Tải bản đầy đủ

TUYỂN TẬP NỘI DUNG TỰ HỌC TỰ BỒI DƯỠNG PHẦN KIẾN THỨC TỰ CHỌN MODUNLE 21 ĐẾN MODUNLE 22 ĐÃ ĐƯỢC CHUYỂN THÀNH FILE WORD VÀ CHẮT LỌC NỘI DUNG NGẮN GỌN CHO GIÁO VIÊN HỌC TẬP THEO THÔNG TƯ 222016.

TƯ LIỆU GIÁO DỤC HỌC.
-------------------------------

TUYỂN TẬP
NỘI DUNG TỰ HỌC TỰ BỒI DƯỠNG PHẦN
KIẾN THỨC TỰ CHỌN MODUNLE 21 ĐẾN
MODUNLE 22 ĐÃ ĐƯỢC CHUYỂN THÀNH
FILE WORD VÀ CHẮT LỌC NỘI DUNG
NGẮN GỌN CHO GIÁO VIÊN HỌC TẬP
THEO THÔNG TƯ 22-2016.

Giáo dục tiểu học


ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo viên là một trong những nhân tổ quan trọng
quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân
lực cho đất nước. Do vậy, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt
quan lâm đến công tác xây dựng và phát triển đội ngũ
giáo viên. Một trong những nội dung được chú trong
trong công tác này là bồi dưỡng thường xuyên (BDTX)

chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên.
BDTX chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên là một
trong những mô hình nhằm phát triển nghề nghiệp lìên
tục cho giáo viên và được xem là mô hình có ưu thế
giúp số đông giáo viên được tiếp cận với các chương
trình phát triển nghề nghiệp.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng chương trinh
BDTX giáo viên và quy chế BDTX giáo viên theo tĩnh
thần đổi mới nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của
công tác BDTX giáo viên trong thời gian tới. Theo đó,


các nội dung BDTX chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo
viên đã đựợc xác định, cụ thể là:
+ Bồi dương đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ năm
học theo cấp học (nội dung bồi dưỡng 1);
+ Bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ phát
triển giáo dục địa phương theo năm học (nội dung bồi
dưỡng 2);
+ Bồi dưỡng đáp ứng nhu cầu phát triển nghề nghiệp
liên tục của giáo viên (nội dung bồi dưỡng 3).
Theo đó, hằng năm mỗi giáo viên phải xây dung kế
hoạch và thực hiện ba nội dung BDTX trên với thời
lượng 120 tiết, trong đó: nội dung bồi dưỡng 1 và 2 do
các cơ quan quân lí giáo dục các cẩp chỉ đạo thực hiện
và nội dung bồi dưỡng 3 do giáo viên lựa chọn để tự bồi
dưỡng nhằm phát triển nghề nghiệp.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chương trinh
BDTX giáo viên Tiểu học, phổ thông và giáo dục
thường xuyên với cấu trúc gồm ba nội dung bồi dưỡng


trên. Trong đó, nội dung bồi dương 3 đã đuợc xác định
và thể hiện dưới hình thúc các module bồi dưỡng làm cơ
sở cho giáo viên tự lựa chọn nội dung bồi dưỡng phù
hợp để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng hằng năm của
mình. Để giúp giáo viên có tài liệu học tập bồi dưỡng
đầy đủ, gọn nhẹ, chắt lọc tôi đã sưu tầm, chuyển đổi các
module sang file word dễ điều chỉnh, lưu hồ sơ…
Trân trọng giới thiệu cùng quý vị thầy cô giáo, các

bậc phụ huynh và các bạn đọc cùng tham khảo tài liệu:

TUYỂN TẬP
NỘI DUNG TỰ HỌC TỰ BỒI DƯỠNG PHẦN
KIẾN THỨC TỰ CHỌN MODUNLE 21 ĐẾN
MODUNLE 22 ĐÃ ĐƯỢC CHUYỂN THÀNH
FILE WORD VÀ CHẮT LỌC NỘI DUNG
NGẮN GỌN CHO GIÁO VIÊN HỌC TẬP
THEO THÔNG TƯ 22-2016.
Chân thành cảm ơn!


