Tải bản đầy đủ

nghiên cứu các phương thức cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên tiếng việt (trên tư liệu thuật ngữ toán cơ tin học, vật lí)

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU....................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ..................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề......................................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................... 5
4. Phương pháp nghiên cứu......................................................................... 6
5. Đối tượng và tư liệu nghiên cứu.............................................................. 7
6. Đóng góp của luận án.............................................................................. 7
7. Bố cục của luận án .................................................................................. 8
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN ........................................................................... 9

1.1. Khái niệm thuật ngữ............................................................................. 9
1.2. Thuật ngữ trong văn bản .....................................................................12
1.3. Phân biệt thuật ngữ và danh pháp khoa học.........................................19
1.4. Phương châm xây dựng thuật ngữ khoa học tiếng Việt........................21
1.5. Về hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên và tình hình nghiên cứu ở Việt Nam ......27
1.6. Phương thức cấu tạo thuật ngữ ............................................................34
1.7. Tiểu kết chương 1 ...............................................................................37
Chương 2. PHƯƠNG THỨC VÀ MÔ HÌNH CẤU TẠO THUẬT NGỮ
KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở BẬC TỪ ............................................................39


2.1. Quan niệm từ - từ điển và các kiểu loại cấu trúc từ tiếng Việt .............39
2.1.1. Quan niệm từ - từ điển ..................................................................39
2.1.2. Các kiểu loại cấu trúc từ tiếng Việt ...............................................40
2.2. Thành tố cấu tạo thuật ngữ ở cấp độ từ................................................42
2.2.1. Thành tố cơ sở ..............................................................................43
2.2.2. Thành tố trực tiếp..........................................................................43
2.3. Quan niệm mô hình cấu tạo từ và phạm vi khảo sát ............................44
2.3.1. Quan niệm mô hình cấu tạo từ ......................................................44
2.3.2. Phạm vi khảo sát...........................................................................45


2.4. Thuật ngữ khoa học tự nhiên là từ ghép ..............................................47
2.4.1. Khái niệm từ ghép.........................................................................47
2.4.2. Thuật ngữ khoa học tự nhiên là từ ghép đẳng lập ..........................50
2.4.3. Thuật ngữ khoa học tự nhiên là từ ghép chính phụ........................59
2.5. Các mô hình sản sinh thuật ngữ...........................................................73
2.5.1. Quan niệm sản sinh.......................................................................73
2.5.2. Những mô hình có sức sản sinh lớn ..............................................75
2.6. Tiểu kết chương 2 ...............................................................................85
Chương 3. PHƯƠNG THỨC VÀ MÔ HÌNH CẤU TẠO THUẬT NGỮ
KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở BẬC NGỮ .........................................................88

3.1. Giới hạn khái niệm và nội dung khảo sát.............................................88
3.1.1. Giới hạn khái niệm........................................................................88
3.1.2. Nội dung khảo sát .........................................................................89
3.2. Thuật ngữ khoa học tự nhiên có cấu tạo là danh ngữ...........................91
3.2.1. Khái niệm danh ngữ......................................................................91
3.2.2. Mô hình cấu trúc của danh ngữ .....................................................91
3.2.3. Các mô hình cấu tạo......................................................................94
3.3. Thuật ngữ khoa học tự nhiên có cấu tạo là động ngữ.........................117
3.3.1. Khái niệm động ngữ....................................................................118
3.3.2. Các mô hình cấu tạo....................................................................118
3.4. Những mô hình có sức sản sinh cao ..................................................135
3.5. Tiểu kết chương 3 .............................................................................146
KẾT LUẬN................................................................................................148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG
LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ...........................................................................151
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................152
PHỤ LỤC...................................................................................................165



1
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1.1. Về mặt ngôn ngữ và văn tự, trước đây, trong suốt 1000 năm Bắc
thuộc và tiếp sau gần 1000 năm độc lập, tiếng Việt tồn tại trong vị thế song ngữ
bất bình đẳng [113]. Kể từ cách mạng tháng Tám năm 1945, địa vị của tiếng
Việt nói chung, chữ quốc ngữ nói riêng mới thực sự thay đổi, tiếng Việt đã trở
thành ngôn ngữ quốc gia thống nhất. Vị thế của tiếng Việt thay đổi nên chức
năng xã hội của tiếng Việt càng ngày càng phát triển cả về chiều rộng và chiều
sâu. Tiếng Việt không chỉ được dùng rộng rãi trong giao tiếp toàn xã hội, trong
các văn bản pháp quy nhà nước, mà còn là công cụ được dùng để dạy học trong
các cấp học, trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học khác nhau. Cùng với sự
phát triển của xã hội, tiếng Việt cũng phát triển mạnh mẽ, toàn diện. Như một
đòi hỏi khách quan và cũng là tất yếu của sự phát triển ngôn ngữ, một hệ thuật
ngữ khoa học tiếng Việt ra đời để đáp ứng nhu cầu giáo dục đào tạo và nghiên
cứu khoa học. Cũng vì thế, thuật ngữ là một trong những lĩnh vực trở thành đối
tượng nghiên cứu cần yếu của Việt ngữ học.
1.2. Từ những năm đầu thế kỉ XX, đặc biệt là từ những năm 40 về sau,
việc biên soạn thuật ngữ tiếng Việt có những bước phát triển. Năm 1942 cuốn
Danh từ khoa học của tác giả Hoàng Xuân Hãn ra đời, là mốc đánh dấu hệ
thuật ngữ khoa học tự nhiên (KHTN) và công nghệ Việt Nam hình thành, bước
phát triển đầu tiên của thuật ngữ khoa học tiếng Việt. Tiếp theo, sau 1945, hàng
loạt thuật ngữ Hóa học, Sinh học lần lượt được xuất bản; nội dung khoa học
được nâng lên một bước và phát triển theo định hướng: chính xác, hệ thống,
quốc tế và dân tộc. Đến nay, cùng với sự phát triển sâu rộng của các ngành
khoa học, hệ thống thuật ngữ tiếng Việt, nhất là hệ thống thuật ngữ các ngành
KHTN đã phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ không chỉ về từng thuật ngữ đơn lẻ


