Tải bản đầy đủ

Phân tích thiết kế hệ thống thông tin quản lí kho hàng

LỜI MỞ ĐẦU
Quản lí kho trong doanh nghiệp là một việc rất quan trọng đòi hỏi bộ
phận quản lí phải tiến hành nhiều nghiệp vụ phức tạp, các doanh nghiệp
không chỉ có mô hình tập trung mà còn tổ chức mô hình kho phân tán trên
nhiều địa điểm trong phạm vi vùng, quốc gia, quốc tế. Quản lí thống nhất
mô hình này trong kho không phải là việc đơn giản nếu chỉ sử dụng phương
pháp kho truyền thống.
Phần mềm quản lí vật tư là một giải pháp tiên tiến. Nó là một hệ thống
quản lí đầy đủ các thông tin về kho, vật tư hàng hoá cũng như các nhiệm vụ
nhập kho, xuất kho nội bộ, kiểm kê kho vật tư và điều chỉnh vật tư sau khi
kiểm kê.
Để xử lí thông tin một cách nhanh chóng, chính xác và có hiệu quả thì
ngành công nghệ thông tin đã phát triển tương đối phổ biến trên thế giới nói
chung và Việt Nam nói riêng, nó đã cung cấp cho chúng ta những biện pháp
cần thiết đó. Đã qua đi thời tính toán, lưu trữ dữ liệu bằng các phương pháp
thủ công truyền thốn mang nặng tính chất lạc hậu, lỗi thời. Công nghệ thông
tin đã đi vào các nghành với một phương thức hoạt động hoàn toàn mới mẻ,
sáng tạo và nhanh chóng mà không mất đi sự chính xác.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin đã mang lại bước đột phá mới cho
công tác quản lí kho, giúp doanh nghiệp nắm bắt được thông tin về hàng
hoá,vật tư, nguyên vật liệu và sản phẩm một cách chính xác kịp thời. Từ đó,

người quản lí doanh nghiệp có thể đưa ra các kế hoạch và quyết định đúng
đắn, giảm chi phí và tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh.

1


Lí do chọn đề tài
Do nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội cũng như của con người
ngày càng cao, do đó để đáp ứng được yêu cầu của khách hàng thì phải luôn
đổi mới và hoàn thiện hơn. Hiện nay do xã hội phát triển không ngừng và
kéo theo là sự lớn mạnh của các doanh nghiệp, của các tổ chức, chính vì vậy
mà việc quản lí sao cho chặt chẽ là nhu cầu cấp thiết các doanh nghiệp. Lĩnh
vực quản lí vật tư trong các doanh nghiệp hiện nay đang có nhu cầu rất lớn
vì số lượng hàng hoá được nhập và xuất trong một thời điểm là rất lớn và đòi
hỏi chính xác, đồng thời thời gian cũng là yếu tố quan trọng.
Thực tế hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp lớn quản lí hàng hoá bằng
phương pháp thủ công và bán thủ công. Như vậy em nhận thấy nếu có một
phần mềm quản lí vật tư đáp ứng được các yêu cầu của nghiệp vụ cũng như
đòi hỏi của của công việc thì đây sẽ là một thị trường lớn cho phần mềm
quản lí vật tư.
Mục đích nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề án này nhằm mục đích là tổ chức lại một số bộ phận
của doanh nghiệp cũng như của tổ chức. Đồng thời nâng cao hiệu quả của
công việc cũng như làm cho bộ máy hoạt động tốt hơn.Việc quản lí cũng trở
nên tốt hơn không mất nhiều thời gian và việc quản lí theo một thể thống
nhất.

2


CHƯƠNG I
CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG HỆ THỐNG THÔNG TIN
QUẢN LÍ VẬT TƯ
I. NỘI DUNG BÀI TOÁN QUẢN LÍ KHO
1. Quản lí nhập
Sau mỗi lần hàng bộ phận quản lí kho sẽ ghi lại chi tiết hàng xuất vào
sổ chi tiết hàng hoá, để tiện theo dõi hàng hoá trong kho. Khi mặt hàng nào
đó trong kho sắp hết hoặc đã hết thì bộ phận quản lí kho sẽ tiến hành báo
cho ban quản lí. Ban quản lí sẽ lệnh cho bộ phận mua hàng tìm kiếm nhà