TÀI LIỆU GỒM
1- MODUNLE TH 21: ỨNG DỤNG PHẦN MỀM TRÌNH
DIỄN MICROSOFT POWERPOINT TRONG DẠY HỌC

2- MODUNLE TH 22: SỬ DỤNG PHẦN MỀM GIÁO
DỤC ĐỂ DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC SỬ DỤNG PHẦN
MỀM GIÁO DỤC ĐỂ DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC
.

TUYỂN TẬP


NỘI DUNG TỰ HỌC TỰ BỒI DƯỠNG PHẦN
KIẾN THỨC TỰ CHỌN MODUNLE 21 ĐẾN
MODUNLE 22 ĐÃ ĐƯỢC CHUYỂN THÀNH
FILE WORD VÀ CHẮT LỌC NỘI DUNG
NGẮN GỌN CHO GIÁO VIÊN HỌC TẬP
THEO THÔNG TƯ 22-2016.
TÀI LIỆU

TỰ HỌC TỰ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN
NGHIỆP VỤ
MODUNLE TH 21: ỨNG DỤNG PHẦN MỀM
TRÌNH DIỄN MICROSOFT POWERPOINT
TRONG DẠY HỌC
1.

Các tính năng cơ bản của phần mềm trình diễn
Microsoft powerPoint.


Microsoft PowerPoint là một chương trình ứng dụng
của bộ phần mềm văn phòng Microsoft
Officce. Microsoft Powerpoint có đầy đủ các
tính năng để người sử dụng có thể biên tập các
trình diễn bằng văn bản, các biểu đồ số liệu,
các trình diễn bằng hình ảnh, âm thanh...
Microsoft Powerpoint có các chức năng cho
phép người sử dụng chọn các kiểu mẫu trình
diễn đã được thiết kế sẵn hoặc tự thiết kế cho
mình một kiểu trình diễn riêng tuỳ theo yêu
cầu công việc hoặc ý tưởng của người trình
bày.
Một số tính năng thiết kế cơ bản
Sử dụng phần mềm thiết kế trình chiếu không phải là
mục đích của giáo trình này. Ở đây chỉ giới thiệu một số
tính năng cơ bản nhất có thể khai thác nhằm mục đích
thiết kế bài thuyết trình khoa học. Để theo học phần này
dễ dàng, người học cần biết sử dụng ở mức độ căn bản
một phần mềm thiết kế trình chiếu. Các hướng dẫn sau
đây là dành cho phần mềm Microsoft PowerPoint XP,
bản tiếng Anh, chạy dưới hệ điều hành Windows XP.
Nhấn lên siêu liên kết để xem hình minh hoạ.


Tạo hình nền
Hình nền là một yếu tố có thể tạo ra ấn tượng lâu dài
cho người nghe, nếu sử dụng đúng cách trong thiết kế.
Thường hình nền là một hình ảnh có liên quan chặt chẽ
đến nội dung trọng tâm hoặc chủ đề của bài thuyết trình.
Hình nền nên có độ đồng đều về màu sắc để không ảnh
hưởng đến độ rõ nét của các thành phần nội dung khi
thuyết trình. Nên cân nhắc về màu sắc giữa chữ viết và
các thành phần khác đối với hình nền sao cho phù hợp.
Các bước tạo hình nền như sau:






vào trình đơn View. Master, chọn Slide
Master (quản lí bản phim), nền bản phim sẽ được
hiện ra cùng với các thông số định dạng các thành
phần;
không thay đổi gì các thông số đó, vào trình
đơn Insert. Picture, chọn From File(chèn hình ảnh
từ thư mục cá nhân);
chọn đường dẫn về thư mục lưu hình ảnh cần lấy
làm nền, chọn đúng tên tập tin đó và nhấn
nút Insert (chèn hình vào bản phim mẫu);