2
mà cả hệ thống. Nghiên cứu thuật ngữ tiếng Việt tuy đã có nhiều thành tựu
nhưng còn rất nhiều vấn đề của thuật ngữ cần đào sâu, trong đó có vấn đề
chuẩn hóa trong thời kì mới.
1.3. Từ trước đến nay, nói đến xây dựng, phát triển thuật ngữ, người ta đề
cập đến nhiều con đường như: thuật ngữ hóa từ thông thường, tạo thuật ngữ trên
cơ sở ngữ liệu vốn có, vay mượn thuật ngữ nước ngoài. Trong đó, con đường
cấu tạo thuật ngữ mới có ý nghĩa quan trọng, vì nó sử dụng chất liệu ngôn ngữ
dân tộc. Chính vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu các phương thức cấu tạo của hệ
thuật ngữ KHTN trong tiếng Việt là cần thiết, góp phần vào quá trình xây dựng
và chuẩn hóa hệ thuật ngữ tiếng Việt nói chung và hệ thuật ngữ KHTN nói riêng
theo phương châm: khoa học (chính xác, hệ thống), quốc tế và dân tộc. Mặt
khác, hiểu rõ các đặc điểm cấu tạo của hệ thuật ngữ KHTN tiếng Việt cũng sẽ
góp phần vào việc khẳng định vai trò của tiếng Việt trong lĩnh vực khoa học, góp
phần vào quá trình truyền bá tri thức, phát triển khoa học ở Việt Nam. Kết quả
nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng vào việc biên soạn từ điển, tạo điều
kiện cho việc giảng dạy và học tập tốt hệ thuật ngữ khoa học tiếng Việt nói
chung và hệ thuật ngữ KHTN nói riêng.
2. Lịch sử vấn đề
Mặc dù vấn đề thuật ngữ đã được quan tâm từ rất lâu, nhưng phải đến
thế kỉ XX, Thuật ngữ học mới thực sự được khẳng định như một ngành khoa
học. Việc nghiên cứu thuật ngữ xuất phát từ hai vấn đề nền tảng: thứ nhất là
do kết quả quan sát quá trình hình thành lí thuyết nhằm đáp ứng sự ra đời của
một bộ phận từ ngữ đặc biệt trong ngôn ngữ chuyên môn; thứ hai là do trên
thực tế, trong giao tiếp, nhóm từ ngữ đặc biệt này được coi như những từ ngữ
có ứng dụng độc lập.
Trên thực tế, thuật ngữ ra đời và được sử dụng trước khi người ta tìm
cách định nghĩa chúng. Bên cạnh cái chung, mỗi ngành khoa học đều tạo


3
dựng cho mình các cơ sở xây dựng nên những hệ thống thuật ngữ chuyên
ngành khác nhau, vì thế chúng có những đặc thù riêng.
Để hình dung một cách rõ hơn về nội dung của khái niệm “thuật ngữ
khoa học”, trước hết chúng ta hãy đến với quan niệm của các nhà khoa học Âu Mĩ, nơi có nền khoa học - kĩ thuật - công nghệ phát triển sớm, nhanh và mạnh.
Nói đến thuật ngữ học trước hết không thể không nhắc tới các nhà thuật
ngữ học như: E. Wuster (Đức), J.C. Boulanger (Anh), R.W. Brown (Mĩ)
[146], W.E. Flood (Mĩ) [148], J.C. Segen (Mĩ) [150]. Ngoài việc định nghĩa
thuật ngữ, nêu bản chất khái niệm và chức năng của chúng, các nhà nghiên
cứu này còn có xu hướng tìm cách xác định các tiêu chuẩn cụ thể cần phải có
của thuật ngữ.
Cùng với những tên tuổi của các nhà thuật ngữ học Âu - Mĩ là các nhà
thuật ngữ học nổi tiếng của Xô viết như: D.S. Lotte (Д.C. Лотте), N.P. Kuz'kin
(Н.П. Кузькин), A.I. Moiseev (А.И. Моисеев), V.V. Vinogradov (В.В.
Виноградов), A.A. Reformatskij (А.А. Реформатский), V.P. Đanilenko (В.П.
Даниленко), A.S. Gerd (А.С. Герд),... đã đi sâu vào phân tích bản chất, chức
năng, khái niệm của thuật ngữ và đã tìm định nghĩa cho thuật ngữ khoa học.
Riêng nghiên cứu về cấu tạo của thuật ngữ, năm 1939 tác giả G.O. Vinokur
(Г.О. Винокур) đã có bài “Về một số hiện tượng cấu tạo từ trong hệ thuật ngữ
kĩ thuật Nga” [135].
Ở Việt Nam, thuật ngữ khoa học xuất hiện muộn hơn so với các nước
phương Tây. Vào những năm đầu thế kỉ XX, một số thuật ngữ khoa học xã
hội đã được các tác giả Đông Kinh Nghĩa Thục giới thiệu. Từ những năm
1917 trở đi, việc xây dựng, hình thành thuật ngữ đã có những biểu hiện từ tự
phát đến tự giác, trên tạp chí Nam Phong (1917 - 1934) đã có ý kiến bàn bạc
về việc biên soạn từ điển, đặt danh từ khoa học. Chẳng hạn như bài viết của
Nguyễn Ứng “Về sự dịch tiếng hóa học”, Nguyễn Triệu Luật bàn về “Danh từ


4
hóa học”. Một số từ điển (tự điển) đã được xuất bản như: Việt Nam tự điển, do
Hội khai trí Tiến Đức khởi thảo, xuất bản lần đầu năm 1931, Hán Việt từ điển
của Đào Duy Anh, Quan - Hải, Tùng - Thư xuất bản năm 1932 và Danh từ
khoa học (Toán, Lí, Hóa, Thiên văn) của Hoàng Xuân Hãn, xuất bản năm
1942. “Cuốn Danh từ khoa học của Hoàng Xuân Hãn không chỉ cung cấp tư
liệu từ ngữ mới, tri thức mới mà cả phương pháp, cách thức sáng tạo thuật
ngữ tiếng Việt hiện đại. Đóng góp lớn của công trình này không chỉ ở vốn
thuật ngữ một số ngành khoa học cơ bản lần đầu được xây dựng cấu tạo mà
còn là lí luận về hệ thuật ngữ, về nguyên tắc và phương pháp xây dựng hệ
thuật ngữ tiếng Việt hiện đại” [113, tr.190]. Sau cuốn Danh từ khoa học của
Hoàng Xuân Hãn, một số từ điển đã được xuất bản như Danh từ thực vật của
Nguyễn Hữu Quán và Lê Văn Căn, Danh từ vạn vật học của Đào Văn Tiến
(1945), Danh từ y học của Lê Khắc Thiền và Phạm Khắc Quảng, v.v.
Do điều kiện lịch sử và xã hội, phải đến những năm 60 của thế kỉ XX,
vấn đề thuật ngữ mới thực sự trở thành mối quan tâm của các nhà khoa học
Việt Nam. Năm 1960, Ban Sử Địa Văn (tiền thân của Viện Khoa học Xã hội
Việt Nam, nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) đã ban hành
“Quy định tạm thời về nguyên tắc biên soạn danh từ khoa học tự nhiên”.
Hàng loạt các hội nghị, hội thảo bàn về vấn đề thuật ngữ (Hội nghị bàn về vấn
đề xây dựng thuật ngữ khoa học, 28 - 29/12/1964; Hội nghị trưng cầu ý kiến
về vấn đề dùng thuật ngữ khoa học tháng 5/1965). Một Hội đồng Thuật ngữ Từ điển khoa học do Nguyễn Khánh Toàn làm chủ tịch đã ra đời. Vào tháng
6/1966, Ủy ban Khoa học Nhà nước đã công bố áp dụng tạm thời bản “Quy
tắc phiên thuật ngữ khoa học (gốc Ấn - Âu) ra tiếng Việt”.
Những năm 90 của thế kỉ XX về sau, một số bài viết, công trình nghiên
cứu về cấu tạo thuật ngữ tiếng Việt ra đời như: Vấn đề phương thức cấu tạo
thuật ngữ trong một số công trình xuất bản tại Việt Nam thời kì 1954 - 1975