cung cấp và tiến hành mua hàng. Khi hàng được mua về kho, bộ phận kho sẽ
nhận phiếu giao hàng và kiểm tra số lượng và chất lưọng của hàng về có
đúng với yêu cầu mua hàng không. Sau khi kiểm tra xong số lượng và chất
lượng của hàng đã đảm bảo thì bộ phận quản lí kho lập phiếu nhập kho.
Những hàng hoá không đáp ứng được yêu cầu chất lượng và số lượng sẽ
được bộ phận quản lí kho giao cho bộ phận mua hàng trả lại nhà cung cấp
cùng với biên bản kiểm nghiệm hàng hoá. Một số hàng hoá khi xuất bán cho
khách hàng vì một lí do nào đó không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng
cũng được đưa về nhập kho chờ xử lí. Việc theo dõi hàng nhập kho được
diễn ra liên tục và thông tin về hàng trong kho được bộ phận kho theo dõi
theo ngày, tháng, quý thậm chí cả tuần.
2. Quản lí xuất
Bộ phận bán hàng sẽ nhận yêu cầu mua hàng của khách hàng. Khách
ở đay có thể là mua lẻ hoặc mua buôn. Bộ phận bán hàng có chức năng nhận
3


yêu cầu và gửi đến bộ phận kho. Bộ phận kho sẽ kiểm tra lượng hàng trong
kho, sau đó sẽ gửi thông báo về số lượng hàng cho bộ phậnbán hàng. Nếu đủ
đáp ứng yêu cầu của khách hàng thì bộ phận bán hàng sẽ viết hoá đơn bán
hàng và giao cho khách hàng bản sao hoá đơn bán hàng. Khách hàng sẽ nhận
và gửi lại cho bộ phận quản lí. Bộ phận uản lí kho sẽ tiến hành kiểm tra kiểm
tra và lập phiếu xuất kho. Phiếu xuất kho sẽ được gửi cho khách hàng và
một phiếu được giữ lại lưu vào kho phiếu xuất. Khi xuất hàng thông tin về
hàng xuất cũng được lưu vào trong sổ chi tiết hàng hoá để tiện đối chiếu
kiểm tra.
3.Quản lí tồn
Việc quản lí hàng tồn diễn ra ngay trong quá trình nhập và xuất hàng.
Hàng hoá được thực hiện qua máy tính mỗi khi phát sinh nhập hay xuất
hàng.
II. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÍ VẬT TƯ
1.Hệ thống thông tin
Hệ thống thông tin là một ứng dụng đầy đủ và toàn diện nhất các
thành tựu của công nghệ, tin học vào tổ chức. Xây dựng thành công một hệ
thống thông tin không thể một thực đơn có sẵn. Trước hết cần phải biết vận
dụng các hiểu biết về tổ chức, sau đó phải vận dụng các hiểu biết về công
nghệ thômh tin, về quá trình hình thành và phát triển các hệ thống thông tin
để dự kiến một hệ thống thông tin thích hợp cho nó.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về hệ thống thông tin tuy nhiên theo
cách hiểu của nhà tin học thì hệ thống thông tin được thể hiện bởi những con
người, các thủ tục dữ liệu và thiết bị tin học hoặc không tin học. Đầu vào
4


(Input) của HTTT được lấy ra từ các nguồn (Sources) và được xử lí bởi hệ
thống sử dụng nó cùng với các dữ liệu đã được lưu trữ từ trước…Kết quả xử
lí (Output) được chuyển đến các đích (Destination) hoặc cập nhật vào các
kho lưu trữ dữ liệu (Storage).
2. Phân loại hệ thống thông tn trong tổ chức.
Có hai cách phân loại các HTTT trong tổ chức hay được dùng. Một
cách lấy mục đích phục vụ của thông tin đầu ra để phân loại còn một cách
lấy nghiệp vụ mà nó phục vụ làm cơ sở để phân loại.
2.1.Phân loại theo mục đích phục vụ của thông tin đầu ra
HTTT xử lí giao dịch TPS(Transaction Processing System): là một
HTTT nghiệp vụ, nó phục vụ cho hoạt động của các tổ chức ở mức vận
hành. Nó thực hiện việc ghi nhận các gaio dịch hàng ngày cần thiết cho hoạt
động nghiệp vụ của tổ chức.
HTTT quản lí MIS (Management Information System). HTTT quản lí
trợ giúp cho các hoạt động quản lí của tố chức như lập kế hoạch, kiểm tra
thực hiện, tổng hợp và làm báo cáo, làm các quyết định quản lí trên cơ sở
các qui trinh thủ tục cho trước.
HTTT trợ giúp ra quyết định DSS (Decision Support System). Hệ
thống là một hệ máy tính được sử dụng ở mức quản lí của tổ chức. Nó có
nhiệm vụ tổng hợp các dữ liệu và tiến hành phân tích bằng các mô hình để
trợ giúp ra quyết định cho các nhà quản lí.
Hệ thống chuyên gia ES (Expert System). Hệ thống chuyên gia là một hệ
thống trợ giúp ra quyết định ở mức độ chuyên sâu. Ngoài những kiến thức,
kinh nghiệm của các chuyên gia và các luật suy diễn nó còn có thể trang bị
những thiết bị cảm nhận để thu các thông tin từ những nguồn khác nhau.Hệ

