Tải bản đầy đủ

giao an cac loai rau

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN DANH TỪ CHO TRẺ
MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ
MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH CHỦ ĐỀ MỘT SỐ LOẠI RAU”

Người hướng dẫn: PGS- TS Lã

: 46

Người hướng dẫn: PGS. TS: Lã Thị Bắc lý
Họ và tên học sinh: Nguyễn Thị Huế
Ngày sinh: 16/09/1993
Số báo danh: 29
LỚP: K12B - ĐÔNG TRIỀU

Đông Triều 2016

1



Lêi CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất
tới các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non, Ban chủ
nhiệm khoa - Trường Đại học sư phạm Hà Nội đã giúp
đỡ và tạo điều kiện cho em suốt thời gian học tập và
nghiên cứu. Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc nhất tới cô giáo – PGS.TS. Lã Thị Bắc Lý – Người
đã trực tiếp giảng dạy và tận tình giúp đỡ, hướng dẫn
em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để em có
thể hoàn thành bài tập tốt nghiệp này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu,
giáo viên chủ nhiệm lớp mẫu giáo 5 tuổi trường Mầm
non Xuân Sơn đã tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn
thành bài tập tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân
và tập thể lớp Mầm non K12B đã quan tâm, giúp đỡ,
động viên, khích lệ tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Đông Triều , ngµy 05 th¸ng 10 n¨m 2016
Học viên
Nguyễn Thị Huế

2


MC LC
A PHN M U

I.Lý do chọn đề tài.4
II. Mục đích nghiên cứu .5
III.Nhiệm vụ nghiên cứu5
IV.Phơng pháp nghiên cứu..5

B. PHN NI DUNG NGHIấN CU
Chơng I: Cơ sở lớ lun ca ti
I.C s sinh lớ7
1: S phỏt trin ca bỏn cu i nóo..7
2. S phỏt trin ca b mỏy phỏt õm.....8

II. C s tõm lý..8
III.C s giỏo dc hc.10
1.Quan im giỏo dc hin i ...10
2. S dng tớch hp..12
IV.C s ngụn ng..13
1. Danh t ting vit....13
2. c im phỏt trin ngụn ng ca tr mu giỏo nh...14
V.Hot ng khỏm phỏ mụi trng xung quanh.....15
Chng II: Kho sỏt thc trng vic phỏt trin vn danh t cho tr mu
giỏo bộ thụng qua hot ng khỏm phỏ.
I. Kho sỏt a bn iu tra..16
1. c im trng..16
2. c im khu dõn c..16
II. i tng iu tra...17
III. Ni dung iu tra...18
IV. Phng thc iu tra.18
V. Kt qu iu tra ..19
Chng III. xut bin phỏp
I.Khỏi nim bin phỏp.24
II.Cỏc nguyờn tỏc xut bin phỏp ..24
III. Cỏc bin phỏp xut....25

C PHN KT LUN
D. TI LIU KHAM KHO
PH LC
3


A. PHẦN MỞ ĐẦU
Tên đề tài: “Một số biện pháp phát triển Danh từ cho trẻ Mẫu giáo Lớn
qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh, chủ đề một số một số loại
Rau”.
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là
nền tảng đầu tiên của ngành Giáo dục đào tạo. Chất lượng chăm sóc, giáo dục
trẻ ở trường mầm non tốt có tác dụng rất lớn đến chất lượng giáo dục ở bậc học
tiếp theo. Giáo dục mầm non có mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng nhầm giáo dục
toàn diện cho trẻ về thể chất, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ là cơ sở để
hình thành nên nhân cách con người mới XHCN Việt Nam và chuẩn bị những
tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào trường tiểu học được tốt. Như Bác Hồ kính
yêu đã nói: “Giáo dục mầm non tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt”.
Trường mầm non có nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu, bồi
dưỡng cho các cháu trở thành người công dân có ích.Nghị quyết Trung ương
khoá VIII của Ban chấp hành TW Đảng đã khẳng định: “Thực sự coi giáo dục
và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát
triển”,“Giáo dục Mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,
đặt nền móng ban đầu cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ
của trẻ em Việt Nam. Việc chăm lo phát triển giáo dục Mầm non là trách nhiệm
chung của các cấp chính quyền, của mỗi ngành, mỗi gia đình và toàn xã hội
dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước”. Nhiệm vụ của trường
Mầm non là giáo dục trẻ phát triển nhân cách một cách toàn diện để chuẩn bị
mọi mặt về thể chất và tinh thần, trí tuệ cho trẻ chuẩn bị vào học ở trường phổ
thông. Một trong những nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho trẻ là phát triển ngôn
ngữ.
Là một cô giáo Mầm Non tôi luôn có những suy nghĩ trăn trở làm sao để
dạy các con phát âm chuẩn, chính xác đúng Tiếng Việt. từ đó, trẻ khám phá hiểu
biết về mọi sự vật hiện tượng, về thế giới xung quanh trẻ, phát triển tư duy. Tôi
4


thấy mình cần phải đi sâu tìm hiểu kỹ vấn đề này để từ đó rút ra nhiệm vụ giáo
dục cho phù hợp với yêu cầu phát triển của lứa tuổi. Đất nước mai sau phụ thuộc
vào tất cả những gì chúng ta giành cho trẻ ngày hôm nay. Việc phát triển ngôn
ngữ nói chung phát triển vốn từ nói riêng cho trẻ Mầm non được thực hiện tích
hợp trong tất cả các hoạt động ở trường Mầm non, một trong những hoạt động
đem lại hiệu quả cao đó là hoạt động khám phá môi trường xung quanh chính vì
thế mà em chọn đề tài “Một số biện pháp phát triển Danh từ cho trẻ mẫu giáo
Lớn qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh chủ đề một số một số loại
rau”.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc phát triển
vốn từ cho trẻ Mầm non trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp thích hợp để
phát triển vốn từ danh từ cho trẻ nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục tăng cường
vốn ngôn ngữ cho trẻ.
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài.
Tổng hợp các tư liệu có liên quan đến đề tài, đề cập đến một số vấn đề cốt
lõi về phát triển vốn Danh từ qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh
chủ đề một số loài rau cho trẻ Mẫu giáo Lớn.
2. Nghiên cứu thực trạng việc phát triển vốn Danh từ cho trẻ mẫu giáo lớn
ở trường Mầm non qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh chủ đề một
số loài rau .
3.Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn Danh từ cho trẻ mầu giáo lớn
qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh chủ đề một số loài rau .
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp đọc tài liệu và xử lí thông tin.
Chúng tôi nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài và sử dụng các
phương pháp như: phân tích, so sánh, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa để
làm rõ vấn đề nghiên cứu, để tìm hiểu các khía cạnh, xác định các thành phần
trong cấu trúc của thông tin đó, để tìm ra những đặc điểm riêng biệt của nó,
5