5
[143]; Thuật ngữ quân sự tiếng Việt (đặc điểm và cấu trúc) [42]; Thuật ngữ
Việt Nam đầu thế kỉ XX trong quan hệ với văn hóa và phát triển [111]; Đặc
điểm của thuật ngữ tiếng Việt [83], [84]; Về đặc điểm mô hình cấu tạo và việc
chuẩn hóa thuật ngữ xây dựng là cụm từ trong tiếng Việt [128]. Cùng với các
bài viết, công trình trên là các đề tài cấp bộ, cấp học viện đã được bảo vệ,
hàng loạt bài viết của các tác giả về thuật ngữ đã được giới thiệu, phản ánh
kết quả nghiên cứu về thuật ngữ tiếng Việt.
Kể từ năm 1991 đến năm 2013 đã có nhiều luận án tiến sĩ nghiên cứu
về thuật ngữ được bảo vệ, như luận án của Vũ Quang Hào [41], Nguyễn Thị
Bích Hà [35], Nguyễn Thị Kim Thanh [105], Vương Thị Thu Minh [80], Mai
Thị Loan, Vũ Thị Thu Huyền [48].
Như vậy, vấn đề thuật ngữ nói chung và việc nghiên cứu các phương
thức và mô hình cấu tạo của thuật ngữ nói riêng đã ít nhiều được các tác giả
trong và ngoài nước nghiên cứu. Tuy nhiên, việc chúng tôi đi vào Nghiên cứu
các phương thức cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên tiếng Việt (trên tư
liệu thuật ngữ Toán - Cơ - Tin học, Vật lí) cho đến nay đây vẫn còn là lĩnh
vực chưa có tác giả nào đi vào khảo sát chuyên sâu và toàn cảnh nhóm ngành
khoa học này. Vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu với
mong muốn góp một phần công sức vào lĩnh vực phát triển và chuẩn hóa
thuật ngữ nói chung và hệ thuật ngữ KHTN tiếng Việt nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Luận án nghiên cứu các phương thức cấu tạo hệ thuật ngữ KHTN
tiếng Việt mà cụ thể là hệ thuật ngữ Toán - Cơ - Tin học, Vật lí nhằm rút ra
các đặc điểm cơ bản về cấu tạo của hệ thuật ngữ này. Trên cơ sở đó, luận án
sẽ đưa ra một bức tranh tổng quát về các phương thức và mô hình cấu tạo;
đề xuất một số ý kiến đối với việc phát triển và chuẩn hóa hệ thuật ngữ này
trong tiếng Việt.


6
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận án của chúng tôi hướng tới giải quyết
các nhiệm vụ sau đây:
- Hệ thống hóa các quan điểm lý thuyết về thuật ngữ khoa học nói
chung và về thuật ngữ KHTN tiếng Việt nói riêng. Đồng thời xem xét sơ bộ
về sự hình thành và phát triển của hệ thuật ngữ KHTN tiếng Việt trong mối
quan hệ với lịch sử phát triển của các ngành khoa học cơ bản này của Việt
Nam thời hiện đại.
- Khảo sát phương thức và mô hình cấu tạo hệ thuật ngữ KHTN Toán Cơ - Tin học, Vật lí tiếng Việt ở bậc từ.
- Khảo sát phương thức và mô hình cấu tạo hệ thuật ngữ KHTN Toán Cơ - Tin học, Vật lí tiếng Việt ở bậc ngữ.
Thông qua sự phân tích các mô hình cấu tạo, liên hệ tới những mô hình
có sức sản sinh cao, rút ra các mô hình cấu tạo cơ bản của các hệ thuật ngữ
này trong tiếng Việt.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt kết quả nghiên cứu theo mục đích và nhiệm vụ đã đề ra, luận
án sử dụng các phương pháp sau:
4.1. Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được dùng để miêu tả các phương thức và mô hình
cấu tạo hệ thuật ngữ KHTN tiếng Việt.
4.2. Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp
Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp được áp dụng để phân tích
cấu tạo của thuật ngữ theo từng thành tố. Kết quả phân tích cho thấy đặc điểm
phương thức cấu tạo của hệ thuật ngữ KHTN tiếng Việt và làm rõ hệ thống mô
hình cấu tạo cũng như các bước phát triển và xu hướng chuẩn hóa của chúng
trong tiếng Việt.
Ngoài hai phương pháp cơ bản trên, luận án còn sử dụng các phương
pháp, thủ pháp nghiên cứu sau:


7
- Phương pháp so sánh đối chiếu được dùng khi phân tích những đặc
điểm riêng của từng tiểu loại. Các tiểu loại khảo sát có mối liên hệ với nhau;
qua so sánh rút ra những nhận xét chung và riêng cho từng tiểu loại.
- Thủ pháp thống kê phân loại được sử dụng để xác định số lượng từng
loại thuật ngữ xét theo mô hình cấu tạo. Các kết quả thống kê sẽ được tổng hợp
thể hiện dưới hình thức các bảng biểu, đồ thị nhằm giúp hình dung rõ hơn nét
đặc trưng cơ bản về cấu tạo của hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên trong tiếng Việt.
5. Đối tượng và tư liệu nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên
tiếng Việt. Xét theo bậc cấu tạo và các phương diện cụ thể của thuật ngữ, luận
án sẽ nghiên cứu:
- Phương thức và mô hình cấu tạo thuật ngữ khoa học tự nhiên ở bậc từ
- Phương thức và mô hình cấu tạo thuật ngữ khoa học tự nhiên ở bậc ngữ
5.2. Tư liệu nghiên cứu
Ở Việt Nam, hiện nay có nhiều từ điển KHTN song ngữ được xuất bản.
Trong số những cuốn từ điển KHTN được xuất bản gần đây, chúng tôi đã chọn
các từ điển sau làm tư liệu nghiên cứu: Từ điển Anh - Việt khoa học tự nhiên,
tập 1, Toán - Cơ - Tin học và tập 2, Vật lí/ Nguyễn Văn Mậu (chủ biên), Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 2008.
Đây là những từ điển được biên soạn bởi những nhà khoa học có uy tín
hàng đầu ở Việt Nam, những từ điển này được biên soạn vào dịp kỉ niệm 50 năm
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội (1956 - 2006).
6. Đóng góp của luận án
6.1. Ý nghĩa lí luận
- Việc nghiên cứu về hệ thuật ngữ KHTN tiếng Việt của luận án góp
phần tổng hợp, nhìn nhận toàn cảnh các vấn đề về thuật ngữ KHTN nói riêng
và thuật ngữ ở Việt Nam nói chung.