thay đổi kích thước hình ảnh bằng cách dùng chuột
nhấn và kéo các biên, hoặc di chuyển hình ảnh đến
đúng vị trí cần xuất hiện trong mỗi bản phim;
thường hình nền được định dạng mờ để làm nổi bật
nội dung, do đó nhấn chuột phải lên hình và
chọn Format Picture (định dạng hình);
chọn thẻ Picture, mục Color, chọn Washout (chế
độ bóng);
xong nhấn nút OK và chọn Close Master View để
đóng cửa sổ quản lí bản phim lại;
tất cả các bản phim sẽ đều được chèn hình nền như
đã thiết lập, nếu chưa vừa ý thì có thể vào lại View.
Master > Slide. Master để chỉnh sửa.

Định dạng đầu và chân bản phim
Chức năng thông tin của bản phim trình chiếu không
giống như của trang bài viết, do đó không nên quá lạm
dụng các định dạng đầu và chân bản phim. Thông
thường, trong bài thuyết trình khoa học chỉ nên để tối đa
một số thông tin cơ bản ở chân trang giúp người nghe
định vị tốt, hoặc vài thông tin nhận diện nữa nếu cần
phân phát bản in.


Cách định dạng đầu và chân bản phim như sau:












vào trình đơn View. Header and Footer (hiển thị
công cụ định dạng đầu và chân bản phim);
trong thẻ Slide, đánh dấu chọn mục Date and
time nếu muốn cho hiển thị ngày giờ trên bản phim,
o chọn Update automatically nếu muốn ngày
giờ tự động thay đổi theo ngày mở tập tin ra,
với các lựa chọn kiểu ngày giờ và ngôn ngữ
khác nhau,
o chọn Fixed nếu muốn hiển thị một ngày giờ cố
định, và phải nhập trực tiếp chuỗi ngày giờ
vào ô trống bên cạnh;
chọn Slide number nếu muốn cho hiển thị số thứ tự
bản phim;
chọn Footer để cho hiển thị thông tin ở chân bản
phim, và gõ chuỗi văn bản trực tiếp vào ô trống bên
cạnh;
nếu chọn Don't show on title slide thì phần thiết lập
đầu và chân như trên sẽ không áp dụng cho bản
phim đầu tiên (dành cho tên bài thuyết trình);
nhấn nút Apply để chỉ áp dụng cho bản phim đang
xem xét, hoặc nút Apply to Allđể áp dụng cho tất cả
các bản phim.


Định dạng phông nền
Nếu không sử dụng hình nền, việc định dạng phông nền
có vai trò quan trọng giúp trình bày nội dung thuyết
trình được rõ ràng, dễ theo dõi. Các bước chèn hình nền
như sau:






vào trình đơn Format. Background (định dạng
phông nền);
nhấn lên danh sách cuốn, chọn:
o một màu (đồng nhất) trong danh sách các màu
vừa sử dụng,
o More Colors để chọn được nhiều màu khác
(đồng nhất)
o Fill Effects để chọn các kiểu phông nền không
có màu đồng nhất (nền kẻ ô, nền chấm, nền
hoa văn,...);
nhấn nút Apply để chỉ áp dụng cho bản phim đang
xem xét, hoặc nút Apply to Allđể áp dụng cho tất cả
các bản phim.

Sắp xếp các yếu tố trong bản phim


Các yếu tố sau khi được chèn vào bản phim có thể được
sắp xếp theo những cách khác nhau, phục vụ cho các ý
tưởng trình bày cụ thể: nằm ở lớp trên hay dưới, gom
thành một nhóm hay tách rời một nhóm,...