đồng thời lĩnh hội những nhân tố tích cực, chỉ ra được các biện pháp tích cực
nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 5-6 tuổi.
2. Sử dụng phương pháp điều tra
Tôi tiến hành điều tra đối tượng là giáo viên Mầm non và trẻ Mầm non.
Địa điểm: lớp mẫu giáo 5tuổi A trường Mầm non Xuân Sơn, thị xã Đông
Triều- tỉnh Quảng Ninh.
- Số lượng: 25 trẻ.
- Thời gian: từ ngày 9/8 đến ngày 05/10/2016
- Mục đích: Điều tra để làm rõ nhận thức, tổ chức hoạt động giáo dục Mầm
non.
3. Phương pháp quan sát
- Đối tượng nghiên cứu: trẻ.
- Địa điểm: Trường Mầm non Xuân Sơn, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng
Ninh.
- Số lượng: 25 trẻ
- Mục đích: quan sát sự hứng thú của trẻ, quan sát hoạt động của giáo viên
nhằm tìm hiểu những biện pháp tích cực nhằm phát triển Danh từ cho trẻ 5 - 6
tuổi.
4. Phương pháp đàm thoại
- Đối tượng nghiên cứu: trẻ.
- Địa điểm: Trường Mầm non Xuân Sơn, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng
Ninh.
- Số lượng: 25 trẻ.
- Mục đích: đàm thoại với giáo viên về sự nhận thức của trẻ, những khó
khăn khi thực hiện.
5. Phương pháp tổng kết kinh ngiệm
- Địa điểm: Trường Mầm non Xuân Sơn, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng
Ninh
- Mục đích: nhận xét rút kinh nghiệm.
6. Phương pháp thực nghiệm
6


- Đối tượng nghiên cứu: trẻ.
- Địa điểm: Trường Mầm non Xuân Sơn, thị xã Đông Triều- tỉnh Quảng
Ninh
- Số lượng: 25 trẻ.
- Mục đích: kiểm nghiệm cách thực hiện, kiểm chứng hiệu quả tổ chức.
7. Phương pháp phân tích tổng hợp
Phân tích, đánh giá thực tiễn biện pháp phát triển Danh từ cho trẻ mầu giáo
5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh chủ đề một số
loại rau. Từ đó rút ra những kết luận nhằm nâng cao chất lượng danh từ ở trẻ 56 tuổi.

B. PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN DANH TỪ CHO TRẺ MẪU
GIÁO LỚN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ MỘT SỐ LOẠI
RAU
I. SƠ SỞ SINH LÝ:
1. Sự phát triển của bán cầu đại não liên quan đến việc phát triển ngôn
ngữ
Cho đến lúc ra đời, não của trẻ có kích thước nhỏ hơn và trọng lượng
khoảng khoảng 370- 392g. Trọng lượng của não tăng lên mạnh mẽ trong 9 năm
đầu tiên. Đến tuổi dậy thì trọng lượng của não hầu như không thay đổi . Bán cầu
đại não gồm hai nửa bán cầu phải và trái nối với nhau bởi thể trái. Bề mặt mỗi
bán cầu đại não có rãnh, chia bán cầu đại não thành 4 thùy. Diện tích bề mặt của
cả hai bán cầu bằng 1700 - 2000 cm2. Tốc độ tăng trọng lượng não nhanh nhất ở
giai đoạn từ 0 đến 3 tuổi: ở độ tuổi này diễn ra quá trình myelin hóa các sợi thần
kinh, phân hóa về cấu tạo và chức phận giữa các tế bào vỏ não. Vỏ não chứa 100
tỉ nơron. Các nơron sắp xếp thành 6 lớp. Mỗi nơron có thể có tới 10.000 xinap.
Ngay từ khi lọt lòng, số lượng nơron vỏ đại não đã được hình thành ổn
định. Từ 0- 2 tuổi diễn ra quá trình phức tạp hóa dần dần mối liên hệ giữa
các nơron. Từ 1 đến 3 tuổi là thời kì hoàn chỉnh hóa hệ thần kinh về hình
thái và chức năng. Từ 3 tuổi trở đi, trọng lượng của não tăng chủ yếu là do
7


tăng số sợi thần kinh, phát triển các sợi thần kinh. Vào khoảng từ 5 đến 6
tuổi các vùng liên hợp trên vỏ não đã tương đối hoàn chỉnh. Người ta cũng
đã xác định được là hoạt động thần kinh hướng tâm (cảm giác) hoàn chỉnh
vào khoảng 6 đến 7 tuổi còn hoạt động thần kinh li tâm (vận động) hoàn
chỉnh muộn hơn vào lúc 2 đến 5 tuổi. Vỏ não có 52 vùng chức năng khác
nhau trong đó có những vùng chỉ con người mới có: vùng hiểu chữ viết,
vùng hiểu tiếng nói. Bán cầu đại não điều khiển, điều hòa và phối hợp hoạt
động của toàn bộ cơ thể. Chức năng ngôn ngữ: trên đại não có những vùng
chuyên biệt phụ trách chức năng ngôn ngữ. Chức năng tư duy: chủ yếu do
đại não đảm nhận khả năng tư duy liên quan đến sự phát triển của đại não
đặc biệt là vỏ não, do bán cầu đại não rất phát triển và có ngôn ngữ nên con
người có khả năng tư duy cụ thể và tư duy trừu tượng. Não của trẻ em được
lập trình sẵn về mặt di truyền với các quá trình cần thiết cho việc học tập và đặc
biệt là học tập ngôn ngữ. Thông qua ngôn ngữ, trẻ cũng biết việc gì nên, không
nên, từ đó sẽ dần hình thành ở trẻ những khái niệm ban đầu về đạo đức.
2. Sự phát triển của bộ máy phát âm
Mỗi người sinh ra đã có sẵn bộ máy phát âm, đó là tiền đề vật chất để sản
sinh âm thanh ngôn ngữ. Nó là một trong những điều kiện vật chất quan trọng
nhất mà thiếu nó không thể có ngôn ngữ, nếu như trong cấu tạo của nó có khiếm
khuyết nào đó ( chẳng hạn như hở hàm ếch, lưỡi ngắn, sứt môi... việc hình thành
lời nói cũng hết sức khó khăn. Khi sinh ra, mỗi con người không phải đã có
ngay bộ máy phát âm hoàn chỉnh. Chính lứa tuổi Mầm non là giai đoạn hoàn
thiện dần bộ máy đó: sự xuất hiện và hoàn thiện dần của hai hàm răng, sự vận
động của môi, lưỡi, của hàm dưới.... Quá trình đó diễn ra tự nhiên theo các quy
luật sinh học. Tuy nhiên, bộ máy phát âm hoàn chỉnh mới chỉ là tiền đề vật chất.
Cùng với thời gian, quá trình học tập, rèn luyện một cách có hệ thống sẽ làm cho
bộ máy phát âm đáp ứng được nhu cầu thực hiện các chuẩn mực âm thanh ngôn
ngữ. Rèn luyện bộ máy phát âm: phát triển sự linh hoạt của lưỡi, lưỡi có thể
chuyển động, phối hợp nhịp nhàng với các bộ phận khác như: răng, môi,
ngạc,...phát triển sự linh hoạt của môi ( kéo môi về phía trước, làm tròn môi,
giãn môi, mím môi, tạo khe hở giữa môi và răng, ...) phát triển kĩ năng làm cho
hàm dưới trong tư thế xác định phù hợp.
Cùng với thời gian, quá trình học tập, rèn luyện một cách có hệ thống sẽ
làm cho bộ máy phát âm đáp ứng được nhu cầu thực hiện các chuẩn mực âm
8