8
- Qua khảo sát và phân tích, luận án chỉ ra các đặc điểm của thuật ngữ
KHTN tiếng Việt về cấu tạo, từ đó sẽ góp phần thúc đẩy tiến trình xây dựng
hệ thuật ngữ KHTN tiếng Việt mang tính khoa học (tính chính xác, tính hệ
thống), tính quốc tế và tính dân tộc, thiết thực góp ích cho sự phát triển của
khoa học nói chung và hệ thuật ngữ KHTN tiếng Việt nói riêng.
- Kết quả nghiên cứu sẽ thực sự đóng góp vào việc xây dựng lí thuyết
về thuật ngữ khoa học nói riêng và lí luận về chuẩn hóa ngôn ngữ nói chung.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở xác định được các đặc điểm về mặt cấu tạo của hệ thuật ngữ
KHTN tiếng Việt, luận án sẽ góp phần định hướng cho việc xây dựng và
chuẩn hóa thuật ngữ, rút kinh nghiệm cho việc xây dựng thuật ngữ khoa học
nói chung và hệ thuật ngữ KHTN nói riêng trong tiếng Việt hiện nay.
Luận án, ở mức độ khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp, góp phần chuẩn
hóa và giữ gìn sự trong sáng, sự phát triển của tiếng Việt trong thời kì công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập khu vực và quốc tế.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, khảo sát và phụ lục,
luận án gồm có ba chương được sắp xếp như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Phương thức và mô hình cấu tạo thuật ngữ KHTN ở bậc từ
Chương 3: Phương thức và mô hình cấu tạo thuật ngữ KHTN ở bậc ngữ


9
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Khái niệm thuật ngữ
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, vấn đề thuật ngữ luôn
được các nhà ngôn ngữ học cũng như các nhà khoa học quan tâm nghiên
cứu. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa, khái niệm thuật
ngữ được mọi người thừa nhận. Sở dĩ có nhiều cách định nghĩa khác nhau là
do cách nhìn. Có tác giả cho rằng thuật ngữ xác định khái niệm, nhưng cũng
có tác giả cho rằng thuật ngữ không chỉ xác định khái niệm mà còn biểu hiện
khái niệm. Về bản chất của thuật ngữ, D.S. Lotte (Д.C. Лотте), thì cho rằng
thuật ngữ là từ đặc biệt, còn G.O. Vinokur (Г.О.Винокур) cho rằng thuật
ngữ không phải từ đặc biệt, mà chỉ là từ với chức năng đặc biệt, và tuyên bố
rằng, bất cứ từ nào cũng được cấu tạo để có vai trò là một thuật ngữ.
O.S. Akhmanova (O.C. Axмaнова) định nghĩa: “Thuật ngữ là từ hoặc
cụm từ của ngôn ngữ chuyên môn (ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ kĩ thuật,
v.v.) được sáng tạo ra (được tiếp nhận, được vay mượn, v.v.) để biểu hiện
chính xác các khái niệm chuyên môn và biểu thị các đối tượng chuyên môn”
[dẫn theo 124, tr.3]. Đại Bách khoa toàn thư Xô viết (1976) định nghĩa:
“thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ chỉ ra một cách chính xác khái niệm
và quan hệ của nó với những khái niệm khác trong giới hạn của phạm vi
chuyên ngành. Thuật ngữ là cái biểu thị vốn đã chuyên biệt hóa, hạn định
hóa về sự vật, hiện tượng, thuộc tính và quan hệ của chúng đặc trưng cho
phạm vi chuyên môn đó” [dẫn theo 35, tr.11].
Đanilenko (В.П. Даниленко) cho rằng: “Thuật ngữ dù là từ (ghép
hoặc đơn) hay cụm từ đều là một kí hiệu tương ứng với một khái niệm”, và
“Bản chất của thuật ngữ với tư cách là một khái niệm hoàn toàn không trùng
với từ thông thường của ngôn ngữ toàn dân” [dẫn theo 35, tr.11].


10
A.S. Gerd (А.С. Герд) định nghĩa: “Thuật ngữ là một đơn vị từ vựng
- ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa và được khu biệt một cách nghiêm ngặt
bởi các đặc trưng như tính hệ thống, tính đơn nghĩa; ở thuật ngữ không có
hiện tượng đồng nghĩa hay đồng âm trong phạm vi của một khoa học hoặc
một lĩnh vực tri thức cụ thể” [dẫn theo 105, tr.19].
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu thuật ngữ bắt đầu từ những năm đầu thế
thế kỷ XX. Rất nhiều nhà khoa học Việt Nam đã đi vào nghiên cứu và đưa ra
những định nghĩa thuật ngữ, làm cho khái niệm “thuật ngữ” ngày một đầy đủ
và chính xác.
Năm 1960, trong cuốn Khái luận ngôn ngữ học, Nguyễn Văn Tu đã định
nghĩa: “Thuật ngữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong các ngành khoa học, kĩ thuật,
chính trị, ngoại giao, nghệ thuật, v.v. và có một ý nghĩa đặc biệt, biểu thị chính
xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc ngành nói trên" [131, tr.176]. Năm
1976, trong cuốn Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, một lần nữa, ông lại đưa ra
định nghĩa về thuật ngữ: “Thuật ngữ là những từ và những cụm từ chỉ những
khái niệm của một ngành khoa học, ngành sản xuất hay ngành văn hóa nào đó
v.v... Ví dụ: đồng âm, phụ âm, nguyên âm thuộc về ngành ngôn ngữ học; giáo
án, lên lớp,... thuộc về ngành giáo dục học; ốcxi hidrô, benzen thuộc về ngành
hóa học; quang phổ, quang học, điện pin... thuộc về ngành lí v.v...
Đặc điểm của thuật ngữ là một từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng
nghĩa, không có sắc thái tình cảm, có thể có tính chất quốc tế (tùy từng
ngành)” [133, tr.202].
Ở định nghĩa này, Nguyễn Văn Tu đã nhấn mạnh đến mặt khái niệm
mà các thuật ngữ biểu thị. Tuy nhiên, do điều kiện khoa học - kĩ thuật ở nước
ta lúc bấy giờ còn chưa phát triển mạnh, nên trong định nghĩa của ông phải
chăng vì thế mà tính quốc tế chưa được đề cao, còn "tùy từng ngành”.
Năm 1962, trong Giáo trình Việt ngữ, tập 2, Đỗ Hữu Châu đã định nghĩa:
“Thuật ngữ là những từ chuyên môn được sử dụng trong phạm vi một ngành


11
khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành kĩ thuật nào đấy. Có thuật ngữ của
ngành vật lí, ngành hóa học, toán học, thương mại, ngoại giao, v.v… Đặc tính
của những từ này là phải gắng chỉ có một nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ
tên một sự vật, một hiện tượng khoa học, kĩ thuật nhất định” [15, tr.167].
Định nghĩa trên đã nhấn mạnh không chỉ đến mặt “biểu thị khái niệm
khoa học” mà còn “chỉ tên một sự vật, hiện tượng khoa học, kĩ thuật” trong
thuật ngữ khoa học.
Sau này trong cuốn Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt (1981), Đỗ Hữu
Châu đã đưa ra định nghĩa bao quát nhưng khái quát hơn về thuật ngữ khoa
học, kĩ thuật như sau: “Thuật ngữ khoa học, kĩ thuật bao gồm các đơn vị từ
vựng được dùng để biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động, đặc điểm…
trong những ngành kĩ thuật công nghiệp và trong những ngành khoa học tự
nhiên hay xã hội” [16, tr.237]. Ông đối lập thuật ngữ với từ thông thường.
Theo ông: “Khác với từ thông thường, thuật ngữ có ý nghĩa biểu vật trùng
hoàn toàn với sự vật, hiện tượng... có thực trong thực tế, đối tượng của ngành
kĩ thuật và ngành khoa học tương ứng. Ý nghĩa biểu niệm của chúng cũng là
những khái niệm về các sự vật, hiện tượng này đúng như chúng tồn tại trong
tư duy (dĩ nhiên theo cách hiểu của ngành kĩ thuật và ngành khoa học tương
ứng). Về mặt nội dung, ở các thuật ngữ không xảy ra sự chia cắt thực thể
khách quan theo cách riêng của ngôn ngữ. Mỗi thuật ngữ như là một “cái
nhãn” dán vào đối tượng này (cùng với khái niệm về chúng) tạo nên chính nội
dung của nó. Tính hệ thống về mặt ngữ nghĩa của thuật ngữ là do tính hệ
thống của bản thân đối tượng và khái niệm trong ngành khoa học và kĩ thuật
đó quyết định” [16, tr.238].
Năm 1983, Hoàng Văn Hành đã đưa ra định nghĩa nhấn mạnh hơn đến
tính hệ thống của thuật ngữ. Trong định nghĩa này, Hoàng Văn Hành đã chỉ rõ
thêm tính xác định của khái niệm mà thuật ngữ biểu thị trong hệ thống những