5


thống có thể xử lí và dựa vào các quy luật suy diễn để đưa ra các quyết định
rất hữu ích và thiết thực.
HTTT tăng cường khả năng cạnh tranh ISCA (Infofmation System for
Competitive Advantage). HTTT loại này được sử dụng như một trợ giúp
chiến lược. HTTT tăng cường khả năng cạnh tranh được thiết lập cho người
sử dụng là những người ngoài tổ chức, có thể là một khách hàng, một người
cung cấp và cũng có thể là một tổ chức khác của cùng nghành công
nghiệp…(trong khi ở bốn loại hệ thống trên người sử dụng chủ yếu là các bộ
phận trong tổ chức). Hệ thống là công cụ đắc lực thực hiện các ý đồ chiến
lược (vì vậy có thể gọi là HTTT chiến lược).
2.2. Phân loại HTTT trong tổ chức doanh nghiệp.
Các thông tin trong quản lí được phân chia theo cấp quản lí và trong
mỗi cấp quản lí chúng lại được phân chia theo nghiệp vụ mà chúng phục vụ.
Theo cách phân chia này có 3 loại HTTT đó là: HTTT chiến lược, HTTT
chiến thuật và HTTT tác nghiệp.
HTTT quản trị quan hệ khách hàng là hệ thống kinh doanh và sản xuất. Hệ
thống này cung cấp các thông tin đầu ra có tính tin học hoá cao. Đó là các
báo cáo về khách hàng và dự án đang thực hiện.
3. Mô hình biểu diễn HTTT
Cùng một HTTT có thể được mô tả khác nhau tuỳ theo quan điểm của
người mô tả. Có ba mô hình đã được đề cập tới để mô tả cùng một HTTT đó
là: mô hình logic, mô hình vật lí ngoài và mô hình vật lí trong.
Mô hình lôgic: Mô tả hệ thống làm gì? Dữ liệu mà nó thu thập, xử lí phải
thực hiện, các kho chứa kết quả hoặc dữ liệu để lấy ra cho các xử lí và thông
tin mà hệ thống sản sinh ra.
6


Mô hình vật lí ngoài: chú ý tới những khía cạnh nhìn thấy được của hệ
thống như là các vật mang tin và mang kết quả cũng như hình thức của đầu
vào và đầu ra, phương tiện để thao tác với hệ thống…
Mô hình vật lí trong: Liên quan tới những khía cạnh vật lí của hệ
thống, tuy nhiên không phải là cái nhìn cảu ngưồi sử dụng mà là của nhân
viên kĩ thuật.H
III. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG PHẦN MỀM ỨNG DỤNG CHO HTTT
QUẢN LÍ
1. Phương pháp phát triển hệ thống thông tin
Mục đích chính xác của dự án phát triển một hệ thống thông tin là có
được một sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng mà nó được hoà
hợp vào trong các hạot động của tổ chức, chính xác về mặt kĩ thuật, tuân thủ
các giới hạn về tài chính và thời gain định trước. Một hệ thống thông tin là
một đối tượng phức tạp, vận động trong môi trường cũng phức tạp. Có ba
nguyên tắc cơ sở chung để phát triển hệ thống thông tin. Ba nguyên tắc đó
là:
1.1.