thanh ngôn ngữ. Nắm được những đặc điểm này giúp cho các giáo viên mầm
non xây dựng được kế hoạch chăm sóc và giáo dục trẻ một cách hợp lí, tạo điều
kiện tốt cho sự phát triển và hoàn thiện cơ thể trẻ.
II. CƠ SỞ TÂM LÝ:
1. Đặc điểm tư duy của trẻ Mẫu giáo Lớn:
Đầu tuổi mẫu giáo, trẻ đã biết tư duy bằng những hình ảnh trong đầu,
nhưng do biểu tượng còn nghèo nàn và tư duy mới được chuyển từ bình diện
bên ngoài vào bìn diện bên trong nên trẻ mới chỉ giải được một số bài toán đơn
giản theo kiểu tư duy trực quan hình tượng. Cùng với sự hoàn thiện hoạt động
vui chơi và sự phát triển các hoạt động khác như kể chuyện, đi chơi, dạo chơi,...
vốn biểu tượng của trẻ mẫu giáo lớn được giàu lên thêm rất nhiều, chức năng kí
hiệu phát triển mạnh, lòng ham hiểu biết và hứng thú tăng lên rõ rệt. Đó là điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển tư duy trực quan – hình tượng, đây cũng là thời
điểm kiểu tư duy đó phát triển mạnh mẽ nhất. Trẻ bắt đầu đề ra cho mình những
bài toán nhận thức, tìm tòi cách giải thích những hiện tượng mà mình nhìn thấy
được. Trẻ thường thực nghiệm, chăm chú quan sát các hiện tượng và suy nghĩ về
những hiện tượng đó để rút ra kết luận.
Phần lớn ở trẻ mẫu giáo lớn đã có khả năng suy luận. Trẻ có khả năng giải
các bài toán bằng các phép thử ngầm trong óc, dựa vào các biểu tượng, kiểu tư
duy trực quan hình tượng bắt đầu chiếm ưu thế. Tư duy trực quan - hình tượng
phát triển mạnh cho phép trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo lớn giải được nhiều bài toán
thực tiễn mà trẻ thường gặp trong đời sống. Tuy vậy, vì chưa có khả năng tư duy
trừu tượng nên trẻ chỉ mới dựa vào những biểu tượng đã có, những kinh nghiệm
đã trải qua để suy luận ra những vấn đề mới. Do vậy nhiều trường hợp chỉ dừng
lại ở các hiện tượng bên ngoài mà chưa đi được vào bản chất bên trong.
2. Khả năng chú ý và ghi nhớ của trẻ Mẫu giáo Lớn:
Trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, sự chú ý phát triển mạnh. Nhưng sự thay đổi cơ
bản của chú ý ở lứa tuổi này là ở chỗ trẻ bắt đầu biết điều khiển chú ý của mình,
biết tự giác hướng chú ý của mình vào đối tượng nhất định, có nghĩa là chú ý có
chủ định bắt đầu hình thành ở tuổi mẫu giáo lớn.
9


- Chú ý có chủ định gắn liền với hành động có mục đích , với ngôn ngữ.
- Ở lứa tuổi này chú ý có chủ đã được hình thành ở trẻ mẫu giáo lớn trí nhớ
không chủ định vẫn chiếm ưu thế, ở lứa tuổi này, tài liệu trực quan được ghi nhớ
tốt hơn nhiều so với tài liệu chỉ bằng ngôn ngữ. Đến độ tuổi này trí nhớ ngôn
ngữ cũng tăng một cách đáng kể, với tốc độ có khi nhanh hơn cả trí nhớ trực
quan. Bên cạnh, trí nhớ không chủ định vào tuổi mẫu giáo lớn ghi nhớ có chủ
định bắt đầu hình thành. Có những thay đổi đó là vì điều kiện hoạt động phức
tạp hơn, người lớn yêu cầu cao hơn, buộc trẻ không những định hướng vào hiện
tại mà cả vào quá khứ và tương lai nữa.
3. Tưởng tượng
Trí tưởng tượng của trẻ phong phú . Trẻ dùng tưởng tượng để khám phá thế
giới và sự thỏa mãn nhu cầu nhận thức của mình. Nó góp phần tích cực vào hoạt
động tư duy và nhận thức của trẻ. Theo nghiên cứu của các nhà tâm lý tưởng
tượng của trẻ Mầm non đã bắt đầu mang tính chất sáng tạo. Tưởng tượng của trẻ
gắn chặt với xúc cảm đó là quan hệ hai chiều: tưởng tượng phụ thuộc vào sự
phát triển của cảm xúc, cảm xúc càng sâu sắc thì tưởng tượng càng phát triển và
ngược lại. Trẻ tích lũy được vốn biểu tượng trong khi hoạt động, sau đó trong
những thời điểm và hoàn cảnh cụ thể trẻ sẽ có những liên tưởng cần thiết. Vì
vậy khi cho trẻ khám phá môi trường xung quanh cô giáo cần lưu ý đặc điểm
tâm lý này để phát triển Danh từ cho trẻ.
4. Xúc cảm tình cảm
Xúc cảm và tình cảm là nét tâm lý nổi bật ở trẻ lứa tuổi Mầm non ở lứa tuổi
này tình cảm thống tri tất cả các mặt hoạt động tâm lý của trẻ. Đặc biệt ở lứa
tuổi Mẫu giáo Lớn. Trẻ luôn có nhu cầu được người khác quan tâm và cũng luôn
bày tỏ tình cảm của mình đối với mọi người xung quanh và xúc động ngỡ ngàng
trước những điều tưởng chừng như rất đơn giản cũng có thể làm cho trẻ xúc
động một cách sâu sắc. Chính đặc điểm dễ nhạy cảm này làm cho trẻ khi khám
phá môi trường xung quanh có thể dễ dàng tiếp thu vốn Danh từ tốt hơn.