12
khái niệm của một ngành khoa học nhất định: “Thuật ngữ là từ ngữ dùng để
biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một
ngành khoa học nhất định. Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa
học hợp thành vốn thuật ngữ” [38, tr.26].
Năm 1978, trong giáo trình Từ vựng tiếng Việt, tiếp đến năm 1985,
trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt, sau đó là năm 1998 trong giáo trình trên
được tái bản, Nguyễn Thiện Giáp viết “Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt
của ngôn ngữ. Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác
của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của
con người” [29, tr.270].
Năm 2008, trong cuốn Sự phát triển của từ vựng tiếng Việt nửa sau thế
kỉ XX, tác giả Hà Quang Năng viết: “thuật ngữ là từ ngữ dùng để biểu thị một
khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học
nhất định” [81, tr.94].
Năm 2010, trên tạp chí Ngôn ngữ, tác giả Nguyễn Đức Tồn đã viết:
“Thuật ngữ là từ ngữ biểu hiện một khái niệm hoặc một đối tượng trong phạm
vi một lĩnh vực khoa học hoặc chuyên môn” [124, tr.1-9].
Từ những định nghĩa trên và để có cơ sở khoa học cho quá trình khảo
sát đối tượng của luận án, chúng tôi đưa ra một cách hiểu về thuật ngữ như
sau: Thuật ngữ là từ ngữ biểu hiện khái niệm hoặc đối tượng trong một lĩnh
chuyên môn nhất định.
1.2. Thuật ngữ trong văn bản
Việt Nam hiện đang trên con đường hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Đi cùng với quá trình này, các ngành khoa học và công nghệ cũng đang phát
triển với tốc độ nhanh. Số lượng thuật ngữ (term) liên tục tăng, tỉ lệ thuật ngữ
xuất hiện trong các văn bản ngày càng cao. Đây là điều tất yếu của quá trình
công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, với số lượng thuật ngữ


13
tăng với tốc độ rất lớn này, việc tìm hiểu, điều chỉnh thuật ngữ cũng trở nên
không thể thiếu và đóng một vai trò quan trọng trong các văn bản, đặc biệt là
văn bản khoa học chuyên ngành.
Thuật ngữ không chỉ xuất hiện trong các văn bản khoa học, kĩ thuật mà
còn có cả ở các văn bản thông thường. Trong các văn bản thuộc lĩnh vực
KHTN, thuật ngữ được sử dụng với một số lượng lớn. Ví dụ: đạo hàm, tích
phân, vi phân, đoạn thẳng,... (Toán học); điểm tựa, trọng lực, lực, phát
quang, phóng xạ, điện trở, quán tính, cơ học, dao động,... (Vật lí); kiềm,
muối, phân tử, kim loại, lưu huỳnh, hỗn hợp, nguyên tử,... (Hóa học); mô, tế
bào, thụ phấn,... (Sinh học). Đây là những thuật ngữ của ngôn ngữ tự nhiên
chứa đựng các khái niệm của các chuyên ngành khoa học, và là công cụ để tư
duy khoa học. Các khái niệm khoa học này là kết quả của quá trình trừu tượng
và khái quát hóa của con người. Vì thế, các thuật ngữ biểu hiện chúng cũng
mang tính trừu tượng, khái quát cao.
Thuật ngữ thuộc về lớp từ vựng khoa học chuyên ngành, không giống từ
ngữ thông thường được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày. Do đó, khi sử dụng
thuật ngữ, cần phải dùng đúng với khái niệm khoa học. Ví dụ, trong ngôn ngữ
hàng ngày, muối được dùng với nghĩa “tinh thể trắng, vị mặn thường tách từ
nước biển, dùng để ăn”. Khi muối được dùng trong lĩnh vực Hóa học, thì muối
có nghĩa là “Hợp chất do acid tác dụng với base sinh ra” [137, tr.650].
Các ngành khoa học hiện đại phát triển nhanh, có xu hướng đa ngành,
liên ngành. Vì vậy, xuất hiện tình trạng một thuật ngữ được dùng trong
nhiều ngành khoa học khác nhau, như virus, chuột trong Sinh học và Tin
học; chu kì trong Toán học, Vật lí, Hóa học,... Tuy nhiên, mỗi ngành khoa
học có hàm nội dung khái niệm xác định, hiện tượng đồng âm này không vi
phạm nguyên tắc: một thuật ngữ phải là một khái niệm xác định, chính xác,
thuần lí.


14
Trong các văn bản thuộc lĩnh vực KHTN, hệ thống thuật ngữ của các
ngành như Toán học, Vật lí, Hóa học, Sinh học mang tính ổn định hơn so với
lĩnh vực Tin học. Bởi vì, so với các ngành khoa học khác, Tin học là ngành
mới xuất hiện trong những thập niên gần đây. Thuật ngữ Tin học là hệ thuật
ngữ trẻ, đang trong quá trình hình thành và phát triển, chưa ổn định, hằng
ngày lại xuất hiện rất nhiều thuật ngữ mới lạ nên việc phiên chuyển những
thuật ngữ này cũng còn nhiều bất cập, gây trở ngại cho người sử dụng.
Cùng với việc sử dụng các thuật ngữ, văn bản chuyên ngành thuộc lĩnh
vực KHTN còn sử dụng một số lượng lớn các danh pháp khoa học. Ví dụ:
vitamin A, vitamin B, vitamin C,... Về mặt chức năng, danh pháp giống với
các tên riêng, còn thuật ngữ gắn liền với hệ thống các khái niệm. Về bản chất,
thuật ngữ nhấn mạnh đến chức năng định nghĩa, còn danh pháp chức năng gọi
tên mới là quan trọng. Khi tên riêng được dùng để biểu đạt khái niệm thì đó là
thuật ngữ. Ví dụ: Ôm, Vôn (danh pháp)  Ôm kế, Vôn kế (thuật ngữ).
Trong văn bản KHTN, còn sử dụng nhiều thuật ngữ chung cho các
ngành khoa học như: hệ thống, chức năng, yếu tố, phương trình, vật chất, thời
gian, bình diện... Lớp thuật ngữ này thường được sử dụng lặp đi lặp lại nhiều
lần trong một văn bản chuyên ngành. Đây là điểm khác biệt giữa văn bản
chuyên ngành KHTN và văn bản nghệ thuật. Đối với văn bản nghệ thuật, việc
lặp đi lặp lại một từ trong một ngữ cảnh hẹp là một thiếu sót, nhưng đối với
văn bản chuyên ngành thuộc lĩnh vực KHTN thì đó là một dấu hiệu của
phong cách chức năng.
Văn bản chuyên ngành KHTN, bên cạnh việc sử dụng các thuật ngữ
chung, còn sử dụng nhiều thuật ngữ mang tính trừu tượng. Trong khoa học,
các khái niệm đều được nhận thức thông qua tư duy logic, thông qua quá trình
trừu tượng hóa, khái quát hóa để nhận thức và phản ánh thế giới khách quan.
Đóng vai trò quan trọng trong lớp thuật ngữ trừu tượng này là các từ Hán Việt