Giống như trong văn bản, một bản phim có nhiều
lớp song song với mặt phẳng màn hình. Các yếu tố
đặt trên cùng lớp sẽ được hiển thị ngang hàng nhau.
Hoặc nếu yếu tố A nằm ở lớp trên và yếu tố B ở
lớp dưới, phần nào của B nằm trong tầm che phủ
của A thì sẽ bị che lấp, không thấy được trên văn
bản.

Để thay đổi cách sắp xếp của một yếu tố, nhấn chuột
phải lên biên của yếu tố đó, để thay đổi một nhóm yếu
tố, nhấn giữ phím Shift và lần lượt chọn từng yếu tố, sau
đó:




chọn Grouping nếu muốn gom hay tách nhóm:
o chọn Group để gom lại thành một nhóm,
o chọn Ungroup để tách các thành phần trong
nhóm ra,
o chọn Regroup nếu muốn các thành phần vừa
tách được gom trở lại thành nhóm;
chọn Order nếu muốn thay đổi vị trí lớp hiển thị:


o

o

o
o

chọn Bring to Front để cho hiển thị ở lớp trên
cùng,
chọn Send to Back để cho hiển thị ở lớp dưới
cùng,
chọn Bring Forward để đưa lên lớp liền trên,
chọn Send Backward để đưa xuống lớp liền
dưới.

Chèn các yếu tố
Để trình bày bản phim, mọi yếu tố nội dung đều phải
được chèn vào thông qua trình đơn Insert. Các loại yếu
tố có thể chèn vào bản phim đều được bố trí thành một
mục trong trình đơn này: Picture (hình
ảnh), Diagram (sơ đồ), Text Box (khung chữ),Movies
and Sounds (các tập tin âm thanh và
phim), Table (bảng), Chart (biểu đồ),Object. Microsoft
Equation 3.0 (công thức toán học), Hyperlink (siêu liên
kết đến một tập tin khác, bản phim khác trong cùng bài,
một địa chỉ thư điện tử hay một địa chỉ mạng),...
Chèn các nút hành động


Khi đang trình bày, bài thuyết trình được chiếu lên máy
chiếu ở chế độ chiếu, chỉ có các hiệu ứng đã thiết lập
hoạt động theo lệnh từ chuột hoặc bàn phím. Nếu cần di
chuyển đến một vị trí khác trong bài, hoặc nếu cần thêm
một số hành động khác mà không phải chờ trình diễn
hết các yếu tố trong bản phim đang chiếu, cũng không
cắt ngang chế độ chiếu, thì công cụ hữu hiệu nhất là
chèn các nút hành động.
Các nút hành động đã được thiết kế sẵn trong phần
mềm, chỉ cần chèn vào bằng cách vào trình đơn Slide
Show, chọn Action Buttons. Sau đó sẽ có một danh sách
mở ra để lựa chọn, chỉ cần rà chuột lên các nút để xem
nhãn và chọn nút nào phù hợp với nhu cầu: Home (về
trang tiếp đón); Back or Previous (về bản phim
trước); Forward or Next (qua bản phim
sau); Beginning (về bản phim đầu); End (về bản phim
cuối);Return (quay trở lại vị trí đang trình
diễn); Sound (mở một tập tin âm thanh); Movie(mở một
tập tin phim),...

Áp dụng hiệu ứng động cho các yếu tố


Để lập hiệu ứng cho yếu tố nào, nhấp chọn yếu tố đó rồi
vào trình đơn Slide Show. Custom Animation, danh sách
hiệu ứng sẽ xuất hiện ở cột bên phải màn hình.
ChọnAdd Effect cùng với một kiểu hiệu ứng nào mong
muốn (cần thử nhiều lần để tìm được hiệu ứng ưng ý).
Khi muốn điều chỉnh hiệu ứng đã áp dụng cho một hay
nhiều yếu tố trong bản phim, nhấp chọn hoặc cho con
trỏ vào bên trong yếu tố đó, ở cột hiệu ứng bên tay phải:



chọn Remove để bỏ hẳn hiệu ứng;
nếu muốn điều chỉnh, trong ô Modify chọn:
o Start: On Click cho hiệu ứng trình diễn khi
nhấp chuột (hoặc chọn kiểu khác nếu muốn),
o Direction. In hay Out cho hiệu ứng hướng vào
tâm hay hướng ra bìa của bản phim,
o kiểu tốc độ trình diễn trong Speed,
o nút mũi tên lên hoặc xuống trong ô ReOrder ở cuối cột danh sách để thay đổi thứ tự
xuất hiện của các yếu tố trên màn hình khi
thuyết trình.