10


Dựa vào những đặc điểm tâm lý của trẻ cô giáo sẽ có một số biện pháp phát
triển Danh từ cho trẻ thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh cho
phù hợp góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách trẻ.
III. CƠ SỞ GIÁO DỤC
1. Nói về quan điểm giáo dục hiện đại:
Việc lấy trẻ làm trung tâm, luôn coi trọng trẻ là chủ thể tích cực trong mọi
hoạt động của chúng và nhà giáo dục tạo mọi điều kiện, cơ hội thuận lợi cho trẻ
bộc lộ tính tự lập, tự quyết đinh, những gì chúng muốn, chúng thích nghĩ là một
nguyên tác cơ bản mang tính định hướng quan trọng trong giáo dục Mầm non.
trẻ em chiếm lĩnh được tri thức mới và nắm được các kỹ năng mới phát triển
các năng lực và phẩm chất cá nhân.Trong thực tiễn giáo dục mầm non ở nước ta
trong mấy năm gần đây đã bắt đầu thực hiện nguyên tắc “ lấy trẻ làm trung tâm”
trong quá trình giáo dục trẻ ở trường mầm non. Việc lấy trẻ là trung tâm nghĩa
là luôn coi trẻ em vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của hoạt động. Những
kinh nghiệm, tri thức của trẻ phải là sản phẩm của chính hành động trực
tiếp của trẻ với môi trường xung quanh. Tích cực là một phẩm chất quan
trọng của nhân cách, có vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động của con
người nói chung và trẻ mẫu giáo nói riêng. Tư tưởng chính của nguyên tắc
này nhằm nhấn mạnh quá trình chăm sóc – giáo dục phải hướng vào đứa trẻ, vì
đứa trẻ, giáo dục phải xuất phát từ hứng thú và nhu cầu của trẻ. Hứng thú và
nhu cầu của trẻ là nguồn gốc bên trong của tính tích cực, là động lực thúc
đẩy con người hoạt động. Trong quá trình giáo dục, người lớn phải lấy trẻ
làm trung tâm, vì sự phát triển của chính đứa trẻ, tạo điều kiện cho chúng
tích cực hoạt động. Và thông qua hoạt động chủ đạo để giáo dục và phát
triển toàn diện về thể chất, tinh thần và trí tuệ cho trẻ.
Giáo viên có vai trò là người tổ chức hoạt động cho trẻ, điều khiển sự phát
triển của trẻ phù hợp với quy luật. Giáo viên còn là “điểm tựa”, là “thang đỡ”
giúp trẻ trong những lúc cần thiết, tạo điều kiện và cơ hội cho trẻ vươn lên. Mối
quan hệ giữa cô và trẻ là mối quan hệ hợp tác, chia sẻ, tương trợ lẫn nhau, không
mang tính áp đặt từ phía cô. Trên cơ sở đó phát triển tính tích cực, sáng tạo
11


trong hoạt động và hình thành cho trẻ một số phẩm chất mang tính nhân văn,
thích nghi trong cuộc sống cộng đồng và xã hội. Để giáo dục phát triển vốn từ
cho trẻ thì quan điểm giữa cô và trẻ là sự đồng cảm, là tình thương nồng ấm.
Quan hệ cô với trẻ là bạn bè , quan hệ hợp tác cùng nhau., quan sát bao quát trẻ
khi cần thiết, tạo môi trường hấp dẫn cho trẻ. Cô giáo là người khơi gợi tiềm
năng vốn có của trẻ , giúp đỡ đưa lời khuyên, lời đề nghị với trẻ trong những
tình huống mà trẻ không giả quyết được. cần dựa vào hoạt động hứng thú của trẻ
mà hướng dẫn trẻ tham gia các hoạt động. Xây dựng cho mỗi trẻ em một nền
tảng nhân cách vừa khỏe khắn , vừa mềm mại, đầy sức sống cả thể chất và tinh
thần.
2. Vấn đề giáo dục tích hợp ở trường Mầm non
Xu hướng tiếp cận tích hợp trong giáo dục mầm non xuất phát từ nhận thức
thế giới tự nhiên, xã hội và con người trong đó có trẻ em là một tổng thể thống
nhất, tích hợp. Chính nguyên tắc giáo dục tích hợp cũng đã đan xen, tích hợp các
quan điểm giáo dục trẻ trong một tổng thể thống nhất, cách tiếp cận này giúp
cho quá trình giáo dục trẻ phù hợp với quá trình nhận thức phát triển mang tính
tổng thể của trẻ. Bản thân đứa trẻ cũng là một thực thể tích hợp và chúng sống,
lĩnh hội kiến thức trong một môi trường mà ở đó tất cả các yếu tố tự nhiên, xã
hội đan quyện vào nhau tạo thành một môi trường sống phong phú. Giáo dục
tích hợp theo chủ đề dựa trên quan điểm tiến bộ lấy trẻ là trung tâm, khai
thác tiềm năng vốn có của trẻ. Giáo dục cần dựa vào các đặc điểm cá nhân,
phù hợp với hứng thú, nhu cầu nguyện vọng và năng khiếu trên tinh thần
tự do tự nguyện, chủ động tích cực tham gia hoạt động của trẻ. Phát huy
tính tích cực, sáng tạo trong các hoạt động của chúng ở trường mầm non.
Theo quan điểm tích hợp, nội dung giáo dục trẻ hướng theo các chủ đề
gần gũi với cuộc sống thực của trẻ và được đan xen, đan cài, lồng ghép
trong các hoạt động giáo dục đa dạng, phong phú trên cơ sở lấy hoạt động
chủ đạo (chủ yếu là hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo) làm hoạt động
công cụ để tích hợp các hoạt động khác của trẻ ở trường mầm non. Đồng
thời, tăng cường cho trẻ được trải nghiệm và khám phá thế giới xung
quanh bằng các giác quan, kích thích trẻ tư duy tích cực, vận dụng các kiến
thức kĩ năng, lựa chọn và đưa ra quyết định trong hoàn cảnh có ý nghĩa đối
với cuộc sống thực của chúng, trên cơ sở đó phát triển ngôn ngữ, tư duy và
tưởng tượng cho trẻ. Quan điểm giáo dục tích hợp đòi hỏi giáo viên phải
12