15
và cách định danh hóa một động từ bằng các thành tố “sự”, “tính”,... Những
thuật ngữ chỉ vật chất trừu tượng trong văn bản chuyên ngành được sử dụng
với ý nghĩa khái quát, đảm bảo tính ngắn gọn và chính xác.
Để nắm vững thuật ngữ chuyên ngành, ngoài việc am hiểu khoa học,
người tạo lập văn bản còn cần phải thông thạo ngoại ngữ của từng lĩnh vực
chuyên môn. Chẳng hạn, trong lĩnh vực Tin học, nếu không có sự hiểu biết
về tiếng Anh chuyên ngành, người tra cứu thông tin sẽ gặp rất nhiều khó
khăn. Nhưng nếu có trình độ chuyên môn tốt, chỉ cần một cái "nhấp chuột"
là cả một thế giới thông tin rộng lớn sẽ được mở ra trước mắt người đọc.
Trong văn bản chuyên ngành, thuật ngữ là danh từ được sử dụng nhiều nhất.
Bởi đa phần thuật ngữ trong văn bản chuyên ngành là thuật ngữ định danh
khái niệm. Trong số những thuật ngữ là danh từ còn có những thuật ngữ là
danh từ trừu tượng như: thời gian, nhiệt độ, hiện tượng, số lượng, thuộc tính,
tần số, trạng thái,...
Văn bản chuyên ngành khoa học mang đặc trưng lí trí, logic cả trong nội
dung khoa học, cả ở phương tiện ngôn ngữ. Bởi vì, để gợi mở trí tuệ và thuyết
phục bằng lí tính, lời trình bày, cách suy luận phải biểu hiện bằng năng lực tổng
hợp của trí tuệ, phải tuân theo quy tắc chặt chẽ của tư duy logic hình thức đến
tư duy logic biện chứng.
Trong lĩnh vực KHTN, việc chứng minh tính đúng đắn về nội dung khoa
học cũng có sự khác nhau: “Nếu để chứng minh các quan điểm của mình, nhà
tự nhiên học luôn tìm đến thực nghiệm, thì nhà toán học chứng minh các kết
quả của mình chỉ bằng các lập luận logic. Trong toán học, không điều gì được
công nhận là chân lí khi chưa được chứng minh logic, cả trong trường hợp một
số thí nghiệm đặc biệt xác nhận điều ấy đúng” [90, tr.10].
Trong quá trình nhìn nhận và khám phá sự vật, “Các nhà khoa học cũng
xuất phát từ giác quan như cái nhìn thông thường, nhưng nhà khoa học khác


16
người thường ở điểm anh ta tìm ra được những quan hệ bất biến, giải quyết
được những điều mà giác quan thông thường cho là mâu thuẫn (1). Cái thước
tuy thẳng nhưng nhúng một đầu xuống nước thì thấy nó bị gãy thành một
đường gấp khúc (2). Lí trí bảo cái thước thẳng, con mắt bảo cái thước cong,
để điều hòa mâu thuẫn, người ta bảo: giác quan sai lầm (3). Nhà Vật lí học
giải thích: đây không có sự sai lầm nào của giác quan cả, mà do cái độ khúc
xạ của ánh sáng, và đã đưa ra một công thức Toán học giải thích mọi hiện
tượng khúc xạ” [88, tr.185].
Cũng cần phải nói thêm rằng, trong các văn bản chuyên ngành thuộc
lĩnh vực KHTN, ngoài việc sử dụng các thuật ngữ, người ta thường sử dụng
các kí hiệu, công thức như:  (beta),  (epsilon),  (omega),... (Toán học); 
(ôm), Q (điện tích), C (điện dung), U (hiệu điện thế),... (Vật lí); F (Fluor), He
(Hêlium), H2O, NaCl,... (công thức Hóa học).
Theo nghĩa chuyên môn, kí hiệu là “Cái có thể nhận biết trực tiếp, cho
phép kết luận về sự tồn tại hoặc về tính chân thực của một cái khác liên hệ với
nó” [137, tr.520]. Còn công thức là: “1. Nhóm kí hiệu diễn tả gọn một sự kiện
tổng quát, một quy tắc, nguyên lí hoặc khái niệm. Công thức diện tích (S)
hình chữ nhật (có các cạnh a, b) là S=ab. 2. cn. công thức Hóa học. Nhóm kí
hiệu hóa học biểu diễn thành phần phân tử của một chất. Công thức của nước
là H2O” [137, tr.210].
Trong Toán học, để cho gọn, người ta thường dùng các kí hiệu để chỉ
các số, các hình, các phép toán, các quan hệ, như:  (vô hạn), e (cơ số
logarit tự nhiên),  (tỉ số giữa chu vi và đường kính vòng tròn), [ ] (phần
nguyên của một số), a2, b2,... an (lũy thừa của một số); các phép tính cộng,
trừ, nhân, chia, v.v.
Tập hợp các kí hiệu thường dùng trong Toán học được thể hiện qua
bảng tổng hợp 1.1 sau:


17
Bảng 1.1. Các kí hiệu thường dùng trong Toán học
Dấu

Nghĩa của dấu

Người đưa vào

Năm đưa vào



Vô hạn

Oalixơ (J Wallis)

1655

e

Cơ số logarit tự nhiên

Ơle ( L. Euler)

1736

Tỉ số giữa chu vi và

Jôn (W. Jones) và Ơle

1706



đường kính vòng tròn

1736

i

Đơn vị ảo

Ơle

1777

i, j, k

Véc tơ đơn vị

Hamintơn (W. R. Haminlton)

1853

Phần nguyên của một số

Gauxơ (C. F. Gauss)

1808

+, -

Phép cộng, phép trừ

Vitman

1489

x

Phép nhân

Aotret (vW. Oughtret)

1631

.

Phép nhân

Laibnit (G. W. Leibniz)

1698

:

Phép chia

Laibnit

1684

a2, b2,…an

Lũy thừa

Đề các, Niutơn

1637, 1676

., n .

