, ngả nghiệng trong việc lựa chọn những phương pháp
mới đáp ứng đúng với tình thế khách quan mới” (Lênin, toan tập, sđd, t.36, tr.235).
Đặc biệt, Người còn chỉ rõ: “khi tình hình đã thay đổi va chúng ta phải giải quyết
những nhiệm vụ thuộc loại khác, thì không nên nhìn lại đằng sau va sử dụng những
phương pháp của ngay hôm qua” (Lênin, toan tập, sđd, t.44, tr.398).
Rõ rang, sự nghiệp xây dựng xã hội mới la rất khó khăn. Để lãnh đạo tốt
trong giai đoạn mới nay, Đảng cần phải có được những đường lối, chính sách đúng
đắn phù hợp với tình hình mới. Muốn vậy, Đảng cần phải tự hoan thiện mình, nâng
mình lên ngang tầm nhiệm vụ mới, đủ khả năng nắm bắt được quy luật khách quan
nhằm đề ra được chủ trương , chính sách phù hợp với quy luật khách quan đó chứ
không phải la những chủ trương chính sách nặng tính chủ quan, duy ý chí dẫn tới thất
bại.
Về mặt chủ quan, theo Lênin, khi bước vao giai đoạn cách mạng mới, với
tư cách Đảng cầm quyền, dễ xuất hiện trong Đảng tâm lý chủ quan, lạc quan quá mức
dẫn tới đơn giản hóa trong công tác lãnh đạo mới. Tư đó, dẫn tới bệnh trì trệ, lười
biếng không chịu học hỏi, trau dồi lý luận khoa học va tổng kết thực tiễn lam giảm
sút năng lực lãnh đạo của Đảng. Mặt khác, cũng do thái độ ngủ quên trên chiến thắng
trong quá khứ, cộng với sự tác động tiêu cực của xã hội, lam xuất hiện trong đội ngũ
Đảng căn bệnh “kiêu ngạo cộng sản”, bệnh quan liêu, xa dời quần chúng nhân dân.
Thực tế cho thấy, trong điều kiện Đảng cầm quyền, lãnh đạo xây dựng phát triển kinh
tế trong thời bình dễ xảy ra sự sa ngã, thoái hoá biến chất trong đội ngũ đảng viên.
Không ít trường hợp, có những đảng viên trong đấu tranh gianh chính quyền thể hiện
phẩm chất kiên trung, trung thanh với đảng, gần gũi với nhân dân, song trong hòa
bình lại biến chất, đánh mất bản chất cộng sản của mình. Vì thế ma Lênin luôn nhắc
nhở: không ai có thể hạ uy tín của người cộng sản nếu người cộng sản không tự hạ uy
tín của mình. Đối với Người, sự dốt nát, tham nhũng, hối lộ, quan liêu xa rời quần
chúng la những kẻ đồng hanh, la kẻ thù nguy hiểm của cách mạng.

13


Câu 5 trrình bày quan niệm về hệ thống chính trị: cách tiếp cận, khái
niệm, cấu trúc của hệ thống chính trị?
1. Khái niệm về chính trị va hệ thống chính trị
a) Khái niệm về chính trị
Chính trị la lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm các hoạt động va các mối
quan hệ liên quan đến các công việc va giải quyết các vấn đề chung của toan xã hội1.
Đây la biểu hiện bề ngoai của chính trị. Thực chất, chính trị la mối quan hệ, sự tương
tác giữa chủ thể xã hội với toan bộ các tổ chức va thanh viên trong xã hội với quyền
lực chi phối chứa đựng bên trong đó, quyền lực chung (quyền lực xã hội), gọi
laquyền lực chính trị.Trong các công việc chung của xã hội thì công việc của nha
nước chiếm vị trí quan trọng hang đầu. Trong xã hội có giai cấp, giai cấp chiếm ưu
thế luôn luôn muốn gianh lấy vai trò thực hiện các công việc chung để xác lập va duy
trì địa vị thống trị của giai cấp mình. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng,
thực chất chính trị la quan hệ giữa các giai cấp, la những hoạt động xoay quanh vấn
đề gianh, giữ chính quyền va sử dụng quyền lực nha nước.
Tất nhiên, chính trị không chỉ bao gồm các công việc của nha nước. Xã hội
muốn tồn tại va phát triển thì còn hang loạt vấn đề chung khác cần giải quyết như các
vấn đề liên quan đến hệ tư tưởng, ý thức, đạo đức xã hội, các phương án giải quyết
các vấn đề chung của xã hội khác với giai cấp, tầng lớp nắm quyền... Vì vậy, bên
cạnh nha nước trong xã hội còn tồn tại các tổ chức chính trị khác.
b) Hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị bao gồm toan bộ các tổ chức chính trị, được lập ra để thực
hiện quyền lực chung của xã hội - quyền lực chính trị.
Trong chế độ dân chủ, các thanh viên của xã hội cũng như các tổ chức xã hội
đều được tham gia ở mức độ nhất định hoạt động chính trị. Nhưng không phải vì thế
ma các tổ chức xã hội đó đều được gọi la các tổ chức chính trị. Chỉ những tổ chức
được lập ra chủ yếu để thực hiện quyền lực chính trị thì mới gọi la tổ chức chính trị.
Tổ chức chính trị có thể thực hiện các hoạt động khác nhưng đó không phải nhiệm vụ
cơ bản của nó.
Trong xã hội có giai cấp, quyền lực của giai cấp cầm quyền được thực hiện
bằng một hệ thống thiết chế va tổ chức chính trị nhất định
Hệ thống chính trị la một chỉnh thể các tổ chức chính trị hợp pháp trong xã hội,
bao gồm các đảng chính trị, nha nước va các tổ chức chính trị - xã hội được liên kết
với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vao các quá trình của đời sống xã
hội; củng cố, duy trì va phát triển chế độ chính trị phù hợp với lợi ích của giai cấp
cầm quyền.
Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp, nha nước nhằm
thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền. Do đó, hệ thống chính trị mang
bản chất giai cấp. Trong các nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, giai
cấp công nhân va nhân dân lao động la chủ thể của quyền lực chính trị, tổ chức va
quản lý xã hội, quyết định nội dung hoạt động của hệ thống chính trị.
Hệ thống chính trị la khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm các tổ chức
như đảng chính trị, nha nước, các tổ chức chính trị - xã hội (hợp pháp); với những
quan hệ tác động qua lại giữa các nhân tố đó trong việc tham gia vao các quá trình
hoạch định va thực thi các quyết sách chính trị nhằm bảo đảm quyền thống trị của
14