quan tâm đến tiềm năng phát triển của đứa trẻ hơn là tạo ra cơ hội tương
ứng tích cực có hiệu quả. Trong quá trình hợp tác hoạt động, cô và trẻ cùng
tham gia khám phá, cùng học, cùng chơi, cùng trao đổi, thỏa thuận, cùng
học cách giải quyết các vấn đề và cùng đi đến những kết luận cụ thể. Thông
qua các hoạt động tích cực của cá nhân trẻ mà chủ yếu là thông qua các
hoạt động chủ đạo ở các lứa tuổi mầm non, đứa trẻ sẽ phát triển nhân cách
của mình một cách tích cực và tổng hòa nhất.
IV. CƠ SỞ NGÔN NGỮ
1. Danh từ tiếng việt
* Khái niệm: Danh từ là những từ chỉ về người, sự vật, hiện tượng, khái
niệm.....
* Đặc điểm của Danh từ:
- Danh từ có ý nghĩa khái quát chỉ sự vật( đồ vật, cây cối, người...)
- Danh từ có khả năng kết hợp với các từ chỉ số lượng ở trước và từ chỉ
định ở sau để tạo nên cụm danh từ mà nó là thành tố trung tâm
Ví dụ: ba thành phố ấy, những người này
- Danh từ có khả năng đảm nhiệm thành phần chính và thành phần phụ
trong câu.
Ví dụ: Lan là học sinh ngoan ( Lan là chủ ngữ)
Mẹ Lan là giáo viên mầm non ( Lan làm định ngữ)
Cô giáo khen Lan (Lan là bổ ngữ)
Học sinh được tặng bằng khen là Lan( Lan là vị ngữ)
* Các tiểu loại Danh từ:
- Danh từ riêng: là tên gọi riêng của một người, một địa danh hay một vật.
Ví dụ: Hồ Chí Minh, Lê Hồng Phong, Hà Nội....
-Danh từ chung: là “tên gọi của một lớp sự vật đồng chất về một phương
diện nào đó”(Diệp Quang Ban). Vía dụ: bàn, ghế, giường, sách, bát, đĩa....
- Danh từ chung gồm:
+ Danh từ tổng hợp( đối lập với danh từ đơn thể: là những danh từ chỉ gộp
các sự vật khác nhau nhưng gần gữi với nhau, thường đi đôi với nhau và hợp
thành một loại sự vật. Ví dụ: sách vở, gà vịt, quần áo....
13


+ Danh từ trừu tượng( đối lập với danh từ cụ thể): là những danh từ chỉ các
khái niệm trừu tượng thuộc phạm vi tinh thần. Ví dụ: tư tưởng, thái độ, ý nghĩ....
+ Danh từ cụ thể: là những danh từ chỉ sự vật cụ thể, có thể tri nhận bằng
các giác quan( nghe, nhìn, sờ, ngửi...). Danh từ cụ thể có thể phân thành
các nhóm sau đây:
* Danh từ đơn vị: chỉ các đơn vị sự vật, bao gồm:
Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên: chiếc, cái, con, bức, tờ, tấm, cục...
Danh từ chỉ đơn vị đo lường: mẫu, sào, tạ, tấn, lít, mét....
Danh từ chỉ đơn vị tập thể: tốp, bọn, lũ, đống...
Danh từ chỉ đơn vị thời gian: giờ, giây, phút, năm, tháng, thế kỉ....
Danh từ chỉ đơn vị tổ chức hành chính: làng, xã, tỉnh, huyện, bản....
Danh từ chỉ đơn vị hành động, sự việc: cuộc, chuyến, phen, lần....
* Danh từ chỉ sự vật đơn thể: là những danh từ chỉ các sự vật có thể tồn tại
thành từng đơn vị đơn thể. Ví dụ: sách, quần áo, chó, lợn, cam, bưởi...
* Danh từ chỉ chất liệu: là những danh từ chỉ các chất, không phải các vật. Ví
dụ như: nước, đường, sắt, sữa....
2. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ Mẫu giáo Lớn.
Khả năng nhận thức và ngôn ngữ của trẻ 5- 6 tuổi có những bước tiến đáng
kể. Trẻ có khả năng tri giác âm thanh nhanh nhạy và khả năng phát âm mềm dẻo
tự nhiên. Trẻ ham học hỏi, thích tìm hiểu về xã hội và tự nhiên. Trẻ chủ động
giao tiếp ngôn ngữ với những người xung quanh và hay đặt các câu hỏi như :
Như thế nào? Làm gì? Bao giờ? Tại Sao?... Trẻ 5- 6 tuổi đã phát triển và thành
thục với ngôn ngữ hơn, các lỗi đã giảm nhiều và trẻ bắt đầu tham gia sử dụng
ngôn ngữ như là một phương tiện để tham gia vào cuộc sống xã hội và giao tiếp
với những người khác, thể hiện nhu cầu của trẻ và thuật lại những trải nghiệm
của chúng. Vốn từ vựng tăng lên, trẻ có thể nắm được 5000 từ. Hầu hết các loại
từ đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ. Trẻ biết nói đúng ngữ pháp. Sử dụng các
câu đơn mở rộng thành phần trạng ngữ chỉ thời gian, địa điểm. Trẻ biết lắng
nghe các câu trả lời của người khác, thích tham gia nói chuyện tập thể với bạn
bè và cô giáo. Trẻ có thể kể lại một sự việc theo trình tự thời gian. Khả năng tiếp
14