Căn số

Ruđônpơ (Ch. Rudolf)

1525

log

Lôgarit

Kêplơ (J. Keplor)

1632

ln

lôgarit tự nhiên

Prinhsêm (A. Pringsheim)

1893

sin, cos

Các hàm lượng giác

Ơle

1748

Ơle

1753

Vi phân

Laibnit

1675

Tích phân

Labnit

1675

Đạo hàm

Labnit

1675

Lagrăng (J. L. de

1770

[]

tang
dx, d2x
ydx
d/dx
y’(x),
f’(x)

Đạo hàm

Cavaliêri (B. Cavalieri)

Lagrange)

 (x)

Số gia

Ơle

1775

 ,  (x)

Đạo hàm riêng

Lơgiăng (A. M. Legendre)

1786



Tổng

Ơle

1755


18
Tích

Gauxơ

y (x)

Hàm số

Becnuli (Bernouli), Ơle

=

Bằng

Rơcooc (R. Recorde)

1557

>

Lớn hơn

Hariôt (T. Harriot)

1631

<

Nhỏ hơn



Hợp

Pêanô (G. Peano)

1888



Giao



Được chứa trong

Sruêđo (E. Schroder)

1890



Chứa



Thuộc

Pêanơ

1895



1812
1718, 1734

[http:// dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn].
Nếu trong Toán học, các kí hiệu thường được dùng để chỉ các số, các
hình, các quan hệ, thì trong Hóa học, các kí hiệu thường được sử dụng là
những kí hiệu biểu diễn các nguyên tố Hóa học (và các nguyên tử). Các kí
hiệu này được thể hiện bằng chữ cái đầu hoặc kèm theo một chữ cái thứ hai
trong tên gọi latin của chúng (chữ cái đầu phải viết hoa), ví dụ: C là kí hiệu
của nguyên tố cacbon, Ca - nguyên tố canxi, Cd - nguyên tố cađimi. Mỗi kí
hiệu Hóa học có ý nghĩa khác nhau: a) để chỉ nguyên tử: H (hidro), S (lưu
huỳnh), He (heli); b) để chỉ một phân tử: H2 (hidro), Cl2 (clo), O3 (ozon); c)
để chỉ một ion: H+, Na+, S2-, Cl-; d) để chỉ một nguyên tử ở trạng thái kích
thích: H; đ) để chỉ một mol nguyên tử hoặc phân tử hoặc phân tử: H=1g,
Fe=56g, H2=2g, Cl2=71g; e) để chỉ các đồng vị của các nguyên tố nếu có kèm
theo số khối (chỉ số trên bên trái): 35Cl, 37Cl (có thể viết kèm theo cả số thứ tự
nguyên tử - chỉ số dưới bên trái):

35
17

Cl.

37
17

Cl

Trong KHTN, việc sử dụng các kí hiệu, công thức cho phép chúng ta ghi
lại một cách cô đọng những mệnh đề mà nếu diễn tả bằng ngôn ngữ thông


19
thường sẽ rất dài dòng, khó hiểu. Ngoài ra, việc sử dụng các kí hiệu, công thức
mang tính quốc tế này còn giúp cho các nhà khoa học trao đổi học thuật với
nhau một cách thuận lợi, khắc phục được những trở ngại về ngôn ngữ. Tuy
nhiên, tiếng nói của các kí hiệu, công thức này không thể tồn tại được nếu
không có tiếng nói thông thường. Ngôn ngữ thông thường hay chính xác hơn là
ngôn ngữ chúng ta sử dụng trong mọi lĩnh vực cuộc sống, là ngôn ngữ tự nhiên,
nó có nội dung phong phú hơn tiếng nói của các kí hiệu, công thức nhân tạo.
Trong Toán học, tất cả các mệnh đề đều được diễn tả bằng kí hiệu và các kí
hiệu này đều có thể diễn tả bằng tiếng nói thông thường. Nhưng ngược lại thì
không đúng, mọi mệnh đề được diễn tả bằng tiếng nói thông thường, tiếng nói
tự nhiên, không phải lúc nào cũng được diễn tả bằng các kí hiệu nhân tạo, ngôn
ngữ tự nhiên bao trùm ngôn ngữ nhân tạo, hệ thống kí hiệu nhân tạo.
1.3. Phân biệt thuật ngữ và danh pháp khoa học
Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ. Thuật ngữ luôn
luôn biểu thị khái niệm được xác định trong một ngành khoa học và lệ thuộc
vào hệ thống khái niệm của ngành khoa học đó. Nó bao gồm những từ và ngữ
cố định, là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc
các lĩnh vực chuyên môn. Ví dụ các thuật ngữ: đạo hàm, tích phân, vi phân,...
trong Toán học; điểm tựa, trọng lực, lực,... trong Vật lí; muối, nước, đơn chất,
hỗn hợp,... trong Hóa học; bào ngư, thụ phấn,... trong Sinh học.
Danh pháp (danh từ khoa học) là tên gọi cụ thể của các đối tượng được
dùng trong từng ngành khoa học, nó không gắn trực tiếp với các khái niệm
của khoa học này mà chỉ gọi tên sự vật trong khoa học đó mà thôi. Ví dụ,
trong Hóa học, nước, muối là thuật ngữ, còn H2O, NaCl,... là danh pháp. Như
vậy, về mặt chức năng, danh pháp giống với các tên riêng, còn thuật ngữ gắn
liền với hệ thống các khái niệm. Về bản chất, thuật ngữ nhấn mạnh đến chức
năng định nghĩa, còn danh pháp chức năng gọi tên mới là quan trọng.


20
Trong bài viết Thế nào là hệ thuật ngữ, tác giả A.A. Reformatskij
(А.А. Реформатский) đã viết “Hệ thuật ngữ trước hết có mối liên quan với
hệ khái niệm của một môn khoa học nào đó, còn danh pháp chỉ nhãn hiệu hóa
đối tượng của khoa học thôi. Vì vậy, danh pháp có thể coi là thể liên tục của
các chữ cái (vitamin A, vitamin B…), hay là thể liên tục của các con số
(MAC-5, MAC-8) và của mọi thứ dấu hiệu có tính cách ước lệ, tùy tiện khác.
Danh pháp không tương quan trực tiếp với các khái niệm của khoa học. Vì
vậy danh pháp không tiêu biểu cho hệ khái niệm của khoa học” [98, tr.4-5].
Tác giả G.O. Vinokur (Г.О.Винокур) thì cho rằng: “về danh pháp thì,
khác với thuật ngữ, nó là một hệ thống phù hiệu hoàn toàn trừu tượng và ước
lệ, công dụng duy nhất của nó là tạo những phương tiện thuận lợi nhất về mặt
thực tiễn để biểu đạt những sự vật không có quan hệ trực tiếp với những nhu
cầu của tư duy lý luận lấy các sự vật ấy làm căn cứ” [135, tr.7].
Theo Nguyễn Thiện Giáp: "Thuật ngữ có thể được cấu tạo trên cơ sở
các từ hoặc các hình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể. Nội dung của thuật ngữ ít
nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng. Còn danh pháp có thể
được quan niệm là một chuỗi kế tiếp nhau của các chữ cái như (vitamin A,
vitamin B, v.v…), là một chuỗi các con số như (MA 65, TU 104, MA 68) hay
bất kì cách gọi tên võ đoán nào" [29, tr.270-271].
Cùng với việc đưa ra những tiêu chí phân biệt thuật ngữ và danh pháp,
Nguyễn Thiện Giáp còn đưa ra một sơ đồ so sánh thuật ngữ và danh pháp với
từ bình thường và tín hiệu như sau [29, tr.271]:
tín hiệu - danh pháp - thuật ngữ - từ
Sơ đồ của tác giả cho thấy, từ và tín hiệu ở vào thế phân biệt xa, danh
pháp gần với tín hiệu (là toàn bộ những tên gọi được dùng trong một ngành
chuyên môn nào đó, không gắn trực tiếp với khái niệm khoa học đó), còn
thuật ngữ gần với từ hơn.