Nguyên tắc sử dụng các mô hình

Một hệ thống thông tin bao gồm ba mô hình: mô hình lôgic, mô hình vật
lí ngoài và mô hình vật lí trong. Bằng cách cùng mô tả về một đối tượng
chúng ta đã thấy ba mô hình này quan tâm từ những mức độ khác nhau.
1.2.Nguyên tắc chuyển từ cái chung sang cái riêng
Nguyên tắc đi từ cái chung đến cái riêng là một nguyên tắc của sự đơn
giản hoá. Để hiểu tốt một hệ thống thì trước hết phải hiểu các mặt chung
trước khi xem xét chi tiết. Sự cần thiết áp dụng nguyên tắc này là hiển nhiên.
7


1.3. Nguyên tắc chuyển từ mô hình vật lí sang mô hình logic khi phân tích
và từ mô hình logic sang mô hình vật lí khi thiết kế.
Phân tích bắt đầu từ thu thập dữ liệu về HTTT đang tồn tại. Nguồn dữ
liê chính là những người sử dụng, các tài liệu và quan sát. Cả ba nguồn này
cung cấp chủ yếu sự mô tả mô hình vật lí ngoài của hệ thống.
2. Các giai đoạn phát triển một HTTT
Một HTTT dù lớn hay nhỏ khi xây dựng không thể tuỳ tiện làm mà phải
tuân thủ theo những giai đoạn nhất định
2.1.Giai đoạn đánh giá yêu cầu
Mục đích của gai đoạn này là cung cấp cho lãnh đạo tổ chức hoặc
những người có trách nhiệm các dữ liệu đích thực để ra quyết định về thời
cơ, tính khả thi và hiệu quả của một dự án.
2.2.Giai đoạn phân tích chi tiết
Giai đoạn này được tiến hành sau khi có sự đánh giá thuận lợi về yêu
cầu. Mục đích chính của giai đoạn này là hiểu rõ các vấn đề về hệ thống
đang nghiên cứu, xác định những nguyên tắc cơ bản đích thực của những
vấn đề đó, xác định những nguyên tắc cơ bản đích thực của những vấn đề
đó, xác định những đòi hỏi và những ràng buộc áp đặt với hệ thống và xác
định mục tiêu của HTTT mới phải đạt được .
2.3.Giai đoạn thiết kế lôgic
Giai đoạn này nhằm xác định tất cả các thành phần logic của một hệ
thống thông tin cho phép loại bỏ đựơc các vấn đề của hệ thống thực tế và đạt
được những mục tiêu đã được thiết lập ở giai đoạn trước đó. Mô hình logic
của hệ thống mới sẽ bao hàm thông tin mà hệ thống sẽ sản sinh ra(nội dung
của output), nội dung của cơ sở dữ liệu(các tệp các quan hệ giữa các tệp),
8


các xử lí và hợp thức hoá sẽ phải thực hiện(các xử lí) và các dữ liệu sẽ được
nhập vào (các Input). Mô hình logic sẽ phải được người sử dụng xem xét và
chuẩn y.
2.4.Giai đoạn đề xuất các phương án của giải pháp
Mô hình logic của hệ thống mới mô tả cái mà hệ thống này sẽ làm.
Khi mô hình này được xác định và chuẩn y bởi người sử dụng thì phân tích
viên phải xây dựng các phương án và các giải pháp khác nhau để cụ thể hoá
mô hình logic. Mỗi một phương án khác nhau là một phác hoạ của mô hình
vật lí ngoài của hệ thống nhưng chưa phải là mô tả chi tiết.
2.5.Giai đoạn thiết kế vật lí ngoài
Sau khi chọn được một phương án giải pháp thì giai đoạn này được
tiến hành. Thiết kế vật lí bao gồm hai tài liệu cần có là: một tài liệu bao gồm
chứa tất cả các đặc trưng của một hệ thống mới sẽ cần cho việc thực hiện kĩ
thuật và tài liệu dành cho người sử dụng và nó mô tả cả phần thủ công và cả
những giao diện với phần tin học hoá.
2.6.Giai đoạn triển khai kĩ thuật hệ thống
Kết quả quan trọng nhất của giai đoạn này là phần tin học hoá của
HTTT có nghĩa là phần mềm. Những người chịu trách nhiệm về giai đoạn
này phải cung cấp các tài liệu như các bản hướng dẫn sử dụng và các thao
tác cũng như tài liệu mô tả hệ thống.
2.7.Giai đoạn cài đặt và khai thác
Cài đặt và khai thác là công việc chuyển từ hệ thống cũ sang hệ thống
mới được thực hiện bởi việc triển khai kế hoạch cài đặt. Để việc chuyển đổi
được thực hiện với những va chạm ít nhất cần phải có một kế hoạch chi tiết
và tỉ mỉ được thiết lập một cách cẩn thận nhất.