thu và sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp hàng ngày của trẻ ngày càng tốt hơn.
Do đó, ở lứa tuổi này, chúng ta cần cho trẻ nghe nhiều loại từ, câu nói có nhiều
sắc thái biểu cảm và ngữ điệu khác nhau.Trẻ thuộc và hiểu được các bài hát, bài
thơ dành cho trẻ nhỏ, trẻ có khả năng kể lại câu chuyện.
V. HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ VỚI MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH
1. Nội dung
Qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh trẻ học được các từ chỉ
tên gọi đồ vật, sự vật, hành động, hiện tượng. Nghe và hiểu nội dung các câu
đơn, câu mở rộng. Trẻ biết dùng từ để bày tỏ tình cảm, nhu cầu và kinh nghiệm
bản thân bằng các câu đơn, câu mở rộng.
Trẻ được làm quen với môi trường tự nhiên xung quanh trẻ gồm các yếu tố
như nước, không khí, ánh sáng, động vật...Là phương tiện để giáo dục trẻ. Nó
chứa đụng các yếu tố cần thiết để hình thành ở trẻ biểu tượng về tự nhiên hữu
sinh và tự nhiên vô sinh, giáo dục tình cảm tốt của trẻ với chúng. Hiện thực xã
hội chỉ ra cho trẻ thấy mối quan hệ diễn ra trong xã hội , giúp trẻ tích lũy kinh
nghiệm xã hội, hiểu vị trí của mình trong đó, là thành viên của xã hội loài người,
có thể tham gia vào các sự kiện và cải tạo nó.
2. Phương pháp
Khi hướng dẫn trẻ khám phá môi trường xung quanh cần sử dụng 4 - 5
nhóm phương pháp cơ bản như:
- Nhóm phương pháp trực quan bao gồm các phương pháp như: quan sát,
sử dụng đồ dung trực quan.
- Nhóm phương pháp dung lời bao gồm các phương pháp như: đàm thoại,
kể truyện, thơ ca, tục ngữ, câu đố, bài hát…
- Nhóm phương pháp thực hành bao gồm các phương pháp như: sử dụng
các loại trò chơi ( Học tập, vận động, sáng tạo); phương pháp thí nghiệm, lao
động.

15


CHƯƠNG II
Khảo sát thực trạng việc phát triển Danh từ cho trẻ Mẫu giáo Lớn
thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh,
chủ đề một số loại Rau”.
I. KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN ĐIỀU TRA
Điều tra ở trường Mầm non Xuân Sơn thị xã Đông Triều- tỉnh Quảng
Ninh.
1. Đặc điểm của trường
Trường Mầm non Xuân Sơn được xây dựng mới từ đầu năm 2003, hiện nay
trường có tất cả 15 nhóm lớp tập trung nhiều ở khu trung tâm, 15 nhóm lớp với
các độ tuổi khác nhau. Trường có 31 giáo viên đều có trình độ chuẩn về chuyên
môn nghiệp vụ.
* Thuận lợi :
Nhà trường được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo thị xã Đông Triều,
Đảng Uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân phường Xuân Sơn. Đặc biệt có
sự quan tâm chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Phòng Giáo dục- Đào tạo thị xã Đông
Triều. Sự nhiệt tình yêu nghề mến trẻ của đội ngũ cán bộ giáo viên trong nhà
trường, có sự quan tâm ủng hộ của nhân dân địa phương.
* Khó khăn :
Thu nhập kinh tế của nhân dân địa phương còn thấp, đời sống chủ yếu dựa
vào các công ty trên địa bàn. Nên việc điều tra huy động trẻ ra lớp nhà trường
cũng gặp nhiều khó khăn, nhận thức về giáo dục mầm non của một số người dân
còn hạn chế. Họ quan niệm rằng trẻ đến trường chỉ chơi là chủ yếu không học
hành gì , có học cũng chỉ là múa hát vài bài. Trình độ nhận thức của phụ huynh
còn thấp.
2. Đặc điêm khu dân cư.
Địa bàn khá rộng, dân cư đông đúc, trình độ dân trí không đồng đều. Người
dân chủ đi làm nông nghiệp và làm thuê là chủ yếu vì vậy trình độ nhận thức
của người dân về vấn đề cho trẻ mầm non đến lớp là hạn chế. Chủ yếu con cái ở
16


với ông bà vì vậy các cháu hầu như không nhận được sự quan tâm giáo dục từ
cha mẹ.
II. ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA
1. Giáo viên dạy lớp Mẫu giáo Lớn
STT

Họ tên giáo viên

Trình độ

Thâm liên

1

Đinh Thị Thanh Hằng

Cao đẳng

9 năm

2

Nguyễn Thị Phương Vy

Đại học

5 năm

3

Nguyễn Thanh Thủy Hà

Cao đẳng

15 năm

4

Nguyễn Thị Hải Châu

Cao đẳng

8 năm

5

Nguyễn Thị Hồng Vân

Cao đẳng

5 năm

6

Lê Thị Kim Ngân

Cao đẳng

9 năm

7

Nguyễn Thị Hoài

Trung cấp

12 năm

8

Đặng Thanh Hoa

Trung cấp

8 năm

9

Vũ Thị Trang Nhung

Trung cấp

9 năm

10

Vũ Thị Ngân Quỳnh

Trung cấp

4 năm

2. Các cháu Mẫu giáo Lớn
STT

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14

Họ tên cháu

Đào Hồng Ngọc
Đinh Ngọc Diệp
Đinh Thị Tuyết Thanh
Lê Đức Hùng
Lê Hoàng Anh Quân
Vũ Hồng Phong
Hà Thị Huyền Thương
Lê Minh Nam
Lê Minh Hiếu
Lê Thị Kim Oanh
Lê Thị Tố Nga
Lê Thu Anh Thư
Hoàng Long Nhật
Ngô Mạnh Hùng

Giới tính Hoàn cảnh gia đình

Nữ
Nữ
Nữ
Nam
Nam
Nam
Nữ
Nam
Nam
Nữ
Nữ
Nữ
Nam
Nam
17

Bố, mẹ làm công nhân
Bố làm ruộng, mẹ làm GV
Bố CN, mẹ làm nội trợ
Bố làm mỏ, mẹ làm nội trợ
Bố mẹ là công nhân
Bố mẹ đều làm ruộng
Bố mẹ làm giáo viên
Bố CN, mẹ làm ruộng
Bố ruộng, mẹ làm GV
Bố, mẹ làm mỏ
Bố thợ mộc, mẹ làm CN
Bố làm thợ xây, mẹ làm nội trợ
Bố mẹ làm công nhân
Bố làm CN, mẹ làm nội trợ