21
Như vậy, có thể thấy thuật ngữ gắn liền với khái niệm khoa học, thuật
ngữ được xây dựng trên mối quan hệ logic với các hệ thống khái niệm khoa
học và được biểu đạt hợp lí bằng các đơn vị từ ngữ của một ngôn ngữ (chúng
tôi nhấn mạnh - NPH). Còn danh pháp mang nặng chức năng của kí hiệu, nó
không gắn trực tiếp với các khái niệm khoa học, danh pháp chỉ “gọi tên” sự
vật và hiện tượng trong khoa học. Tuy nhiên, sự tồn tại của danh pháp có liên
quan nhất định với hệ thuật ngữ mà nó phục vụ, và muốn hay không, danh
pháp cũng làm cho người đọc, người nghe liên tưởng tới những khái niệm về
các sự vật, hiện tượng được biểu đạt nội dung qua hệ thuật ngữ.
1.4. Phương châm xây dựng thuật ngữ khoa học tiếng Việt
Trước hết, cần xác định rằng, để có một hệ thuật ngữ khoa học, không
đơn giản chỉ là việc dịch thuật ngữ nước ngoài ra tiếng Việt như nhiều người
lầm tưởng, mà đây là vấn đề “cải biến sáng tạo” có sự đối chiếu với hệ thống
thuật ngữ nước ngoài. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, trước khi đi vào xây dựng
một hệ thuật ngữ, cần phải xác định các phương châm cần có của thuật ngữ.
Như phần trên chúng tôi đã đề cập, việc đưa ra các phương châm trong
việc xây dựng thuật ngữ tiếng Việt vẫn còn có sự chưa thống nhất giữa các nhà
khoa học. Tại hội nghị bàn về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học do Ủy ban
khoa học nhà nước tổ chức năm 1964 ở Hà Nội, nhiều đại biểu đã nhất trí với
các tiêu chuẩn của thuật ngữ mà bản báo cáo chính đã đưa ra: 1) Tính khoa học
(chính xác, hệ thống và ngắn gọn); 2) Tính dân tộc; 3) Tính đại chúng [69].
Tuy nhiên, mức độ nhất trí ở điểm này, điểm kia còn có sự khác nhau.
Năm 1977, trong bài viết Thống nhất về tiêu chuẩn của thuật ngữ khoa
học, đăng trên tạp chí Ngôn ngữ, số 1, Lưu Vân Lăng cho rằng: “thuật ngữ
tiếng Việt phải: 1) Chính xác; 2) Có hệ thống; 3) Có tính bản ngữ (dân tộc);
4) Ngắn gọn, cô đọng; 5) Dễ dùng. Trong đó, ba tiêu chuẩn đầu là 3 yêu cầu
cơ bản mà tính chính xác là quan trọng nhất” [68].


22
Đến năm 1979, trong Tham luận về chuẩn hóa thuật ngữ, đăng trên tạp
chí Ngôn ngữ, số 3+4, một lần nữa, các học giả lại đưa ra những quan điểm
khác nhau về tiêu chuẩn của thuật ngữ.
Tác giả Như Ý cho rằng, những yêu cầu cơ bản của thuật ngữ là: “1)
Tính định danh; 2) Tính chính xác; 3) Tính hệ thống; 4) Tính bản ngữ” [142].
Hồng Dân cũng đồng ý về tính định danh của thuật ngữ, theo ông tính
định danh của thuật ngữ thể hiện ở mấy điểm sau: “1) Thuật ngữ ổn định về
cấu tạo; 2) Thuật ngữ phải ngắn gọn; 3) Thuật ngữ phải có sức sản sinh” [25].
Năm 1985, trong giáo trình Từ vựng học tiếng Việt, Nguyễn Thiện Giáp
đã đưa ra ba đặc điểm cơ bản của thuật ngữ là: “1) Tính chính xác; 2) Tính hệ
thống; 3) Tính quốc tế” [29].
Các tiêu chuẩn về thuật ngữ tiếng Việt mà các tác giả đưa ra được
chúng tôi tổng hợp qua bảng thống kê 1.2 sau:
Bảng 1.2. Các tiêu chuẩn của thuật ngữ tiếng Việt
TT
1.

Tiêu chuẩn của thuật ngữ

Năm

Tài

đưa ra

liệu

Hoàng Xuân Hãn

1942

36

Lê Khả Kế

1967

50

Người đưa ra

1. Mỗi ý phải có một danh từ để gọi
2. Danh từ ấy phải dùng riêng về ý ấy
3. Mỗi ý đừng có nhiều danh từ
4. Danh từ phải làm cho dễ nhớ đến ý
5. Danh từ trong các môn phải thành
một toàn thể duy nhất và liên lạc
6. Danh từ phải gọn
7. Danh từ phải có âm hưởng Việt Nam
8. Danh từ phải đặt theo lối đặt các tiếng
thường và phải có tính chất quốc gia.

2.

1. Tính khoa học (chính xác, hệ thống)
2. Tính dân tộc và đại chúng
3. Tính ngắn gọn, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ


23
3.

1. Chính xác; 2. Có hệ thống;
3. Có tính bản ngữ (dân tộc);
4. Ngắn gọn, cô đọng;

Lưu Vân Lăng

1977

68

Như Ý

1979

142

Hồng Dân

1979

25

Đỗ Hữu Châu

1981

16

Nguyễn Thiện Giáp

1985

29

Vũ Quang Hào

1991

41

Hà Quang Năng

2008

81

Nguyễn Đức Tồn

2010

124

5. Dễ dùng
4.

1. Tính định danh; 2. Tính chính xác;
3. Tính hệ thống; 4. Tính bản ngữ”

5.

1. Ổn định về cấu tạo; 2. Ngắn gọn;
3. Có sức sản sinh

6.

1. Tính chính xác; 2. Tính quốc tế;
3. Tính hệ thống

7.

1. Tính chính xác; 2. Tính hệ thống;
3. Tính quốc tế

8.

1. Tính đơn nghĩa; 2. Tính chính xác
3. Tính trung hòa về tu từ

9.

1. Tính chính xác
2. Tính hệ thống
3. Tính chất ngôn ngữ dân tộc
4. Tính ngắn gọn và tính dễ dùng
5. Tính quốc tế

10.

1. Tính khoa học (tính chính xác, tính
hệ thống và tính ngắn gọn)
2. Tính quốc tế

Tuy còn có những điểm khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà khoa
học đều nhất trí và nhấn mạnh ở hai tiêu chuẩn, đó là tính chính xác và tính
hệ thống.
Một số tiêu chuẩn của các tác giả nêu trên cho thấy sự thiếu thống nhất
về số lượng và tính chất của các tiêu chuẩn. Chúng tôi nghĩ rằng, đã là thuật
ngữ thì phải mang tính khoa học, vì thế tất yếu phải có tính chính xác và tính
hệ thống, vì tính khoa học đã bao hàm trong nó tính chính xác, hệ thống. Song


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×