giai cấp, lực lượng cầm quyền, đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định va phát triển xã
hội.
2. Cấu trúc của hệ thống chính trị:
HTCT được cấu thanh tư nhiều bộ phận chức năng khác nhau. Có thể coi mỗi
bộ phận đó la một tiểu hệ thống của HTCT. Như vậy, cấu trúc của HTCT gồm các bộ
phận sau:
- Đảng chính trị,
-Nha nước,
-Các tổ chức chính trị - xã hội (hợp pháp);
Các thanh tố trong Hệ thống tổ chức quyền lực chính trị nói chung va Hệ
thống chính trị nói riêng la khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể (hệ thống) các thiết
chế mang tính hiến định (Đảng chính trị, Nha nước, các tổ chức chính trị - xã hội…)
va không hiến định (phương tiện thông tin đại chúng, công nghệ bầu cử, thể chế tôn
giáo…); cùng với những quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố đó nhằm tham gia
vao các quá trình hình thanh các quyết sách nha nước, thực thi quyền lực chính trị
bảo đảm quyền thống trị của giai cấp cầm quyền; đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định
va phát triển xã hội. Ở đây chỉ để cập đến 3 nhân tố cơ bản la: Đảng Chính tri., Nha
nước va tổ chức chính trị - xã hội (đoan thể nhân dân, nhóm lợi ích chính trị), ma
không trình bay các nhân tố Truyền thông đại chúng , Công nghệ bầu cử, Thể chế tôn
giáo .
2.1. Đảng chính trị
Đảng chính trị la một hiện tượng đặc thù của xã hội có phân chia giai cấp va
đấu tranh giai cấp. Đảng chính trị - yếu tố cơ bản của hệ thống chính trị, hệ thống tổ
chức quyền lực chính trị, của chế độ chính trị va xã hội công dân - la công cụ tập hợp
của một giai cấp; tổ chức lãnh đạo đấu tranh giai cấp vì mục tiêu gianh, giữ, sử dụng
quyền lực nha nước va định hướng chính trị cho phát triển xã hội.
Ở các nước tư bản chủ nghĩa hiện đại
- Đặc trưng cơ bản ở các nước tư bản chủ nghĩa hiện đại la hệ thống “đa đảng
đối lập, đa nguyên chính trị”:
Hệ thống đa đảng ở các nuớc tư bản chủ nghĩa có thể chia thanh các nhóm: Hệ
thống nhiều đảng không có sự độc quyền của đảng tư sản thống trị - các Đảng phái
liên minh để lập ra chính phủ liên hiệp (Italia, Bỉ, Ha Lan, Đan Mạch…); Hệ thống
đa đảng có đảng tư sản độc quyền - số ghế đa số trong Nghị viện thuộc về một đảng
va đảng nay lập ra chính phủ một đảng (Pháp, Nhật Bản…); Hệ thống 2 đảng - bao
gồm hai đảng thuần tuý la đảng của giai cấp tư sản thay nhau cầm quyền (Hoa Kì)…
- Trong hệ thống đa đảng đối lập, hình thức đấu tranh chủ yếu để tranh gianh
va chia sẻ quyền lực la hình thức Nghị trường: Đảng nao gianh được đa số ghế trong
nghị viện theo luật định, thì đảng đó trở thanh đảng cầm quyền “chính trường chủ yếu
la nghị trường”. Về mặt hình thức phương thức gianh quyền lực nay tỏ ra rất “dân
chủ” va “bình đẳng”; nhưng trên thực tế hiến pháp va pháp luật lúc nao cũng tạo điều
kiện thuận lợi cho các đảng phái lớn thắng cử (các đảng đại diện cho giới tai phiệt va
quan chức tư sản, được sự hậu thuẫn của các tập đoan tư sản có thế lực).
- Một cách khái quát, dưới chế độ tư bản chủ nghĩa chế độ “đa nguyên chính
trị” bề ngoai thì có vẻ dân chủ - các đảng đều có quyền tự do tranh cử, liên minh... nhưng về thực chất thì đều la “nhất nguyên chính trị”. Ngay cả trường hợp có một số
15