Áp dụng cách chuyển tiếp bản phím


2. Thực hành các tính năng cơ bản của phần mềm
trình diễn Microsoft powerPoint để xây dựng một
tệp tin trình diễn phục vụ cho việc dạy học ở tiểu
học:
Trình chiếu PowerPoint
Trình chiếu PowerPoint là cho slide chạy trong chế
độ “toàn màn hình”. Thông qua màn hình đó tất cả
những người trong nhóm có thể xem nội dung mà bạn
tạo một cách có thứ tự và để chạy bạn chỉ cần kích
chuột hoặc hoặc ấn một nút.
Để xem một Slide Show từ slide đầu tiên
- Từ menu View, kích vào Slide Show
Để xem một Slide Show từ slide hiện hành
- Kích vào biểu tượng Slide Show ở phía bên trái của
màn hình PowerPoint hoặc nhấn phím Shift + F5
Để chuyển sang một slide tiếp theo trong khi trình
chiếu
- Ấn phím Enter
Để chuyển về một slide trước đó trong khi trình
chiếu
- Ấn phím Backspace
Để chuyển đến một slide đặc biệt trong khi trình
chiếu


- Kích chuột phải vào slide hiện hành và chọn Go to
Slide
- Chọn slide bạn muốn
Tạm dừng trình chiếu Slide
- Kích chuột phải vào slide hiện hành (trong khi đang
trình chiếu) và lựa chọn Pause
Trở về một màn hình đen
- Kích chuột phải vào slide hiện hành (trong khi đang
trình chiếu)
- Trỏ vào Screen và chọn Black Screen
Trở về một màn hình trắng
- Kích chuột phải vào sile hiện hành (trong khi đang
trình chiếu)
- Trỏ vào Screen và chọn White Screen.
Các tùy chọn con trỏ
Automatic Pointer là con trỏ mặc định trong trình chiếu
slide. Khi thiết lập tự động, con trỏ sẽ biến mất sau 15
phút.
Sử dụng con trỏ mũi tên
- Con trỏ mũi tên (Arrow) luôn luôn hiển thị trong suốt
quá trình trình chiếu
Lựa chọn con trỏ mũi tên
- Kích chuột phải vào slide hiện hành (trong khi đang
trinh chiếu)


- Chọn Pointer Options và kich vào Arrow
Đổi con trỏ thành cái bút
Bằng cách đổi con trỏ thành cái bút, bạn có thể viết vào
slide cả trong lúc trình diễn slide
- Kớch chuột phải vào slide hiện hành (trong khi đang
trình chiếu)
- Chọn Pointer Options và kích vào Pen
Thay đổi màu sắc bút
- Kích phải vào slide hiện hành (trong khi đang trình
chiếu).
- Chọn Pointer Options và kích vào Ink Color
- Lựa chọn màu mà bạn muốn


1.