15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25

Nguyễn Minh Tâm
Nguyễn Minh Toàn
Nguyễn Duy Tân
Nguyễn Xuân Lan
Tạ Thị Ngà
Trần Huy Hùng
Vũ Anh Thu
Đoàn Thị Quỳnh
Nguyễn Ngọc Anh
Đoàn Hồng Khánh
Ngô Ngọc Trường

Nam
Nam
Nam
Nữ
Nữ
Nam
Nữ
Nữ
Nữ
Nam
Nam

18

Bố làm sửa chữa, mẹ làm CN
Bố, mẹ làm ruộng
Bố làm CN, mẹ buôn bán
Bố, mẹ lam CN
Bố làm CN, mẹ làm ruộng
Bố, mẹ buôn bán
Bố làm ruộng, mẹ làm CN
Bố làm ruộng, mẹ làm nội trợ
Bố, mẹ buôn bán
Bố làm CN, mẹ buôn bán
Bố làm mỏ, mẹ làm nội trợ


III. NỘI DUNG ĐIỀU TRA
1. Điều tra nhận thức của giáo viên về việc phát triển Danh từ cho trẻ Mẫu giáo
Lớn qua hoạt động Khám phá môi trường xung quanh.
2. Điều tra các biện pháp giáo viên đã sử dụng nhằm phát triển Danh từ cho
trẻ Mẫu giáo Lớn qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh, chủ đề một
số loại Rau.
3. Điều tra vốn Danh từ của trẻ Mẫu giáo Lớn.
IV. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA
1. Phương pháp dùng phiếu hỏi
Chúng tôi đã xây dựng phiếu hỏi gồm 8 câu hỏi, trong đó có câu hỏi đóng
và có câu hỏi mở và chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra trên 10 giáo viên
dạy lớp Mẫu giáo Lớn.
2. Phương pháp quan sát
Chúng tôi tiến hành quan sát việc sử dụng các biện pháp trên các hình thức
cho trẻ khám phá môi trường xung quanh để phát triển vốn Danh từ cho trẻ.
3. Phương pháp đàm thoại
4. Phương pháp sử dụng bảng từ
Số thứ tự
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17

Từ
Cà Chua
Bắp Cải
Su Hào
Rau Muống
Rau Ngót
Cà Rốt
Củ Cải
Rau Đay
Su Su
Qủa Mướp
Qủa Bí
Rau Cúc
Qủa Bầu
Rau Rền
Súp Lơ
Đỗ Đũa
Rau Cải Thìa
19


18
19
20
21
22
23
24
25

Hành Tây
Dưa Chuột
Cà Tím
Khoai Tây
Tía Tô
Lá Lốt
Rau Răm
Rau Xà Lách

V. KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ĐIỀU TRA:
1. Kết quả điều tra nhận thức của giáo viên và các biện pháp đã sử
dụng
Chúng tôi phát 10 phiếu cho giáo viên và thu về 10 phiếu. Kết quả thu
được như sau:
* Câu hỏi 1: Chị Thấy vai trò của các biện pháp phát triển Danh từ cho trẻ
mẫu giáo lớn qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh như thế nào?
Rất cần thiết

Giáo viên
10

Cần thiết

Không cần thiết

Số lượng

%

Số lượng

%

Số lượng

%

8

80%

2

20

0

0

Phân tích: Nhìn vào bảng kết quả cho thấy:
Trong số 10 giáo viên chúng tôi điều tra thì số giáo viên cho nhận thức cho
rằng việc phát triển vốn Danh từ cho trẻ thông qua làm quen với môi trường
xung quanh là việc rất cần thiết có 8 người chiếm tỷ lệ 80%. Còn số ít giáo viên
cho rằng việc phát triển vốn Danh từ cho trẻ thông qua hoạt động khám phá
môi trường xung quanh là cần thiết có 2 người chiếm tỷ lệ 20%.
Trong số 10 giáo viên được chúng tôi điều tra thì không có giáo viên nào
trả lời cho rằng việc phát triển vốn Danh từ cho trẻ thông qua khám phá môi
trường xung quanh là không cần thiết. Như vậy, có thể nói rằng nhận thức của
20


giáo viên về vấn đề phát triển vốn Danh từ cho trẻ là đúng đắn, phần lớn họ có
ý kiến cho rằng rất cần thiết.
* Câu hỏi 2: Chị có thường xuyên phát triển vốn từ cho trẻ thông qua hoạt
động khám phá môi trường xung quanh không?
Giáo viên chưa nhận thức đầy đủ về nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở
trường Mầm non thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh, cụ thể:
7/10 giáo viên thường xuyên dạy trẻ phát triển vốn Danh từ thông qua hoạt
động khám phá môi trường xung quanh..
3/10 giáo viên chưa thực hiện được thường xuyên.
* Câu hỏi 3: Theo chị, việc cho trẻ khám phá môi trường xung quanh nhằm
mục đích gì?
kết quả có thể thấy trong số 10 giáo viên được điều tra thì tất cả giáo viên
đều cho rằng mục đích cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh mà cụ thể
là cung cấp kiến thức và các kỹ năng, phát triển vốn từ, phát triển năng lực quan
sát, giáo dục tình yêu thiên nhiên đều quan trọng. Điều này có thể nói là rất tốt.
Một mặt khi họ nhận thức cho rằng khi cho trẻ khám phá môi trường xung
quanh là cùng lúc phải giải quyết nhiều mục đích khác nhau, chính vì vậy họ ý
thức rằng mục đích nào cũng quan trọng như nhau nên họ không xác định được
trong đó có mục đích nào là mục đích chính, là mục đích quyết định để họ có ý
thức chú ý hơn.
Như vậy, có thể nói rằng nhận thức của họ về vấn đề mục đích cho trẻ
khám phá môi trường xung quanh là rất dàn trải, đồng đều nhau. Trong đó mục
đích nhằm phát triển vốn từ cho trẻ là cao hơn một chút đạt 27 điểm chiếm
27%. Mục đích cung cấp kiến thức và các kỹ năng, mục đích phát triển năng lực
quan sát bằng điểm nhau đạt 25 điểm chiếm 25%. Mục đích giáo dục lòng yêu
thiên nhiên đạt 24 điểm chiếm 24 %.
* Câu hỏi 4: Chị đã sử dụng những biện pháp nào để phát triển vốn Danh
từ cho trẻ khám phá môi trường xung quanh?
4/8 giáo viên sử dụng biện pháp trò chuyện, đàm thoại với trẻ theo chủ đề
là chủ yếu, đôi khi có sử dụng kết hợp cả biện pháp sử dụng trò chơi.
21