đảng liên minh cầm quyền; trong thực tế vẫn chỉ có đảng lớn nhất, có thế lực nhất
nắm quyền quyết định, va suy đến cùng la bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, bảo vệ
chế độ tư bản chủ nghĩa
Ở các nước xã hội chủ nghĩa
Ở các nước xã hội chủ nghĩa, thể chế Đảng chính trị có thể khái quát với
những đặc trưng sau:
- Chế độ “nhất nguyên chính trị” la sản phẩm tất yếu của cuộc đấu tranh của
giai cấp vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản chống lại giai cấp tư sản.
- Đảng Cộng sản la đội tiên phong, la đại biểu trung thanh lợi ích của giai cấp
công nhân va nhân dân lao động. Khi đã trở thanh lực lượng cầm quyền, Đảng cộng
sản có vai trò to lớn, trách nhiệm nặng nề đối với giai cấp va vận mệnh của dân tộc;
la lực lượng lãnh đạo, thực hiện quyền thống trị về chính trị của giai cấp công nhân
va nhân dân lao động để xây dựng nha nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân” va quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Để hoan thanh vai trò to lớn, nhiệm vụ vẻ vang đó, điều kiện tiên quyết la
Đảng phải không ngưng vươn lên mọi mặt để quần chúng “nhìn thấy ở đó trí tuệ,
danh dự va lương tâm của thời đại”.
2.2. Nha nước
Trên thế giới hiện nay tồn tại nhiều hình thức Thể chế nha nước, song có thể
quy thanh 2 hình thức Thể chế nha nước cơ bản la Quân chủ va Cộng hòa.
2.2.1. Thể chế quân chủ
Thể chế quân chủ được chia thanh các loại: Quân chủ tuyệt đối va Quân chủ
lập hiến
a. Thể chế Quân chủ tuyệt đối (Absolute Monarchy): la thể chế chính trị ma ở
đó toan bộ quyền lực thuộc về nha Vua (theo nguyên tắc thưa kế) va quyền lực nay
được chuyển giao theo nguyên tắc “cha truyền - con nối”. Trong xã hội đương đại,
thể chế nay hầu như không còn tồn tại.
b. Thể chế Quân chủ lập hiến (Constitutional Monarchy): la loại hình thể chế
ma trong nha nước vẫn tồn tại ngôi Vua, nhưng có Hiến pháp do Nghị viện ban hanh.
Hình thức chính thể nay thường tồn tại ở những nước, nơi ma cuộc đấu tranh của giai
cấp tư sản chống giai cấp phong kiến kết thúc bằng sự thỏa hiệp; hiện nay hình thức
chính thể quân chủ vẫn tồn tại, song dần dần thích ứng với lợi ích của giai cấp tư sản
đang nắm chính quyền.
Thể chế Quân chủ lập hiến được chia thanh 2 loại hình Quân chủ nhị nguyên
va Quân chủ đại nghị.
* Thể chế quân chủ nhị nguyên (Dualistic monarchy): La thể chế chính trị ma
quyền lực được chia đều cho Vua va Nghị viện - tuy nhiên có khi quyền lực nha Vua
thường lấn át Nghị viện va trong nhiều trường hợp nha Vua có thể giải tán Nghị viện
vô thời hạn. Hình thức thể chế nay hiện nay chỉ còn tồn tại ở một số ít nước như
Brunây, Arập Xêut, Tiểu Vương quốc Arập, Gioocđani…
* Thể chế quân chủ đại nghị (Parliamentary Monarchy): Với các đặc trưng:
- Vua đứng đầu nha nước, nhưng quyền lực tập trung trong tay Nghị viện (cơ
quan quyền lực do nhân dân bầu). Quyền lực nha Vua chủ yếu mang tính hình thức
“Vua trị vì, nhưng không cai trị” . Vua la người đứng đầu nha nước được coi như
“chế định tiềm tang” trong trường hợp có khủng hoảng chính trị. Về lý thuyết, Vua la
16