Kích vào nút Apply to All Slides
MS PowerPoint: Mẹo hay làm slide trình diễn thêm
phong phú
Với PowerPoint, bạn có thể dễ dàng trình bày ý tưởng
của mình thông qua hình ảnh, chữ viết và âm thanh.
******************************

TÀI LIỆU


TỰ HỌC TỰ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN
NGHIỆP VỤ
MODUNLE TH 22: SỬ DỤNG PHẦN MỀM GIÁO
DỤC ĐỂ DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC
SỬ DỤNG PHẦN MỀM GIÁO DỤC ĐỂ DẠY HỌC
Ở TIỂU HỌC
(*). Vai trò của phần mềm giáo dục trong giáo dục
tiểu học:
PMDH là một phương tiện dạy học quan trọng, ở cấp
độ cao hơn so với các phương tiện dạy học trực quan
khác, tạo điều kiện để thực hiện những đổi mới căn bản
về nội dung, phương pháp dạy học nhằm hình thành ở
học sinh các năng lực làm việc, học tập và thích ứng
được với môi trường xã hội hiện đại.
Trong thời đại xã hội phát triển với tốc độ chóng mặt
như hiện nay, việc dạy học không chỉ hạn chế trong các
giờ học tại nhà trường mà có thể học tập dưới sự hướng
dẫn trực tiếp của GV hoặc tự học tập tại nhà qua hệ
thống Internet.
Việc sử dụng các PMDH không chỉ giúp GV thực hiện
tốt hơn chương trình đại trà mà còn cho phép thực thi
cách thức dạy học mới có khả năng đáp ứng yêu cầu tự


tìm kiếm kiến thức, rèn luyện kĩ năng của bất kì người
học nào, vào bất cứ lúc nào, theo nội dung tuỳ chọn ở
mức độ phù hợp với khả năng, ý muốn phù hợp với khả
năng và điều kiện của từng cá nhân.
PMDH có thể hiển thị thông tin dưới dạng văn bản, ký
hiệu, đồ thị, bản đồ, hình vẽ, ảnh chụp, phim đèn chiếu,
phim hoạt hình, đoạn phim,.... Với các hình thức hoạt
động đơn giản như bấm phím, di chuyển và kích
chuột... để lựa chọn và ra các lệnh theo chủ định, HS sẽ
rất hứng thú khi thấy yêu cầu của mình đề ra được thực
hiện liền ngay tức thời, điều này có tác dụng kích thích
hứng thú rất mạnh mẽ trong hoạt động tự học. Những
hình ảnh đẹp, rõ ràng, nhiều màu sắc sinh động, kèm
theo các đoạn văn bản, giọng nói nhạc đệm... tác động
đồng thời hoặc kế tiếp nhau lên các giác quan giúp cho
HS tự thao tác tay làm, mắt thấy, tai nghe, trí óc suy
nghĩ... trong khi học và luyện tập, nhờ đó dễ dàng hiểu
rõ, nắm vững kiến thức và đạt được các kỹ năng, kỹ xảo
cần thiết. PMDH cũng cho phép giáo viên lựa chọn các
tài liệu trực quan cần cho từng phần của bài học và sử
dụng chúng rất thuận tiện trong giảng dạy.
Với những PM "mở" GV có thể tự mình xây dựng, thiết
kế những bài giảng, bài tập... để làm tư liệu giảng dạy.
Các tài liệu trong PM có thể sao chép ra đĩa mềm hay in
ra giấy một cách dễ dàng, ít tốn kém, tiết kiệm được


nhiều thời gian và công sức chuẩn bị để tạo điều kiện
cần thiết cho các hoạt động tự học của HS.
PMDH có thể giúp HS tự tìm kiếm tri thức mới, tự ôn
tập, luyện tập theo nội dung tuỳ chọn, theo các mức độ
nông sâu, tuỳ thuộc vào năng lực của bản thân.
Như vậy, việc sử dụng PMDH làm phương tiện dạy học
các môn học, giúp cho việc học tập của HS như là một
công cụ hỗ trợ cho việc dạy và học nhằm góp phần rèn
luyện kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng giao tiếp, độc
lập giải quyết các vấn đề, kỹ năng tìm kiếm và xử lý
thông tin nhằm góp phần củng cố tư tưởng học suốt đời
cho tất cả mọi người. Phát triển rộng rãi việc ứng dụng
CNTT trong nhiều môn học, mọi trường học, mọi cấp
học và mọi ngành học thông qua các loại PM khác nhau
( PMDH, tự học, PM kiểm tra đánh giá...) dẫn đến việc
xây dựng nội dung và phương pháp đào tạo thích hợp,
phát triển việc kiểm tra đánh giá trong một môi trường
giàu thông tin