9


3.Phân tích hệ thống thông tin
3.1. Các phương pháp thu thập thông tin
3.1.1.Phỏng vấn
Phỏng vấn là một trong hai công cụ thu thập thông tin đắc lực nhất
dùng cho hầu hết các dự án phát triển HTTT . Phỏng vấn cho phép thu thập
được những thông tin xử lí theo cách khác với mô tả trong tài liệu.
3.1.2.Nghiên cứu tài liệu
Cho phép nghiên cứu kỹ và tỉ mỉ về nhiều khía cạnh của tổ chức như:
Lịch sử hình thành và phát triển của tổ chức, tình trạng tài chính các tiêu
chuẩn và định, cấu trúc thứ bậc, vai trò và nhiệm vụ của các thành viên, nội
dung và hình dạng của các thông tin đầu vào cũng như đầu ra.
3.1.3.Sử dụng phiếu điều tra
Khi cần phải lấy thông tin với số lượng lớn và trên một phạm vi rộng thì
dùng tới phiếu điều tra.
3.1.4.Quan sát
Việc thực hiện phương pháp quan sát giúp cho chúng ta thấy những gì
không thể hiện trên tài liệu hoặc qua phỏng vấn như tài liệu để ở đâu, đưa
cho ai…Quan sát sẽ có khi gặp khó khăn vì bị người quan sát để ý khi đó họ
sẽ không thực hiện đúng qui trình như ngày bình thường.
Phương pháp thu thập thông tin để phục vụ cho giai đoạn phân tích thiết kế
chi tiết”Hệ thống thông tin quản trị quan hệ khách hang” chủ yếu là nghiên
cứu tài liệu, quan sát và phỏng vấn.
3.2. Các công cụ mô hình hoá hệ thống thông tin
3.2.1.Sơ đồ luồng thông tin IFD (Information Flow Control)
Sơ đồ luồng thông tin IFD được dùng để mô tả hệ thống thông tin
theo cách thức động, tức là mô tả sự di chuyển của dữ liệu, việc xử lý, lưu
trữ trong thế giới vật lý bằng các sơ đồ:
10


-Các kí pháp của sơ đồ luồng thông tin:

- Xử lý:

Thủ công

Giao tác người –máy

Tin học hoá toàn

phần

- Kho dữ liệu

Thủ công

Tin học hoá

11


3.2.2.Sơ đồ luồng dữ liệu
Sơ đồ luồng dữ liệu dùng để mô tả hệ thống thông tin như sơ đồ luồng
thông tin nhưng trên góc độ trừu tượng. Trên sơ đồ chỉ bao gồm các luồng
dữ liệu, các xử lý, các lưu trữ dữ liệu, nguồn và đích nhưng không hề quan
tâm tới nơi, thời điểm và đối tượng chịu trách nhiệm xử lý, sơ đồ DFD chỉ
mô tả đơn thuần để làm gì
Ký pháp chung cho sơ đồ DFD
Ngôn ngữ sơ đồ luồng dữ liệu sử dụng bốn loại ký pháp cơ bản: Thực
thể, tiến trình, kho dữ liệu và dòng dữ liệu.

Khách hàng

Nguồn hoặc đích: Biểu thị thông tin xuất phát từ đâu, đích đến của nó là bộ
phận nào hoặc cá nhân nào.
Dòng dữ liệu: Là dòng chuyển dời thông tin vào hoặc ra khỏi tiến trình, một
chức năng, các dòng khác nhau phải có tên khác nhau và thông tin khi có sự
thay đổi thì phải có tên phù hợp.
Bản sao đơn hàng

Tiến trình xử lý: Được hiểu là quá trình biến đổi thông tin, từ thông tin đầu
vào nó biến đổi, tổ chức lại thông tin, bổ sung thông tin hoặc tạo ra thông tin
12


mới tổ chức thành thông tin đầu ra phục vụ cho hoạt động chủa hệ thống như
lưu vào kho dữ liệu hoặc gửi cho các tiến trình hay bộ phận khác.
Kho dữ liệu: Dùng để thể hiện các thông tin cần lưu trữ dưới dạng vật lý.
Các kho dữ liệu này có thể là các tập tài liệu, các cặp hồ sơ hoặc các tệp
thông tin trên đĩa.