biểu tượng của sự thống nhất phi chính trị va không thiên vị; nhưng trên thực tế thì
Vua vẫn chịu ảnh hưởng của Đảng cầm quyền.
- Nghị viện la cơ quan quyền lực tối cao, có quyền thanh lập va giải tán chính
phủ; chính phủ chịu trách nhiệm trước nghị viện. Song trên thực tế, quyền lực chủ
yếu tập trung vao người đứng đầu cơ quan Hanh pháp (Thủ tướng)
- Tiêu biểu cho hình thức thể chế nay la Vương quốc Anh, Nhật Bản, Úc, Thái
Lan, Campuchia...
2.2.2. Thể chế Cộng hòa
- Ở các nước tư bản chủ nghĩa va một số nước đang phát triển, hình thức thể
chế nay có 3 loại: Cộng hòa Tổng thống, Cộng hòa Đại nghị, Cộng hòa hỗn hợp.
- Ở các nước xã hội chủ nghĩa phổ biến la mô hình Cộng hòa Xôviết; Cộng hòa
Xã hội chủ nghĩa.
a. Thể chế Cộng hòa Tổng thống (Presidentic Republic): Điển hình la Mỹ, các
nước Châu Mỹ La tinh, Liên Bang Nga…
Đặc trưng tiêu biểu của thể chế nay la: Tổng thống la nguyên thủ quốc gia va la
người đứng đầu cơ quan Hanh pháp với quyền hạn vô cùng lớn. Nhìn chung, trong
thể chế nay, quyền Hanh pháp (đứng đầu la Tổng thống) có phần lấn át quyền Lập
pháp va Tư pháp. Để tránh hiện tượng lạm quyền, độc tai; Hiến pháp nhiều nước
thường có những điều khoản có tính chất “kiềm chế, đối trọng” hoặc giới hạn nhiệm
kỳ của Tổng thống.
b. Thể chế Cộng hòa đại nghị (Parliamentary Republic): Tiêu biểu cho thể chế
nay la các nước Đức, Áo, Ý…
- Đặc trưng cơ bản của chính thể nay la: Quyền lực nha nước tập trung vao
Nghị viện (cơ quan quyền lực nha nước cao nhất cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu
ra). Nghị viện có quyền lập ra Chính phủ (Chính phủ do nhân dân gián tiếp bầu ra va
chịu trách nhiệm gián tiếp trước nhân dân thông qua Nghị viện), bầu Tổng thống;
đồng thời Nghị viện có thể bãi miễn Chính phủ, Tổng thống va cơ quan Tư pháp.
Tổng thống, Chính phủ hoạt động va chịu trách nhiệm trước Nghị viện.
- Mô hình thể chế nay được xem la dân chủ nhất trong mô hình chính thể tư
sản - ít có khả năng biến thanh chế độ độc tai hay nguy cơ bất ổn. Tuy nhiên, nền
hanh pháp của chính thể nay thường không mạnh như nền hanh pháp ở mô hình Cộng
hòa Tổng thống.
c. Thể chế Cộng hòa hỗn hợp (Republic of mixtures): Tiêu biểu la Pháp, Phần
Lan, Han Quốc, Mông Cổ…
- Đặc điểm của loại hình thể chế nay la: Tổng
thống va Nghị viện đều do nhân dân bầu ra. Tổng thống toan quyền Hanh pháp, có
quyền giải tán Nghị viện. Tuy vậy Nghị viện có quyền can thiệp vao quá trình thanh
lập Chính phủ, buộc Tổng thống phải bổ nhiệm lãnh tụ của Đảng đa số trong Nghị
viện lam Thủ tướng; nghĩa la Tổng thống phải chia sẻ quyền lực với Nghị viện.
- Ưu điểm của thể chế nay la hạn chế sự tập trung quyền lực vao tay Tổng
thống; tránh hiện tượng độc tai va vẫn đảm bảo một nền Hanh pháp mạnh. Nhiều
nước ở Liên Xô (cũ), Đông Âu va Châu Phi sau khi cải cách thể chế đã áp dụng mô
hình chính thể nay.
d. Thể chế chính trị Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (Socialist Republic):
Ở các nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa va các nước xã hội chủ
nghĩa, thể chế chính trị được tổ chức theo mô hình Cộng hòa Xô viết (trước đây),
17


Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (hiện nay). Mô hình thể chế nay, ở các nước khác nhau có
tên gọi khác nhau: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (Việt Nam), Cộng hòa dân chủ nhân
dân (Lao, Triều Tiên), Cộng hòa nhân dân (Trung Hoa), Cộng hòa (CuBa).
- Đặc trưng của mô hình thể chế nay la: Quyền lực nha nước la thống nhất
(thuộc về nhân dân); nhưng có sự phân công va phối hợp giữa các cơ quan nha nước
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hanh pháp, tư pháp. Quyền lực tối cao thuộc
về Quốc hội - Quốc hội có quyền thanh lập Chính phủ, bầu Chủ tịch nước, cơ quan
Tư pháp, Hội đồng Quân sự Trung ương; có quyền quyết định những vấn đề hệ trọng
của đất nước như tuyên bố chiến tranh hay hòa bình; có quyền giám sát tối cao việc
thi hanh pháp luật (đặc điểm nay hơi giống Thể chế chính trị Cộng hòa đại nghị).
Chính phủ la cơ quan hanh chính chịu trách nhiệm trước Quốc hội, thực thi vai trò
quản lý hanh chính va bảo đảm sự thống nhất tư trung ương đến địa phương. Tuy
nhiên; khác với thể chế cộng hòa khác, trong hệ thống Tư pháp của thể chế chính trị
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa có hệ thống cơ quan Viện kiểm sát.
2.3. Các tổ chức chính trị - xã hội va các nhóm lợi ích
.Các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm các tổ chức ma hoạt động của chúng
vưa mang tính chính trị, vưa mang tính xã hội.
Tùy theo điều kiện , hoan cảnh lịch sử cụ thể ở mỗi nước; các các đoan thể
nhân dân có đặc điểm riêng về tổ chức va phương thức hoạt động. Thông thường các
đoan thể nhân dân không đặt ra mục tiêu gianh hoặc tham gia chính quyền; ma
thường vì lợi ích của các thanh viên trong tổ chức của mình tìm cách tác động, gây
ảnh hưởng đối với chính quyền va đảng phái chính trị