5/8 giáo viên sử dụng biện pháp đàm thoại kết hợp cùng với đồ dùng trực
quan.
1/8 giáo viên trả lời rất chung chung là kết hợp đầy đủ các biện pháp song
không nói rõ đó là biện pháp cụ thể nào.
Như vậy, việc sử dụng các biện pháp phát triển vốn Danh từ cho trẻ thông
qua khám phá môi trường xung quanh của giáo viên chưa đồng bộ, chưa triệt để.
Rất nhiều giáo viên còn lúng túng khi đưa ra các biện pháp, nhiều khi các biện
pháp có được sử dụng đầy đủ, hợp lý hay không còn phụ thuộc vào tiết học ấy
có được kiểm tra dự giờ hay không.
* Câu hỏi 5: Chị đã sử dụng những hình thức nào để phát triển vốn Danh
từ cho trẻ?
8/10 giáo viên phát triển vốn từ cho trẻ chủ yếu là trên tiết học là chính, tiết
văn học và tiết môi trường xung quanh.
2/10 giáo viên cho biết thêm ngoài dạy trên tiết học còn phải dạy đủ mọi
lúc mọi nơi.
Như vậy, việc phát triển vốn Danh từ cho trẻ trên các hình thức còn rất hạn
hẹp, giáo viên chưa áp dụng hình thức giáo dục tích hợp để dạy trẻ trong tất cả
các môn học. Đa số giáo viên phát triển vốn Danh từ cho trẻ trên tiết học.
* Câu hỏi 6: Chị đã sử dụng những phương tiện nào được sử dụng cho trẻ
khám phá với môi trường xung quanh nhằm phát triển vốn Danh từ cho trẻ.
Kết quả cho thấy trong số những phương tiện cơ bản được sử dụng cho trẻ
khám môi trường xung quanh nhằm phát triển Danh từ cho trẻ như: vật thât,
tranh ảnh, mô hình, băng hình thì việc cho trẻ khám phá môi trường xung quanh
bằng vật thật được giáo viên đánh giá cao nhất. Theo chúng tôi sở dĩ có kết quả
như vậy là do khi cho trẻ khám phá môi trường xung quanh thông qua vật thật
giúp trẻ được trực tiếp tự giác, sử dụng các giác được tận mắt quan sát. Vật thật
rất sinh động, sẽ gây hứng thú cho trẻ, phát huy tư duy, trẻ dễ nhớ, ấn tượng sâu
sắc.
Còn đối với việc sử dụng băng hình đạt 21 điểm chiếm 21%. Theo chúng tôi
việc sử dụng băng hình cho trẻ khám phá môi trường môi trường xung quanh là
22


rất khó, bởi lẽ trẻ không được tiếp xúc trực tiếp với đối tượng, ở trường Mầm non
có ít băng hình về thiên nhiên, vì thế sẽ không phát triển được vốn từ cho trẻ.
* Câu hỏi 7: Giáo dục phát triển Danh từ cho trẻ Mẫu giáo Lớn chị đã gặp
những khó khăn gì?
8/10 giáo viên cho rằng khi gặp những trẻ nhút nhát, thiếu tự tin thì cũng rất
vất vả.
2/10 giáo viên cho rằng những trẻ không được sự quan tâm của bố mẹ thì
cũng gặp khó khăn trong việc phát triển ngôn ngữ.
* Câu hỏi 8. Việc sử dụng công nghệ thông tin đã đem lại kết quả như thế
nào trong việc phát triển danh từ cho trẻ hiện nay?
- Đa số giáo viên đã công nhân kết quả của việc sử dụng công nghệ thông
tin giúp trẻ hứng thú,tích cực hoạt động và đạt kết quả tốt.
2. Kết quả điều tra
* Các cháu Mẫu giáo Lớn
STT

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20

Họ tên cháu

Đào Hồng Ngọc
Đinh Ngọc Diệp
Đinh Thị Tuyết Thanh
Lê Đức Hùng
Lê Hoàng Anh Quân
Vũ Hồng Phong
Hà Thị Huyền Thương
Lê Minh Nam
Lê Minh Hiếu
Lê Thị Kim Oanh
Lê Thị Tố Nga
Lê Thu Anh Thư
Hoàng Long Nhật
Ngô Mạnh Hùng
Nguyễn Minh Tâm
Nguyễn Minh Toàn
Nguyễn Duy Tân
Nguyễn Xuân Lan
Tạ Thị Ngà
Trần Huy Hùng
23

Số từ

%

23/25
25/25
24/25
23/25
21/25
22/25
20/25
19/25
23/25
24/25
20/25
21/25
25/25
24/25
24/25
23/25
19/25
23/25
23/25
25/25

92%
100%
96%
92%
84%
88%
80%
76%
92%
96%
80%
84%
100%
97%
96%
92%
76%
92%
92%
100%


21
22
23
24
25

24/25
23/25
21/25
22/25
25/25

Vũ Anh Thu
Đoàn Thị Quỳnh
Nguyễn Ngọc Anh
Đoàn Hồng Khánh
Ngô Ngọc Trường

96%
92%
84%
88%
100%

* Điều tra vốn từ của trẻ.
Qua bảng kết quả điều tra vốn từ của trẻ cho thấy một số cháu đã sử dụng
được các Danh từ, vốn Danh từ của các cháu đó khá phong phú, bên cạnh đó
còn có một số cháu vốn Danh từ còn ít, chưa phát triển, khi phát âm còn chưa
chính xác, do cháu nhút nhát, tự ti, bố mẹ chưa quan tâm rèn luyện cho các cháu.
Các cháu còn chưa tích cực tham gia các hoạt động, gia đình chưa quan tâm tới
trẻ.

CHƯƠNG 3
Đề xuất các biện pháp phát triển vốn Danh từ cho trẻ Mẫu giáo Lớn thông
qua hoạt động khám phá môi trường xung chủ đề một số một số loài Rau
I. Khái niệm biện pháp
Biện pháp được hiểu là cách làm cụ thể trong hoạt động hợp tác cùng nhau
giữa giáo viên và trẻ nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra .
II. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp
- Các biện pháp đề xuất phải phù hợp với chương trình giáo dục Mầm non.
- Các phương pháp đề ra phải phù hợp với đặc điểm tâm lý của trẻ 5 -6
tuổi.
- Các phương pháp đề xuất phải phù hợp với điều kiện của nhà trường, của
địa phương.
III. Các biện pháp đề xuất
1. Biện pháp 1: Sử dụng trực quan.

24


25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×