Hồ sơ khách hàng

Các mức của DFD
Sơ đồ ngữ cảnh (Context Diagram ): Thể hiện rất khái quát nội dung
chính của hệ thống thông tin. Sơ đồ này không đi vào chi tiết mà nó mô tả
sao cho chỉ cần một lần là nhận ra nội dung chính của hệ thống.
Phân rã sơ đồ ngữ cảnh: Nhằm mô tả hệ thống chi tiết hơn người ta dùng kỹ
thuật phân rã (Explotion) sơ đồ. Bắt đầu từ sơ đồ ngữ cảnh ta phân rã thành
sơ đồ mức 0, tiếp đó là mức 1…tuỳ theo mức độ chi tiết do yêu cầu đòi hỏi.
3.3. Thiết kế cơ sở dữ liệu
Xác định các tệp cơ sở dữ liệu trên cơ sở các thông tin đầu ra của hệ
thống là phương pháp cổ điển và cơ bản của việc thiết kế cơ sở dữ liệu
Các bước chi tiết khi thiết kế cơ sở dữ liệu từ các thông tin đầu ra:
Bước 1: Xác định các đầu ra.
Liệt kê toàn bộ các thông tin đầu ra.
13


Nội dung, khối lượng tần suất và nơi nhận của chúng.
Bước 2: Xác định các tệp cần thiết cung cấp đủ dữ liệu cho việc tạo ra từng
đầu ra.
- Liệt kê các phần tử thông tin đầu ra.
- Trên mỗi thông tin đầu ra bao gồm các phần tử thông tin được gọi là các
thuộc tính. Liệt kê toàn bộ các thuộc tính thành một danh sách.
- Đánh dấu các thuộc tính lặp (là nhũng thuộc tính có thể nhận nhiều giá trị
dữ liệu)
- Đánh dấu các thuộc tính thứ sinh (S) là những thuộc tính được tính toán
hoặc suy ra từ những thuộc tính khác.
- Gạch chân các thuộc tính khoá cho thông tin đầu ra.
- Loại bỏ các thuộc tính thứ sinh khỏi danh sách, chỉ để lại các thuộc tính cơ
sở. Xem xét loại bỏ các thuộc tính không có ý nghĩa trong quản lý.
- Thực hiện việc chuẩn hoá mức 1 (1.NF)
Chuẩn hoá 1.NF quy định rằng: Trong mỗi danh sách không được phép chứa
những thông tin lặp. Nếu có các thuộc tính lặp thì phải tách các thuộc tính
này ra thành các danh sách con (có ý nghĩa dưới một góc độ quản lý).
Gắn thêm cho nó một tên, tìm cho nó một thuộc tính định danh riêng và
thêm thuộc tính định danh của các danh sách gốc.
- Thực hiện chuẩn hoá mức 2 (2.NF)
Chuẩn hoá 2.NF quy định rằng: trong một danh sách mỗi thuộc tính phải
phụ thuộc vào toàn bộ khoá chính chứ không chỉ phụ thuộc vào một phần
của khoá. Nếu có sự phụ thuộc như vậy thì phải tách những thuộc tính phụ
thuộc hàm vào bộ phận của khoá thành một danh sách con mới.
Lấy bộ phận khoá đó làm khoá cho danh sách mới này với một tên riêng cho
phù hợp với nội dung của các thuộc tính trong danh sách.
- Thực hiện chuẩn hóa mức 3 (3.NF)
14