18


Câu 6. Phân tích nguyên tắc và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị?
1.Nguyên tắc
Mỗi HTCT có những nguyên tắc va cơ chế vận hanh riêng. Dựa trên những
nguyên tắc nay ma các quan hệ, hanh vi chính trị được định hướng va tạo thanh một
bộ phận hữu cơ của hệ thống. Cũng cần nói thêm rằng giữa "nguyên tắc" va "cơ chế"
không có những bức trường thanh ngăn cách. Nói cách khác giới hạn giữa các khái
niệm đó chỉ la tương đối.
Ngay nay ở nhiều nước trên thế giới phổ biến một số nguyên tắc sau:
1.1. Quyền lực nha nước thuộc về nhân dân
Tư nguyên tắc nay, phát sinh một loạt các nguyên tắc sinh hoạt va ứng xử
chính trị khác liên quan đến việc đảm bảo quyền lực nha nước thuộc về nhân dân.
1.2. Ủy quyền có điều kiện va có thời hạn
Nguyên tắc nay xác định ai la người có thể được ủy quyền va ủy quyền trong
bao lâu. Để đảm bảo nguyên tắc nay phải xây dựng thể chế bầu cử bao gồm lựa chọn
các ứng viên, thể thức bầu cử va thủ tục truất quyền khi cần thiết.
Do trong xã hội có các giai cấp, các tầng lớp, các nhóm va tưng con người
khác nhau với những định hướng giá trị chính trị khác nhau nên ý kiến về các vấn đề
đều có thể khác nhau. Vì vậy để đảm bảo điều hòa những khác biệt đó phải có
nguyên tắc đồng thuận xã hội, tức la:
1.3. Nguyên tắc dân chủ
Nguyên tắc nay thực chất la tạo các điều kiện kinh tế - xã hội va pháp lý để dân
tham gia ngay cang nhiều va thực chất vao công việc nha nước, tự quyết định vận
mệnh của mình thông qua nha nước, bằng nha nước.
Những biểu hiện cụ thể của nguyên tắc nay la:
(1) Công khai các hoạt động của nha nước.
(2) Tạo điều kiện để dân tiếp cận thông tin.
(3) Tạo điều kiện để dân bay tỏ nguyện vọng (dân chủ trực tiếp, gián tiếp).
(4) Bầu cử tự do để nhân dân lựa chọn các đại biểu va thể hiện ý chí, phải hỏi
dân khi quyết định những vấn đề quan trọng.
(5) Thiểu số phục tùng quyết định của đa số, đa số tôn trọng va bảo vệ thiểu số.
1.4. Nguyên tắc thống nhất - phân quyền
Đây la hai mặt của một vấn đề trong đời sống chính trị. Không có thống nhất
va tập trung quyền lực đủ mức thì sẽ không có quyền lực chính trị hoặc quyền lực
nha nước va sẽ không có quyền để phân chia (hoặc phân công); không có thống nhất
thì không còn quyền lực nha nước (tức la chỉ còn quyền lực tập đoan hoặc quyền lực
cát cứ).
Sự thống nhất quyền lực nha nước thể hiện:
(1) Xã hội công dân thống nhất, trên đó xây dựng nha nước;
(2) Lãnh thổ quốc gia dân tộc thống nhất;
(3) Ý chí nhân dân được tổng hợp lại thanh những văn bản (khế ước) có tính
pháp lý hợp pháp (hiến pháp va pháp luật...) tư đây xây dựng những thể chế quyền
lực thống nhất (cơ quan đại biểu cao nhất, cơ quan hanh chính cao nhất, cơ quan xét
xử cao nhất...).

19


Tuy nhiên, những nguyên tắc nay dù có tính hiến định hoặc pháp định nhưng
về thực chất chúng được áp dụng trong thực tiễn la rất khác nhau. Ở nhiều nước,
những nguyên tắc nay vẫn la những mục tiêu cần vươn tới.
(4) Thống nhất bởi đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền chi phối hệ thống chính
trị bằng các phương thức chính trị như ảnh hưởng cương lĩnh, đường lối, nêu gương,
tổ chức, vận động giáo dục...
Trên cơ sở những thống nhất trên đây, ma biểu hiện ra la tính đồng thuận, tính
thỏa hiệp xã hội, sẽ thực hiện sự phân quyền. Sự phân quyền ma sắc thái va các cấp
độ của nó được các tác giả mô tả va nhấn mạnh rất khác nhau như "phân chia" "phân
công" "phân quyền" "phân cấp" "tản quyền" v.v... đều muốn nói đến giao cho các chủ
thể khác nhau theo chiều ngang (Trung ương - Trung ương) hay theo chiều dọc
(Trung ương - địa phương) những nhiệm vụ có tính chức năng của nha nước (chức
năng chính trị hoặc xã hội).
Vì vậy phân quyền la một biểu hiện tất yếu của quá trình thực thi quyền lực
nha nước trong tính phức tạp, đa dạng, trong trạng thái vận động của nó. Không có sự
phân quyền, trong điều kiện xã hội hiện đại, quyền lực chính trị va quyền lực nha
nước sẽ không được thực thi.
2. Cơ chế vận hanh của HTCT
Cơ chế tổng hợp các phương thức vận hanh của HTCT. Cơ chế vưa phản ánh
bản chất chế độ chính trị vưa chi phối các hoạt động của hệ thống. Có 3 cơ chế cơ
bản sau:
(1) Cơ chế mệnh lệnh cưỡng bức.
(2) Cơ chế thể chế.
(3) Cơ chế tư vấn.
Ba cơ chế nay có thể được vận hanh đồng thời, có thể riêng biệt tùy theo các
quan hệ giữa chủ thể chính trị va đối tượng chịu tác động của quyền lực chính trị. Các
cơ chế thể hiện được trình độ thuần thục của hệ thống va sự trưởng thanh về văn hóa
chính trị.
3. Các quan hệ chính trị
Trong HTCT có nhiều loại quan hệ. Loại thứ nhất loại quan hệ chính trị trong
đời sống chính trị, những quan hệ nay đan xen, đa dạng, nhiều tầng, nhiều chiều, trực
tiếp va gián tiếp. Những quan hệ nay thực chất la nền tảng xã hội va môi trường văn
hóa của hoạt động chính trị. Những quan hệ chính trị cấu thanh hệ thống khi chúng
được xác định va có vai trò trực tiếp duy trì sự tồn tại va hoạt động của HTCT. Các
quan hệ đó có thể được xếp như sau:
(1) Quan hệ các chủ thể quản lý (quyền lực) va đối tượng của quản lý (quyền
lực);
(2) Quan hệ theo chiều ngang của hệ thống: Giữa các thể chế cấp Trung ương
với cấp Trung ương. Ví dụ giữa các cơ quan lập pháp tối cao (Quốc hội) hanh chính
tối cao (Chính phủ) va tư pháp, tối cao (Tòa án tối cao), quan hệ giữa các chủ thể
chính trị trong hệ thống;
(3) Quan hệ giữa các cơ quan quyền lực Trung ương với các cơ quan quyền lực
địa phương va cơ sở (theo chiều dọc);
(4) Quan hệ HTCT của một quốc gia với các hệ thống chính trị bên ngoai.
20