1 Các yêu cầu sư phạm về các mặt: Hình thức, nội
dung, phương pháp của một phần mềm dạy học
ở tiểu học:
Nhu cầu sử dụng các phần mềm dạy học trong trường
tiểu học ngày càng lớn, hiện nay có nhiều phần mềm
dạy học nhưng điểm lại, ta thấy giáo viên và các bậc phụ


huynh không quan tâm sử dụng chúng để giúp trẻ em
học. Điều đó chứng tỏ các phần mềm trên phần nào
chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sư phạm mặc dầu kỹ
thuật để thể hiện khá cao. Các yêu cầu sư phạm đối với
phần mềm dạy học bậc tiểu học:
1.1. Phần mềm dạy học phải phù hợp với chương trình
và sách giáo khoa bậc tiểu học.
Một phần mềm dạy học tốt phải gắn với chương trình cụ
thể, chương trình được quy định bởi hội đồng giáo dục
quốc gia.
Để được sử dụng thường xuyên và có hiệu quả, cần có
đủ phần mềm ứng với tất cả các lớp học, ứng dụng với
chương, mục tri thức có trong chương trình. Hệ phần
mềm có cấu trúc tương ứng với cấu trúc của chương
trình tiểu học.
Đảm bảo các yêu cầu tương từng chương mục như trọng
tâm, mức độ lý thuyết, mức độ rèn luyện kỹ năng, kỹ
xảo.
Đảm bảo hình thức trình bày tương ứng với việc trình
bày trong SGK và sách hướng dẫn giáo viên hiẹen có.
Các đối tượng hiện trên màn hình không quá khác biệt
với các đối tượng trình bày trên SGK, mà chỉ nên có tác
dụng bổ sung, làm đa dạng hoá các kiến thức trong
chương trình.
1.2. Đảm bảo phù hợp đặc điểm lứa tuổi học sinh trong
từng độ tuổi.


Với học sinh tiểu học, cần xây dựng các trò chơi, thông
qua các trò chơi mà hình thành kiến thức mới hoặc rèn
luyện kỹ năng, kỹ xảo thích hợp. Việc sáng tạo các trò
chơi đòi hỏi công phu, tuy vậy nó góp phần tạo ra một
hệ phần mềm hấp dẫn và có ích với học sinh tiểu học.
Các trò chơi có thể gắn bó với nhau bằng những nhân
vật nào đó, nội dung trò chơi có kèm những điều kiện
mà khi thảo mãn điều kiện đó trẻ phải có tri thức hoặc
kỹ năng cần thiết nào đó. Tận dụng các khả năng thể
hiện hình ảnh, mầu sắc và âm nhạc để ngây húng thú
cho trẻ.
Do khả năng phân tích vầ tập trung chú ý của trẻ có hạn
nên cần trình bày màn hình gọn, tập trung vào các thông
tin trọng tâm. Không nên có nhiều thông báo trong một
thời điểm trên màn hình (chỉ nên 1 đến 2 thông báo
chính).
Một thông tin không được kéo dài ra hai trang màn hình.
Các yêu cầu cần hỏi phải rõ ràng.
1.3. Về tổ chức giao diện: Để học sinh và (cả giáo viên)
có thể hiểu và sử dụng dễ dàng, cần taoj giao diện thân
thiện với trẻ, với lớp trẻ 1, 2 thì sử dụng chủ yếu là các
hình tượng, với lớp 3, lớp 4, lớp 5 có sử thêm các dòng
menu thông báo bằng chữ.
Có sự giúp đỡ cách sử ndụng một cách thường xuyên.
Các dòng hướng dẫn này cần gắn gọn với cỡ chữ to và
lên kèm theo hình ảnh mô tả lại quá trình sử dụng như
một mẫu.