Chuẩn hoá mức 3.NF quy định rằng: Trong một danh sách không được phép
có sự phụ thuộc bắc cầu giữa các thuộc tính. Nếu thuộc tính Z phụ thuộc
hàm vào thuộc tính Y, mà thuộc tính Y phụ thuộc hàm vào thuộc tính X thì
phải tách chúng vào hai danh sách chứa quan hệ Z với Y và danh sách chứa
quan hệ Y với X
- Mô tả các tệp
Mỗi danh sách xác định được sau khi chuẩn hoá 3.NF sẽ là một tệp cơ
sở dữ liệu. Biểu diễn các tệp theo ngôn ngữ của cơ sở dữ liệu về tệp. Tên tệp
viết chữ in hoa, nằm phía bên trên. Các thuộc tính nằm trong ô, thuộc tính
khoá có gạch chân.
Bước 3: Tích hợp các tệp để chỉ tạo ra một cơ sở dữ liệu
Từ mỗi đầu ra theo cách thực hiện của bước 2 sẽ tạo rất nhiều danh
sách và mỗi danh sách liên quan tới một đối tượng quản lý, có sự tồn tại
riêng tương đối độc lập. Những danh sách này cùng mô tả về một thực thể
thì phải tích hợp lại, nghĩa là tạo thành một danh sách chung, bằng cách tập
hợp tất cả các thuộc tính chung và riêng của những danh sách đó lại với
nhau.
Bước 4: Xác định liên hệ logic giữa các tệp và thiết lập sơ đồ cấu trúc dữ
liệu.
Xác định các bản ghi cho từng tệp.
Xác định độ dài cho một thuộc tính. Tính độ dài cho bản ghi.
Xác định mối liên hệ giữa các tệp, biểu diễn chúng bằng các mũi tên hai
chiều, nếu có quan hệ một- nhiều thì vẽ mũi tên về hướng đó.
4.Khái quát về công cụ sử dụng đề tài
4.1.Ngôn ngữ lập trình
Hiện nay có rất nhiều ngôn ngữ lập trình được sử dụng làm công cụ
thiết kế , xây dựng các chương trình. Việc lựa cọn ngôn ngữ lập trình đóng
15


vai trò quan trọng. Visual Basic là ngôn ngữ lập trình đa năng được dùng để
giải quyết nhiều bài toán khác nhau là ngôn ngữ lập trình hướng sự kiện cho
phép lậ trình hướng đối tượng và xây dựng ứng dụng chạy trên Internet.
Visual Basic cung cấ nhiều công cụ điều khiển sẵn có để hỗ trợ cho lậ trình
viên nhất là lậ trình ứng dụng cơ sở dữ liệu. Nó cung cấp các khẳ năng lập
trình trực quan rất cao, có cấu trúc logic chặt chẽ ở độ vừa phải. Là ngôn
ngữ lập trình dễ học. Đó chính là lí do chọn ngôn ngữ lập trình để giải quyết
bài toán.

CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH THIẾT KẾ HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÍ
KHO HÀNG
I.PHÂN TÍCH HỆ THỐNG THÔNG TIN

1.Sơ đồ chức năng kinh doanh

16


Quản lí hàng tồn kho

Quản lí nhập kho

Nhận và kiểm tra
hàng hoá

Quản lí xuất kho

Báo cáo

Nhận và kiểm tra
hoá đơn bán hàng

Kiểm kê

Lập phiêú nhập kho

Lập phiếu xuất kho

Vào sổ chi tiết hàng
hoá

Vào sổ chi tiết hàng
hoá

Điều chỉnh chênh
lệch
Đưa kết quả kiểm kê

2.Mô tả hoạt động quản lí kho bằng sơ đồ luồng thông tin(IFD)
2.1.Quá trình nhập hàng từ nhà cung cấp
Thời điểm

Nhà cung cấp

Quản lý kho

17


Khi có hàng nhập
về kho

Phiếu giao hàng

Nhận và kiểm tra
hàng nhập
Thông tin về
hàng nhập

Lập phiếu nhập
kho
Phiếu nhập kho

Vào sổ chi tiết

Sổ chi tiết
hàng hoá

2.2.Quá trình xuất bán cho khách hàng
Thời điểm

Khách hàng

18

Bộ phận kho


Khi có yêu cầu mua
hàng

Hoá đơn bán
hàng

Phiếu xuất kho

Nhận và kiểm tra
hoá đơn

Lập phiếu xuất kho

Vào sổ chi tiết
hàng hoá

Sổ chi tiết
hàng hoá

19


2..3.Quá trình báo cáo, kiểm kê hàng hoá.
Thời

Bộ phận kho

Ban lãnh đạo

điểm
Theo
yêu cầu

Thực hiện
kiểm kê

của lãnh
đạo
hoặc

Vào sổ kiểm


định kì

Sổ kiểm kê

Đối chiếu với sổ chi tiết hàng hoá

Lậpcáo về hàng
Báo
báo cáo
hoá

Kiểm tra lại quá
trình nhập, xuất

3.Mô tả hoạt động quản lý hàng tồn kho bằng sơ đồ DFD
20


3.1.Sơ đồ ngữ cảnh

21


22


3.2.Sơ đồ DFD mức 0

3.3.Sơ đồ DFD mức 1
23


3.3.1.Sơ đồ DFD quản lý nhập kho.

24


3.3.2.Sơ đồ DFD quản lý xuất hàng

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×