Quan hệ chính trị la yếu tố kết nối các bộ phận chức năng, các cấu trúc của
HTCT.
Vai trò đặc biệt của các quan hệ chính trị la ở chỗ nó biểu đạt cân bằng lợi ích,
sự trung lập, trạng thái thực tế chấp nhận được giữa các lợi ích, các nhóm, các giai
cấp, các dân tộc trong một hệ thống quyền lực công cộng va nhân danh quyền lực
công cộng để bảo vệ, duy trì sự cân bằng ấy.
Nhiều ý kiến còn cho rằng, hệ thống chính trị còn bao gồm cả các thể chế văn
hóa chính trị. Ở đây, vấn đề không phải la văn hóa chính trị nói chung ma la một hệ
giá trị va kiểu mẫu quan hệ, hanh vi, tạo thanh tiểu hệ thống điều tiết. Đó la các
chuẩn mực, các tiêu chí chính trị, các quyền, truyền thống chính trị, đạo đức, nghi
thức chính trị. Tiểu hệ thống nay điều tiết quan hệ, hanh vi, hoạt động chính trị của cá
nhân, nha nước,... theo yêu cầu phát triển kiểu nay hay kiểu khác của HTCT. Như
trên đã nói, tiểu hệ thống nay cho phép xác định bản chất của HTCT, các thời đại
chính trị khác nhau.
Cần lưu ý la HTCT ở mỗi nước khác nhau có thể có những mô hình, cấu trúc,
vận hanh khác nhau. Ở một số nước vấn đề tôn giáo rất đặc biệt, nhưng ở nhiều nước
khác thì không đến mức như vậy. Vì thế về HTCT không những có những quan niệm
khác nhau ma còn có cách tổ chức va vận hanh khác nhau. Mặc dù vậy, vấn đề HTCT
vẫn bị chi phối bởi những quy luật chung, có tính phổ biến, nếu không tuân thủ
những yếu tố đó không thể hiểu các HTCT cụ thể được.
Trong bai nay, mục tiêu chủ yếu la nghiên cứu phạm trù HTCT, do đó không
thể đi sâu ma chỉ giới thiệu các thể chế. Mặt khác, có một số thể chế như đảng chính
trị, các thể chế tôn giáo va phương tiện thông tin đại chúng, đã có những nghiên cứu
chuyên sâu riêng.
Nghiên cứu HTCT va các thể chế chính trị có ý nghĩa to lớn không chỉ nó cho
phép chúng ta nắm được bản chất phương thức tồn tại va hoạt động của đời sống
chính trị, ma nó còn cung cấp những căn cứ lý luận va thực tiễn để góp phần vao việc
đổi mới va hoan thiện HTCT ở nước ta .

21


Câu 7. Trình bày quan điểm của Đảng Cộng sản Việt nam về hệ thống
chính trị: Khái niệm; cấu trúc, đặc điểm?
1. Khái niệm
Ở phần lớn các nước tư bản chủ nghĩa trên thế giới hiện nay, hệ thống chính trị
gồm hai thanh phần cơ bản la nha nước va các chính đảng (đảng chính trị). Khác với
hệ thống chính trị ở các nước tư bản chủ nghĩa, hệ thống chính trị ở các nước xã hội
chủ nghĩa trước đây va hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay, ngoai nha nước va
các chính đảng còn có một số tổ chức chính trị - xã hội đặc biệt khác, được thanh lập
để thực hiện các hoạt động chính trị đặc biệt. Các tổ chức chính trị đặc biệt nay ngoai
các hoạt động chính trị la chủ yếu còn thực hiện các chức năng xã hội khác nhưng đó
không phải chức năng chủ yếu.
Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nha
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam va các tổ chức chính trị - xã hội, đặc biệt
la Mặt trận Tổ quốc Việt Nam va 5 đoan thể chính trị - xã hội: Đoan Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Mình, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoan Lao động
Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
2. Cấu trúc
Hệ thống chính trị nước ta về mặt bộ máy (hệ thống thể chế) bao gồm Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nha nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam va các đoan thể nhân dân
như Tổng liên đoan lao động Việt Nam, Đoan Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,
Hội nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt
Nam.
+Trong HTCT nước ta Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nha nước va xã hội,
la hạt nhân của hệ thống chính trị.
+ Nha nước Cộng hòa XHCN Việt Nam la trụ cột của HTCT - bao gồm Quốc
hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, hệ thống tư pháp (Tòa án va Viện Kiểm sát nhân dân)
va chính quyền các địa phương.
-Quốc hội la cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nha
nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Quốc hội nước ta có chức năng: Lập pháp; quyết định những vấn đề xã hội,
quốc phòng an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức va hoạt động
của bộ máy Nha nước, về quan hệ xã hội va hoạt động của công dân.
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của Nha nước.
-Chủ tịch nước la người đứng đầu Nha nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam về đối nội va đối ngoại.
Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.
Chủ tịch nước chịu trách nhiệm va báo cáo công tác trước Quốc hội.
-Chính phủ la cơ quan chấp hanh của Quốc hội, cơ quan hanh chính Nha nước
cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị kinh tế,
văn hóa, xã hội quốc phòng, an ninh va đối ngoại của Nha nước. Chính phủ va Thủ
tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội va
Chủ tịch nước; phải báo cáo công tác trước Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
va Chủ tịch nước.
22