Việc tạo ra các tiểu xảo kỹ thuật như nhấp nháy, chữ
đậm, âm thanh phải sử dụng đúng chỗ: tập trung chú ý
vào thông tin định truyền đạt cho trẻ.
1.4. Phần mềm phải phù hợp đặc điểm lao động dạy của
người thầy và lao động học tập của học sinh.
Một đặc điểm của giáo viên tiểu học là không thích các
công việc quá phức tạp, phải đầu tư nhiều công sức cho
mỗi bài học tren lớp. Như vậy phần mềm dạy học không
đựoc quá cồng kềnh, mà phải được tổ chức theo các đơn
vị môđun gọn, tương đối độc lập, mỗi môđun tương ứng
với một đơn vị kiến thức trong chương trình và có đầy
đủ các hướng dẫn trợ giúp dễ hiểu trong đó. Môđun này
bao gồm từ việc ôn luyện kiến thức mới đến các bài tập
rèn luyện kỹ năng và cách đánh giá đã được sắp xếp sẵn
theo một trình tự nhất định. Việc lựa chọn các đơn vị cụ
thể đó phải thật dễ dàng, không tốn thời gian.
Phần mềm cho phép người sử dụng được quay lại hoặc
tiến lên phía trước hoặc bỏ qua một bài tập, thoát khỏi
chương trình vào thời điểm bất kỳ.
Chẳng hạn khi lớp học đến phần “Đo khối lượng và hệ
đơn vị đo khối lượng” môn toán thì có sẵn một hệ bài
tập mẫu để cho học sinh làm bài tập theo trình tự và
cách dữ liệu đã chọn. Phụ huynh và giáo viên có thể
chọn luôn hệ bài tập mẫu này mà không phải gia công gì
thêm.
Tuy vậy phầm mềm không chỉ đóng kín cứng nhắc, nó
có thể cho phép giáo viên và phụ huynh học sinh sáng


tạo hệ bài tập mang dấu ấn cá nhân, sáng tạo ra các đối
tượng mới với các số liệu mới để ra bài tập cho học
sinh, có điều kiện phát triển, đa dạng hoá phần mềm
bằng những sản phẩm của riêng mình.
1.5. Liện kết với các phần mềm dạy học các môn khác
nhau tạo ra bài học:
Đặc điểm của tiểu học là trong một thời gian gắn có thể
học được nhiều môn học chứ không học riêng một môn.
Chính vì vậy phần mềm dạy học phải có khả năng kết
hợp với các phần mềm học ;các môn khác nhau như
toán, tiêng Việt, ngoại ngữ , khoa học tự nhiên và xã
hội, lịch sử, địa lý, nhạc... Thày hoặc phụ huynh học
sinh có thể lựa chọn theo menu và phần mềm sẽ tự sắp
xếp các đơn vị kiến thức đó theo thứ tự đã chọn. Khi
vào máy học sinh sẽ phải làm tất cả các bài tập do phụ
huynh hoặc thày giáo quy định. Kết quả và đánh giá chi
tiết sẽ được lưu lại.
1.6. Định hướng phát huy tích cực của học sinh.
Để học sinh phát huy được vai trò chủ thể, là người sáng
tạo trong quá trình học tập. Phần mềm dạy học phải thiết
kế được vi thế giới, học sinh tác động lên các đối tượng
và thông qua đó thu nhận được tri thức toán cần thiết.
Phần mềm, với các chỉ dẫn có tính sư phạm của mình sẽ
tạo điều kiện phát triển trí tuệ học sinh liên tục. Muốn
vậy, phải tạo ra tình huống có vấn đề, học sinh muốn
giải quyết được nó phải có những quyết định sáng tạo.
Học sinh pải cảm giác được rằng mình là người điều


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×