Nhân dân các địa phương bầu ra Hội đồng nhân dân cấp mình. Hội đồng nhân
dân la cơ quan quyền lực nha nước ở địa phương.
Hội đồng nhân dân bầu ra Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban nhân dân la cơ quan chấp
hanh của Hội đồng nhân dân, la cơ quan hanh chính Nha nước ở địa phương, chịu
trách nhiệm chấp hanh Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nha nước cấp
trên va nghị quyết của Hội đồng nhân dân (Điều 123).
-Tòa án nhân dân va Viện Kiểm sát nhân dân
Chức năng nhiệm vụ của Tòa nước nhân dân va Viện Kiểm sát nhân dân la bảo
vệ Hiến pháp, pháp luật của Nha nước ta. Để thực hiện nhiệm vụ đó, các cơ quan nay
phải thực hiện một số nhiệm vụ như điều tra, tố tụng, xét xử, thi hanh án...
Hệ thống tòa án ở nước ta bao gồm: Tòa án nhân dân tối cao, các tòa án nhân
dân địa phương, các tòa án quân sự va các tòa án khác do luật định. Đó la những cơ
quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quy định thanh lập tòa án đặc biệt.
Tòa án xét xử công khai. Các thẩm phán va Hội thẩm khi xét xử chỉ tuân theo pháp
luật.
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thực hanh quyền công tố va kiểm sát các hoạt
động tư pháp, các Viện Kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện Kiểm sát quân sự,
thực hanh quyền công tố va kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách
nhiệm do luật định.
Ở nước ta, quyền lực nha nước tập trung vao Quốc hội (cơ quan đại biểu cao
nhất, cơ quan quyền lực nha nước cao nhất). Các cơ quan khác như Chủ tịch nước,
Chính phủ, Tòa án nhân dân va Viện Kiểm sát đều được Quốc hội cử ra, chịu trách
nhiệm trước Quốc hội va báo cáo công tác trước Quốc hội. Chính phủ, Còn la cơ
quan chấp hanh của Quốc hội.
Mặc dù quyền lực Nha nước la thống nhất không thể phân chia, nhưng có phân
công, phân nhiệm rõ rang, tạo cho các chủ thể quyền lực chủ động sáng tạo trong
thực thi quyền lực Nha nước.
+Mặt trận Tổ quốc Việt Nam va một số thanh viên của Mặt trận la một bộ phận
của HTCT:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam la tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện
của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội va các cá nhân tiêu
biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo va người Việt Nam định
cư ở nước ngoai. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam la một bộ phận của hệ thống chính trị,
la cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam vưa la thanh
viên vưa la người lãnh đạo Mặt trận. Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện,
hiệp thương dân chủ, phối hợp va thống nhất hanh động giữa các thanh viên.
Các đoan thể chính trị-xã hội của nhân dânlao động: Tổng liên đòa lao
độngViệt Nam; Hội nông dân Việt Nam; Hội phụ nữ; Đoan thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh; Hội cựu chiến binh. Tuỳ theo tính chất, tôn chỉ va mục đích đã được xác
định, vận động, giáo dục đoan viên, hội viên chấp hanh luật pháp, chính sách; chăm
lo, bảo vệ các quyền va lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoan viên, hội viên; giúp
đoan viên, hội viên nâng cao trình độ về mọi mặt va xây dựng cuộc sống mới; tham
gia quản lý nha nước, quản lý xã hội.
23


Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo
va chân thanh lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận va các đoan thể. Đảng, Nha
nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận va các đoan thể nhân dân hoạt
động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát va phản biện xã hội
3. Đặc điểm?
Có thể nói HTCT nước ta về cơ bản được tổ chức gần giống như HTCT nhiều
nước. Trước hết tiểu hệ thống thể chế của nó (cốt lõi vật chất của HTCT) bao gồm
Nha nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam va một số tổ chức chính trị - xã hội... Các bộ phận nay được kết
nối với nhau theo những quan hệ, những cơ chế va nguyên tắc vận hanh nhất định,
trong một môi trường văn hóa chính trị đặc thù.
Chính vì vậy HTCT nước ta có những đặc điểm riêng:
Thứ nhất, HTCT nước ta do duy nhất một Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Đặc điểm nay vưa mang tính phổ biến đối với HTCT các nước XHCN, vưa
mang tính đặc thù. Tính đặc thù đó được quy định bởi vai trò, vị trí, khả năng lãnh
đạo, uy tín lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tư khi thanh lập đến nay trong quá
trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, chống ách thực dân, thống nhất đất
nước, xây dựng va bảo vệ tổ quốc, đổi mới xã hội...
Thứ hai, HTCT nước ta chịu ảnh hưởng của mô hình Xô viết
Mặc dù đang trong quá trình đổi mới, hoan thiện nhưng ảnh hưởng của chế độ
tập trung quan liêu, bao cấp trong mô hình ấy đang còn khá nặng nề cả trong cách
nghĩ cách lam của đảng viên va nhân dân, cũng như trong tổ chức va thực thi quyền
lực nha nước. Những khuyết tật của mô hình Xô viết lại được củng cố thêm bởi tổ
chức chiến đấu, chiến tranh, kháng chiến... Tuy chiến tranh đã kết thúc tư gần ba
chục năm qua, nhưng những thói quen xử lý công việc, quản lý xã hội, ứng xử theo
thời chiến vẫn còn ảnh hưởng khá nặng trong các thế hệ cán bộ, đặc biệt la thế hệ
trưởng thanh trong chiến tranh.
Thứ ba, Các tổ chức chính trị - xã hội do Đảng cộng sản thanh lập, lãnh đạo,
gắn bó chặt chẽ với Đảng va Nha nước, la cơ sở chính trị của Đảng va Nha nước.
Thứ tư, nền hanh chính nha nước, một bộ phận quan trọng của nha nước ta còn
rất non trẻ (mới hơn 60 năm) lại hầu như không được kế thưa gì tư quá khứ (chế độ
thực dân phong kiến) bị ảnh hưởng nặng của mô hình tập trung quan liêu cao độ,
nhưng phải thực hiện một loạt nhiệm vụ lịch sử mới mẻ va to lớn, đó la: Đưa nước ta
tư một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ la chủ yếu đi lên CNXH bỏ quá chế
độ TBCN, thực hiện công nghiệp hóa, đồng thời với hiện đại hóa đất nước, xây dựng
một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nha nước pháp quyền XHCN của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân... Tất cả những nhiệm vụ đó đều nhằm mục tiêu
xây dựng một nước Việt Nam dân giau, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;
hội nhập va rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước trong khu vực va trên thế
giới.
Những đặc điểm nay vưa quy định kết cấu, tổ chức, vận hanh va các mối quan
hệ vưa cho thấy những khó khăn, thách thức ma chúng ta phải giải quyết... vưa đặt ra
những yêu cầu đổi mới va hoan thiện HTCT nước ta. Những yêu cầu đó khác nhiều
so với các HTCT khác.
24


Câu 8. Phân tích sứ mệnh, đặc điểm hệ thống chính trị Việt Nam qua các
thời kỳ?
1.Sứ mệnh lịch sử
ở nước ta hiện nay, giai cấp công nhân va nhân dân lao động đang la chủ thể
chân chính của quyền lực. Vì vậy, hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng la
công cụ thực hiện quyền lam chủ của nhân dân lao động. Hệ thống chính trị của nước
ta gồm nhiều tổ chức, mỗi tổ chức có vị trí, vai trò khác nhau do chức năng, nhiệm vụ
của tưng tổ chức, nhưng cùng tác động vao các quá trình phát triển kinh tế - xã hội
nhằm đảm bảo quyền lực của nhân dân.
a. Đảng Cộng sản Việt Nam:
Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu
trung thanh lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động va của cả dân tộc. Đảng la
một bộ phận của hệ thống chính trị nhưng lại la hạt nhân lãnh đạo của toan bộ hệ
thống chính trị. Vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện trên những nội dung chủ yếu sau:
Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, những quan điểm, chủ
trương phát triển kinh tế-xã hội; đồng thời Đảng la người lãnh đạo va tổ chức thực
hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng.
Đảng lãnh đạo xã hội chủ yếu thông qua Nha nước va các đoan thể quần
chúng. Đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng được Nha nước tiếp nhận, thể chế
hoá cụ thể bằng pháp luật va những chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình
cụ thể. Vì vậy, Đảng luôn quan tâm đến việc xây dựng Nha nước va bộ máy của Nha
nước, đồng thời kiểm tra việc Nha nước thực hiện các Nghị quyết của Đảng.
b. Nha nước:
Nha nước la trụ cột của hệ thống chính trị ở nước ta, la công cụ tổ chức thực
hiện ý chí va quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước
nhân dân để quản lý toan bộ hoạt động của đời sống xã hội. Đó chính la Nha nước
của nhân dân, do nhân dân va vì nhân dân. Mặt khác, Nha nước chịu sự lãnh đạo của
giai cấp công nhân, thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Đảng lãnh đạo Nha nước
thực hiện va đảm bảo đầy đủ quyền lam chủ của nhân dân.
Quốc hội la cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nha
nước cao nhất của nước Cộng hoa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội do nhân dân
trực tiếp bầu ra, Quốc hội la cơ quan duy nhất có quyền lập ra Hiến pháp va luật pháp
(lập hiến va lập pháp). Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối
ngoại, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức va
hoạt động của bộ máy Nha nước, về quan hệ xã hội va hoạt động của công dân.Quốc
hội thực hiện quyền giám sát tối cao với toan bộ hoạt động của Nha nước.Với ý nghĩa
đó, Quốc hội được gọi la cơ quan lập pháp.
Chính phủ la cơ quan chấp hanh của Quốc hội, cơ quan hanh chính cao nhất
của nước Cộng hoa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Chính phủ thống nhất quản lý việc
thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng va đối
ngoại của Nha nước. Chính phủ la cơ quan chấp hanh, chịu trách nhiệm trước Quốc
hội va phải báo cáo công tác với Quốc hội. Trên ý nghĩa đó, Chính phủ được gọi la
cơ quan hanh pháp.
Cơ quan tư pháp gồm: Toa án, Viện kiểm sát va các cơ quan điều tra. Đây la
những cơ quan được lập ra trong hệ thống tổ chức Nha nước để xử lý những tổ chức
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×